Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác ở xã phương tú – ứng hoà - hà tây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.9 MB, 58 trang )

Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phơng Tú là một xã thuộc huyện ứng Hoà - Hà Tây cách thủ đô
20km. Phơng Tú gồm 6 thôn : Hậu Xá, Dơng Khê, Nguyên Xá, Đông Phú,
Phí Trạch, Ngọc Đông. Từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và
Nhà nớc hộ gia đình đợc giao đất lâu dài, ổn định để sản xuất và hộ gia đình
trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, hợp tác xã nông nghiệp trở thành hợp tác xã
dịch vụ đầu vào và đầu ra phục vụ và tạo điều kiện cho sự phát triển của
kinh tế hộ gia đình. Phơng Tú có nhiều khởi sắc đã phát huy tiềm năng đất
đai, lao động sản xuất nông nghiệp phát triển, năng suất lúa tăng cao đảm
bảo nhu cầu cho nhân dân trong xã và phát triển chăn nuôi đời sống về kinh
tế, văn hoá cuả xã đợc tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên trong thời kỳ kinh tế xã hội hiện nay đang phát triển theo
nền kinh tế thị trờng thì việc sản xuất ở đây cha đáp ứng đợc hiệu quả cao
nhất của đất. ở Phơng Tú đất sản xuất có nhiều loại mỗi loại có u thế riêng
để phát triển những loại cây trồng cho năng suất cao đất đạt hiệu quả cao
nhất.
- Đối với đất cao tơí tiêu nớc khó nhất là vụ xuân thì hiệu quả cây lúa
sẽ kém hơn nhiều đối với sản xuất rau màu.
- Đối với đất trũng thờng ngập nớc thì hiệu quả của cây lúa thấp hơn
so với việc sản xuất thuỷ sản.
Chính vì vậy việc chuyển đổi đất lúa của Phơng Tú sang sản xuất
nông thủy sản khác là cần thiết.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Với đề tài nghiên cứu " Định hớng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu
cây trồng trên đất trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác ở xã Ph-
ơng Tú ứng Hoà - Hà Tây" thì mục tiêu tổng quát là làm sáng tỏ cơ cở
khoa học của những vấn đề kinh tế chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn
xã, nhằm mục đích tạo đợc một cơ cấu đất sản xuất phù hợp nhất tạo đợc


hiệu quả sản xuất cao nhất.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng đất nông nghiệp và cơ cấu cây trồng ở xã Phơng
Tú, rút ra những mặt đợc và chỉ ra những mặt hạn chế.
- Đề xuất phơng hớng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu theo hớng nâng
cao năng suất đất và hiệu quả sử dụng ruộng đất.
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
3.Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài là vấn đề chuyển đổi cơ cấu cây
trồng trên đất trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác.
Đề tài đứng trên góc độ của vấn đề kinh tế để nghiên cứu những vấn
đề có tính lý luận và thực tiễn chuyển đổi đất lúa sang sản xuất nông thuỷ
sảng khác và ảnh hởng của nó trong quá trình phát triển nông nghiệp theo cơ
chế thỉ trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu vấn đề của một xã gồm
6 thôn thuộc xã Phơng Tú - ứng Hoà - Hà Tây.
Thời gian nghiên cứu từ 1995 đến 2000.
3.3 Phơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài em dựa vào các phơng pháp nghiên cứu của thầy
cô bao gồm:
3.3.1 Phơng pháp nghiên cứu duy vật biện chứng :
- Đây là phơng pháp nghiên cứu các hiện tợng trên trạng thái động
và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nó cho phép phân tích và
đánh giá một cách khách quan các vấn đề nghiên cứu từ đó cho ta
biết đợc những quan điển những lí thuyết chung về vấn đề nghiên
cứu.
3.3.2 Phơng pháp duy vật lịch sử

- Phơng pháp này dựa trên những phạm trù khoa học về sản xuất vật
chất và quy luật khách quan để nghiên cứu quá trình hình thành và vận động
của các ngành sản xuất.
3.3.3 Phơng pháp thống kê kinh tế
- Đây là phơng pháp nghiên cứu kinh tế thông thờng giúp cho việc
điều tra, tổng hợp phân tích thống kê các tài liệu về thực trạng sử dụng đất
nông nghiệp.
3.3.4 Phơng pháp phân tích và tổng hợp
- Đây là phơng pháp nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội một cách
xác thực thông qua phơng pháp phân tích số liệu tổng hợp đợc từ đó cho ta
những kết luận, nhận xét từ những bài học thực tiễn.
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Chơng I :
Một số lý thuyết và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu
đất trồng lúa ở nớc ta
I. cơ cấu cây trồng và đặc trng của cơ cấu cây trồng.
1.Khái niệm về cơ cấu cây trồng
1.1 Khái niệm
Cơ cấu cây trồng đợc hiểu xuất phát từ thuật ngữ " cơ cấu" theo
thuyết cấu trúc (Structuralism) và học thuyết tổ chức hữu cơ " organism" thì
cơ cấu có thể hiểu nh là một cơ thể đợc hình thành trong điều kiện môi trờng
nhất định ( hiểu theo nghĩa rộng ). Trong đó các bộ phận hay yếu tố của nó
đợc cấu tạo có tính quy luật và hệ thống theo một trật tự và tỷ lệ thích ứng.
Nội dung cốt lõi của nó là biểu hiện vị trí, vai trò của từng bộ phận hợp
thành và có mối quan hệ tơng tác lẫn nhau trong tổng thể. Một cơ cấu có thể
đợc thay đổi để phù hợp với điều kiện khách quan nhất định . Suy rộng ra cơ
cấu cây trồng có thể quan niệm trên cơ sở của khái niệm cơ cấu kinh tế nông
thôn: " là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn. Nó có
mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lợng

và liên quan chặt chẽ với chất, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong không
gian và thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nhất định,
tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn - một bộ phận hợp thành
không thể tách rời của hệ thống nền kinh tế quốc dân". Cơ cấu cây trồng còn
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
là bộ phận chủ yếu của cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông
thôn ở nớc ta. Sự phát triển của cơ cấu cây trồng còn tuỳ thuộc vào trình độ
của lực lợng sản xuất và sự phân công lao động xã hội. Quá trình phát triển
của lực lợng sản xuất nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác
lập những tỷ lệ theo các mối quan hệ tất yếu. C. Mác đã viết: " Trong sự
phân công lao động xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh
khỏi một tất yếu thầm kín, yên lặng". Cơ cấu cây trồng có thể đợc hình thành
từ nhiều nhóm, chẳng hạn cây lơng thực có lúa, màu, đậu tơng cây công
nghiệp dài ngày có chè, cà phê Cơ cấu cây trồng còn là một trong những
nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông nghiệp. Xét trong phạm vi các
điều kiện canh tác thì cơ cấu cây trồng thể hiện thành phần các loại cây
trồng đợc bố trí theo từng địa điểm và thời gian cụ thể. Vì thế xác định cơ
cấu cây trồng còn là nội dung của công tác phân vùng sản xuất nông nghiệp.
Muốn phát triển trồng trọt ở từng vùng đạt hiệu quả kinh tế cao trớc hết phải
xem xét việc bố trí cây trồng thích hợp nhất với điều kiện tự nhiên - kinh tế -
xã hội của vùng. Do đó cấu trúc một cơ cấu cây trồng hợp lý không những
phát triển đợc sản xuất một cách lợi nhất mà còn bảo vệ tốt đất đai và môi tr-
ờng.
1.2 Yêu cầu cơ cấu cây trồng trong hệ thống canh tác
- Lợi dụng tốt các điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai nhằm tránh đợc
các tác hại do thiên tai gây ra, hạn chế những ảnh hởng của úng lụt, hạn hán,
chua mặn mà vẫn không ngừng thâm canh, cải tạo đất.
- Lợi dụng triệt để những đặc tính sinh học tốt của cây trồng nh : khả
năng chống chịu các điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh, tính thích ứng rộng rãi,

có tiềm năng cho năng suất cao và chất lợng sản phẩm tốt.
1.3 Yêu cầu cơ cấu cây trồng thể hiện về mặt kinh tế
- Đáp ứng cho việc tổ chức các vùng sản xuất chuyên canh có tỷ suất
hàng hoá cao.
- Đảm bảo cho việc tổ chức các yếu tố đầu vào hợp lý, phát triển sản
xuất đa dạng và kết hợp chặt chẽ giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản và chế biến.
Trong quá trình tái sản xuất bao gồm cả bốn khâu: sản xuất, phân
phối, lu thông và tiêu dùng thì cơ cấu cây trồng không thể dừng lại ở một
khâu nào cả mà nó là một chuỗi liên tục, chi phối trong mối quan hệ tơng tác
lẫn nhau theo hớng hoàn thiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Cho đến nay,
khái niệm về cơ cấu cây trồng vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi,
song qua một thời gian dài nghiên cứu về lý luận cơ cấu cây trồng và vận
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
dụng vào tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp nớc ta, nhiều nhà lý luận
cũng nh các chuyên gia chỉ đạo thực tiễn cũng có thể tạm nhất trí với nhau ở
một số điểm chính của khái niệm có tính nguyên tắc về cơ cấu cây trồng.
Tuy nhiên theo chúng tôi thì khái niệm cơ cấu cây trồng vừa theo nghĩa rộng
và vừa có ý nghĩa trong phạm vi hẹp nh đã trình bày ở trên là xác đáng hơn.
2. Vai trò và đặc trng của cơ cấu cây trồng
2.1 Vai trò của cơ cấu cây trồng
Nớc ta là một nớc nông nghiệp trên 70% dân số sống tập trung ở nông
thôn. Vì vậy đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn
trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội. Trong sản xuất nông nghiệp thì
ngành trồng trọt là chủ yếu, chiếm đến 75% giá trị tổng sản phẩm nông
nghiệp. Đứng trên góc độ kinh tế - tổ chức thì chế độ trồng trọt bao gồm ba
nội dung quan trọng.
Một là xác định cơ cấu đất đai để bố trí cây trồng cho phù hợp có
nghĩa là hình thành một cơ cấu cây trồng hợp lý nhất. Hai là xác định nhu

cầu về khối lợng và chủng loại sản phẩm để lựa chọn cây trồng thích hợp.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng thì đây là động lực quan trọng. Ba là xác
định khả năng và biện pháp khai thác triệt để để các nguồn lợi tự nhiên cho
sản xuất , tăng năng suất đất đai và sản lợng cho các loại cây trồng, nâng cao
hiệu quả kinh tế của sản xuất.
Trong ba nội dung trên thì xác định cơ cấu cây trồng có ý nghĩa cơ
bản và quan trọng nhất trong quá trình chuyển nền nông nghiệp từ độc canh
lơng thực sang nền nông nghiệp đa dạng, có nhiều nông sản hàng hoá phục
vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu, làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện
thắng lợi công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc. Cơ cấu cây trồng còn là
căn cứ để xây dựng các kế hoạch đầu t vốn, sử dụng lao động và các loại t
liệu sản xuất nông nghiệp cũng nh việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
một cách có hiệu quả và chủ động. Mặt khác trong điều kiện nhiều thành
phần kinh tế trong nông nghiệp thì việc xác định một cơ cấu cây trồng hợp
lý đạt hiệu quả là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi thành phần kinh tế sử dụng
đất nông nghiệp ở nớc ta. Tuy nhiên cơ cấu cây trồng không phải là một hệ
thống tĩnh mà luôn luôn động. Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng
ở nớc ta hiện nay vừa là nội dung trọng tâm của chủ trơng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng một nền kinh tế hàng hoá, nhiều thành phần, vừa là
biện pháp để phát triển nông nghiệp toàn diện và bảo vệ tốt nguồn tài
nguyên đất đai. Có thể nói là một vấn đề cực kỳ quan trọng và hết sức bức
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
xúc. Đơng nhiên không thể chuyển đổi một cách ồ ạt, vội vã song cũng
không thể chần chừ, chậm trễ. Mọi việc làm thiếu căn cứ khoa học đều gây
thiệt hại không nhỏ làm cho hàng triệu nông dân và kìm hãm sự phát triển
của nông nghiệp. Việc coi nhẹ vai trò của cơ cấu cây trồng nhiều khi còn
phải trả giá quá đắt cho một thời gian khá dài của nền nông nghiệp lạc hậu
và độc canh lơng thực. Tất nhiên điều đó còn có sự ảnh hởng của cơ chế tập
quản lý tập trung, bao cấp nữa. Vì vậy chuyển đổi cơ cấu cây trồng có nghĩa

là chuyển dịch theo quan điểm đổi mới của Đảng ta chứ không phải thay đổi
hoàn toàn. Từ những năm 1975 miền Bắc nớc ta đã có nhiều công trình
nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên cơ sở bố trí lại mùa vụ đã đạt
kết quả rất tốt. Chẳng hạn công trình nghiên cứu thay thế lúa chiêm trên một
số diện tích bằng vụ lúa xuân và chuyển đổi vụ mà chính vụ bằng mùa sớm
để phát triển thêm cây vụ đông đã mở ra một chế độ canh tác 3 vụ cho hàng
vạn héc ta, tạo ra năng suất đất đai cao hơn hẳn, và việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng đã có bằng chứng sống động có sức thuyết phục cao đối với hàng
triệu nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Từ việc nghiên cứu cơ cấu cây trồng đặt
ra cho các nhà lý luận cũng nh các nhà quản lý những nhiệm vụ có ý nghĩa
chiến lợc trong bố trí sản xuất trồng trọt, đó là xác định cơ cấu cây trồng trớc
mắt và trong tơng lai, phục vụ cho chiến lợc phát triển nông nghiệp của nớc
ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế đất nớc theo con đờng công nghiệp
hoá và hiện đại hoá.
2.2 Đặc trng của cơ cấu cây trồng.
Cây trồng là một trong những đối tợng sản xuất có nhiều đặc trng nhất
vì nó vừa là đối tợng sản xuất vừa là đối tợng tác động chính. Bởi vậy chúng
ta cần phải xem xét đặc trng của cơ cấu cây trồng.
2.2.1 Cơ cấu cây trồng trớc hết phản ánh rõ nét đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội, bởi vì cây trồng là đối tợng của sản xuất nông nghiệp. Bản thân các cây
trồng là những cơ thể sống, chúng tồn tại, sinh trởng, phát triển theo quy luật
sinh học và chịu tác động trực tiếp của các yếu tố tự nhiên nh đất, nớc, khí
hậu, thời tiết Dacwin và Mitchurin đã từng nhấn mạnh : " Cây trồng và
ngoại cảnh là một khối thống nhất ". Vì vậy cơ cấu cây trồng đợc hình thành
trớc hết không thể bỏ qua điều có tính quy luật đó. Mặt khác tính quần thể
của thực vật còn biểu hiện mối quan hệ sinh học trong việc bố trí sản xuất
trồng trọt. Việc xác định cơ cấu cây trồng còn phải xuất phát từ những yếu tố
đại lý và tập quán canh tác cũng nh trình độ phát triển dân trí. Do đó phải

dựa vào cơ sở của các phơng án phân vùng quy hoạch nông nghiệp nhất định
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
là việc hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, có khối lợng nông sản
hàng hoá lớn. Cần phải nhận thức rằng không thể dựa vào quan niệm sản
xuất nhỏ, phân tán, manh mún để bố trí cây trồng một cách dàn trải, bất hợp
lý mà phải dựa vào việc khai thác lợi thế của từng vùng, từng địa phơng để
bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thớc đo. Sản
phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm trồng trọt nói riêng phần lớn là
sản phẩm thô, tồn tại dới dạng nguyên liệu, vì vậy trong tổ chức sản xuất
trồng trọt phải gắn liền với việc bố trí cơ cấu cây trồng với các thành tựu
khoa học kỹ thuật trong bảo quản và chế biến để nâng cao giá trị và giá trị sử
dụng của sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho sản xuất.
2.2.2 Bản chất và sự biến đổi của cơ cấu cây trồng tuỳ thuộc vào
trình độ của lực lợng sản xuất
Cơ cấu cây trồng còn hoang sơ và rất tự nhiên trong điều kiện cuộc
sống của con ngời dựa vào hái lợm. Cơ cấu cây trồng mang tính độc canh tự
cấp, tự túc, khép kín, kém hiệu quả trong điều kiện sản xuất nông nghiệp lạc
hậu, công nghiệp và các ngành kinh tế khác cha phát triển. Nông nghiệp nớc
ta nằm trong vùng có khí hậu đặc trng nhiệt đới gió mùa, điều kiện khí hậu
thời tiết thuận lợi cho việc gieo trồng quanh năm. Nhng trong những năm
qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng,
song trong suốt thời gian thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung,
việc xác định cơ cấu cây trồng luôn bị lệ thuộc bởi các yếu tố chủ quan, định
trớc do đó sản xuất nông nghiệp còn mang đặc trng nền nông nghiệp kém
phát triển, nhiều vùng nông thôn vẫn trong tình trạng nghèo đói. Những năm
gần đây, do thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nớc nớc ta đã bớc
đầu khởi sắc và phát triển. Nhng cơ bản vẫn còn mang dấu ấn của một nền
nông nghiệp lạc hậu, độc canh cây lơng thực. Vì vậy việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng vẫn đợc xem xét từng bớc cùng với sự phát triển của lực lợng sản

xuất trong nông nghiệp, nhằm kết hợp chặt chẽ với điều kiện tự nhiên và lợi
thế so sánh của từng vùng, từng địa phơng. Mặt khác trình độ khoa học kỹ
thụât cao cũng có tác động rõ rệt đến việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong sản xuất trồng trọt, làm thay đổi cơ cấu cây trồng theo hớng chú
trọng chất lợng và hiệu quả. Nhiều vùng chuyên canh cây trồng ở nớc đã
hình thành và phát triển, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và
hàng hoá xuất khẩu nh : chè, cà phê, cao su, mía đờng, dâu tằm.v v Những
tiến bộ của việc xác định cơ cấu cây trồng ngày càng hợp lý cũng thể hiện sự
phát triên của lực lợng sản xuất trong nông nghiệp nớc ta đang từng bớc đạt
trình độ cao hơn.
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
2.2.3. CCCT về cơ bản phản ảnh yêu cầu của sản xuất hàng hoá và thị
trờng, tuân theo sự phân công lao động xã hội, tính chất chuyên môn hoá sản
xuất.
Nhu cầu sản xuất hàng hoá và thị trờng là điều kiện quyết định sự biến
đổi về chất của CCCT. Suy cho cùng thì nhu cầu về nông sản và môi sinh của
xã hội càng cao thì càng thúc đẩy CCCT chuyển biến theo hớng tiến bộ. Từ
những đặc trng đó đòi hỏi khi xác định CCCT cần phải dựa vào nhu cầu thị
trờng nông sản, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, sự phân
vùng quy hoạch nông nghiệp và phơng hớng phát triển nông nghiệp trong
từng thời kỳ, những tiến bộ kỹ thuật và điều kiện để ứng dụng vào sản xuất.
Trong nền kinh tế hàng hoá thì thị trờng là nơi kết thúc quá trình sản xuất.
Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất nh thế nào đều do thị trờng quyết
định. Trong quá trình tổ chức sản xuất ngành trồng trọt thì việc xác định
CCCT tuân theo nguyên lý đó. Quá trình tái sản xuất trong nông nghiệp tuy
diễn ra chậm chạp nhng nó tuân theo những quy luật kinh tế khách quan vừa
đảm bảo thu hồi vốn, vừa tiếp tục tái sản xuất mở rộng. Ngời nông dân chỉ
có thể sản xuất cái mà thị trờng cần chứ không phải cái mà họ có sẵn. Khi
một loại nông sản nào đó thị trờng không chấp nhận sẽ dẫn đến ứ đọng và ế

thừa, không tiêu thụ đợc hoặc tiêu thụ với giá rẻ không đủ bù đắp chi phí đã
bỏ ra. Bởi vậy, trong lĩnh vực trồng trọt, việc xác định CCCT trớc hết phải
tìm hiểu nhu cầu thị trờng cả trong nớc và ngoài nớc về số lợng và chất lợng,
chủng loại, giá cả. Trên cơ sở đó mà có sự bố trí sắp xếp sản xuất hợp lý đáp
ứng nhu cầu thị trờng, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng.
3. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Thực tiễn phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và CCCT nói
riêng ngày càng chứng tỏ hơn các xu hớng sau đây:
3.1 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hớng sản xuất hàng hoá
Xu hớng này phản ánh quy luật cung - cầu trong xã hội, có thể thấy rõ
trên các khía cạnh:
- Nhu cầu ngày càng gia tăng về số lợng lẫn chất lợng của sản phẩm từ
cây lơng thực, thực phẩm và nhiều loại cây trồng khác.
- Thị trờng cung - cầu của sản xuất trồng trọt ngày càng mang tính xã
hội hoá và quốc tế hoá.
- Công nghiệp hoá và hiện đại hoá có quan hệ tơng tác với nông
nghiệp và ngày càng thêm chặt chẽ.
3.2 Chuyển dịch theo hớng một nền kinh tế phát triển và một nền
nông nghiệp ổn định, bền vững.
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Lịch sử phát triển của các nớc trên thế giới đều cho thấy rõ:
- Vai trò của nông nghiệp có tác dụng rất to lớn và có khi có tính
quyết định ở các giai đoạn đầu ở sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Kinh
nghiệm của các nớc Châu á phát triển nh Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,
Thái Lan, Malaixia đã đạt mức tăng trởng kinh tế nhanh do đã tập trung xây
dựng trớc hết một nền móng phát triển vững vàng tại nông thôn. Các nớc này
đã đầu t rất nhiều vào nông nghiệp và đã thành công không chỉ trong việc
xoá đói giảm nghèo mà ngay cả các ngành phi nông nghiệp cũng tăng trởng
rất nhanh. Trong giai đoạn sau thì vai trò của nông nghiệp có khác trớc, nhng

không có nghĩa là không quan trọng đối với một nền kinh tế phát triển.
- Ngày nay ngời ta càng nhận rõ vấn đề an toàn lơng thực là đặc biệt
quan trọng đối với mỗi quốc gia.
1.3.3 Cơ cấu cây trồng phát triển theo hớng bảo vệ môi trờng sinh
thái
Kinh tế phát triển, nhất là kinh tế hàng hoá luôn có mặt trái của nó,
trong đó có sự tác hại đến môi trờng, sự phá huỷ môi trờng sinh thái là điển
hình. Do đó cơ cấu cây trồng tiến bộ không thể không chú ý đến việc hạn
chế sự tàn phá môi trờng và hớng tới bảo vệ đa dạng, bền vững của môi tr-
ờng sinh thía. Nói tóm lại xu hớng phát triển cơ cấu cây trồng cần thiết phải
đợc thể hiẹn rõ mối quan hẹ giữa các phạm trù : sản xuất hàng hoá - nông
nghiệp bền vững - nông nghiệp sinh thái.
II. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên đất
trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác.
1. Sự cần thiết phải chuyển dịch sang sản xuất thuỷ sản :
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế nớc ta thì
tốc độ tăng trởng kinh tế cũng nh mức sống của bà con nông dân ngày đợc
tăng lên, nhu cầu về nông sản phẩm đòi hỏi ngày một nhiều hơn cả về số l-
ợng và chất lợng chính vì vậy sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có sự biến
đổi tích cực, để phù hợp với yêu cầu khách quan. Để đáp ứng đựơc nhu cầu
ngày càng cao về nông sản phẩm thì chúng ta phải chuyển đổi cơ cấu cây
trồng cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm cho thu nhập và mức
sống của bà con nông dân ngày một tăng lên. Trong bữa ăn hàng ngày bây
giờ thì vấn đề lơng thực là thứ yếu mà chủ yếu trong bữa ăn thực phẩm là
thức ăn quan trọng đòi hỏi phải nhiều chủng loại, chất lợng các chủng loại
này cao, đáp ứng đợc về mức độ ngon miệng và đủ chất dinh dỡng.
1.1 Điều kiện sản xuất thuỷ sản
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Trên các chân ruộng lúa thì có nhiều loại khác nhau với các đặc điểm

khác nhau tạo ra điều kiện sản xuất khác nhau của các chân ruộng đó, trong
đó ta thấy có một số chân ruộng có thể kết hợp nuôi cá, đan xen với trồng
lúa vừa đem lại sự đa dạng hoá sản phẩm trên đất lúa, vừa đem lại hiệu quả
kinh tế cao. Những chân ruộng trũng thờng xuyên ngập nớc, canh tác lúa
trên ruộng đó chủ yếu là vụ mùa vào tháng 1 và tháng 6 còn lại vụ kia thì
canh tác gặp nhiều khó khăn, những chân ruộng luôn ngập úng cả hai vụ khi
có ma to. Nh vậy, điều kiện sản xuất lúa sẽ khó khăn chi phí sản xuất sẽ lên
cao dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.
Đối với chân ruộng nh vậy ta có thể chuyển sang sản xuất nuôi cá và
trồng lúa kết hợp nh các chân ruộng.
- Đối với chân ruộng sản xuất lúa bấp bênh, một vụ lúa thì nay chuyển
sang sản xuất một vụ lúa cộng với một vụ cá.
- Đối với chân ruộng sản xuất bấp bênh cả hai vụ lúa nay đắp bờ kiên
cố chuyển hẳn sang sản xuất nuôi cá.
1.2 Hiệu quả kinh tế
- Đối với diện tích hồ sẵn có thì việc phát triển sản xuất thuỷ sản sẽ làm
cho giá trị sản xuất của ao hồ ngày càng nâng cao.
- Đối với diện tích lúa khi chuyển sang sản xuất thuỷ sản việc kết hợp 2
lúa 1 cá + vịt thì nhìn chung sản lợng lơng thực không giảm đáng kể nhìn
chung năng suất đạt 10 tấn/ha sản lợng cá đạt 2 tấn/ha + 200 con vịt nh vậy
ta thấy sản lợng cá và vịt sẽ tăng lên rất nhiều.
2. Sự cần thiết chuyển sang sản xuất nông sản khác
Ngoài sản xuất lúa thì trên đất trồng lúa, nhất là những chân ruộng cao
thì chúng ta có thể sản xuất đợc rất nhiều những nông sản phẩn khác nhau
đen lại hiệu của kinh tế cao hơn, và phù hơp với phong tục sản xuất của các
địa phơng, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân.
2.1 Điều kiện phát triển sản xuất nông sản khác :
Nớc ta có đặc điểm về tự nhiên đặc biệt là đất đai ngoài diện tích trũng,
đất hai lúa, thì còn một số diện tích đất hai lúa nhng chân ruộng tơng đối cao
có thể phát triển sản xuất cây vụ đông.

Đối diện tích đất cao thì việc sản xuất lúa sẽ gặp phải khó khăn trong
việc tới nớc cho cây và năng suất lúa ở chân ruộng này không cao năng suất
đạt trung bình 150 kg/ sào Bắc Bộ - 180 kg/ sào Bắc Bộ. Nh vậy hiệu quả
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
sản xuất sẽ không cao. Chính vì vậy cần phải chuyển sang sản xuất các loại
sản phẩm khác.
Đối chân ruộng quá cao thì diện tích ở xã không nhiều nay ta chuyển
sang sản xuất 1 vụ lúa và 1 vụ màu.
2.2 Hiêu quả kinh tế.
Xét về mặt hiệu quả kinh tế thì không thể phủ nhận đợc của các cây
trồng khác.Nó vừa cho ta nhiều hơn về chủng loại hàng hoá và về giá trị của
chúng
- Về thị trờng tiêu thụ sản phẩm này thì nhìn chung thị trờng rất lớn
bao gồm thị trờng tiêu thụ tại chỗ và cung cấp cho thị trờng tiêu
thụ tại trong nớc , cho các nhà máy chế biến nông sản trong nớc,
tiêu thụ tại thị trờng nớc ngoài nhất là các nớc phát triển .
III. Tình hình phát triển chung về cơ cấu cây trồng ở thế giới và
Việt Nam
1.Tình hình chung của thế giới
1.1 ở các nớc công nghiệp
Đặc điểm nổi bật ở các nớc này là chuyên môn hoá và tập trung hoá
cao độ, sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng có sự tác
động rõ rệt và hiệu quả quả công nghiệp và các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Cơ cấu cây trồng không đơn thuần vì mục đích để thu sản phẩm mà còn vì
mục đích cải tạo môi trờng sinh thái để phát triển nông nghiệp bền vững.
Tuy nhiên cơ cấu cây trồng thờng biến đổi, bị lệ thuộc và chịu sự chi phối
của nền kinh tế thị trờng và tính chất sản xuất hàng hoá cao độ.
1.2 Nhóm các nớc phát triển
Nhìn chung đối với những nớc này cha giải quyết cơ bản mối quan hệ

kinh tế - xã hội - môi trờng sinh thái trong quá trình thiết lập các hệ thống
công tác và bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp. Tuy nhiên cũng đã hớng đến
mục tiêu nh ở các nớc công nghiệp phát triển, đó là việc chuyên môn hoá và
tập trung hoá ngày càng đợc thể hiện rõ nét. Tác động của công nghiệp, của
khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ tuy cha đạt trình độ nh các nớc
công nghiệp phát triển song cũng đã đạt đợc những thành tựu tơng đối nổi
bật trong khuôn khổ cuộc cách mạng xanh và cách mạng sinh học. Hiện nay
nói chung cơ cấu cây trồng vẫn bị cuốn hút theo kinh tế thị trờng nhiều khi
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
còn mang đậm nét truyền thống, tự nhiên, và đại đa số những nớc này đang
còn gặp nhiều khó khăn về vấn đề giải quyết lơng lực.
1.3 Nhóm các nớc kém phát triển và có điều kiện tự nhiên không thuận
lợi
Đối với những nớc này việc xác định cơ cấu cây trồng chủ yếu là theo
tính chất sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc. Hiện có nhiều nớc, đặc biệt là nớc
Châu Phi vẫn cha tự túc đợc lơng thực, nạn đói vẫn thờng xuyên đe doạ.
Điểm nổi bật ở những nớc này là sản xuất nông nghiệp kém phát triển, hiệu
quả kinh tế thấp, môi trờng sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng. Hình thức
canh tác lạc hậu theo lối quảng canh, bóc lột đất đai và môi trờng tự nhiên là
chủ yếu. Việt Nam cũng là một trong những nớc kém phát triển song đặc thù
của Việt Nam thể hiện trong cơ cấu cây trồng mang đặc trng của kinh tế lúa
nớc.
2. Tình hình phát triển cơ cấu cây trồng ở Việt Nam
* Trớc cách mạng tháng 8 năm 1945
Cơ cấu cây trồng ở nớc ta nhìn chung rất lạc hậu, thời kỳ nay do dân số
ít, vấn đề đất đai không ở mức hạn hẹp, hình thức sản xuất chủ yếu là kiểu
khai phá, lập ấp, xây dựng trại, mở mang đồng ruộng và canh tác chính là
trồng lúa một vụ, sản xuất tự nhiên, tự cấp tự túc.
* Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ

Thời kỳ này về cơ bản nông nghiệp vẫn còn rất lạc hậu, nhiệm vụ sản
xuất chủ yếu là tập trung giải quyết lơng thực để phục vụ cho chiến đấu. Cơ
cấu cây trồng cũng chủ yếu thiên hớng phát triển các loại cây lơng thực gồm
lúa và hoa màu, chú ý đến số lợng và xem nhẹ chất lợng. Tuy nhiên trong cơ
cấu tổ chức bớc đầu cũng hình thành những vùng chuyên canh nh những
vùng cây ăn quả ở Nghệ An, vùng chè ở một số tỉnh Trung du và vùng núi
phía Bắc, vùng rau quanh các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng. Trong sản
xuất cũng đã đợc bớc đầu áp dụng những thành tựu về khoa học kỹ thuật,
đặc biệt là thâm canh cây trồng nh giống mới, phân bón, chế độ tới tiêu.
Năng suất cây trồng nhờ đó đã tăng lên và có nhiều tiến bộ. Miền Bắc cũng
đã làm tốt nhiệm vụ là hậu phơng lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nớc toàn thắng.
* Từ năm 1975 đến nay
Sau khi miền Nam đợc hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nớc, công
tác quy hoạch nông nghiệp đã đợc tập trung đầu t và đợc đặt ra là nhiệm vụ
hàng đầu trong kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp trên
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
phạm vi cả nớc. Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm từng b-
ớc phá thế độc canh cây lúa đã đợc triển khai và thu đợc nhiều kết quả tốt.
Hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật mới trong nông nghiệp đợc áp dụng rộng rãi ở
hầu hết các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất.Tác dụng của các cây trồng mới,
các biện pháp thâm canh và một số chính sách kinh tế ngày càng đợc nhiều
địa phơng, nhiều hộ nông dân và các tổ chức kinh tế hợp tác xã, nông trờng
quốc doanh khẳng định. Sự hình thành các vùng chuyên môn hoá khá rõ nét,
chẳng hạn vùng cây lơng thực tập trung ở hai vùng trọng điểm là đồng bằng
sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Cho đến nay việc phát triển sản
xuất lơng thực ở hai vùng này đã đảm bảo đủ lơng thực và còn phần dự trữ
và xuất khẩu hàng triệu tấn gạo/ năm. Ngoài việc tập trung cho vấn đề lơng
thực, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nớc ta cũng đồng thời đẩy

mạnh việc phát triển sản xuất các cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại
rau thực phẩm. Bớc đầu tạo ra số lợng nông sản xuất khẩu hàng năm cho đất
nớc và giải quyết nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nớc phát triển.
Cả nớc đã hình thành trong những vùng chuyên canh quan trọng nh chè, cà
phê, cao su, quế, dâu tằm, mía, đờng, điều,cam, quýt Tuy nhiên xét trên
phạm vi cả nớc thì sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn chậm chạp, tự phát
cha có những kết quả vững chắc trớc những thử thách của cơ chế thị trờng,
nhiều loại cây trồng phát triển không ổn định. Mặt khác trong nhiều vùng
kinh tế vẫn cha giải quyết những vấn đề xã hội và bảo vệ tốt môi trờng sinh
thái.
3. Những kinh nghiệm rút ra
- Xác định cơ cấu cây trồng phải xuất phát từ những mối quan hệ hữu
cơ của các yếu tố trong hệ thống nông nghiệp.
- Nền nông nghiệp Việt Nam so với một số nớc trên thế giới có tính đặc
thù riêng, rất đa dạng và phong phú. Phát triển sản xuất nông nghiệp không
thể chỉ tập trung cho một ngành nào đó, lại càng không thể tách rời giữa sản
xuất và tiêu dùng, giữa sản xuất với lu thông phân phối. Nếu chỉ tập trung
cho trồng trọt mà xem nhẹ chăn nuôi thì cha nói đến vấn đề thực phẩm mà
ngay cả việc cung cấp nguồn phân hữu cơ cho cây trồng cũng không thể đáp
ứng đợc và hiệu quả thâm canh của chính bản thân ngành trồng trọt cũng sẽ
giảm đi. Thực tiễn trong những năm qua, việc xác định và bố trí cơ cấu cây
trồng còn nặng tính chủ quan và áp đặt một cách tuỳ tiện, cha chú ý đến
những cân đối cần phải có. Các cây trồng hay các nhóm cây có mục đích
kinh tế khác nhau cha thể hiện sự hỗ trợ cho nhau cùng phát triển. Mặt các
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
cơ cấu cây trồng cũng cha lợi dụng tốt điều kiện tự nhiên , kinh tế - xã hội
của từng địa phơng hoặc từng vùng lãnh thổ. Trong đó đáng chú ý là ở nhiều
vùng có u thế về khí hậu, thời tiết, đất đai có thể bố trí tập đoàn cây con có
giá trị kinh tế cao và cho năng suất khá nh : Tây Nguyên và một số huyện

miền núi Quảng Nam - Đà Nẵng có thể phát triển mạnh cà phê, mía, đờng,
cây ăn quả Một nhà thổ nhỡng học đã nói : Một loại đất thì thích nghi với
một và chỉ một loại đất mà thôi. Trong tổ chức sản xuất ngành trồng trọt và
xác định cơ cấu cây trồng hiện nay do tác động của cơ chế thị trờng việc tìm
lời giải cho bài toán trồng cây gì, diện tích bao nhiêu và ở đâu đang là bài
toán hóc búa cha đợc giải quyết thoả đáng. Đơng nhiên từ một nền sản xuất
hàng hoá trong quá trình tìm lời giải cho bài toán trên không thể tránh khỏi
những mặt hạn chế. Song việc quy hoạch, định hớng hay nói cách khác là
tầm nhìn chiến lợc về phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá, đa dạng kết
hợp với chuyên môn hoá, tập trung hoá phải đợc xác định trên cơ sở những
căn cứ khoa học. Trong những năm gần đây cùng với xu thế đổi mới của cả
nớc, nông nghiệp cũng đã đạt đợc nhiều thành tựu rất quan trọng, trong đó
việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo những định hớng chiến lợc đã đợc thể
hiện rất rõ. Một số cây trồng đã phát huy thế mạnh và đáp ứng yêu cầu thị tr-
ờng trong nớc và xuất khẩu nh mía đờng Lam Sơn - Thanh Hoá, dâu tằm
Lâm Đồng, cà phê Đắc Lắc,Buôn Ma Thuột, chè Bắc Thái, Hà Giang, Vĩnh
Phú, lơng thực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông cửu Long
- Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng nh trong qúa trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế là một qúa trình mang tính khách quan và tính lịch sử, tính ổn
định tơng đối trên cơ sở vận động và liện hệ biện chứng của các yếu tố cây
trồng, con ngời và tự nhiên theo xu hớng ngày càng hoàn thiện, hợp lý và
hiệu quả.Cơ cấu cũ chuyển đổi dần sang cơ chế mới rồi trải qua một quá
trình sản xuất và lu thông cơ cấu mới laị trở nên bất hợp lý tiếp tục chuyển
sang một cơ cấu mới hơn, phù hợp hơn. Cứ nh thế vận động của cơ cấu cây
trồng luôn luôn nhằm đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế và
sự phát triển của xã hội. Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một vùng
hoặc một tiểu vùng sinh thái diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều
yếu tố trong đó phải kết đến sự tác động trực tiếp và rất quan trọng của chủ
thể lãnh đạo và quản lý. Những chủ thể đó hoàn toàn có thể chủ động cho
quá trình chuyển đổi diễn ra nhanh hơn theo hớng vì lợi ích của chính con

ngời và xã hội.
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Chơng II :
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên Đất
trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác.
ở xã Phơng tú - ứng Hoà - Hà Tây
I. Đặc điểm Kinh tế - xã hội của xã phơng tú
1. Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Phơng Tú là một xã nằm ở phía Đông Nam của Huyện ứng Hoà, trung
tâm xã cách thị trấn Vân Đình ( huyện lỵ ứng Hoà ) 3 km theo đờng tỉnh lộ
75 và cách thị xã Hà Đông 29 km cũng trên trục lộ 75 và số 22.
Phía Bắc giáp Liên Bạt và một phần tiếp giáp huyện Phú Xuyên
Phía Đông tiếp giáp thị trấn Trung Tú
Phía Tây tiếp giáp thị trấn Vân Đình
Phía Nam tiếp giáp xã Tảo Dơng và xã Hoà Lân.
Đặc biệt, từ xã Phơng Tú đi theo trục đờng tỉnh lộ số 75 đến đờng quốc
lộ số 1 tại điểm Cầu Giẽ chỉ có 12km.
1.2 Địa hình
Xã Phơng Tú nằm ở trung tâm của vùng chiêm trũng ngập úng trớc đây.
Cốt đất trung bình là 2,5m, điểm thấp nhất có cốt - 0,8m. Địa hình tơng đối
bằng phẳng. Độ dốc chạy từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam.
1.3 Thuỷ văn
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Địa bàn xã Phơng Tú nằm trong lu khu của nhánh sông Vân Đình và
các mơng A
2
- 8 và A

2
- 10. Các nhánh mơng A
2
- 8 và A
2
- 10 vừa có chức
năng tới và tiêu cho toàn bộ khu vực. Vụ Đông Xuân mức nớc sông Vân
Đình dâng lên tới cao trình 3,2 m ( 2,2 - 4,5 m ). Nằm trong hệ thống công
trình phân lũ sông Hồng và sông Đáy nên trong vụ mùa, hệ thống kênh m-
ơng thuỷ lợi ở đây luôn chỉ đợc phép duy trì mực nớc nhỏ hơn hoặc bằng 2,5
m. Yếu tố này đã hạn chế một phần khả năng phục vụ tới của hệ thống thuỷ
lợi với sản xuất nông nghiệp.
1.4 Thời tiết khí hậu
Theo số liệu của Đài khí tợng thuỷ văn Hà Tây ( thị xã Hà Đông ) thì
diễn biến khí hậu thời tiết của vùng qua nhiều năm nh bảng tran sau :
Biểu 1 : Số liệu về khí hậu thời tiết trong khu vực tỉnh Hà Tây
( trạm Hà Đông )
Chỉ tiêu Tháng BQ
năm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nhiệt độ BQ
(
0
C)
15,7 16,2 19,8 23,5 26,8 28,5 29,1 28,3 27,0 24,4 20,8 17,4 23,1
Độ ẩm KK
(%)
85,0 85,0 88,0 89,0 86,0 84,0 82,0 86,0 86,0 84,0 81,0 80,0 85,0
Lợng ma
(mm)

21,0 18,5 23,5 89,2 159 283 310 289 275 229 86,0 38,0 1821
Nguồn số liệu: Viện kinh tế NN & PTNT.
Nhiệt độ bình quân 23,1
0
C ( 15,7
0
- 29,1
0
C ), nhiệt độ cao nhất trong
các tháng 6,7,8. Tổng lợng ma trung bình nhiều năm là 1821 mm. Lợng ma
tập trung nhiều nhất là 6 tháng mùa ma ( từ tháng 5 đến tháng 10 ), bằng 855
lợng ma cả năm. Đây là thời điểm trớc đây xảy ra úng ngập cục bộ khi có m-
a lớn kéo dài. Các địa phơng trong vùng thờng xuyên phải đối phó với việc
tiêu úng trong mùa ma cũng nh chống hạn trong vụ sản xuất Đông để đảm
bảo cho cây trồng, con nuôi sinh trởng và phát triển thuận lợi. Ngày nay, nhờ
có hệ thốn thuỷ lợi hoàn chỉnh nên hộ nông dân có thể đầu t thâm canh tăng
vụ, tăng hệ số sử dụng đất, tăng năng suất cây trồng và con nuôi, nâng cao
hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
1.5 Nông hoá thổ nhỡng
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Theo số liệu điều tra khảo sát nông hoá thổ nhỡng năm 1994 thì thành
phần cơ giới đất ở đây có hai loại chính là :
+ Đất thị nhẹ trung bình, chiếm 10% diện tích đất nông nghiệp
+ Đất thịt nặng chiếm 90% diện tích
Phân loại theo lý tính của đất thì chủ yếu bao gồm 2 loại chính là : đất
chua nhẹ ( pH
Kcl
= 5,1 - 6, 0 ) chiếm khoảng 38% diện tích; đất chua vừa
( pH

Kck
= 4,6 -5,0 ) chiếm 62% diện tích. Phân tích độ mùn cho thấy gần
70% diện tích đất nông nghiệp ở đây có độ mùn khá cao nhng lại nghèo nàn
dễ tiêu. Nhìn chung, đây là vùng đất canh tác đã đợc cải tạo và đầu t khá
nhiều năm. Bằng các hệ thống công trình thuỷ lợi tự tiêu kết hợp với các
trạm bơm động lực đã khắc phục cơ bản vấn đề ngập kiểu " chiêm khê, mùa
thối" trớc kia. Đất đai ngày càng màu mỡ, tơi xốp, độ phì tăng, độ pH trung
bình 5 - 6 tỉ lệ mùn cao, mức độ giây hoá trung bình. Đất nông nghiệp phù
hợp với nhiều loại cây trồng và nếu đầu t thâm canh sẽ có hiệu quả cao.
2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1 Đơn vị hành chính
Xã Phơng Tú có 6 đơn vị hành chính cấp thôn, gồm :
(1) Thôn Hậu Xá (2 ) Thôn Dơng Khê
(3) Thôn Nguyễn Xã (4 ) Thôn Động Phí
(5) Thông Phí Trạch (6) Thông Ngọc Động
Mỗi thôn có một chức danh trởng thôn có chia ra các đơn vị xóm theo
khu vực dân c. Hiện nay, mỗi thôn có một Hợp tác xã nông nghiệp. 100%
các hộ gia đình nông dân tình nguyện tham gia HTXNN và đều là xã viên
của HTXNN.
2.2 Dân số - lao động
Đến thời điểm 12/2000, toàn xã có 2499 hộ gia đình, 11.148 khẩu và
4995 lao động, trong đó lao động nữ là 2673 ngời ( chiếm 52,8%). Tỷ lệ tăng
dân số hàng năm có giảm đến năm 2000 là 1,08% và lao động tăng 0,85.
Biểu 2 : Diễn biến lao động của xã Phơng Tú trong 10 năm
( 1991 - 2000 )
Năm
Chỉ tiêu
ĐV 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Nhân khẩu Ngời 9754 10118 10339 10521 10900 10999 11099 10978 11138 11258
T/Lệ tăng DS % 3,51 3,73 2,18 1,76 3,60 0,91 0,91 -1,09 1,46 1,08

Lao động Ngời 4562 4637 4980 4960 4914 4991 5049 5025 5039 5045
T/Lệ tăng LĐ % 1,22 1,64 7,40 -0,40 -093 1,57 1,16 -0,48 0,28 0,01
Nguồn số liệu: Thống kê xã
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Trong các thời điểm năm 1994, 1995 và 1997 có sự biến động về cơ
học ( chuyển dân đi vùng KTM ) về dân số nên nhân khẩu và lao động đều
giảm so với năm trớc. Mật độ và mức tăng dân số và lao động ở các thôn
trong xã cơ bản tơng tự nhau.
Biểu 3 : Số liệu về dân số và lao động 12/2000 phân theo các thôn
Số
TT
Thôn Số hộ
( Hộ )
Số khẩu
( Ngời )
Tr. đó khẩu Nhà nớc
( Ngời )
Tổng số LĐ
( Ngời )
1 Hậu Xá 467 2010 1980 860
2 Dơng Khê 400 1613 1506 620
3 Nguyễn Xá 326 1446 1426 704
4 Động Phí 470 1997 1984 933
5 Phí Trạch 407 2058 2056 971
6 Ngọc Động 419 2024 2015 857
7 Khối cơ quan 10 110 0 100
Cộng 2499 11258 10967 5045
Nguồn số liệu: thống kê xã
Nh vậy trong xã dân số của xã đợc phân bốtơng đối đồng đềủ các thôn,

ở các thôn số lao động cũng không chênh lệch nhau nhiều, đIũu này giúp
cho xã có một bộ mặt kinh tế đồng đIũu giữa các thôn, các khu dân c trong
xã.
Biểu 4 : Cơ cấu sử dụng lao động trong các ngành kinh tế ở xã Ph-
ơng Tú
Ngành kinh tế 1998 1999 2000
SLLĐ ( ng) % SLLĐ ( ng) % SLLĐ ( ng) %
Nông nghiệp 4344 87,4 4343 87,1 4350 86,5
Tiểu thủ công nghiệp 369 7,4 373 7,5 402 8,0
Dịch vụ 106 2,1 123 2,5 119 2,4
Hành chính sự nghiệp 150 3,0 146 2,9 159 3,2
Tổng cộng 4969 100 4985 100 5030 100
Nguồn số liệu: Thống kê xã
Nh vậy, thông qua biểu cơ cấu sử dụng lao động trên ta thấy đợc trong
những năm qua nhìn chung lao động trong nông nghiệp của xã Phơng Tú
vẫn chiếm chủ yếu và tỷ lệ này tơng đối cao trong vòng 3 năm tỷ lệ này tuy
đã giảm nhng rất ít chỉ giảm đợc 0,9%, điều này cho thấy phần lớn đại đa số
bà con trong xã là chủ yếu sản xuất nông nghiệp cho nên vấn đề đặt ra ở đây
là làm sao tạo đợc những điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân nơi đây tách
ra khỏi đồng ruộng, tạo công ăn việc làm cho bà con nông dân. Bằng cách
đẩy mạnh các ngành sản xuất khác nh tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để thu
hút nguồn lao động nhàn rỗi khi mùa màng xong xuôi. Trong những năm
qua về cơ cấu lao động của hai ngành này không có gì thay đổi, điều này ảnh
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
hởng rất lớn đến sự phát triển chung của xã hội cũng nh sự phát triển kinh tế
của xã Phơng Tú.
2.3 Tình hình sử dụng đất đai
Tổng diện tích tự nhiên của xã Phơng Tú là 10,53 km
2

.Trong giai đoạn
10 năm ( 1991 - 2000 ) diện tích đất đai của toàn xã không có gì biến động
đáng kể, cơ cấu các loại đất cũng thay đổi không nhiều. Đất nông nghiệp
chiếm 73,8% diện tích tự nhiên. Trên địa bàn xã không có đất chuyên lâm
nghiệp. Mặt nớc ao hồ có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 22ha, bằng 2,1%
diện tích. Đất thổ c ổn định trong phạm vi trên dới 5,4% diện tích. Đất
chuyên dùng các loại( giao thông, thuỷ lợi, XDCB công cộng ) chiếm tỷ
trọng khá lớn ( 17,4%). Đất khác chỉ có 1,3%. Nh vậy, ở Phơng Tú không có
khả năng tăng diện tích.
Biểu 5 : Cơ cấu loại đất của xã Phơng Tú
ĐVT : ha
Số
TT
Loại đất Năm
1993 1998 1999 2000
DT % DT % DT % DT %
Tổng diện tích đất TN
1053,4 100 1053,4 100 1053,4 100 1053,4 100
1 Đất nông nghiệp
788,8 74,88 778,8 73,94 777,2 73,80 774,0 73,47
2 Đất lâm nghiệp
0 0 0 0 0 0 0 0
3 Mặt nớc
22,0 2,10 24,0 2,28 24,2 2,29 24,6 2,34
4 Đất thổ c + vờn
56,8 5,39 58,4 5,55 58,0 5,51 58,0 5,51
5 Đất chuyên dùng
173,8 16,50 178,8 16,97 180,0 17,09 182,8 17,35
6 Đất khác
12,0 1,14 13,4 1,27 14,0 1,33 14,0 1,33

Nguồn số liệu: Thống kê xã
Nh vậy diện tích gieo trồng ở Phơng Tú không thể tăng bằng khai
hoang mà chỉ có thể bằng các biện pháp thâm canh tăng vụ.
Đất sản xuất nông nghiệp của xã đợc chia ra nh sau:
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa N«ng nghiÖp & PTNT
Sinh viªn: Ng« Quang Hng - Líp N«ng nghiÖp 40B
Biểu 6 : Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp chia theo vụ sản xuất và chủ thể quản lý
ĐVT :ha
Thôn Tổng DT đất NN Chia theo
Số vụ SX/1 năm
Chia theo chủ thể quản lý sử dụng
2 vụ 3 vụ Đất hộ quản lý HTX quản lý
Đất đợc giao Đất cấp sổ đỏ Đất 5%
DT % DT % DT % DT % DT % DT % DT %
Hậu Xá
107,379 14,34 53,379 12,11 54,000 17,53 103,860 15,52 97,715 15,26 6,145 21,22 3,519 4,42
Dơng Khê
123,357 16,47 63,957 14,51 59,400 19,28 107,601 16,08 101,69 15 5,911 20,41 15,756 19,77
Nguyên Xá
105,197 13,39 74,237 16,84 30,960 10,05 93,816 14,02 89,820 88 3,996 13,18 11,381 14,28
Động Phí
128,340 17,14 81,828 18,56 46,512 15,10 121,390 18,14 115,98 14,03 5,404 18,66 6,950 8,2
Phí Trạch
143,144 19,12 72,968 16,55 70,176 27,78 125,076 18,96 119,29 18,22 5,780 19,95 18,068 22,67
Ngọc Động
138,577 18,51 91,577 20,77 47,0 18,40 117,443 17,55 115,71 18,63 1,728 5,6 21,134 26,52
UBND xã 2,880 0,003 2,880 0,6 0,0 0 0,0 0 0,0 18,07 0,0 0 2,880 3,61
Tổng 748,874 100 440,826 100 308,048 100 669,186 100 640,222 100 28,964 100 79,688 100
Nguồn số liệu : thống ke xã

Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Phơng Tú trớc đây vốn là vùng chiêm trũng, ngay trong các năm 1995 và
1996 bị mất mùa do ma kéo dài gây ngập úng. Nhng đến thời điểm hiện nay
nhờ có hệ thống các công trình thuỷ lợi đã đợc Nhà nớc hỗ trợ đầu t xây
dựng, đặc biệt là năm 2001 sẽ thi công thêm một trạm bơm tiêu nữa tại xã
Liên Bạt thì về cơ bản đã đảm bảo chủ động tiêu úng bằng động lực, khắc
phục đợc tình trạng ngập úng cục bộ khi ma lớn kéo dài (trừ khi có quyết
định của Chính phủ mở ống xả nớc phân lũ ). Hệ thống các công trình thuỷ
lợi này cũng đảm bảo khả năng chủ động tới cho cây trồng nông nghiệp ở
đây trong mọi thời vụ. Toàn bộ diện tích đều đang trồng nông nghiệp ở đây
trong mọi thời vụ. Toàn bộ diện tích đều trồng cấy 2 - 3 vụ. Riêng diện tích
ruộng 3 vụ chiếm 41,0% diện tích tính chung trong toàn xã những diện tích
này chủ yếu là những chân ruộng cao .Trong đó tỷ lệ này cao nhất ở Hậu Xá
là 50% sau đó là ở Phí Trạch 49%, Dơng Khê là 48,0%, còn lại đều trong
khoảng 29,0 - 36,0%. Diện tích ruộng giao cho hộ gia đình sản xuất theo số
đo chiếm 89,3%, số còn lại do ban quản trị HTX và UBND xã tổ chức cho
đấu thầu.
2.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và kinh doanh
+ Giao thông : Đờng tỉnh lộ số 75 đi xuyên dọc xã với chiều dài hơn
5km, qua địa phận của 5 trong 6 thôn trong xã ( trừ địa phận thôn Phí Trạch
cách đờng này 100m ). Trên cơ sở trục đờng 75, xã Phơng Tú đã phát triển
một hệ thống giao thông nông thôn khá tốt. Hầu hết 38 km chiều dài các
tuyến đờng trong thôn đã đợc đổ bê tông hoặc lát gạch nghiêng, có hệ thống
cống rãnh tiêu thoát nớc hoàn chỉnh. Các trục đờng chính từ đờng 75 đến
trung tâm thôn và ra khu đồng lớn đều có nền cứng, một số tuyến đã đợc rải
cấp phối và thiết kế cho phép ô tô trọng tải 5 - 10 tấn đi lại đợc. Trên các đ-
ờng nhánh ô tô loại nhỏ và xe công nông kéo máy tuốt, máy xát gạo có thể
dễ dàng đi đến từng hộ gia đình. Hệ thống giao thông nh vậy rất thuận lợi
cho việc vận chuyển vật t sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện cho
việc đầu t thâm canh nông nghiệp.

+ Thuỷ lợi : Trong những năm gần đây, địa bàn Phơng Tú đợc hởng lợi
từ hệ thống các công trình thuỷ lợi tới tiêu của cả vùng, bao gồm : kênh cấp I
chủ lực là sông Nhuệ và sông Vân Đình. Các kênh tới cấp II : I
2
- VĐ
7

tiêu qua các kênh A
2
- 8 và A
2
- 10. Hiện tại trong đại bàn xã Phơng Tú đang
có 6 trạm bơm động lực, hoạt động phục vụ tới tiêu : trạm bơm tới Hậu Xá
hai máy x 1000m
3
/h, trạm bơm tới đầu kênh I
2
- VĐ
7
có hai máy x
2000m
3
/h, trạm bơm tới Nguyên Xá có 1 máy x 1000m
3
/h, trạm bơm tiêu
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Động Phí có 2 máy x 1000m
3
/h, trạm bơm tiêu Phí Trạch bốn máy x

1000m
3
/h, và trạm bơm tới tiêu hỗn hợp Ngọc Động công suất 3 máy x
2500m
3
/h. Trong đó riêng trạm Ngọc Động do công ty khai thác các công
trình thuỷ lợi ứng Hoà quản lý, còn lại các trạm khác đều do các HTX NN
trực tiếp quản lý và khai thác. Toàn xã vẫn còn khoảng 160 ha ruộng của các
HTX Hậu Xá, Dơng Khê, Nguyễn Xá và Động Phí cha có khả năng chủ
động tới tiêu nớc thì đầu năm 2001 đang thi công một trạm bơm tiêu ở ven
kênh A
2
- 8. Hệ thống kênh tới cấp III xuống nội đồng của các HTX NN dài
hơn 18 km đang hoạt động tốt. Hiện nay các HTX đã thực hiện kiên cố hoá
bằng mặt bê tông đợc 5.277 m ( bằng 29% ). Nh vậy, đến nay 100% diện
tích ruộng canh tác của Phơng Tú đã đợc đảm bảo tới tiêu chủ động. Tuy
nhiên, do địa hình không bằng phẳng, đồng ruộng vẫn còn chia thành nhiều
mảnh manh mún nên trong thực tế các diện tích thấp trũng không hoàn toàn
thực hiện việc tới tiêu theo khoa học đợc. Năng suất hai vụ lúa và hiệu quả
đầu t thâm canh lúa ở các diện tích thấp trũng này còn bị hạn chế so với các
diện tích ruộng cao.
+ Các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt : Hệ thống
điện lới khá hoàn thiện đến mọi cụm dân c và địa bàn sản xuất. Toàn xã hiện
có 10 trạm hạ thế, nhng do nhu cầu tiêu thụ điện phục vụ cho sinh hoạt và
sản xuất ngày càng tăng thêm công suất và lắp thêm trạm mới để tránh tình
trạng quá tải dễ gây sự cố.
+ Trạm y tế : Để chăm lo sức khoẻ cho ngơì dân có các trạm y tế thông
sơ cứu và cấp thuốc thông thờng. Trạm y tế có y sĩ khám, điều trị bệnh và tổ
chức đôn đốc công tác vệ sinh phòng bệnh, kế hoạch hoá gia đình tại địa ph-
ơng.

+ Trờng học : Các thôn đều tổ chức nhà trẻ. Mỗi thôn có trờng tiểu học
dành cho các cháu từ mẫu giáo đến lớp 3. Toàn xã có một trờng cấp I ( lớp
4 - 5 ) và một trờng cấp II đặt tại trung tâm xã. 99% trẻ em trong độ tuổi đợc
đến trờng học. Xã Phơng Tú đã hoàn thành phổ cập giao dục trung học cơ
sở. Học sinh đi học trung học phổ thông ( cấp III ) phải đến trờng tại thị trấn
Vân Đình cách xã 3 km. Trong các trờng học đều có khu sân chơi thể thao
cho thiếu niên, học sinh rèn luyện sức khỏe.
+ Hệ thống loa truyền thanh : Hệ thống loa truyền thanh đợc nối thông
từ UBND xã đến trụ sở các HTX NN và đến các loa công cộng đặt tại các
khu dân c. Hệ thống loa này dùng để phát thanh thời sự, thông báo các tin
tức hoạt động và các chủ trơng chỉ đạo của xã, thôn và HTX, bộ phận
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
khuyến nông hớng dẫn thời vụ và các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp đến
mọi ngời dân.
+ Điện thoại : UBND xã và các trụ sở HTX NN đều có máy điện thoại
cố định để có liên hệ ở địa phơng, trong nớc và quốc tế.
+ Chợ nông thôn : Phơng Tú có một chợ đặt tại trung tâm xã. Chợ họp
cả ngày, rất thuận tiện cho việc mua bán, trao đổi các vật t, nông sản hàng
hoá.
+ Bến xe : Đờng tỉnh lộ 75 đi qua trung tâm xã. Tại trung tâm có điểm
đỗ xe khách và thờng xuyên có nhiều tuyến xe khách, xe vận tải qua lại nối
liền xã tới huyện lỵ đi Hà Đông, Hà Nội và cả với tuyến đờng quốc lộ số I
đi Bắc - Nam.
+ Khu dân c : Toàn xã có 8 khu dân c ( trong đó có 6 khu dân c cũ và
hai xóm mới thuộc 2 thôn Nguyễn Xá và Ngọc Động ), 1 khu trung tâm xã
nằm trên đất thuộc 2 thôn Nguyễn Xá và Dơng Khê. Trong mỗi điểm dân c
đều có khu vực trung tâm thôn, đây là nơi đặt trụ sở thôn và HTXNN, nhà
trẻ, trờng học, trạm y tế, các quầy bán lẻ hàng hoá vật t
Tóm lại : Xã phơng Tú là một xã điển hình của vùng thôn thôn đồng

bằng sông Hồng đầu t xây dựng cở sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân khá tốt. Các yếu tố này không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy thâm
canh sản xuất và cải thiện đời sống của ngời dân trong hiện đại mà còn là
tiền đề thuận lợi cho qua trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn.
2.5 Kết quả sản xuất nông nghiệp qua một số năm
Trong những năm qua nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhờ kinh
nghiệm sản xuất nên năng suất và sản lợng của một số cây trồng vật nuôi
chính ở xã Phơng Tú không ngừng tăng lên đem lại cho đời sống cho bà con
nông dân ngày một tăng lên.
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp & PTNT
Biểu 7 : Diện tích, năng suất và sản lợng cây trồng con nuôi trong
SXNN
TT Cây trồng ĐVT 1995 1996 1997 1998 1999 2000
1 Lúa D/ tích Ha 707,5 718 699,8 707,4 716,3 720,8
N/Suất Tạ/ha 87,38 76,83 81,76 97,1 100,3 100,7
S/Lợng Tấn 6182 5516 5722 68,69 7184 7258
2 Ngô D/ tích Ha 153 164 132,5 140,4 187,2 252
N/Suất Tạ/ha 37 24,7 29,2 29,2 30,6 33,2
S/Lợng Tấn 566,1 405,1 386,9 410,0 572,8 836,6
3 K/Lang D/ tích Ha 43,2 48,5 34,2 19,8 40,7 29,2
N/Suất Tạ/ha 97 88,9 76,6 92,2 106,8 107,5
S/Lợng Tấn 419,0 431,2 262,0 182,6 434,7 313,9
4 K/tây D/ tích Ha 10,8 47,3 18,7 45,4 37,8 29,3
N/Suất Tạ/ha 125 119,4 125 123,7 123,4 138
S/Lợng Tấn 135,0 564,8 233,8 561,6 466,5 404,3
5 Lạc D/ tích Ha 2,2 2,2 2,2 2,2 1,4 0
N/Suất Tạ/ha 15,2 8,3 8,3 11,1 11,1 0
S/Lợng Tấn 3,3 1,8 1,8 2,4 1,6 0

6 Đ/tơng D/ tích Ha 86,4 11,5 21,9 45,7 56,9 48,6
N/Suất Tạ/ha 11,1 13,7 7,4 9,7 11,3 12,5
S/Lợng Tấn 959 15,8 16,2 44,3 64,3 60,8
7 Lợn S/Lợng Con 4404 6850 6669 7288 6552 8570
Thịt hơi Tấn 308 445 433,5 473,7 425,9 552,8
8 Trâu S/Lợng Con 158 130 128 134 98 105
9 Bò S/Lợng Con 992 868 661 653 543 600
10 Gà S/Lợng Con 30656 28600 18030 36131 52100 66500
11 Vịt S/Lợng Con 23860 31000 23620 30500 37000 46000
S/Lợng gia cầm Tấn 81,6 80,1 61,2 93,3 124,7 167,5
Trứng Quả 651 598 963 645 686 1260
12 Nuôi thả cá Ha 22,0 22,0 22,0 22,0 22,0 22,0
13 S/Lợng cá thịt Tấn 40 36 45 61 70 80
Nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng, Phơng Tú là một xã kinh tế
hiện tại vẫn là thuần nông. Các cây trồng chủ yếu trong nông nghiệp là cây
lúa, ngô đông, khoai tây, khoai lang, lạc, đậu tơng và rau đậu các loại. Chăn
nuôi các con gia súc thông thờng nh trâu, bò, lợn, gia cầm các loại. Diện tích
và năng suất các cây trồng, con nuôi ở Phơng Tú thể hiện trong biểu 7.
Sinh viên: Ngô Quang Hng - Lớp Nông nghiệp 40B

×