Tải bản đầy đủ (.pdf) (40 trang)

điều tra kỹ thuật và hiệu quả kinh tế trồng cây rau nhút trong mùa lũ tại xã vĩnh thạnh trung châu phú- an giang, mùa lũ 2004

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (355.83 KB, 40 trang )

NGUYỄN THỊ THANH TUYẾN
MSSV: DPN010761
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG CÂY RAU NHÚT
TRONG MÙA LŨ TẠI XÃ VĨNH THẠNH TRUNG CHÂU PHÚ- AN GIANG,
MÙA LŨ 2004
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Võ Văn Hà
CN. Trang Thi Mỹ Duyên
Tháng 7. 2005
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với tên đề tài:
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG CÂY RAU NHÚT
TRONG MÙA LŨ TẠI XÃ VĨNH THẠNH TRUNG, CHÂU PHÚ- AN GIANG, MÙA
LŨ 2004.
Do sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH TUYẾN
Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày:………………………………………
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:………………………………………
Ý kiến của Hội đồng:………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Long xuyên, ngày… tháng… năm 2005
DUYỆT Chủ Tịch Hội đồng
BAN CHỦ NGHIỆM KHOA NN-TNTN




2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG CÂY RAU NHÚT
TRONG MÙA LŨ TẠI XÃ VĨNH THẠNH TRUNG
CHÂU PHÚ- AN GIANG, MÙA LŨ 2004
Do sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH TUYẾN thực hiện và đệ nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt
3
4
LỜI CẢM TẠ
Thành thật biết ơn:
Thầy, cô Trường Đại học An Giang đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Thầy Võ Văn Hà - Viện Nghiên cứu và Phát Triển Hệ Thống Canh Tác,
Trường Đại học Cần Thơ và cô Trang Thị Mỹ Duyên - Khoa Nông Nghiệp & Tài
Nguyên Thiên Nhiên, Trường Đại học An Giang đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn
cho em hoàn thành luận văn này.
Các cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Châu Phú và nông dân xã Vĩnh
Thạnh Trung đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thu thập số liệu
và suốt thời gian tiến hành điều tra.
Chân thành cám ơn:
Gia đình, những người thân và các bạn cùng lớp đã giúp đỡ, động viên tôi
trong suốt thời gian học tập.
5
TÓM LƯỢC
Thực hiện nội dung Đề án 31 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh An Giang về “Phát
triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân

dân trong mùa nước nổi” đã được triển khai thành công với nhiều mô hình canh tác có
hiệu quả như: mô hình nuôi tôm chân ruộng, nuôi tôm đăng quầng, nuôi cá trong
ao/vèo, trồng nấm rơm và các loại cây thuỷ sinh, Bài viết này trình bày kết quả
nghiên cứu về mô hình trồng rau nhút trong mùa lũ tại xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện
Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004. Phương pháp nghiên cứu là sử dụng sổ theo dõi
nông hộ và điều tra bổ sung 30 nông dân đang áp dụng mô hình trồng rau nhút trong
mùa lũ. Kết quả cho thấy mô hình trồng cây rau nhút rất thích hợp cho sản xuất nông
nghiệp vùng ngập lũ; nhất là các hộ nông dân nghèo, đông nhân khẩu, ít đất và vốn để
sản xuất. Lợi nhuận mang lại từ mô hình trồng rau nhút khá cao (khoảng 11,5-13,3
triệu đồng/ha/vụ). Các hộ thực hiện mô hình nuôi thuỷ sản kết hợp trồng thêm rau
nhút cho lợi nhuận khoảng 20,3-22,5 triệu đồng/ha/vụ. Mô hình này đã tận dụng
nguồn nước lũ để sản xuất và góp phần giải quyết việc làm trong những tháng mùa lũ.
Tuy nhiên, để mô hình nầy được nhân rộng ra nhiều hộ gia đình và mang lại hiệu quả
kinh tế cao hơn nữa; trước hết cần tạo điều kiện thuận lợi trong khâu tiêu thụ sản
phẩm, đồng thời giúp các hộ nghèo tiếp cận với mô hình thông qua các hình thức hỗ
trợ kỹ thuật, vốn và xuồng (phương tiện phục vụ sản xuất chủ yếu của trồng rau nhút
trong mùa lũ). Ảnh hưởng của cây rau nhút đối với sự sinh trưởng của tôm – cá và
chất lượng nước trong khu vực nuôi vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, do đó cần có sự
tiếp sức của cán bộ nông nghiệp huyện và tỉnh An Giang để mô hình trồng rau nhút
kết hợp nuôi tôm - cá càng ngày hoàn thiện hơn và có thể nhân rộng ra trong dân.
6
MỤC LỤC
Nội dung Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Khái niệm và chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho nghiên cứu 3
2.1.1 Khái niệm hiệu quả 3
2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế 3
2.2 Một số đặc điểm của cây rau nhút 3
2.3 Tình hình phát triển mô hình trồng rau nhút trong mùa lũ 4
2.4 Hiệu quả của mô hình trồng rau nhút 4
2.5 Thực trạng mô hình trồng rau nhút 5
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 6
3.2 Theo dõi, và điều tra phỏng vấn nông hộ 6
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 8
4.1 Đặc điểm của vùng nghiên cứu 8
4.2 Thông tin tổng quát về các hộ trồng rau nhút
9
4.2.1 Độ tuổi và trình độ học vấn
9
4.2.2 Số người và lao động trong nông hộ 10
4.2.3 Kinh nghiệm trồng rau nhút 11
4.2.4 Đất canh tác 12
4.2.5 Thông tin kỹ thuật trồng rau nhút 12
4.2.6 Vai trò của phụ nữ và trẻ em 12
4.3 Hoạt động sản xuất 13
4.3.1 Mô hình canh tác 13
4.3.2 Kỹ thuật canh tác 14
4.3.2.1 Thời vụ 14
4.3.2.2 Phương pháp canh tác 14
4.3.2.3 Nguồn giống 15
4.3.2.4 Chăm sóc 17
4.3.2.5 Thu hoạch 19
4.3.2.6 Tiêu thụ sản phẩm 19

4.3.3 Ảnh hưởng của giống và phân bón đến năng suất rau 19
4.3.4 Lao động đầu tư cho sản xuất 21
7
4.4 Hiệu quả kinh tế 21
4.4.1 Mô hình trồng rau nhút 21
4.4.2 Mô hình kết hợp rau nhút và nuôi thuỷ sản 22
4.5 Hiệu quả xã hội 23
4.6 Lý do để người dân trồng rau nhút trong mùa lũ 24
4.7 Nhận xét về mô hình 25
4.7.1 Những trở ngại-hướng khắc phục 25
4.7.2 Các yếu tố quyết định sự thành công của mô hình 26
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 28
5.1 Kết luận 28
5.2 5.2 Kiến nghị 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ CHƯƠNG pc-1
Phụ chương 1 pc-1
Phụ chương 2 pc-2
Phụ chương 3 pc-3
8
DANH SÁCH BẢNG
Bảng số Tựa Bảng Trang
1 Số mẫu mẫu điều tra tại xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu Phú 6
2 Đặc điểm của các chủ hộ trồng rau nhút tại xã 10
3 Nhân khẩu ở các nông hộ được phỏng vấn mùa lũ năm 2004 11
4 Khoảng cách và mực nước thích hợp để trồng rau nhút ở xã Vĩnh
Thạnh Trung, huyên Châu Phú năm 2004
15
5 Ảnh hưởng của lượng giống sử dụng và năng suất 19
6 Ảnh hưởng của lượng phân bón sử dụng và năng suất 20

7 Hiệu quả kinh tế của cây rau nhút trong mùa lũ năm 2004 22
8 Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi thuỷ sản kết hợp trồng rau nhút 23
9 Các lý do nông hộ chọn trồng rau nhút trong mùa lũ năm 2004 25
10 Các yếu tố quyết định sự thành công của mô hình 27
PHỤ CHƯƠNG pc-1
1
Thông tin nông hộ trồng rau nhút trong mùa lũ tại xã Vĩnh Thạnh
Trung - huyện Châu Phú - tỉnh An Giang
pc-1
2 Số lượng giống, phân bón và năng suất toàn vụ pc-2
9
DANH SÁCH HÌNH
Hình số Tựa hình Trang
1 Tình hình biến động diện tích mặt nước trồng rau nhút từ 2002-2004 5
2 Bản đồ xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu Phú - tỉnh An Giang 9
3 Nguồn nhân lực trong nông hộ 11
4 Các mô hình liên quan đến rau nhút 13
5 Lượng giống sử dụng của các nông hộ 16
6 Năng suất rau toàn vụ/ha 18
7 Mối tương quan giữa giống, phân bón với năng suất 20
8 Mô hình nuôi thuỷ sản kết hợp trồng rau nhút 23
9 Các lý do để nông dân trồng cây thuỷ sinh trong mùa lũ 24

1
Chương 1 GIỚI THIỆU
Châu Phú là một huyện vùng trũng nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên với
diện tích đất tự nhiên là 42.587 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 35.969 ha. Toàn
huyện có 51.569 hộ với 245.679 nhân khẩu (80% số hộ sống bằng nông nghiệp). Châu
Phú là một trong những huyện của tỉnh An Giang đi đầu trong công tác rút ngắn
khoảng cách giàu nghèo, tăng thu nhập, giải quyết công ăn việc làm cho người dân

nông thôn vào mùa nước nổi (Uỷ ban nhân dân tỉnh An giang, 2003). Từ năm 2003 đề
án 31 đã được thử nghiệm với nội dung “Phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong mùa nước nổi” thông qua các
mô hình: sản xuất lúa và hoa màu vụ 3; mô hình nuôi trồng thuỷ sản và phát triển
ngành nghề, dịch vụ trong mùa lũ,… bước đầu đã gặt hái được nhiều thành công đáng
kể.
Bằng các kinh nghiệm thực tế trong sản xuất người dân nơi đây đã biết tận
dụng nguồn tài nguyên mặt nước ở dạng đất ruộng ngập lũ một cách hợp lý trong quá
trình đa dạng quá sản phẩm nông nghiệp và phát triển hệ thống canh tác. Bên cạnh các
mô hình sản xuất đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của
chúng như mô hình nuôi tôm-cá trên ruộng lúa, mô hình sản xuất lúa vụ 3,…thì vẫn
còn có một số mô hình khác đang được người dân thực hiện với kết quả ban đầu rất
khả quan, mở ra hướng chủ động sản xuất trong mùa lũ.Ưu thế của các mô hình này là
cần vốn ít, lãi tương đối, phù hợp cho các hộ nghèo trong vùng ngập lũ như mô hình
trồng cây thuỷ sinh (rau nhút, rau muống, sen, ấu,…) trong ruộng ngập lũ. Điều này
không những có ý nghĩa to lớn trong việc sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên đất đai
có hiệu quả mà còn nâng cao cuộc sống người dân vùng nông thôn.
Đề tài “Điều tra kỹ thuật và hiệu quả kinh tế trồng cây rau nhút trong
mùa lũ tại xã Vĩnh Thạnh Trung, Huyện Châu Phú - tỉnh An Giang, mùa lủ
2004” được thực hiện nhằm tìm hiểu kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội
của mô hình từ nguồn tài nguyên nước lũ cho những nông hộ ít vốn sản xuất trong
mùa nước nổi. Đồng thời cũng tìm hiểu thuận lợi, khó khăn của người dân trong quá
1
trình canh tác để từ đó có hướng đề ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất. Mặt khác, kết quả nghiên cứu này có thể giúp cho các nhà lãnh đạo địa
phương cũng như cán bộ kỹ thuật có cơ sở cho việc sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có
ở địa phương một cách khoa học, có chính sách và đầu tư khoa học kỹ thuật một cách
hợp lý để phát triển mô hình đầy tiềm năng này, nhằm tăng thêm nguồn thu nhập, cải
thiện đời sống nông thôn vào mùa nước nổi tại xã Vĩnh Thạnh Trung nói riêng và
huyện Châu Phú nói chung.

Mục tiêu của đề tài
- Xác định hiện trạng của mô hình trồng rau nhút tại xã Vĩnh Thạnh Trung,
huyện Châu Phú.
- Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình trồng rau nhút
trong mùa lũ.
- Xác định những thuận lợi, khó khăn của mô hình từ đó đưa ra những giải
pháp, kiến nghị trong việc phát triển mô hình.
1
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm và chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho nghiên cứu
2.1.1 Khái niệm hiệu quả
- Hiệu quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh
với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế biểu hiện tính hữu
hiệu về kinh tế của việc sử dụng các loại vật tư, lao động, tiền vốn, trong sản
xuất kinh doanh, nó chỉ ra mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế mang lại với
chi phí bằng tiền trong mỗi kỳ kinh doanh. Lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu
quả kinh doanh càng cao.
- Hiệu quả xã hội được đo lường bằng sự nâng cao thu nhập, cải thiện đời
sống, tạo việc làm, giảm bớt lao động nhàn rỗi và hạn chế tệ nạn xã hội trong
nông thôn.
2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế
- Tổng thu nhập: là toàn bộ lượng tiền thu được khi nông hộ thu hoạch mùa vụ.
- Tổng chi phí: là toàn bộ các khoản đầu tư mà nông hộ bỏ ra trong quá trình
sản xuất kinh doanh để đạt được mục tiêu mong muốn.
- Lợi nhuận trên chi phí (LN/CP): LN/CP = Tổng LN/Tổng CP. Chỉ tiêu này
phản ánh trong một đồng vốn bỏ ra thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận.
2.2 Một số đặc điểm của rau nhút
Rau nhút có tên khoa học là Neptunia olearacea L., thuộc họ đậu Fabaceae
là loại rau nổi ngang mặt nước, quanh thân có phao xốp màu trắng, lá kép lông chim 2
lần (Chi, 1991). Rau nhút rất thích nghi với vùng trũng Đồng bằng sông Cửu long

mọc nơi ao, đầm, mương, rạch có sình lầy và cũng là một loại rau đặc thù của người
miền tây, được nhiều người dùng trong bữa ăn (Tài liệu phát triển nông thôn mùa lũ,
2003).
1
Rau nhút có vị ngọt, tính mát, có tác dụng nhuận tràng, mát gan, giải nóng
nhiệt, an thần gây ngủ, mạnh gân cốt (Võ Văn Chi, 1991), thường được dùng để ăn
sống, luộc chấm mắm nêm, nấu canh chua, ăn kèm với các loại rau trong món lẩu
mắm là những món phổ biến ở Nam bộ. Song song đó rau nhút còn được dùng làm
gỏi, một món ăn ít được nhiều người biết như những loại gỏi khác, nhưng lại có được
mùi vị rất đặc trưng (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004)
2.3 Tình hình phát triển rau nhút trong mùa lũ
Nhiều nơi trên ruộng ngập nước ở tỉnh An Giang nhiều hộ đã tận dụng trồng
rau nhút, trồng sen, trồng rau muống, trồng ấu, Chỉ tính riêng ở huyện Châu Phú
trong mùa lũ năm 2003, toàn huyện đã có 61,65 ha diện tích trồng rau nhút với 122 hộ
và 561 lao động. Nhưng trong mùa lũ 2004, diện tích trồng rau nhút đã tăng đến 94,85
ha, với số hộ tham gia là 223 hộ và 1003 lao động (Phòng xây dựng và Phát triển
Nông thôn huyện Châu Phú, 2004). Theo kết quả tham vấn các hộ nuôi tôm trong 3
năm (Nguyễn Văn Thanh, 2005) cho thấy tỷ lệ hộ trồng rau nhút kết hợp trong nuôi
tôm luôn lớn hơn trồng các loại cây khác; năm 2002 số hộ trồng rau nhút trong quầng
nuôi tôm chiếm 65,5%, nhưng năm 2003 tỷ lệ nầy là 72,6%, và năm 2004 là 60%
Theo bảng tổng hợp số lao động tham gia sản xuất trong mùa nước nổi
(Phòng Xây dựng và PTNT huyện Châu Phú, 2004) ở xã Vĩnh Thạnh Trung năm 2003
có 9,4 ha diện tích mặt nước trồng rau nhút với 34 hộ và 101 lao động. Sang năm
2004, diện tích trồng rau tăng lên 16 ha (sau xã Thạnh Mỹ Tây).
2.4 Hiệu quả của mô hình trồng rau nhút
Nhiều địa phương trong vùng ngập nước của tỉnh An Giang đã tận dụng mặt
nước trồng rau nhút có lãi từ 11-22 triệu đồng/ha; tỷ lệ lãi/chi phí gấp 4 đến 5 lần
(Trung Liêm, 2004). Anh Nguyễn Văn Tấn ở xã An Phong, huyện Thanh Bình (Đồng
Tháp) cho biết, rau nhút trồng được khoảng một tháng thì cho thu hoạch, với hơn một
công rau nhút cặp bờ ruộng đầu mùa nước nổi mỗi đợt thu hoạch trên dưới 150kg, bán

giá bình quân 1000 đồng/kg, thu nhập được 150.000 đồng. Nhờ cần mẫn chăm sóc
theo đúng quy trình kỹ thuật nên mỗi mùa nước nổi hằng năm, gia đình anh Tấn đã
thu được lợi nhuận từ 3 đến 4 triệu đồng (Báo NNVN, 2004).
1
Chị Võ Thị Kim Loan ở ấp 5 Satô, xã Khánh Bình, huyện An Phú đã dành ra
7 công đất trồng lúa chuyển sang trồng rau nhút. Mỗi ngày gia đình chị thu hoạch bình
quân 150 đến 200 kg rau nhút, bán giá 2.000 đồng/kg thì thu nhập mỗi ngày cũng
được từ 300.000 đến 400.000 đồng (Trung Liêm, 2004)
2.5 Thực trạng mô hình trồng rau nhút
Diện tích mặt nước trồng rau nhút trong mùa nước nổi của huyện Châu Phú
tăng lên trung bình 34 ha/năm (Hình 3). Diện tích trồng rau nhút năm 2003 là 61,65 ha
(tăng 35,65 ha so với năm 2002). Năm 2004, diện tích trồng rau nhút là 94,85 ha (tăng
33,2 ha so với 2003). Như vậy, tốc độ tăng diện tích của mô hình trồng rau nhút trong
mùa lũ là tương đối đều qua các năm. Điều này cho thấy, những nông hộ có diện tích
đất bị ngập lũ gần nhà đã nhận thấy được hiệu quả của mô hình rau nhút.
Diện tích (ha)
26
61.65
94.85
0
20
40
60
80
100
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Năm
Hình 1. Tình hình biến động diện tích mặt nước trồng rau nhút từ 2002-2004
(Nguồn: số liệu phòng nông nghiệp huyện Châu Phú, 2004)
1

94,85
61,65
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Liên hệ với địa phương thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã
hội của vùng nghiên cứu; các báo cáo hàng năm, sách báo, tạp chí và các nghiên cứu
trước đây cũng như những kiến thức đã được học ở trường
3.2 Theo dõi và điều tra phỏng vấn nông hộ
- Theo dõi, ghi chép cách làm của một số hộ nông dân tiêu biểu đang trồng cây
rau nhút trong mùa lũ 2004. Chọn 3 hộ nông dân ở xã Vĩnh Thạnh Trung (có
kinh nghiệm, kỹ thuật canh tác và am hiểu điều kiện tự nhiên trong vùng
cũng như tập quán canh tác của những nông dân khác. Tiến hành theo dõi quy
trình kỹ thuật canh tác, các chi phí đầu vào, cũng như giá cả và đầu ra cho sản
phẩm.
- Phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng phiếu câu hỏi(Phụ chương 3). Mẫu điều tra
được chọn ngẫu nhiên phân bố trong vùng trồng rau nhút tập trung tại 4 ấp
của xã Vĩnh Thạnh Trung. Tổng số mẫu điều tra là 30 hộ (Bảng 1).
Bảng 1. Số mẫu điều tra tại xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu Phú
STT Ấp Số mẫu
1 Bình Chiến 7
2 Vĩnh Lợi 8
3 Vĩnh Bình 9
4 Bình An Thạnh Lợi 6
Tổng 30
Số liệu thu thập bao gồm:
1
- Thông tin định tính: Lý do để nông dân trồng cây thuỷ sinh trong mùa lũ; đặc
tính đất canh tác cây thuỷ sinh; những trở ngại và hướng khắc phục cây trồng
thuỷ sinh; thị trường tiêu thụ sản phẩm; khả năng kết hợp với các mô hình
canh tác khác.v.v

- Thông tin định lượng: các chi phí đầu vào (giống, phân, thuốc, công lao
động…) và đầu ra sản phẩm (năng suất, thời điểm bán, giá bán…).
- Kỹ thuật canh tác cây trồng thuỷ sinh: cách trồng (qui cách và mật độ), chăm
sóc (bón phân, phòng trừ sâu bệnh), thu hoạch (cách thu hoạch, sơ chế, bảo
quản, vận chuyển) và tiêu thụ sản phẩm (nơi tiêu thụ, thị trường, giá cả).
Vật liệu
- Sổ theo dõi, ghi nhận quy trình kỹ thuật trồng của nông hộ.
- Phiếu điều tra nông hộ.
- Bút mực, bút chì, thước kẻ, sơmi đựng phiếu điều tra.
- Các dụng cụ cần thiết khác phục vụ cho công tác nghiên cứu…
Phân tích thông kê
- Mã hoá số liệu, nhập số liệu trên máy vi tính bằng chương trình Excel
- Dùng các dữ liệu tổng hợp đã được phân tích và xử lý để viết báo cáo.
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tính toán các số liệu về đặc điểm
kinh tế - xã hội của nông hộ, những trở ngại khó khăn và các giải pháp (trung bình,
độ lệch chuẩn,…)
- Phân tích kinh tế toàn phần: Dựa vào chỉ tiêu chi phí, thu nhập, lãi thuần,
hiệu quả đồng vốn, để làm cơ sở phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình
canh tác trên địa bàn nghiên cứu.
1
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm của vùng nghiên cứu
Huyện Châu Phú ở phía Tây Bắc tỉnh an Gang, phía Bắc giáp thị xã Châu
Đốc, phía Nam giáp huyện Châu Thành, phía Đông giáp huyện Phú Tân, phía Tây và
Tây Nam giáp huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Huyện Châu Phú được chia thành thị trấn
Cái Dầu và 12 xã: Bình Mỹ, Bình Thủy, Bình Long, Bình Chánh, Bình Phú, Vĩnh
Thạnh Trung, Ô Long Vĩ, Thạnh Mỹ Tây, Đào Hữu Cảnh, Khánh Hòa, Mỹ Phú, và
Mỹ Đức (Tỉnh Ủy An Giang, 2005). Đất phù sa hàng năm được nước lũ bồi đắp, cao
độ thấp dần từ hướng Đông Bắc và đông, hướng từ bờ sông Hậu trở vào. Do được phù
sa bồi đắp hàng năm nên đất gần sông khá tốt, vùng phía Tây và Tây Nam một ít bị

nhiễm phèn.
Khí hậu có 2 mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa
nắng trong các tháng còn lại. Chế độ thuỷ văn chịu ảnh hưởng lũ hàng năm từ giữa
tháng 7 đến tháng 12 với đỉnh lũ vào cuối tháng 9, đấu tháng 10, trung bình mực nước
cao 2,0 đến 2,5 mét. Khí hậu có 2 mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11, mùa nắng trong các tháng còn lại. Chế độ thuỷ văn chịu ảnh hưởng lũ hàng
năm từ giữa tháng 7 đến tháng 12 với đỉnh lũ vào cuối tháng 9, đầu tháng 10, trung
bình mực nước cao 2,0 đến 2,5 mét
Xã Vĩnh Thạnh Trung có phía Đông giáp với sông Hậu, phía Bắc giáp xã Mỹ
Phú, phía Nam giáp với xã Bình Long, phía Tây giáp với xã Thạnh Mỹ Tây. Đất thuộc
đất phù sa hằng năm được nước lũ bồi đắp nên đất gần sông khá tốt, tổng diện tích đất
tự nhiên 2.639 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 2.115 ha. (Phòng nông nghiệp
huyện Châu Phú,2002).
1
Hình 2. Bản đồ xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu Phú - tỉnh An Giang
4.2 Thông tin tổng quát về các hộ trồng rau nhút
4.2.1 Độ tuổi và trình độ học vấn
Kết quả điều tra cho thấy tuổi các chủ hộ trồng rau nhút từ 21 đến 77 tuổi,
bình quân là 46 tuổi. Trong đó có khoảng 93,3% chủ hộ dưới 60 tuổi và 6,7% chủ hộ
trên 60 tuổi. Đa số chủ hộ có trình độ học vấn cấp II chiếm 43,3%, cấp I (36,7%), cấp
III là 16,7% và chỉ có 3,3% chủ hộ có trình độ cao đẳng/đại học và không có chủ hộ
mù chữ (Bảng 2). Tuy nhiên, xét tổng thể 143 nhân khẩu trong 30 hộ thì có đến 16
thành viên trong độ tuổi lao động mù chữ (chiếm 11,2%) và chỉ có 9 thành viên học
bậc cao đẳng/đại học (6,2%). Nhìn chung trình độ dân trí của các thành viên trong
nông hộ vẫn còn thấp; đây là một rào cản lớn để chuyển giao những tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới đến nông dân. Do trình độ thấp nên họ thường có tâm lý an phận với
những gì mình có, không muốn thay đổi lối sống, sinh hoạt. Họ thích những công việc
1
đơn giản, quen thuộc, ngần ngại khi tiếp xúc với công việc mới do sợ rủi ro và dễ dẫn
đến thất bại do lối suy nghĩ đơn giản, không tin tưởng bản thân mình, dễ buông xuôi.

Thời gian hoạt động trong nông nghiệp của các chủ hộ ở 4 ấp điều tra là 95%,
công việc chủ yếu là trồng rau nhút, nuôi tôm-cá, chăn nuôi gia súc gia cầm, và thời
gian còn lại là hoạt động ngoài nông hộ như: đi ghe, làm thuê mướn, Thông tin chi
tiết về đặc điểm nông hộ được trình bày trong bảng 2.
Bảng 2. Đặc điểm của các chủ hộ trồng rau nhút tại xã Vĩnh Thạnh Trung năm 2004
Thông tin về chủ hộ Tỷ lệ (%)
Tuổi trung bình: 45,9
Trình độ văn hoá
- Cấp I
- Cấp II
- Cấp III
- Cao đẳng/ĐH
36,7
43,3
16,7
3,3
Thời gian hoạt động NN (%)
Thời gian hoạt động phi NN (%)
95,0
5,0
4.2.2 Số người và lao động trong nông hộ
Kết quả phân tích ở Bảng 3 cho thấy số người bình quân mỗi gia đình là 5
người. Trong đó có 19 hộ có dưới 5 người (chiếm 63,3 %), 10 hộ có từ 6-8 người
(chiếm 33,3%) và chỉ có 1 hộ trên 8 người (chiếm 3,33%). Số người trong độ tuổi lao
động (từ 18 – 60 tuổi) chiếm 77,62% và lao động phụ chiếm 22,3% (Hình 1). Điều
này cho thấy nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động của xã Vĩnh Thạnh Trung là đáng
kể – đây là một lợi thế cho một xã nông nghiệp.
2
Bảng 3. Nhân khẩu ở các nông hộ được phỏng vấn tại xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện
Châu Phú - năm 2004


0
20
40
60
80
18 60
Độ tuổi
% độ tuổi
Hình 3. Nguồn nhân lực trong nông hộ
4.2.3. Kinh nghiệm trồng rau nhút
Kết quả phân tích cho thấy kinh nghiệm trồng rau nhút trung bình là 5 năm
với khoảng biến thiên từ 1 đến 15 năm. Trong đó, có khoảng 10% người có trên 10
năm kinh nghiệm, 46,7% người có trong khoảng 5-10 năm và 44,3% người có dưới 5
năm kinh nghiệm. Điều này cho thấy mô hình trồng rau nhút đã bắt đầu xuất hiện cách
nay khá lâu tại xã, số lượng nông dân có kinh nghiệm trồng tương đối nhiều và đây
cũng là một nhân tố tích cực góp phần mang lại hiệu quả sản xuất cao cho nông dân
địa phương.
2
Số người/ hộ Số hộ Tỷ lệ (%)
1 - 5 người 19 63,3
6 - 8 người 10 33,3
Trên 8 người 1 3,3
16,7
77,62
5,68
4.2.4. Đất canh tác
Trung bình diện tích đất nông nghiệp của 30 hộ điều tra là 1,3 ha. Diện tích
nhỏ nhất được ghi nhận là 0,13 ha/hộ và diện tích lớn nhất là 6 ha/hộ. Trong đó, có
khoảng 70% hộ có diện tích từ 0,13-1 ha; 23,3% hộ có diện tích trong khoảng 1-5 ha

và 2 hộ có diện tích trên 3 ha.
Vào mùa lũ, có khoảng 9,97 ha trong tổng số đất nông nghiệp của 30 hộ được
dùng để trồng rau nhút. Bình quân mỗi hộ là 0,32 ha. Diện tích trồng ít nhất là 0,1 ha/
hộ và nhiều nhất là 1,5 ha/hộ. Khoảng 13,3% hộ có trồng diện tích đất trồng từ 1 – 1,5
ha, 4 hộ từ 0,3 – 0,9 ha và 73,3% hộ có diện tích trồng nhỏ hơn 0,3 ha.
Phần lớn (93,3%) quyền sở hữu ruộng đất là tài sản được thừa hưởng từ ông
bà cha mẹ để lại cho con cái, phần còn lại do mua bán trao đổi (3,3%) hoặc thuê mướn
(3,3%). Nhìn chung việc trồng rau nhút ở đây đa số phân tán theo các mô hình sản
xuất nhỏ, khu vực trồng rải rác ở những khu vực đất thấp, thuộc loại đất sét pha thịt
đến đất thịt và không phèn. Vì có diện tích nhỏ nên đa số các hộ sử dụng nguồn lao
động gia đình để chăm sóc, góp phần hạn chế chi phí sản xuất do thuê mướn lao động.
4.2.5 Thông tin kỹ thuật trồng rau nhút
Phần lớn nông dân tiếp thu các kỹ thuật tiên tiến trong việc trồng và chăm sóc
cây rau nhút chủ yếu dựa vào nguồn thông tin từ bạn bè, người thân hay hàng xóm. Có
khoảng 6,6% hộ cho biết là học tập kinh nghiệm canh tác qua Tivi, radio; 16,6% tiếp
thu kinh nghiệm từ các kỹ thuật viên của huyện – xã; 20% do rút kinh nghiệm từ bản
thân và 56,8% kinh nghiệm trồng rau nhút được học hỏi từ hàng xóm, láng giềng hay
các nông dân đã trồng trước đó.
4.2.6. Vai trò của phụ nữ và trẻ em
Kết quả theo dõi nông hộ cho thấy hầu hết phụ nữ giữ vai trò người nội trợ,
chăm sóc con cái và quản lý tiền bạc; thu chi trong gia đình, đôi khi họ còn được xem
là nguồn lao động chính, có thể làm thay công việc của những người đàn ông. Trong
những gia đình thực hiện mô hình trồng rau nhút trong mùa nước nổi thì các công việc
2
như cấy, hái, phân loại rau,… thường được thực hiện bởi phụ nữ và các trẻ em. Ngoài
ra, trẻ em và phụ nữ còn làm thêm các công việc như làm thuê mướn, bắt ốc bươu
vàng, hái điên điển,… để tạo thêm thu nhập cho gia đình trong mùa lũ.
4.3. Hoạt động sản xuất
4.3.1. Mô hình canh tác
Có hai dạng mô hình canh tác chủ yếu có liên quan đến việc trồng cây rau

nhút trong mùa lũ năm 2004 là trồng rau nhút trên ruộng (chiếm 70%) và trồng kết
hợp rau nhút với nuôi động vật thuỷ sản (cá - tôm) chỉ chiếm 30%. Song song với hai
dạng mô hình trên là hai thời điểm trồng cũng khác nhau:
- Do đặc điểm của các mô hình nuôi thuỷ sản là thời gian nuôi phải kéo dài nên
việc trồng rau nhút được thực hiện hầu như quanh năm. (6-8 tháng).
- Các hộ khác chỉ tận dụng đất ruộng ngập lũ để trồng rau nhút nên thời điểm
trồng chỉ ngắn hơn (kéo dài khoảng 3 – 4 tháng/năm).
3,33
70
26,66
0
20
40
60
80
Rau nhút Rau nhút - cá Rau nhút - tôm
2
Mô hình
Hình 4. Các mô hình liên quan đến rau nhút
% số hộ
4.3.2 Kỹ thuật canh tác
4.3.2.1 Thời vụ
Theo tài liệu phát triển nông thôn mùa lũ (2003) thì rau nhút có thể trồng
được ở mọi các thời điểm trong năm ở ĐBSCL. Tuy nhiên, qua thực tế khảo sát cho
thấy thời gian trồng rau nhút tốt nhất bắt đầu từ tháng 5 vì thời điểm này có đủ nước
và nguồn nước tốt. Mùa lũ năm 2004 ở xã Vĩnh Thạnh Trung có đến 83,3% nông dân
bắt đầu trồng vào tháng 6; 10% trồng vào tháng 7 và 6,7% trồng trong tháng 5. Điều
này được lý giải bởi chế độ thuỷ văn của huyện Châu Phú có mực nước lũ tràn vào
ruộng (nước chạy đồng) trong tháng 7 dương lịch, đạt đỉnh lũ cao nhất vào tháng 10
dương lịch,…(Trần Thanh Sơn, 1990). Đối với một số hộ nông dân trồng rau nhút

quanh năm (các hộ nuôi kết hợp thuỷ sản) trên một phần diện tích mặt nước với mục
đích làm giá thể cho tôm – cá, tạo thêm thu nhập và theo đánh giá của một số nông
dân thì rau nhút còn là nguồn thức ăn bổ sung cho cá.
4.3.2.2 Phương pháp canh tác
Nông dân trồng rau nhút chủ yếu bằng phương pháp giâm cành (chiếm
97,7%), chỉ có 3,3% số hộ bó đất vào rễ cây thả nổi trên mặt nước. Thường người dân
trồng một bụi từ 3 – 6 nhánh với khoảng cách giữa các bụi và các hàng có thể được bố
trí rộng hay hẹp tuỳ theo diện tích ruộng trồng và số lượng giống của từng nông hộ.
Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy phần lớn khoảng cách giữa các bụi từ 0,5-1 m và
giữa các hàng là 1-1,5 m (Bảng 4). Điều này cũng phù hợp với tài liệu Phát triển Nông
thôn mùa lũ (2003) là khoảng cách trồng thích hợp giữa hàng là 1 mét và giữa bụi là
1,5 mét. Theo người dân mực nước trên ruộng thích hợp nhất để trồng rau từ 1 mét trở
lên (chiếm 56,7% số hộ). Riêng đối với những hộ trồng rau nhút kết hợp với nuôi tôm
thì chỉ thả rau thành từng cụm nhỏ trên nhiều vị trí khác nhau trong ruộng nuôi nên
không thể ước lượng được khoảng cách trồng và mực nước trồng rau của các hộ này
cũng tuỳ thuộc vào mực nước nuôi tôm.
2
Bảng 4. Khoảng cách và mực nước thích hợp để trồng rau nhút ở xã Vĩnh Thạnh
Trung, huyện Châu Phú năm 2004
Khoảng cách (m) Số hộ Tỷ lệ (%)
Khoảng cách giữa bụi
(n=22)
0,25 – 0,5 7 23,33
0,5 – 1 14 46,67
> 1 1 3,33
Khoảng cách giữa
hàng (n=22)
0,25 – 0,5 3 10,00
0,5 – 1 8 26,67
1 – 1,5 9 30,00

> 2 2 6,67
Mực nước thích hợp (*)
(n=30)
0,2 – 0,5 4 13,33
0,5 - 1 9 30,00
> 1 17 56,67
Ghi chú: (*) tính từ mặt ruộng đến mặt nước
4.3.2.3 Nguồn giống
Trong tổng số 30 hộ điều tra có 9 hộ (chiếm 30%) sử dụng giống nhà (do hộ
nông dân tự tạo và bảo quản giống trên một phần đất nhỏ trước khi mang ra cấy trên
ruộng trong mùa lũ), còn lại 70% số hộ phải mua giống từ những nông dân khác. Giá
giống biến động trong khoảng từ 1.000 đồng đến 1.500 đồng/kg tuỳ thuộc phần nhiều
vào chất lượng. Mặt khác, giá giống còn tùy thuộc theo từng thời điểm và cũng chịu
sự chi phối của các mối quan hệ xã hội giữa người bán và người mua. Theo nhận xét
của các nông dân, giá bán của rau nhút thường cao vào thời điểm đầu mùa lũ (giai
đoạn này thiếu giống). Khi nước lên cao thì hầu hết các hộ dân trong vùng đều có rau
nhút để bán nên bị dội chợ (giá rau giảm xuống). Giá rau giảm ở mức thấp vào cuối vụ
do chất lượng rau giảm và nông dân có khuynh hướng cuốn dây (ngưng trồng).
Theo thông tin từ các nông dân trồng rau nhút, có hai giống rau nhút xuất hiện
trên ruộng trồng với 2 đặc tính khác nhau là rau nhút xanh (có khả năng phát triển
nhanh, ít tốn phân bón), và rau nhút đỏ (cần một lượng phân thuốc khá nhiều mà sức
phát triển rất chậm, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp). Do đó, hầu hết các nông dân khi
mua rau giống hoặc cấy rau đều có chủ ý chọn rau nhút xanh và loại bỏ giống rau đỏ
ra khỏi ruộng để tránh hiện tượng cạnh tranh phân bón, ánh sáng, không gian sống,…
2

×