Tải bản đầy đủ (.pdf) (33 trang)

Tài liệu ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (584.49 KB, 33 trang )


Học Tập Suốt Đời
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
KHÍ HẬU
I. CÂU HỎI
Câu 1. Chứng minh tính chất nhiệt đới của khí hậu nước ta thể hiện qua nền nhiệt độ cao.
Câu 2. Chứng minh rằng khí hậu nước ta chịu ảnh hưởng của gió mùa
Câu 3. Chứng minh rằng khí hậu có lượng mưa ẩm cao.
Câu 4. Chứng minh rằng khí hậu phân hóa đa dạng.
Câu 5. Vì sao nước ta có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa? Hãy nêu biểu hiện của nhiệt đới
ẩm gió mùa qua các thành phần tự nhiên của nước ta.
Câu 6. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của khí hậu đối với sự phát triển KT-XH
của nước ta.
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Tính chất nhiệt đới của khí hậu nước ta thể hiện qua nền nhiệt độ cao:

Tính chất nhiệt đới của khí hậu được qui định bởi vị trí nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến.
Hằng năm, nước ta nhận được một lượng bức xạ mặt trời lớn do trong năm mặt trời luôn đứng
cao trên đường chân trời và qua thiên đỉnh hai lần. Trên toàn quốc, tổng xạ nói chung đều vượt
130 kcal/cm
2
/năm. Cân bằng bức xạ vượt trên 75 kcal/ cm
2
/năm. Tổng bức xạ lớn, cân bằng
bức xạ dương quanh năm khiến cho tổng nhiệt độ và nhiệt độ trung bình năm đều cao, vượt
tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới. Tổng nhiệt độ trong năm đạt 8000 - 9000
0
C, nhiệt độ trung bình
năm từ 22 – 27
0
C, tổng số giờ nắng tùy nơi từ 1400 – 3000 giờ.


Bảng: Nhiệt độ trung bình năm và tổng nhiệt độ năm tại một số địa phương
Địa điểm Nhiệt độ trung bình năm Tổng nhiệt độ năm
Lạng Sơn
Hà Nội
Vinh
Huế
Quy Nhơn
TP. Hồ Chí Minh
21
0
6C
23
0
4C
23
0
9C
25
0
1C
26
0
4C
26
0
9C
7881
0
C
8555

0
C
8747
0
C
9161
0
C
9636
0
C
9818
0
C
Lưu ý:
- Tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới:

Học Tập Suốt Đời

+ Nhiệt độ trung bình năm: > 21
0
C
+ Cân bằng bức xạ: > 75 kcal/ cm
2
/năm
+ Tổng nhiệt độ năm: 7500 – 9500
0
C
- Tiêu chuẩn khí hậu xích đạo:
+ Tổng nhiệt độ năm: > 9500

0
C
+ Cân bằng bức xạ R = (Q + q).(1 – A) – E
Trong đó: Q: Bức xạ trực tiếp, q: Bức xạ khuếch tán
A: Anbêđô của mặt đất, E: Bức xạ hữu hiệu của mặt đất
Như vậy, từ Quy Nhơn trở vào, xét về tổng nhiệt độ năm đã đạt tiêu chuẩn khí hậu xích đạo.
Câu 2. Khí hậu nước ta chịu ảnh hưởng của gió mùa
Lãnh thổ Việt Nam nằm gần trung tâm của khu vực gió mùa châu Á, là nơi giao nhau của
các khối khí hoạt động theo mùa tín phong. Loại gió thường xuyên phát sinh từ khối khí cao
áp cận chí tuyến, thì ở Việt Nam tín phong không còn được biểu hiện rõ mà bị lấn át bởi các
khối khí hoạt động theo mùa với hai mùa gió chính: gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ.
Tín phong vào Việt Nam xuất phát từ trung tâm áp cao cận chí tuyến Tây Thái Bình Dương
(Tm) hoạt động quanh năm ở nước ta, song chỉ mạnh lên vào các thời kì chuyển tiếp xuân thu.
- Gió mùa mùa đông
Về mùa đông, nước ta chịu tác động của khối khí lạnh phương Bắc, thường gọi là gió mùa
Đông Bắc. Trung tâm khối khí ở 50
0
vĩ B, rất lạnh và khô, nhiệt độ trung bình xuống tới -
15
0
C đến -40
0
C, áp suât rất mạnh khoảng 1040
mb
– 1060
mb
. Khối khí lạnh ở vĩ độ ôn đới
này luôn luôn được nuôi dưỡng bởi khối khí cực đới nên nó còn được gọi là khối khí cực
đới. Khối khí cực đới lục địa biến tính (NPc) này vào Việt Nam theo hai đường:
+ Nửa đầu và giữa mùa đông vào các tháng 11, 12, 1, khối khí di chuyển qua lục địa Trung

Hoa rộng lớn (NPc đất), tuy có bớt lạnh khô nhưng vẫn mang lại cho mùa đông miền Bắc
nước ta thời tiết lạnh khô. Mỗi khi khối khí này tràn về, nhiệt độ hạ thấp vài độ.
+ Nửa sau mùa đông vào các tháng 2 – 3, khối khí này di chuyển về phía Đông qua biển
Nhật Bản và biển Hoàng Hải (NPc biển) vào nước ta gây nên thời tiết lạnh ẩm. Vào cuối
mùa, thời tiết ấm ẩm hơn. Lượng ẩm cao mang lại mưa phùn mùa đông cho vùng ven biển
và đồng bằng ở miền Bắc.

Gió mùa đông bắc vào nước ta không kéo dài liên tục mà chỉ từng đợt bởi tầng khí áp của

Học Tập Suốt Đời
trung tâm không dày (chỉ từ 1500 -2000m) và không ổn định. Khối khí NPc hoạt động ở
Việt Nam chỉ mạnh vào mùa đông và ở miền Bắc, hình thành ở miền Bắc nước ta một mùa
đông có 2 – 3 tháng lạnh với những ngày nửa đầu mùa đông thời tiết lạnh khô và nửa sau
mùa đông là những ngày lạnh ẩm. Khi di chuyển xuống phía Nam, khối khí này suy yếu
dần và dường như kết thúc bởi bức chắn dãy Bạch Mã. Từ Đà Nẵng, vĩ tuyến 16
0
B trở vào,
tín phong nửa cầu Bắc cũng thổi theo hướng Đông Bắc trở nên ưu thế làm thành “gió mùa
mùa đông” ở miền không có mùa đông do không bị khối khí cực đới tràn về.

- Gió mùa mùa hạ

Vào mùa hạ có hai luồng gió cùng hướng Tây Nam thổi vào Việt Nam. Đầu mùa, từ tháng
4 – 5, trung tâm áp thấp Ấn Độ - Mianma khơi sauu, trung bình chỉ dưới 1000
mb
hút gió từ
Ấn Độ Dương qua vịnh Bengan (khối khí nhiệt đới vịnh Bengan – TBg). Khối khí này có
nguồn gốc biển nóng ẩm nên thường gây ra đông nhiệt mạnh. Vào đầu mùa hạ, trong các
tháng 5,6 khối khí TBg di chuyển theo hướng Tây Nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn
cho đồng bằng ven biển Nam Bộ và Tây Nguyên. Vượt dãy Trường Sơn khối khí trở nên

nóng khô (gió phơn Tây Nam – còn gọi là gió Lào) tràn xuống vùng đồng bằng ven biển
Trung Bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc. Đôi ki áp thấp Bắc Bộ sụt sâu tạo nên sức hút
mạnh làm xuất hiện gió tây khô nóng tại đồng bằng Bắc Bộ. Thời tiết gió này mang lại rất
nóng khô, nhiệt độ lên tới 37
0
C và độ ẩm xuống dưới 50%.
Bắt đầu từ giữa mùa hạ vào tháng 6, áp cao cận chí tuyến nửa bán cầu Nam mạnh
lên. Khối khí này xuất phát từ áp cao này di chuyển theo hướng đông nam, khi vượt qua
xích đạo chuyển hướng tây nam (do lực Côriôlit) vào Việt Nam. Khối khí xích đạo (Em) có
tầng ẩm rất dày tạo nên dòng thăng lớn trên đường hội tụ nội chí tuyến, vì thế khối khí này
rất không ổn định thường gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió Nam Bộ và Tây
Nguyên. Hoạt động của khối khí xích đạo vào các tháng 6, 7, 8 hình thành gió mùa mùa hạ
chính thức ở Việt Nam. Do ảnh hưởng của địa hình và áp thấp Bắc Bộ, luồng gió này đi lên
theo hướng kinh tuyến dọc miền Trung và theo hướng đông nam vào đồng bằng Bắc Bộ.
Khối khí Em cùng với đường hội tụ hoạt động ở miền Nam nhiều hơn ở miền Bắc và nó là
nguyên nhân gây mưa mùa hạ cho toàn quốc, vào các tháng 6 – 10 cho Nam Bộ và Tây
Nguyên, tháng 8 (mưa ngâu) cho đồng bằng Bắc Bộ, tháng 9 cho Trung Bộ.
Các khối khí hoạt động ở Việt Nam
Tên khối khí Kí
hiệu
Nơi bắt
nguồn
Nơi đi
qua
Thời gian
tác động
Khu
vực tác
động
Thời tiết

đặc trưng
chủ yếu
Gió
mùa
Cực
đới
Qua
đất
NPc
đất
Xibia
(Hồ Bai
Hoa
Trung
9 -6,
mạnh
Bắc vĩ
độ 16
0
B

Lạnh khô
quang

Học Tập Suốt Đời
Can) Hoa Nam

nhất 10,
11,12
mây biến

tính
Qua
biển

NPc
biển
Xibia
biển
đông
Trung
Hoa
Biển
Nhật
Bản, biển
Hoàng
Hải.
12 -6
mạnh
nhất 1, 2,
3
Bắc vĩ
độ 16
0
B

Lạnh ẩm,
nhiều
mây. Có
mưa nhỏ
và mưa

phùn
mùa
đông
Chí tuyến
Bán cầu
Bắc
Tm Tây
Thái
Bình
Dương
Philippin,
Biển
Đông
Cả năm Cả
nước
Mùa
đông: mưa
nhỏ ở Bắc

Bộ, mưa
địa hình ở

Trung Bộ,
nắng ở
Nam Bộ.
Mùa hạ:
mưa rào,
dông
Chí tuyến
vịnh

Bengan
TBg Bắc Ấn
Độ
Dương
Vịnh
Bengan
4, 5, 6, 7,
8
Cả
nước
Nam Bộ
và Tây
Nguyên:
nhiều
mây, mưa
rào và
dông. Bắc
Bộ và
Trung Bộ:
nóng khô
(gió Lào)
Gió
mùa
mùa
đông
Xích đạo Em Nam
Thái
Bình
Dương
Inđônêxia


Malaysia

Vịnh
Thái Lan
6, 7, 8, 9
ở Nam
Bộ sang
tháng 10
Cả
nước
Mát, nhiều
mây mưa
dai dẳng
có dông

Sự luân phiên các khối khí hoạt động theo mùa khác nhau cả về hướng và về tính chất đã tạo nên
sự phân mùa trong chế độ khí hậu Việt Nam. Ở miền Bắc có hai mùa khí hậu là mùa đông lạnh
khô ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều. Ở miền Nam, trong chế độ khí hậu có sự phân chia
hai mùa khô, ẩm rõ rệt.
Câu3. Khí hậu có lượng mưa ẩm cao.

Biển Đông cùng với các khối khí đi qua biển đã mang lại lượng mưa lớn cho nước ta. Lượng mưa

Học Tập Suốt Đời
trung bình năm dao động từ 1500 – 2000mm. Ở những sườn đón gió biển và các khối núi cao,
lượng mưa có thể lên đến 3500 – 4000mm. Độ ẩm không khí cao, dao động từ 80 – 100%. Cân
bằng ẩm luôn luôn dương.
Một vài chỉ số về tính chất nóng của khí hậu tại một số địa phương
Địa điểm Lượng mưa Khả năng bốc hơi Cân bằng ẩm

Hà Nội
Huế
TP. Hồ Chí Minh
1678mm
2890mm
1979mm
776mm
638mm
1061mm
+902mm
+2252mm
+918mm
Hoạt động của gió mùa đã làm phức tạp tính chất cơ bản nóng ẩm của khí hậu Việt Nam
và tạo nên sự khác nhau về mùa khí hậu giữa các kkhu vực. Đó là sự xuất hiện một mùa đông lạnh
ở miền Bắc, một mùa khô sâu sắc ở miền Nam, sự đối lập về hai mùa mưa khô giữa Tây Nguyên
và đồng bằng ven biển miền Trung.
Câu 4. Khí hậu phân hóa đa dạng
- Khí hậu phân hóa đa dạng: Khí hậu Việt Nam phân hóa đa dạng thể hiện ở sự khác nhau về
khí hậu giữa các khu vực.
- Các miền khí hậu: Dựa trên sự khác nhau chủ yếu về nền nhiệt độ và ảnh hưởng của gió
mùa đông bắc đã làm tăng biên độ nhiệt khác thường ở phía bắc lãnh thổ, phần đất liền của
nước ta được chia làm hai miền rõ rệt khí hậu. Ranh giới giữa hai miền là khối núi Bạch
Mã (đèo Hải Vân).
Sự phân chia thành hai miền khí hậu dựa trên ba chỉ số: biên độ nhiệt độ hàng năm, lượng
bức xạ tổng cộng trung bình hàng năm và số giờ nắng trung bình hàng năm (theo Atlas Khí
tượng Thủy văn Việt Nam, năm 1994)
Một số đặc trưng của các miền khí hậu
Miền khí hậu Biên độ nhiệt/năm Lượng bức xạ/năm Số giờ nắng/năm
Miền khí hậu phía
Bắc

≥ 9
0
C ≤ 140 kcl/cm
2
≥ 2000 giờ
Miền khí hậu phía
Nam
< 9
0
C > 140 kcl/cm
2
> 2000 giờ
+ Miền khí hậu phía Bắc:
Khí hậu trong năm có mùa đông lạnh. Mùa đông với 3 tháng lạnh (t
0
< 20
0
C) thể hiện rõ ở
đồng bằng Bắc Bộ và vùng núi phía Bắc. Về phía Nam, gió mùa đông bắc yếu dần, số tháng
lạnh giảm còn 1 – 2 tháng, tới Huế chỉ còn thời tiết lạnh. Mùa đông lạnh khiến cho nhiệt độ hạ
thấp 4 – 5
0
C so với các trị số trung bình của các vùng có cùng vĩ độ. Đặc điểm nổi bật của
miền là tính bất ổn định rất cao trong diễn biến thời tiết, khí hậu, biên độ nhiệt 9 - 14
0
C. Độ

Học Tập Suốt Đời
lạnh giảm dần về phía Tây, đồng thời với thời kì bắt đầu mùa mưa chậm dần về phía Nam là
cơ sở chia miền khí hậu này ra bốn vùng khí hậu.

+ Miền khí hậu phía Nam:
Khí hậu nóng đều quanh năm và có tính chất gió mùa cận xích đạo. Khí hậu trong năm chia
thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Trong miền phân chia ba vùng khí hậu: ven biển miền
Trung có mùa mưa vào thu đông. Nam Bộ có khí hậu nóng và điều hòa hơn Tây Nguyên.
- Khí hậu phân hóa thành các đai theo độ cao địa hình và các kiểu theo địa phương
Về đại thể trên 600 – 700m là vành đai khí hậu á nhiệt đới trên núi, trên 2400 – 2600m là
vành đai khí hậu ôn đới núi cao. Do hướng núi và độ cao địa hình mà hình thành các trung
tâm mưa nhiều, mưa ít. Tùy theo sự kết hợp giữa nhiệt và ẩm mà theo địa phương có các
kiểu khí hậu khác nhau. Trên lãnh thổ nước ta có các kiểu khí hậu nhiệt đới hoặc á xích đạo
khô, hơi khô, hơi ẩm, ẩm, các kiểu khí hậu á nhiệt đới trên núi hơi ẩm tới ẩm và kiểu khí
hậu ôn đới núi cao ẩm ướt.
- Khí hậu diễn biến thất thường
Sự phân mùa khí hậu không phải rõ ràng và ổn định. Sự đan xen giữa các khối khí đã làm
cho khí hậu nước ta có tính chất thất thường. Tính chất thất thường không chỉ biểu hiện ở
sự biến động nhiệt, ẩm giữa hai mùa trong năm mà còn giữa năm này với năm khác, làm
tăng cường tính phức tạp trong diễn biến mùa của khí hậu Việt Nam. Sự thất thường còn
biểu hiện ở thời gian thay đổi mùa. Thời gian bắt đầu, kết thúc, mức độ nóng, lạnh mỗi
mùa cũng biến động rất lớn. Về chế độ mưa cũng rất thất thường, bão lũ, hạn hán là những
thiên tai bất thường gây ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp.
Câu 5. Nước ta có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa vì:
a. Nước ta có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa
+ Do vị trí địa lí: nước ta nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới nội chí tuyến Bắc bán
cầu nên khí hậu có tính chất nhiệt đới đối với nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, ánh sáng
mạnh.
+ Do nằm gần trung tâm gió mùa châu Á, trong khu vực chịu ảnh hưởng gió Mậu dịch
và gió mùa châu Á nên khí hậu mang tính chất gió mùa rõ rệt.
b. Biểu hiện của nhiệt đới ẩm gió mùa qua các thành phần địa hình, sông ngòi ở nước ta: -
Địa hình:
+ Xâm thực mạnh ở vùng đồi núi: Bề mặt địa hình bị cắt xẻ, nhiều nơi đất trơ sỏi đá;
Địa hình ở vùng núi đá vôi có nhiều hang động, thung khô; Các vùng thềm phù sa cổ bị

bào mòn tạo thành đất xám bạc màu; Hiện tượng đất trượt, đá lở xảy ra khi mưa lớn.
+ Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông: đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long hằng năm lấn ra biển vài chục đến hàng trăm mét.
- Sông ngòi:

Học Tập Suốt Đời
+ Mạng lưới sông ngòi dày đặc:
Nước ta có 2360 con sông có chiều dài hơn 10km.
Trung bình cứ 20km đường bờ biển gặp một cửa sông.
+ Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa. Tổng lượng nước là 839 tỷ m
3
/năm. Tổng lượng phù
sa hàng năm khoảng 200 triệu tấn.
+ Chế độ nước theo mùa. Mùa lũ tương ứng với mùa mưa, mùa cạn tương ứng mùa khô.
Chế độ mưa thất thường cũng làm cho chế độ dòng chảy của sông ngòi cũng thất thường.
- Đất đai:
Quá trình Feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu ở nước ta. Trong điều kiện
nhiệt ẩm cao, quá trình phong hóa diễn ra với cường độ mạnh tạo nên lớp đất dày. Mưa
nhiều rửa trôi các chất ba-zơ dễ tan làm đất chua, đồng thời có sự tích tụ oxit sắt và oxit
nhôm tạo ra màu đỏ vàng. Loại đất này gọi là đất feralit đỏ vàng.
- Sinh vật:
+ Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh là cảnh quan chủ yếu ở nước ta với
các loài nhiệt đới chiếm ưu thế. Thực vật phổ biến là các loài thuộc các họ cây nhiệt đới
như: họ đậu, dâu tằm, dầu… Động vật trong rừng là các loài chim, thú nhiệt đới…
+ Có sự xuất hiện các thành phần cận nhiệt đới và ôn đới núi cao.
Câu 6. Những thuận lợi và khó khăn của khí hậu đối với sự phát triển KT-XH.
a. Thuận lợi
 Nông nghiệp:
- Khí hậu nhiệt đới (nhiệt cao, giờ nắng nhiều…) nông nghiệp nhiệt đới phát triển, nhiều vụ
quanh năm, có khả năng xen canh gối vụ.

- Khí hậu nóng ẩm mưa nhiều thuận lợi cho nền nông nghiệp lúa nước phát triển (1-3 vụ).
- Có mùa đông lạnh làm phong phú sản phẩm nông nghiệp (nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn
đới ); khí hậu phân hóa theo độ cao nên có nhiều vành đai sinh vật, vùng núi cao khí hậu
mát mẻ, thuận lợi cho cây dược liệu phát triển, thuận lợi cho rau quả cận nhiệt và ôn đới.
- Khí hậu phân hóa BN tạo thành các vùng khí hậu khác nhau, thuận lợi cho việc hình thành
các vùng chuyên canh nông nghiệp với nhiều hướng, nhiều sản phẩm.
 Công nghiệp:
- Bức xạ mặt trời lớn, lượng mưa lớn, địa hình dốc, thuận lợi cho phát triển thủy điện, phát
triển bức xạ năng lượng mặt trời.
- Nông nghiệp phát triển tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho công nghiệp chế biến, sản
xuất hàng tiêu dùng phát triển…
 Giao thông vận tải, du lịch:
- Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều, sông ngòi nhiều nước không đóng băng thuận lợi cho giao
thông đường thủy ổn định quanh năm

Học Tập Suốt Đời
- Khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện du lịch phát triển, như du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch
nghỉ mát
- Vùng núi cao khí hậu mát mẻ thuận lợi du lịch nghỉ ngơi, an dưỡng, chữa bệnh…
b. Khó khăn
- Khí hậu diễn biến thất thường nhiều thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán…) ảnh hưởng đến sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân, gây thiệt hại nhiều về người và của cải vật chất, chi phí
phòng ngừa lớn
- Khí hậu nhiệt đới ẩm là điều kiện sâu bệnh phát triển, làm giảm năng suất cây trồng, dịch
bệnh phát triển ảnh hưởng sức khỏe con người, khó khăn trong bảo vệ thực phẩm…
- Khí hậu phân hóa sâu sắc, tạo ra nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên khó khăn cho việc
nghiên cứu để xác lập các biện pháp canh tác
- Khí hậu diễn biến thất thường, nên buộc chúng ta phải luôn luôn thay đổi cơ cấu mùa vụ,
cơ cấu cây trồng cho phù hợp (tính thời vụ đòi hỏi phải chính xác, tuân theo lịch nhà nông,
theo dự báo thời tiết).


ĐỊA HÌNH
I. CÂU HỎI
Câu 1. Trình bày những đặc điểm cơ bản của địa hình nước ta.
Câu 2. Phân tích đặc điểm địa hình vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với quá trình xâm thực –
bồi tụ diễn ra mạnh.
Câu 3. Phân tích đặc điểm địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi
núi thấp.
Câu 4. Trình bày ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến các thành phần tự nhiên nước ta.
Câu 5. Trình bày đặc điểm địa hình núi vùng Đông Bắc và địa hình núi vùng Tây Bắc.
Câu 6. Trình bày đặc điểm địa hình núi vùng Trường Sơn Bắc và đại hình núi vùng
Trường Sơn Nam.
Câu 7. Trình bày ý nghĩa của địa hình đồi núi nước ta.
Câu 8. Trình bày những đặc điểm của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
Câu 9. Trình bày những đặc điểm của đồng bằng ven biển miền Trung.
Câu 10. Trình bày thế mạnh và hạn chế của khu vực đồng bằng

Học Tập Suốt Đời
Câu 11. Trình bày đặc điểm của địa hình bán bình nguyên và đồi trung du
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Những đặc điểm cơ bản của địa hình nước ta.
- Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp
+ Đồi núi chiếm ¾ diện tích cả nước, đồng bằng chiếm ¼ diện tích cả nước.
+ Đồi núi thấp chiếm hơn 60% nếu kể cả đồng bằng thì địa hình thấp dưới 1000m chiếm
85% diện tích, núi cao trên 2000m chiếm khoảng 1% diện tích cả nước
- Cấu trúc địa hình nước ta khá đa dạng:
+ Địa hình được trẻ hóa và có tính phân bậc rõ rệt.
+ Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
+ Địa hình gồm hai hướng chính:
 Hướng Tây Bắc – Đông Nam: dãy núi vùng Tây Bắc, Bắc Trường Sơn.

 Hướng vòng cung: các dãy núi vùng Đông Bắc, Nam Trường Sơn.
- Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa: quá trình xâm thực mạnh ở miền đồi núi và bồi tụ
diễn ra mạnh mẽ ở đồng bằng hạ lưu các sông.
- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người.
Câu 2. Địa hình vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với quá trình xâm thực – bồi tụ diễn ra mạnh
mẽ
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa ảnh hưởng sâu sắc đến các thành phần tự nhiên hình thành
nên một thiên nhiên Việt Nam đắc sắc – thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa. Đặc điểm cơ bản
chung nhất này của thiên nhiên Việt Nam được phản ánh qua các thành phần tự nhiên. Địa
hình Việt Nam tiêu biểu cho địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa.
Nền nhiệt ẩm cao với một mùa mưa, một mùa khô xen kẽ đã thúc đẩy quá trình xâm thực
cơ giới diễn ra mạnh mẽ. Trên các sườn dốc, bề mătm địa hình bị cắt xẻ, đất bị bào mòn rửa
trôi, nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá. Tại miền núi mưa nhiều, tác động của nhân tố ngoại lực dòng
chảy đã khắc trạm lên bề mặt địa hình những hẻm vực, những khe sâu, sườn dốc tạo nên thế
chênh vênh hiểm trở của hình thái địa hình núi trẻ. Biểu hiện của địa hình xâm thực mạnh còn
là những hiện tượng đất trượt, đá lở thành những nón phóng vật nằm ngổn ngang chân núi như
tại khối núi cao Phanxipăng. Có thể nói, quá trình xâm thực bào mòn do dòng nước là quá
trình địa mạo đóng vai trò chủ yếu tạo nên hình thái địa hình đồi núi Việt Nam hiện tại. Quá
trình này còn biểu hiện điển hình ở thành tạo địa hình Cacxtơ vùng đồi núi đá vôi. Nước nhiều
trong điều kiện nhiệt độ cao ở nước ta đã xúc tiến cường độ các phản ứng hóa học hòa tan
Cacbonát làm cho đá vôi bị phá hủy triệt để. Địa hình Cacxtơ ở Việt Nam không phải chỉ là
các bề mặt cao nguyên với các hang động ngầm, suối cạn, thung khô mà còn mở rộng thành

Học Tập Suốt Đời
các đồng bằng rải rác các đồi đá vôi sót. Còn trên các vùng đồi thềm phù sa cổ lớp đất mặt
cũng bị bào mòn, rửa trôi lâu ngày tạo nên loại đất xám bạc màu.
Hệ quả của quá trình xâm thực bào mòn mạnh mẽ bề mặt địa hình ở miền đồi núi là sự bồi
tụ mở mang nhanh chóng các đồng bằng hạ lưu sông. Ở rìa các đồng bằng châu thổ sông
Hồng, sông Cửu Long có nơi hàng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét đất. Như vậy,
quá trình xâm thực – bồi tụ là quá trình chính trong sự hình thành và phát triển địa hình Việt

Nam hiện tại.
Câu 3: Đặc điểm địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp.
Phần đất liền của lãnh thổ Việt Nam tuy nhỏ, hẹp ngang, nhưng hiện lên rõ nét trên bản đồ
địa hình Đông Nam Á một hệ núi kéo dài trên 1400km từ biên giới Việt – Trung đến Đông
Nam Bộ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chạy sát bên bờ biển Đông, làm thu hẹp diện tích
đồng bằng. Đồi núi chiếm tới ¾ diện tích đất đai, đồng bằng chỉ còn là những châu thổ nhỏ,
những dải đất trùng xen cồn cát trải dọc ven biển. Địa hình nhiều đồi núi đã khiến cho thiên
nhiên Việt Nam chủ yếu là cảnh quan đồi núi và có sự phân hóa khác nhau giữa các khu vực.
Hệ thống núi ở Việt Nam đã tạo nên sự phân bậc rõ ràng, trong dó đồi núi thấp chiếm ưu
thế tuyệt đối. Địa hình thấp dưới 1000m chiếm tới 85% diện tích tự nhiên, núi cao trên 2000m
chỉ chiếm 1% diện tích. Địa hình đồi núi thấp chiếm chủ yếu có ý nghĩa lớn đối việc bảo toàn
tính chất nhiệt đới gió mùa của thiên nhiên Việt Nam.
Câu 4. Ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến các thành phần tự nhiên nước ta
- Khí hậu:
+ Các dãy núi cao chính là ranh giới khí hậu giữa các vùng. Chẳng hạn như, dãy Bạch Mã
là ranh giới giữa khí hậu phía Bắc và phía Nam – ngăn gió mùa Đông Bắc từ Đà Nẵng vào;
dãy Hoàng Liên Sơn là ranh giới giữa khí hậu Tây Bắc và Đông Bắc; dãy Trường Sơn tạo
nên gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ.
+ Độ cao của địa hình tạo nên sự phân hóa khí hậu theo đai cao. Tại các vùng núi cao xuất
hiện các vành đai khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới.
- Sinh vật và thổ nhưỡng:
+ Ở vành đai chân núi diễn ra quá trình hình thành đất feralit và phát triển cảnh quan rừng
nhiệt đới ẩm gió mùa. Trên các khối núi cao hình thành đai rừng cận nhiệt đới trên núi và
đất feralit có mùn. Lên cao trên 2.400m, là nơi phân bố của rừng ôn đới núi cao và đất mùn
alit núi cao.
+ Thảm thực vật và thổ nhưỡng cũng có sự khác nhau giữa các vùng miền : Bắc – Nam,
Đông – Tây, đồng bằng lên miền núi.
Câu 5. Đặc điểm địa hình núi vùng Đông Bắc và địa hình núi vùng Tây Bắc

Học Tập Suốt Đời

- Địa hình núi vùng Đông Bắc
+ Nằm ở tả ngạn sông Hồng với 4 cánh cung lớn (Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông
Triều) chụm đầu ở Tam Đảo, mở về phía bắc và phía đông.
+ Núi thấp chủ yếu, theo hướng vòng cung, cùng với sông Cầu, sông Thương, sông Lục
Nam.
+ Hướng nghiêng chung của địa hình là hướng Tây Bắc – Đông Nam.
+ Những đỉnh núi cao trên 2.000m ở thượng nguồn sông Chảy. Giáp biên giới Việt – Trung
là các khối núi đá vôi cao trên 1000m ở Hà Giang, Cao Bằng. Trung tâm là đồi núi thấp,
cao trung bình 500 – 600m.
- Địa hình núi vùng Tây Bắc
+ Giữa sông Hồng và sông Cả, địa hình cao nhất nước ta, hướng núi chính là Tây Bắc –
Đông Nam (Hoàng Liên Sơn, Pu Sam Sao, Pu Đen Đinh…)
+ Hướng nghiêng: thấp dần về phía Tây
+ Phía Đông là núi cao đồ sộ Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Fan Si Pan cao 3.143m. Phía Tây là
núi trung bình dọc biên giới Việt – Lào như Pu Sam Sao, Pu Đen Đinh. Ở giữa là các dãy
núi xen các sơn nguyên, cao nguyên đá vôi từ Phong Thổ đến Mộc Châu. Xen giữa các dãy
núi là các thung lũng sông (sông Đà, sông Mã, sông Chu…)
Câu 6. Trình bày đặc điểm địa hình núi vùng Trường Sơn Bắc và địa hình núi vùng Trường
Sơn Nam.
- Địa hình núi vùng Trường Sơn Bắc
+ Từ Nam sông Cả tới dãy Bạch Mã.
+ Hướng núi là hướng Tây Bắc – Đông Nam, gồm các dãy núi so le, song song, hẹp ngang.
+ Cao ở hai đầu, thấp trũng ở giữa. Phía Bắc là vùng núi Tây Nghệ An, phía Nam là vùng
núi Tây Thừa Thiên – Huế. Mạch cuối cùng là dãy Bạch Mã – ranh giới với vùng núi
Trường Sơn Nam và là bức chắn ngăn cản các khối khí lạnh tràn xuống phía Nam.
- Địa hình núi vùng Trường Sơn Nam:
+ Gồm các khối núi, cao nguyên badan chạy từ nơi tiếp giáp dãy núi Bạch Mã tới bán bình
nguyên ở Đông Nam Bộ, bao gồm khối núi Kon Tum và khối núi Nam Trung Bộ.
+ Hướng nghiêng chung: với những đỉnh cao trên 2000m nghiêng dần về phía Đông, tạo
nên thế chênh vênh của đường bờ biển có sườn dốc.

+ Phía Tây là các cao nguyên xếp tầng tương đối bằng phẳng, cao khoảng từ 500 – 800 -
1000m : Plâycu, Đăk Lăk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh, tạo nên sự bất đối xứng giữa hai
sườn Đông – Tây của địa hình Trường Sơn Nam.
Câu 7. Ý nghĩa của địa hình đồi núi nước ta.
- Thuận lợi:

Học Tập Suốt Đời
+ Khoáng sản: nhiều loại, như đồng, chì, thiếc, sắt, crôm, bô xít, apatit, than đá, vật liệu
xây dựng… Thuận lợi cho nhiều ngành công nghiệp phát triển.
+ Thủy năng: sông dốc, nhiều nước, nhièu hồ chứa Có tiềm năng thủy điện lớn.
+ Rừng : chiếm phần lớn diện tích, trong rừng có nhiều gỗ quý, nhiều loại động thực vật,
cây dược liệu, lâm thổ sản, đặc biệt là ở các vườn quốc gia… Nên thuận lợi cho bảo tồn hệ
sinh thái, bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, khai thác gỗ…
+ Đất trồng và đồng cỏ: Thuận lợi cho hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp
(Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung du miền núi Bắc Bộ…), vùng đồng cỏ thuận lợi cho
chăn nuôi đại gia súc. Vùng cao còn có thể nuôi trồng các loài động thực vật cận nhiệt và
ôn đới.
+ Du lịch: điều kiện địa hình, khí hậu, rừng, môi trường sinh thái thuận lợi cho phát triển
du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng , tham quan…
- Khó khăn:
+ Xói mòn đất, đất bị hoang hóa, địa hình hiểm trở đi lại khó khăn, nhiều thiên tai: lũ quét,
mưa đá, sương muối…
+ Khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất của dân cư, đầu tư tốn kém, chi phí lớn cho phòng và
khắc phục thiên tai.
Câu 8. Những đặc điểm của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
- Đồng bằng sông Hồng:
+ Diện tích: 15.000 km
2

+ Đồng bằng phù sa của hệ thống sông Hồng và Thái Bình bồi đắp, được khai phá từ lâu,

nay đã biến đổi nhiều.
+ Địa hình: cao ở rìa Tây, Tây Bắc và thấp dần về phía biển, chia cắt thành nhiều ô nhỏ.
+ Trong đê, không được bồi đắp phù sa hàng năm, gồm các ruộng cao bạc màu và các ô
trũng ngập nước. Ngoài đê được bồi đắp phù sa hằng năm.
- Đồng bằng sông Cửu Long:
+ Diện tích: 40.000 km
2
, lớn nhất nước ta
+ Đồng bằng phù sa được bồi tụ của sông Tiền và sông Hậu, mới được khai thác sau
ĐBSH.
+ Địa hình: thấp và khá bằng phẳng.
+ Không có đê, nhưng mạng lưới sông ngòi kênh rạch chằng chịt, nên vào mùa lũ bị ngập
nước, mùa cạn nước triều lấn mạnh vào đồng bằng. Trên bề mặt đồng bằng còn có những
vùng trũng lớn như: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên.
Câu 9. Những đặc điểm của đồng bằng ven biển miền Trung
+ Diện tích: 15.000 km
2
.
+ Đồng bằng do phù sa sông biển bồi đắp

Học Tập Suốt Đời
+ Địa hình: hẹp ngang và bị chia cắt thành từng ô nhỏ, chỉ có đồng bằng Thanh Hóa, Nghệ
An, Quảng Nam, Phú Yên tương đối rộng.
+ Phần giáp biển có cồn cát và đầm phá, tiếp theo là đất thấp trũng, trong cùng đã bồi tụ
thành đồng bằng. Đất ít phù sa, có nhiều cát.
Câu 10. Trình bày những thế mạnh và hạn chế của khu vực đồng bằng.
- Thế mạnh:
+ Là nơi có đất phù sa màu mỡ nên thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới đa
dạng, với nhiều loại nông sản có giá trị xuất khẩu cao.
+ Cung cấp các nguồn lợi thiên nhiên khác như: thủy sản, khoáng sản, lâm sản.

+ Thuận lợi cho phát triển nơi cư trú của dân cư, phát triển các thành phố, khu công
nghiệp…
+ Phát triển GTVT đường bộ, đường sông.
- Hạn chế:
+ Bão, lũ lụt, hạn hán thường xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và tài sản
+ Đồng bằng sông Hồng vùng trong đê phù sa không được bồi đắp dẫn đến đất bạc màu và
tạo thành các ô trũng ngập nước.
+ Đồng băng sông Cửu Long do địa hình thấp nên thường ngập lụt, chịu tác động mạnh mẽ
của sóng biển và thủy triều, dẫn tới diện tích đất ngập mặn nhiễm phèn lớn.
+ Đồng bằng ven biển miền Trung thì quá nhỏ hẹp, bị chia cắt, nghèo dinh dưỡng.
Câu 11. Đặc điểm của địa hình bán bình nguyên và đồi trung du
Nằm chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi là cá bề mặt bán bình nguyên hoặc các đồi
trung du có độ cao dưới 300m, độ cắt xẻ giữa các quả đồi 50 – 60m, tối đa là 100m. Bán bình
nguyên hiện rõ ở Đông Nam Bộ với bậc thềm phù sa cổ ở độ cao 100m và bề mặt hình thành từ
phun trào bazan coa chừng 200m. Địa hình đồi trung du phần nhiều là di tích của tác động ngoại
lực chia cắt các thềm phù sa cổ. Càng gần đồng bằng đồi càng thấp, nhỏ, thung lũng mở rộng. Dải
đồi trung du rộng nhất nằm ở rìa đồng bằng sông Hồng và thu hẹp ở rìa đồng bằng ven biển. Địa
hình bán bình nguyên và đồi trung du thích hợp cho trồng các cây công nghiệp, các mô hình nông
lâm kết, đôi nơi được biến đổi để trồng lúa và hoa màu. Nhiều đồi trung du đã trở thành vùng đất
trống, bạc màu. Cần nhanh chóng phục hồi lớp phủ thực vật và sử dụng hợp lí đối với vùng đất dễ
bị thoái hóa này.
Địa hình phân hóa đa dạng phức tạp đã tạo nên sự phân hóa đa điều kiện tự nhiên và tiềm
năng tài nguyên các vùng lãnh thổ Việt Nam. Vì thế, nghiên cứu sự phân hóa địa hình là cơ sở để
hiểu biết sâu sắc đặc điểm tự nhiên và tài nguyên mỗi vùng nhằm sử dụng hợp lí cho mục tiêu
phát triển kinh tế.

Học Tập Suốt Đời
ĐẤT ĐAI
I. CÂU HỎI
Câu 1. Chứng minh rằng ở nước ta quá trình Feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu

và đất dễ bị thoái hóa.
Câu 2. Chứng minh rằng thổ nhưỡng nước ta có sự phân hóa đa dạng.
Câu 3. Trình bày những thuận lợi và khó khăn trong khai thác và sử dụng đất ở nước ta.
Câu 4. Trình bày phương hướng để sử dụng hợp lớ đất đai ở nước ta
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Ở nước ta quá trình Feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu và đất dễ bị thoái
hóa.
Quá trình Feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới ẩm. Trong điều
kiện nhiệt ẩm cao, quá trình phong hóa diễn ra với cường độ mạnh, tạo nên một lớp đất dày.
Mưa nhiều rửa trôi các chất badơ dễ tan (Ca
2+
, Mg
2+
, K
+
), làm đất chua, đồng thời có sự tích tụ
ôxit sắt (Fe
2
O
3
) tạo ra mầu đỏ vàng. Vì thế loại đất nạy gọi là đất Feralit (Fe-Al) đỏ vàng. Chế
độ gió mùa với mùa mưa, mùa khô xen kẽ càng xúc tiến quá trình rửa trôi và tích tụ. Đặc biệt,
ở những nơi lớp phủ thực vật bị phá hủy, mùa khô càng khắc nghiệt, sự tích tụ ôxit trong tầng
tích tụ từ trên xuống trong mùa mưa và từ dưới lên trong mùa khô càng nhiều. Khi lớp đất mặt
(tầng A) bị rửa trôi hết, tầng tích tụ (tầng B) trồi lên mặt, rắn chắc lại thành tầng đá ong
(Latêrit – dạng gạch), đất bị thoái hóa mạnh. Đất càng xấu nếu tầng đá ong càng gần mặt.
Như vậy, đất Feralit là sản phẩm tất yếu của quá trình hình thành đất trên đá mẹ axit diễn ra
trong điều kiện nhiệt ẩm cao.
Đá mẹ axit chiếm phần lớn trên vùng đồi núi Việt Nam. Đá mẹ bazơ chiếm diện tích nhỏ
hơn và có hai loại chính là: đá badan và đá vôi. Đất hình thành trên các loại đá này là

macgalit. Nhưng trong điều kiện nhiệt ẩm cao ở Việt Nam, đất này cũng bị Feralit hóa, tạo
thành đất Feralit. Quá trình Feralit cũng diễn ra mạnh mẽ trên các đồi, thềm phù sa cổ. Ngay
tại các vùng đất bồi tụ phù sa với thời gian và nếu sử dụng không hợp lí thì quá trình Feralit
cũng tiến triển, thể hiện ở những vết lốm đốm đỏ vàng và các kết von. Với địa hình đồi núi
thấp chiếm ưu thế, có thể nói Feralit là quá trình hình thành đất chủ yếu ở Việt Nam.
Câu 2. Thổ nhưỡng nước ta có sự phân hóa đa dạng
Các nhân tố và điều kiện hình thành đất gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật có sự
phân hóa đa dạng, thêm vào đó do tác động của con người khiến cho thổ nhưỡng Việt Nam

Học Tập Suốt Đời
phân hóa đa dạng. Ở nước ta có tới 19 nhóm đất với 54 loại đất gộp theo hai hệ đất chính là đất
đồng bằng và đất đồi núi.
a. Hệ đất đồng bằng.
Hệ đất đồng bằng chiếm gần ¼ diện tích đất tự nhiên, gồm nhiều nhóm đất. Nhóm đất phù
sa chiếm diện tích lớn nhất 3,4 triệu ha. Ngoài ra, nhóm đất phèn (chua mặn) cũng chiếm
diện tích khá lớn, hơn 1,85 triệu ha; nhóm đaát mặn ven biển có diện tích gần 1 triệu ha,
nhóm đất cát biển hơn 500.000 ha. Tại vùng thấp trũng hình thành nhóm đất glây và nhóm
đất than bùn, tập trung nhất ở vùng Đồng Tháp, U Minh.

b. Hệ đất đồi núi

- Hệ đất đồi núi tại các vùng đồi núi nước ta, quá trình hình thành đất Feralit chiếm chủ yếu.
Có sự phân hóa đất theo đai cao. Nhóm đất Feralit vùng đồi núi thấp chân núi chiếm diện
tích lớn nhất hơn 20 triệu ha (trên 60% diện tích đất tự nhiên). Trong đó các loại đất Feralit
đỏ vàng phát triển trên đá mẹ axit, đá phiến sét, đá cát chiếm tới 14,8 triệu ha. Trong nhóm
đất này, tốt nhất là loại đất Feralit nâu đỏ (2,4 triệu ha) phát triển trên đá mẹ badan và đá
vôi. Đất xám phù sa cổ có diện tích hơn 1,2 triệu ha, phân bố tập trung nhất ở Đông Nam
Bộ 900.000 ha, còn ở rìa Đồng bằng Bắc Bộ. Do quá trình canh tác tưới nước lâu ngày, đất
bị trôi hết chất màu, nhiều nơi biến đổi thành đất xám bạc màu. Các loại đất nâu đỏ, đất
xám phù sa cổ rất thích hợp cho việc trồng cây ăn quả và cây công nghiệp. Một số nhóm

đất khác phát triển trên đá badan và đá vôi, thường gặp ở thung lũng đá vôi, ở nơi chân đồi
tụ nước mạch chứa nhiều cacbonat. Đất đen là loại đất tốt, nhiều phì liệu.
- Trên đai cao khí hậu á nhiệt đới và ôn đới là các nhóm đất feralit có mùn và nhóm đất mùn
alit núi cao. Hai nhóm đất này chiếm gần 3,3 triệu ha, hơn 10% tổng diện tích. Ngoài ra, ở
nước ta còn có nửa triệu ha đất xói mòn trơ sỏi đá. Loại đất này là bằng chứng hậu quả của
hoạt động khai thác sử dụng đất bất hợp lí của con người.
Câu 3. Những thuận lợi và khó khăn trong khai thác và sử dụng đất ở nước ta
- Nền nhiệt ẩm cao với một mùa mưa, một mùa khô xen kẽ đã thúc đẩy quá trình xâm thực
cơ giới diễn ra mạnh mẽ. Trên các sườn dốc, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đaát bị bào mòn rửa
trôi, nhiều nới chỉ cỏn trơ sỏi đá. Tại miền núi mưa nhiều, tác động của nhân tố ngoại lực
dòng chảy đã khắc trạm lên bề mặt địa hình những hẻm vực, những khe sâu, sườn dốc tạo
nên thế chênh vênh hiểm trở của hình thái địa hình núi trẻ. Biểu hiện của địa hình xâm thực
mạnh còn là những hiện tượng đất trượt, đá lở thành những nón phóng vật nằm ngổn ngang
chân núi như tại khối núi cao Phanxipăng. Có thể nói, quá trình xâm thực bào mòn do dòng
nước là quá trình địa mạo đóng vai trò chủ yếu, tạo nên hình thái địa hình đồi núi Việt Nam
hiện tại. Quá trình này còn biểu hiện điển hình ở thành tạo địa hình Cacxtơ vùng đôi núi đá
vôi. Nước nhiều trong điều kiện nhiệt độ cao ở nước ta xúc tiến cường độ các phản ứng hóa

Học Tập Suốt Đời
học hòa tan Cacbonát làm cho đá vôi bị phá hủy triệt để. Địa hình Cacxtơ ở Việt Nam
không phải chỉ là cá bề mặt cao nguyên với các hang động ngầm, suối cạn, thung khô mà
còn mở rộng thành các đồng bằng rải rác các đồi đá vôi sót. Còn trên các vùng đồi thềm
phù sa cổ lớp đất mặt cũng bị bào mòn, rửa trôi lâu ngày tạo nên loại đất xám bạc màu.
- Hệ quả của quá trình xâm thực bào mòn mạnh mẽ bề mặt địa hình ở miên đồi núi là sự bồi
tụ mở mang nhanh chóng các đồng bằng hạ lưu sông. Ở rìa các đồng bằng châu thổ sông
Hồng, sông Cửu Long có nơi hàng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét đất Như
vậy, quá trình xâm thực – bồi tụ là quá trình chính trong sự hình thành và phát triển địa
hình Việt Nam hiện tại.
- Đất đai có vai trò quan trọng đói với sự phát triển KT-XH đất nước, là tư liệu sản xuất
không thể thiếu được đối với các nhà sản xuất nông nghiệp, là địa bàn cư trú dân cư, là môi

trường sống của các loài sinh vật, là cơ sở để xây dựng nhà máy, xí nghiệp, cơ sở hệ
thống và cũng là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp… Nên vấn đề sử dụng hợp lí
đia đôi với bảo vệ, cải tạo … là vấn đề cần được quan tâm.
- Diện tích phần lãnh thổ nước ta là 331.212 km
2
, bình quân/người là 0,4 ha/người, bằng 1/6
mức bình quân thế giới, trong đó đất nông nghiệp chỉ có 0,1 ha/người… Như vậy tài
nguyên đất đai ở nước ta là tài nguyên vô cùng quí giá, là vốn đất mà chúng ta phải sử
dụng như thế nào cho nó hiệu quả.
- Nước ta trải qua quá trình lịch sử hình thành lâu dài và phức tạp (lịch sử địa chất, tác động
của con người, tác động của tự nhiên như khí hậu, thủy sản, sinh vật…) nên tài nguyên đất
ở nước ta rất phong phú đa dạng với nhiều loại hình và cấu trúc khác nhau, hiện nay có hơn
64 loại đất được chia làm 13 nhóm, trong đó có 2 nhóm chính là đất Feralit (khoảng 24
triệu ha) và đất phù sa (khoảng 9 triệu ha). Lãnh thổ nước ta ¾ là đồi núi, ¼ là đồng bằng.
a. Đất Feralit:
- Nguồn gốc hình thành từ quá trình phân hóa các loại đá mẹ
- Phân bố chủ yếu ở miền núi trung du rộng lớn, độ dốc cao nên đất dễ bị xói mòn, rửa trôi,
không thuận lợi cho tưới tiêu và tổ chức sản xuất.
- Tầng phong hóa dầy, hàm lượng chất khoáng, chất sắt, nhôm, magiê… khá cao nên thuận
lợi cho cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi và trồng rừng phát triển…
- Các loại đất Feralit:
+ Đất feralit trên đá badan (khoảng 24 triệu ha): phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông
Nam Bộ, duyên hải Miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An…). Đất này có tầng
phong hóa sâu, giầu chất dinh dưỡng, nhiều nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, rộng
(Tây Nguyên) thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp với
quy mô lớn (vùng chuyên canh cây cà phê ở Tây Nguyên, Cao su ở Đông Nam Bộ…)
+ Đất Feralit hình thành trên đá vôi: Diện tích nhỏ, phân bố chủ yếu ở TDMN phía Bắc,
nhìn chung khá màu mỡ thoát nước tốt, tuy nhiên tầng đất mỏng, khó khai thác chủ yếu để
trồng ngô, một số cây đặc sản và cây ăn quả, cây dược liệu…


Học Tập Suốt Đời
+ Đất Feralit trên các loại đá khác: (đá phiến, đá gơnai, đá mẹ khác…) phân bố ở khắp nơi,
tầng đất không dầy, nghèo mùn, địa hình lại chia cắt nên chủ yếu để trồng rừng và một số
cây công nghiệp (chè, sơn, trẩu và đồng cỏ cho chăn nuôi…)
+ Đất xám (đất phù sa cổ) phân bố rải rác ở nhiều nơi nhưng chủ yếu ở ĐNB, đất này tuy
bạc màu nhưng thoát nước tốt chủ yếu để trồng cao su, điều, mía, đậu tương, thuốc lá…
+ Đất khác: các loại đất chất lượng xấu khác như đất trơ sỏi đá, đất trống đồi trọc, đất đá
phong hóa…
b. Đất phù sa
- Nguồn gốc hình thành do sự bồi đắp phù sa sông, biển
- Phân bố chủ yếu ở các đồng bằng ven biển (ĐBSH, ĐBSCL, DHMT…) địa hình tương đối
bằng phẳng nên khả năng giữ nước cao, thuận lợi cho phát triển thủy lợi, áp dụng KH-KT
và đưa máy móc vào sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn.
- Đất phù sa nước ta khá phì nhiêu (đặc biệt là đất phù sa ngọt) có tầng canh tác dầy, giàu
chất dinh dưỡng như đạm, lân, kali… thuận lợi cho sản xuất lương thực, thực phẩm và cây
công nghiệp ngắn ngày (lúa, ngô, khoai, sắn, mía, lạc, đậu tương, rau…)
- Các loại đất phù sa:
+ Đất phù sa được bồi hàng năm (ngoài đê): phân bố ở ĐBSH, dải đất phù sa ngọt ven sông
Tiền, sông Hậu… đất rất tốt, bị ngập nước vào mùa mưa có thể trồng hoa màu, cây CN
ngắn ngày (lạc, mía, đậu tương…) vào mùa khô.
+ Đất phù sa không được bồi hàng năm: phân bố diện tích rộng ở ĐBSH (trong đê) đất này
rất tốt, được con người chăm bón và sử dụng thường xuyên nên rất thích hợp cho cây
lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày, hiện nay đang là địa bàn chính của nước ta về
sản xuất lương thực, thực phẩm.
+ Đất phù sa nhiễm mặn ven biển: phân bố nhiều ở vùng đồng bằng ven biển của ĐBSH và
ĐBSCL, một phần diện tích có thể cải tạo để trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn
quả… phần diện tích đất không có khả năng cải tạo hoặc cải tạo tốn kém thì để trồng cói,
sú, vẹt, nuôi trồng thủy hải sản nước mặn, nước lợ như tôm, cá, rau câu…
+ Đất phù sa nhiễm phèn: phân bố diện tích lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên,
Cần Thơ; đất này muốn sử dụng được cần phải cải tạo bằng cách thau chua rửa phèn…

+ Đất cát ven biển: phân bố dọc ven biển nhiều nhất ở ven biển miền Trung, đất này thích
hợp trồng hoa màu như sắn, ngô, khoai… cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương…
+ Các loại đất khác như đất xói mòn, rửa trôi, bạc màu, glây hóa…Đất có diện tích mặt
nước nuôi trồng thủy sản từ Móng Cái đến Hà Tiên dài 3260 km trên đó có hàng trăm ngàn
đầm phá, cửa sông, vũng vịnh, bãi triều như Phá Tam Giang, đầm Cầu Hai, đầm lợ Cà
Mau…
Tài nguyên đất của nước ta có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của
đất nước, đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp (đáng kể là hai loại đất Feralit và đất phù
sa) nên vấn đề sử dụng hợp lí đất đai, đi đôi với cải tạo, bảo vệ phải đặt lên hàng đầu.

Học Tập Suốt Đời
Câu 4. Phương hướng để sử dụng hợp lí đất đai ở nước ta.
a. Đất Feralit:
- Song song với khai thác phải tiến hành trồng rừng phòng hộ để đảm bảo độ ẩm, hạn chế
xói mòn đất, đặc biệt quan tâm đến bảo vệ rừng đầu nguồn. Khi khai thác rừng cần quy
hoạch khai thác lâu dài.
- Sử dụng đất hợp lí “đất nào cây ấy” và hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với đặc
tính của đất trồng
- Song song với mở rộng các vùng chuyên canh phải xây dựng các hồ chứa nước, các công
trình thủy lợi với quy mô khác nhau để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, điều tiết nước cho phù
hợp với thời vụ và hạn chế tốc độ thoái hóa đất trồng.
- Tuyên truyền phổ biến cho đồng bào các dân tộc những hiểu biết về đặc điểm, sự thay đổi
đặc tính của đất trồng để vận động họ sử dụng hợp lí, định canh định cư, không phá rừng
làm nương rẫy.
- Nhà nước cần phải có chính sách hỗ trợ và giúp đỡ về kỹ thuật, vốn, tạo việc làm để ổn
định cuộc sống cho đồng bào các dân tộc.
- Cần phân bố lại dân cư giữa đồng bằng và miền núi (đặc biệt là lao động có kỹ thuật) để sử
dụng hợp lí hơn tài nguyên đất.
b. Đất phù sa:
- Song song với đẩy mạnh thâm canh tăng vụ cần phát triển công trình thủy lợi để chủ động

tưới tiêu phục vụ thâm canh và góp phần cải tạo đất trồng.
- Từng bước nghiên cứu cải tạo các loại đất phèn, đất mặn, đất phù sa cũ một cách hợp lí phù
hợp với từng địa phương, từng loại cây trồng, nghiên cứu giống mới chịu phèn, mặn hoặc
chuyển sang nuôi trồng thủy hải sản.
- Cần sử dụng một cách hợp lí, đi đôi với bảo vệ, cải tạo và bồi bổ cho đất (đặc biệt phải chú
ý đến nguồn phân bón tự nhiên)
- Cần thay đổi cơ cấu mùa vụ cho phù hợp với từng địa phương từng loại đất, phá thế độc
canh cây trồng.
- Đối với những đồng bằng trọng điểm cần có những giải pháp riêng
+ ĐBSH: đẩy mạnh công tác thủy lợi , chủ động tưới tiêu, sử dụng các giống lúa mới chịu
được hạn, lạnh, kết hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày
+ ĐBSCL: tập trung mở rộng diện tích, nghiên cứu các biện pháp thay chua rửa mặn, giảm
dần sự tác động của thủy triều, sóng biển, tạo giống cây mới phù hợp với đất nhiễm mặn,
phèn
Tài nguyên đất là một thế mạnh về nguồn lực tự nhiên của nước ta, cần được khai
thác một cách hợp lí khoa học, có hiệu quả kinh tế cao, song song với khai thác cần cải tạo
và hạn chế tình trạng suy thoái đất.



Học Tập Suốt Đời

SÔNG NGÒI

I. CÂU HỎI
Câu 1. Trình bày đặc điểm sông ngòi Việt Nam.
Câu 2. Trình bày những thuận lợi và khó khăn của sông ngòi đối với sự phát triển nông
nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải và bảo vệ môi trường.
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Đặc điểm sông ngòi Việt Nam.

a. Mạng lưới sông ngòi dày đặc.
Đặc điểm này của thủy văn Việt Nam là hệ quả tác động của khí hậu nhiệt đới gió
mùa ẩm trên nền địa hình mà quá trình xâm thực là chủ yếu.
Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc. Chỉ tính những con sông có chiều dài trên
10km có nước chảy thường xuyên, thì trên toàn lãnh thổ đã có 2.360 sông (bao gồm
106 dòng sông chính với 2254 phụ lưu). Mật độ lưới sông trung bình 0,6 km/km
2
,
nơi có mật độ sông lớn 1,5 km/km
2
, ở đồng bằng châu thổ 3 – 4 km/km
2
. Dọc bờ
biển cứ 20km gặp một cửa sông. Sông ngòi nước ta nhiều, nhưng phần lớn là sông
nhỏ. Có tới 2170 con sông (chiếm 92,5% tổng số sông) có diện tích lưu vực nhỏ hơn
500km
2
với chiều dài ngắn hơn 100km.
b. Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa.
Mưa nhiều mang lại lượng dòng chảy lớn, hơn nữa sông ngòi nước ta nhận một
lượng nước lớn từ lưu vực nằm ngoài lãnh thổ. Tổng lượng nước chảy trong sông
ngòi trung bình hàng năm là 835 tỉ m
3
, trong đó lượng nước phát sinh từ lãnh thổ là
337 tỉ m
3
chiếm khoảng 37,5%. Lượng nước từ lưu vực bên ngoài gần gấp đôi
(chiếm 62,5% tổng lượng nước). Lượng dòng chảy mặt chiếm tới 2/3 tổng lượng
dòng chảy, trong đó lượng nước phát sinh từ lãnh thổ chỉ chiếm hơn 1/3.
Lượng nước phân bố không đều giữa các hệ thống sông. Sông Mê Công có lượng

nước 508 tỉ m
3
/năm, chiếm tới 60,8% lượng nước toàn lãnh thổ, nhưng chỉ có 11%
(50 tỉ m
3
) phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam. Lượng nước sông Hồng là 120 tỉ
m
3
/năm, chiếm 14,4% tổng lượng nước toàn quốc, trong đó lượng nước phát sinh
trên lãnh thổ Việt Nam chiếm 65%. Lượng nước của tất cả các sông còn lại chỉ
chiếm 24,8% tổng lượng nước.
Địa hình dốc mạnh, hệ số dòng chảy lớn nên trị số xâm thực cũng rất lớn. Sông
Hồng có trị số xâm thực lớn nhất, gần 800 tấn/km
2
/năm. Sông Mê Công và các sông

Học Tập Suốt Đời
khác có trị số xâm thực nhỏ hơn, chỉ khoảng 200 – 300 tấn/km
2
/năm. Lượng nước
lớn nên tổng lượng các bùn hàng năm sông ngòi vận chuyển ra biển Đông từ 400 –
500 triệu tấn. Lượng cát bùn trong sông Mê Công lớn nhất 215 triệu tấn/năm, sông
Hồng 115 triệu tấn/năm, mỗi con sông còn lại chỉ vài triệu tấn/năm.
c. Thủy chế theo mùa
Nhịp điệu dòng chảy theo sát nhịp điệu mưa. Mưa theo mùa, lượng dòng chảy cũng
theo mùa. Mùa lũ tương ứng với mùa mưa, mùa cạn tương ứng với mùa khô. Tính
thất thường trong chế độ mưa cũng quy định tính thất thường trong chế độ dòng
chảy. Các hệ thống sông lớn là hợp lưu của nhiều sông nên mưa lớn thì lũ lên
nhanh, rút chậm, diện tích bị ngập lớn.
Câu 2. Những thuận lợi và khó khăn của sông ngòi đối với sự phát triển nông nghiệp, công

nghiệp, giao thông vận tải và bảo vệ môi trường.
 Thuận lợi
a. Nông nghiệp:
- Sông ngòi nhiều nước, mật độ dày, phân bố tương đối đồng đều thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp ( tưới tiêu thau chua rửa mặn), 1ha lúa cần 15.000 – 60.000 m
3
nước/năm.
- Sông ngòi mang nhiều phù sa, là nguồn phân bón rất tốt cho đồng ruộng, đồng thời chống
thoái hóa đất, nếu 1 lớp phù sa mới dày 5cm cho năng suất thêm 400kg/ha, đồng thời còn
góp phần mở rộng diện tích đồng bằng.
- Sông ngòi nước ta là địa bàn tốt để nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ như cá lồng, cá
bè, nhân giống cá…
b. Công nghiệp
- Sông ngòi nước ta nhiều nước lại chảy trong những vùng có độ dốc lớn nên trữ năng thủy
điện lớn từ 20 – 30 triệu kw bằng 260 đến 279 tỉ kw/h (sông Hồng 11 triệu kw, sông Đà 6tr
kw bằng 37% trữ lượng điện cả nước). Hệ thống sông Đồng Nai bằng 19% cả nước, công
suất các nhà máy thủy điện là:
+ Hòa Bình: 1,9 trkw trên sông Đà.
+ Yaly: 700.000 kw trên sông Xê san – Kon Tum.
+ Trị An: 400.000 kw trên sông Đồng Nai
+ Đa Nhim: 160.000 kw trên sông Đa Nhim

+ Thác Bà: 110.000 kw trên sông Chảy.
+ Thác Mơ: 150.000 kw trên sông Bé.
+ Sông Hinh: 70.000 kw trên sông Hinh – Phú Yên.
+ Vĩnh Sơn: 60.000 kw trên sông Hà Giao – Bình Định
+ ĐRây Hlinh: 12.000 kw trên sông Xròpôk – Đắc Lắc
+ Các nhà máy đang xây dựng như Sơn La: 2,4 triệu kw trên sông Đà

Học Tập Suốt Đời

+ Hàm Thuận – Đa Mi: 360.000 kw trên sông La Ngà
+ Đại Thị: 250.000 kw trên sông Gâm.
- Sông ngòi cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp, theo thống kê 1 tấn gang cần 130
tấn nước, 1 tấn vải cần 200 tấn nước, 1 tấn giấy cần 600 tấn nước… Sông ngòi còn là nơi
chứa các chất thải công nghiệp (nhưng cần xử lí trước khi đổ ra sông) chính vì vậy các nhà
máy thường ở gần sông.
c. Giao thông vận tải
- Sông ngòi không đóng băng nên có thể giao thông quanh năm với giá rẻ
- Do hướng chảy chủ yếu là TB – ĐN, ĐT nối liền vùng núi trung du, vùng đồng bằng,
vùng biển nên thuận lợi cho việc giao lưu, quan hệ giữa các vùng.
- Sông ngòi nước ta đổ ra biển ở nhiều cửa sông nên rất thuận lợi cho việc xây dựng
hải cảng (cửa sông Sài Gòn có độ sâu 12m, cửa sông Cấm – Hải Phòng có độ sâu 10m)
d. Đối với sinh hoạt và du lịch
- Nước sông cũng rất cần cho sinh hoạt của con người như nước mày cho các thành
phố, theo thống kê 1 người 1 ngày trung bình cần 100 lít nước.
- Du lịch trên sông đang trở thành hình thức du lịch hấp dẫn (ĐBSH, ĐBSCL,…) tạo
nên nét văn hóa độc đáo của người Việt Nam.
e. Đối với bảo vệ môi trường
- Sông ngòi được coi là hợp phần quan trọng của môi trường, vì nó chứa đựng các
chức năng điều tiết môi trường, đồng hóa chất thải, tham gia vào vòng quay của nước trên
lục địa và đại dương.
- Sông ngòi tạo ra cảnh quan thiên nhiên trong sáng.
 Khó khăn
a. Sông ngòi với lượng nước lớn, chảy ở các địa hình cao hay gây ra lũ lụt (đặc biệt là
hạ lưu sông Hồng ảnh hưởng đến mùa màng, sinh hoạt, đầu tư tốn kém hệ thống đê
điều, trạm bơm, cầu cống…)
b. Chế độ nước thất thường (theo mùa) do đó mùa cạn thiếu nước cho sinh hoạt, sản
xuất, bên cạnh đó địa chất dưới lòng sông cấu tạo chủ yếu bởi đá bazan, dễ bị phong
hóa (nhiều hang động), do đó xây dựng cầu cống, xây dựng thủy điện tốn kém phần gia
công móng.

c. Sông ngòi nước ta phân hóa mạnh theo lòng sông, miền núi bờ cao lòng hẹp nhiều
thác ghềnh gây hạn chế cho GTVT, ở đồng bằng lòng sông rộng uốn khúc quanh co,
bên lở bên bồi nên kéo dài dòng vận chuyển và lấp dòng sông.
Sông ngòi nước ta có dòng chảy cát bùn lớn nên lắng đọng ở cửa sông gây tốn kém cho
nạo vét cửa sông.

BIỂN ĐÔNG


Học Tập Suốt Đời
I. CÂU HỎI
Câu 1. Trình bày các đặc điểm cơ bản của Biển Đông
Câu 2. Chứng minh rằng thiên nhiên nước ta mang tính bán đảo và chịu ảnh hưởng sâu sắc
của biển
Câu 3. Trình bày các nguồn lợi thiên nhiên của Biển Đông và những thiên tai do Biển Đông
mang lại. Nêu chiến lược khai thác tổng hợp kinh tế biển của nước ta.
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Đặc điểm cơ bản của Biển Đông
- Biển Đông là một trong số các biển lớn của thế giới, có diện tích 3,447 triệu km
3
. Chiều dài
Biển Đông khoảng 3000km, chiều rộng 1000km, độ sâu trung bình của biển Đông là
1140m. Gần bờ, đáy vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan sâu chưa tới 100m, ra ngoài khơi, gần
Philippin và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mới gặp lòng chảo sâu 4000m, chỗ sâu
nhất đạt 5554m.
- Phần Biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nm rộng khoảng trên một triệu km
2
, trong đó có hai
vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ (150.000 km
2

) và vịnh Thái Lan (462.000 km
2
). Phía Bắc và Nam
lãnh thổ thềm lục địa mở rộng. Tại vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa ra cách cửa sông Hồng tới
500km. Về phía Nam, thềm lục địa lan xa hơn nữa, nối liền Việt Nam với Malaixia và
Inđônêxia. Đoạn ven biển Trung Trung Bộ thì thềm lục địa thu rất hẹp, trung bình chỉ
khoảng 50km, chỗ hẹp nhất chỉ còn 30km ở mũi Đại Lãnh (Phú Yên).
- Biển Đông trải dài từ xích đạo đến chí tuyến Bắc, nằm trong vùng nội chí tuyến nên là một
vùng biển có đặc tính nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của gió mùa. Tính chất nhiệt đới gió
mùa được thể hiện rõ trong điều kiện khí tượng, hải văn và sinh vật biển. Nhiệt độ trung
bình năm của không khí trên biẻn Đông tăng dần từ Bắc xuống Nam, từ vùng ven bờ ra
ngoài khơi. Ven bờ ở phía Bắc nhiệt độ không khí trung bình năm 22 – 24
0
C, từ sau vĩ
tuyến 16
0
B, nhiệt độ trung bình năm lên tới 26 – 27
0
C. Nước biển tầng mặt có nhiệt độ
trung bình năm trên 23
0
C, từ phía nam đảo Cồn Cỏ đạt trên 25
0
C. Nhìn chung, nhiệt độ
nước biển thường chênh với nhiệt độ không khí khoảng từ 1
0
C đến 2
0
C. Tính chất gió mù
thể hiện ở sự biến đổi nhiệt độ không khí trên biển và nhiệt độ nước biển theo mùa trong

năm. Sự hạ thấp nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển vào mùa đông do gió mùa đông
bắc cũng biểu hiện rõ rệt từ vĩ tuyến 16
0
B trở ra, giống như trên đất liền.
- Biển Đông còn là vùng biển tương đối kín. Hình dạng khép kín của vùng biển tạo nên tính
chất khép kín của dòng hải lưu với hướng chảy chịu ảnh hưởng của gió mùa. Tại hai vịnh
Bắc Bộ và vịnh Thái Lan cũng hình thành những dòng hải lưu chảy theo những vòng tròn
nhỏ hơn. Thành phần sinh vật biển Đông cũng tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới, số lượng
loài rất phong phú, riêng cá có tới 2000 loài.

Học Tập Suốt Đời
Như vậy, tính chất nhiệt đới gió mùa và tính chất khép kín địa phương của các yếu
tố khí tượng – hải văn, sinh vật là hai đặc điểm cơ bản nhất của biển Đông. Hai đặc điểm
này thể hiện tính thống nhất giữa biển và đất liền của lãnh thổ Việt Nam và cũng thể hiện
ảnh hưởng mạnh mẽ của biển tới các đặc điểm thiên nhiên trên đất liền.
Câu 2. Thiên nhiên nước ta mang tính bán đảo và chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển.
Diện tích biển của nước ta gấp trên 3 lần so với diện tích đất liền. Phần biển của đất
nước cũng có tới khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ. Độ dài bờ biển thì ở nước ta là 3260km,
nếu tính tỉ lệ diện tích đất liền trên chiều dài bờ biển thì ở nước ta cứ 100km
2
đất liền đã có
1km đường bờ biển. Tỉ lệ này gấp 6 lần trung bình của thế giới. Tính bán đảo được thể hiện
trước hết ở khí hậu, địa hình ven biển và ở cảnh quan thiên nhiên nước ta.
a. Khí hậu mang tính hải dương điều hòa
Biển Đông rộng và chứa một lượng nước lớn là nguồn dự trữ ẩm làm cho độ ẩm tương
đối của không khí trên 80%. Các luồng gió hướng đông nam từ biển thổi vào luồn sâu
theo các thung lũng sông làm giảm độ lục địa ở các vùng cực tây của đất nước. Biển
Đông làm biến tính các khối khí đi qua biển vào nước ta. Về mùa đông các dòng khí
lạnh khô từ lục địa phương Bắc tràn xuống qua vùng biển nóng ẩm nhận thêm nhiệt và
ẩm nên giảm bớt tính chất lạnh khô, mang lại thời tiết mưa phùn cho vùng đồng bằng

và ven biển phía Bắc. Về mùa hạ, khối khí phương nam từ xích đạo đi lên qua biển
Đông trở nên dịu mát hơn. Biển Đông đã mang lại cho nước ta một lượng mưa lớn, làm
giảm đi tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô trong mùa đông và làm dịu bớt thời
tiết nóng bức trong mùa hè. Nhờ có biển Đông khí hậu nước ta mang nhiều đặc tính của
khí hậu đại dương, điều hòa hơn.
b. Địa hình ven biển đa dạng và đặc sắc
Các dạng địa hình ven biển nước ta rất đa dạng, đặc trưng cho địa hình vùng biển nhiệt
đới ẩm với tác động của quá trình xâm thực – bồi tụ diễn ra mạnh mẽ trong mối tương
tác giữa biển và lục địa. Đó là các dạng địa hình vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn,
các tam giác châu với bãi triều rộng lớn, các bãi cát phẳng lì, các vũng vịnh nước sâu,
các đảo ven bờ và những rạn san hô… có nhiều giá trị về kinh tế và du lịch.
c. Cảnh quan thiên nhiên rừng ưu thế
- Lượng mưa ẩm cao do biển Đông mang lại làm xúc tiến mạnh mẽ cường độ vòng tuần
hoàn sinh vật vốn đã thuận lợi trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm nước ta. Nhờ vậy, rừng
nguyên sinh khí hậu ở nước ta là kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm xanh quanh năm có năng suất
sinh học rất cao. Ngay cả rừng thứ sinh mọc lại cũng phần lớn là rừng kín thường xanh.
Ngoại trừ một số địa phương có khí hậu khô khan hoặc những nơi đất đai bị khai thác kiệt
quệ, còn hầu như khắp mọi nơi trên đất nước màu xanh bao phủ do quá trình tái sinh, hồi
phục rừng diễn ra mau chóng. Địa hình đồi núi chiến chủ yếu khiến cho cảnh quan rừng
tiêu biểu cho thiên nhiên nước ta. Cảnh quan rừng ưu thế đã thay thế cảnh quan sa mạc,

Học Tập Suốt Đời
bán sa mạc nhiệt đới, cận nhiệt đới mà ta thấy ở các nước có cùng vĩ độ thuộc Tây Nam Á
và Bắc Phi.
- Biển Đông còn mang lại cho tài nguyên rừng nước ta diện tích rừng nhiệt đới ẩm thường
xanh ngập mặn ven biển khá rộng, nguyên có tới 450.000 ha, riêng Nam Bộ 300.000 ha.
Rừng ngập mặn ở nước ta lớn thứ hai trên thế giới sau rừng ngập mặn Amazôn ở Nam Mĩ.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn cho năng suất sinh học cao, đặc biệt là sinh vật nước lợ. Tuy
nhiên, hiện nay rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều chỉ còn khoảng 15% diện tích (68.303
ha, năm 2003).

Câu 3. Các nguồn lợi thiên nhiên của Biển Đông và những thiên tai do Biển Đông mang lại.
Chiến lược khai thác tổng hợp kinh tế biển của nước ta.
- Biển Đông góp phần làm giàu tài nguyên thiên nhiên nước ta. Vùng thềm lục địa chứa các
mỏ khoáng sản trầm tích hữu cơ và trọng sa. Khoáng sản có trữ lượng lớn và giá trị nhất là
dầu khí. Hai bể dầu lớn nhất là bể chứa Nam Côn Sơn có diện tích 70000km
2
và bể chứa
Cửu Long diện tích khoảng 23000 km
2
hiên đang được khai thác. Các bể dầu khí Malai –
Thổ Chu và bể sông Hồng có diện tích nhỏ hơn cũng có trữ lượng đáng kể và còn hơn chục
mỏ dầu khí khác đã được xác định. Lượng dầu thô khai thác được hàng năm của chúng ta
đạt hàng chục triệu tấn. Ngoài ra, các mỏ sa khoáng, các bãi cát ven biển có trữ lượng lớn
là nguồn nguyên liệu quý cho ngành công nghiệp. Vùng ven biển nước ta còn thuận lợi cho
nghề làm muối, nhất là vùng ven biển Nam Trung Bộ.
- Sinh vật Biển Đông tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới giàu thành phần loài và có năng suất
sinh học cao, nhất là ở vùng ven bờ, nơi giàu nguồn thức ăn có mật độ tập trung sinh vật
cao nhất. Trong biển Đông có tới trên 2000 loài cá, trên 100 loài tôm, khoảng vài chục loài
mực, hàng nghìn loài sinh vật phù du và sinh vật đáy khác. Trên các đảo, nhất là tại hai
quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa, ta còn có nguồn tài nguyên quý giá, các rạn san hô
cùng đông đảo các loài sinh vật khác tập trung ven đảo.
- Bão, sóng lừng, nước dâng là những thiên tai do Biển Đông gây ra làm ảnh hưởng không
nhỏ đến cảnh quan thiên nhiên và sự phát triển kinh tế, xã hội nước ta. Mỗi năm trung bình
vùng đồng bằng và ven biển nước ta đón nhận 3 – 4 cơn bão trực tiếp từ biển Đông đổ vào.
Năm bão nhiều có tới 8 – 10 cơn, năm ít cũng 1 – 2 cơn bão. Bão qua Biển Đông gây mưa
to, lượng mưa đột ngột tăng lên đến 300 – 400 mm trong một ngày đêm, nước dâng nhanh,
gió giật mạnh, sóng lớn làm phá hủy các công trình xây dựng, đắm chìm tàu bè và làm
ngập mặn đất đai. Những đợt sóng lớn do gió bão gây nên có thể rất cao, độ cao cực đại ở
Cô Tô, Bạch Long Vĩ là 6 – 7m, ở Hoàng Sa, Trường Sa đến 11m. Bão lớn, sóng lừng,
nước dâng là những thiên tai bất thường, khó phòng tránh vẫn thường xuyên hàng năm đe

dọa, gây hậu quả nặng nề cho vùng đồng bằng ven biển nước ta, nhất là vùng ven biển
Trung Bộ.
- Chiến lược khai thác tổng hợp kinh tế biển:

Học Tập Suốt Đời
+ Cần có biện pháp sử dụng hợp lí, phòng chống ô nhiễm môi trường biển và phòng chống
thiên tai.
+ Phát triển tổng hợp kinh tế biển gồm các ngành: khai thác khoáng sản biển, khai thác và
nuôi dưỡng thủy hải sản, giao thông vận tải biển, du lịch biển.

SINH VẬT

I. CÂU HỎI
Câu 1. Trình bày đặc điểm tài nguyên sinh vật nước ta
Câu 2. Chứng minh rằng tài nguyên sinh vật nước ta đa dạng và phong phú
Câu 3. Phân tích vai trò của tài nguyên sinh vật đối với sự phát triển KT-XH và bảo vệ
môi trường
Câu 4. Nêu những khó khăn của tài nguyên sinh vật nước ta hiện nay đối với phát triển
kinh tế - xã hội.
Câu 5. Trình bày phương hướng khai thác, bảo vệ tài nguyên, sinh vật của nước ta.
II. GIẢI ĐÁP
Câu 1. Đặc điểm tài nguyên sinh vật nước ta
Sinh vật là sản phẩm tổng hợp của tất cả các thành phần tự nhiên và là diện mạo
cảnh quan. Thiên nhiên nhiệt đới gió mùa ẩm được đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng nhiệt
đới ẩm gió mùa.
Ở Việt Nam, hệ sinh thái rừng nguyên sinh đặc trưng khí hậu nóng ẩm là rừng rậm
nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh. Rừng nguyên sinh còn lại rất ít, hiện nay phổ biến là
rừng thứ sinh với các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá, rừng thưa khô rụng
lá tới xavan, truông bụi gai hạn nhiệt đới.
Trong đai rừng chân núi, thành phần các loài thực, động vật nhiệt đới chiếm ưu thế,

có nguồn gốc bản địa, Malaixia – Inđônêxia và Ấn Độ - Mianma. Thực vật phổ biến là các
loài thuộc các họ cây nhiệt đới như đậu, vang, dâu tằm, dầu. Động vật trong rừng là các
loài chim thú nhiệt đới, nhiều nhất là công, trĩ, gà, lôi, khỉ, voọc, vượn, nai, hoẵng, sơn
dương… Ngoài ra, còn cả một thế giới các loài bò sát, ếch nhái, côn trùng vô cùng phong
phú.
Sự phân hóa đa dạng, phức tạp của cảnh quan thiên nhiên Việt Nam được biểu hiện
trực quan sinh động nhất ở giới sinh vật với sự đa dạng các kiểu hệ sinh thái.

×