Tải bản đầy đủ (.doc) (12 trang)

những nhân tố và giải pháp đảm bảo phát triển kinh tế thị trường định hướng xhcn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (105.61 KB, 12 trang )

Lời nói đầu

Vật chất - sự tồn tại khách quan luôn vận động và không ngừng phát
triển. Chúng ta đà đánh chứng kiến những bớc phát triển vợt bậc của con ngêi
trong viƯc hiĨu thÕ giíi vµ trinh phơc thÕ giới trong hai thiên niên kỷ qua.
Những thành tựu trong khoa học - kỹ thuật và trong mọi mặt của đời sống xÃ
hội đà làm thay đổi dần bộ mặt thế giới. Mặc dù ở mức độ phát triển tơng ®èi
thÊp ViƯt nam chóng ta cịng kh«ng ngõng biÕn ®ỉi, vận động. Trong giai
đoạn hiện nay, một trong những cải cách có tính chiến lợc nhất của chúng ta
trong lĩnh vực kinh tế là việc xoá bỏ nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập
trung bằng nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Sự đổi mới đó không
những giải quyết đợc những mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế mà còn đẩy
nhanh phát triển lực lợng sản xuất . Cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
những đặc trng của nó trở nên khong còn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh
mới đòi hỏi phải đợc thay thế bằng một cơ chế kinh tế mới phù hợp hơn.
Chính vì thế việc nghiên cứu tìm ra hớng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù
hợp điều kiện hoàn cảnh đât nớc, phù hợp thời đại, khu vực và thế giới là hết
sức cần thiết. Do vậy, phải vận dụng lý luận về phủ định biện chøng, mét
trong ba quy lt cđa phÐp biƯn chøng duy vật triết học Mác - Lênin vào quá
trình chuyển từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trờng định híng XHCN ë níc
ta.
Sù thay thÕ kinh tÕ bao cÊp bằng kinh tế thị trờng định hớng XHCN
thực chất là một quá trình phủ định biện chứng bởi nó đà tạo ra những điều
kiện, những tiền đề và khả năng thực hiện phát triển kinh tế đất nớc.

1


I.
1.
1.1



Giải quyết vấn đề

Lý luận về phủ định biện chứng
Khái niệm về phủ định biện chứng

Thứ nhất: Phủ định biện chứng (PĐBC) là một trong ba quy luật của phép
biện chứng duy vật, nó đề cập tới hình thức của sự phát triển
PĐBC là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đ ờng dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định. Vấn đề
cơ bản cần xem xét là : Sự phát triển diễn ra theo chiều hớng nào?.
Trong triết học trớc Mác đà tồn tại quan điểm vận động tròn. Vận dụng quan
điểm đó vào đời sống xà hội, thì khi xà hội đạt tới một trình độ nào đó, xà hội
sẽ trở lại điểm xuất phát ban đầu. Pitago cho rằng chu kì phát triển nh vậy của
nhân loại kéo dài 78 vạn năm. Tơng tự với quan điểm đó, trong đạo PhËt cã
quan niƯm vỊ sù lu©n håi cđa kiÕp ngêi.
Tuy nhiên, quan điểm duy vật biện chứng đà mang lại lời giải đáp khác về cơ
bản cho vấn đề đợc nêu trên.
Xem xét vấn đề trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, triết học Mác Lênin thấy rõ sự chuyển hoá từ những thay đổi về lợng thành những thay đổi
về chất, sự đấu tranh của các mặt đối lập dẫn tới giải quyết mâu thuẫn, sự vật
cũ mất đi và sự vật mới ra đời. Mỗi sự thay thế ấy làm thành một mắt xích
trong chuỗi dây phát triển của hiện thực và của t duy. Sự ra đời của cái mới là
kết quả của sự phủ định cái cũ, cái lỗi thời.
Những nhà triết học theo quan điểm siêu hình hiểu phủ định nh là sự can thiệp
của những lực lợng bên ngoài làm phá huỷ, thủ tiêu sự vật, chấm dứt sự phát
triển của nó. Đơng nhiên, trong cả tự nhiên và xà hội có những hiện tợng nh
vậy. Song, tính phổ biến của các quá trình phủ định diễn ra trong tự nhiên
cũng nh trong xà hội là sự phủ định làm mất đi cái cũ và xuất hiện cái mới tiến
bộ hơn. Sự phủ định nh vậy là hình thức giải quyết những mâu thuẫn nội tại
2



của bản thân sự vật bị phủ định. Do vậy, phủ định là một khâu tất yếu của bất
kì sự phát triển nào.
Trong ý thức thông thờng, khái niệm phủ định thờng đợc thể hiện bằng từ
không. Trong phép biện chứng phủ định đợc xem là nhân tố của sự phát
triển. Khái niệm về phủ định biện chức đợc đa ra làm sâu sắc hơn ý nghĩa của
khái niệm phủ định trong cách sự dụng thông thờng đó.
Phủ định biện chứng là sự phủ định tạo ra những điều kiện, những tiền đề, khả
năng để thực hiện một sự phát triển.
Thứ hai: Phân biệt phủ định biện chứng với phủ định siêu hình.
Trái với phủ định biện chứng, phủ định siêu hình là sự phủ định chấm dứt sự
phát triển. Những ngời theo quan điểm siêu hình coi phủ định là sự loại bỏ
hoàn toàn cái cũ, phủ định sạch trơn, chấm dứt sự vận động và phát triển của
bản thân sự vật, hiện tợng. Nhng khi cần thì họ lại tiếp thu một cách nguyên
xi, không phê phán, không cải tạo, họ lắp ghép một cách máy móc cái cũ vào
cái mới. Đó là những hạn chế của phủ định siêu hình.
1.2

Những đặc trng của phủ định biện chứng

Phủ định biện chứngcó hai đặc trng cơ bản. Thứ nhất là tính khách quan - điều
kiện của sự phát triển. Thứ hai là tính kế thừa - nhân tố liên hệ giữa cái cũ và
cái mới.
PĐBC là quá trình mang tính khách quan do mâu thuẫn của bản thân sự vật
quy định. Hơn nữa, phơng thức phủ định của sự vật cũng không tuỳ thuộc ý
muốn con ngời, mỗi sự vật có phơng thức phủ định riêng do đó mà có sự phát
triển.
PĐBC không phải là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái bị phủ định. Trái lại
để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong
nó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái bị phủ định. PĐBC do vậy

là sự phủ định mag tính kế thừa. Với ý nghĩa nh vậy, phủ định đồng thời cũng
là khẳng định. Diễn đạt t tởng đó, Lênin viết: Không phải sự phủ định sạch
3


trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài
nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trng và cái
bản chất trong phép biện chứngmà là sự phủ định coi nh là vòng khâu của
liên hệ, vòng khâu của phát triển, với sự duy trì cái khẳng định. {V.I. Lênin
toàn tập, t.29, tr.245}.
Giá trị của sự kế thừa biện chứng đợc quy định bởi vai trò của nó trong sự ra
đời của cái mới. Không có cái mới nào ra đời từ h vô. Nhờ việc giữ lại nhân tố
tích cực của cái bị phủ định mà cái mới có tiền đề cho sự phát triển của mình.
Cái quá khứ không biến đi mà không để lại một dấu vết nào trong dòng chảy
vô tận của thời gian. Thực ra, nó đà tham gia vào việc tạo ra cái hiện tại, nó
tạo thành mối liên hệ sống động trong thời gian. Một trong những hình thức
quan trọng của cái đựơc kế thừa trong đời sống xà hội là truyền thống. Truyền
thống là cái chứa đựng trong bản thân mình những năng lực to lớn để tạo nên
cái mới.
Song, ngay cả đối với nhân tố tích cực của cái bị phủ định đợc giữ lại, nó vẫn
đợc duy trì dới dạng lọc bỏ.
Với những đặc điểm nh vậy, phủ định biện chứng không chỉ là nhân tố khắc
phục cái cũ mà còn gắn liền với cái mới, cái khẳng định với cái quy định. Phủ
định biện chứng trở thành khâu then chốt tất yếu của sự liên hệ và phát triển.
2. Vận dụng lý luận về phủ định biện chứng trong phân tích quá trình
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trờng định hớng XHCN:
2.1

Vì sao phải chuyển từ KTkế hoạch hoá sang KTTT định hớng

XHCN?

Thứ nhất: Đó là một quá trình tất yếu khách quan.
Chuyển đổi cơ chế kinh tế không phải là nhu cầu xuất phát từ bên ngoài,
không phải theo xu híng chung cđa khu vùc, thÕ giíi hay học đòi các nớc
4


khác mà xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế đất nớc. Trong thời kì quá độ
lên CNXH ở Việt Nam việc chuyển cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trờng là một tất yếu khách quan. Bởi vì, trong nền kinh tế nớc ta lực
lợng sản xuất phát triển còn rất thấp, muốn cải tạo và nâng cao trình độ lực lợng sản xuất cần phải có quan hệ sản xuất phù hợp.
Sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành chính quyền tiếp quản
nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất . Thực tế có hai
loại t hữu là t hữu lớn và t hữu nhỏ. T hữu lớn bao gồm nhà máy, hầm mỏ,
doanh nghiệp của các t bản trong nớc và nớc ngoài. Đó là kinh tế t bản chủ
nghĩa. T hữu nhỏ gồm những ngời buôn bán nhỏ, nông dân. Đó là sản xuất cá
thể.
Để xác lập cơ sở kinh tế của chế độ mới, Nhà nớc ta xây dựng và phát triển
các thành phần kinh tế mới. Đối với t hữu lớn, kinh tế t bản t nhân chỉ có phơng pháp duy nhất là quốc hữu hoá. Lý luận về quốc hữu hoá của chủ nghĩa
Mác - Lênin đà khằng định không nên quốc hữu hoá ngay một lúc mà phải
tiến hành từ từ theo từng giai đoạn và bằng hình thức, phơng pháp nào tuỳ điều
kiện cụ thể có nên doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa còn
tồn tại nh một tất yếu kinh tế đồng thời hớng chủ nghĩa còn t bản vào con đờng nhà nớc hình thành nên thành phần kinh tế t bàn nhà nớc.
Đối với t hữu nhỏ chỉ có con đờng hợp tác hoá theo các nguyên tắc mà Lênin
đà vạch ra là tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi đồng thời tuân theo các quy luật
khách quan. Do đó, trong thời kì quá độ còn tồn tại thành phần kinh tế cá thể,
tiểu chủ.
Hơn nữa các thành phần kinh tế cũ còn có khả năng phát triển, còn có vai trò
đối với sản xuất và đời sống bởi vậy không thể bỗng chốc xoá bỏ ngay đợc.

Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế cần phải thu hút các nguồn lực từ
bên ngoài. Nhà nớc XHCN có thể liên doanh hợp tác với t bản t nhân trong nớc và nớc ngoài hình thành kinh tế t bản nhà nớc

5


Mặt khác sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia do đặc điểm lịch sử, điều kiện
chủ quan, khách quan nên tất yếu có sự phát triển không đồng đều về lực lợng
sản xuất giữa các ngành, các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không đều đó
quyết định quan hệ sản xuất , trớc hết hình thức, quy mô và quan hệ sở hữu
phải phù hợp với nó nghĩa là tồn tại những quan hệ sản xuất không giống
nhau. Đó cũng là cơ sở hình thành các thành phần kinh tế khác nhau.
Trên đây là những cơ sở khách quan tạo tiền đề cho quá trình chuyển đỏi từ
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trờng dới sự quản lý của Nhà nớc XHCN (KTTT định híng XHCN). kinh tÕ tËp trung, bao cÊp ®· huy ®éng søc ngêi søc cđa ®ãng
gãp rÊt lín trong nh÷ng chiến thắng của thời kỳ chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Nhng trong điều kiện đất nớc hoà bình kinh tế bao cấp trở nên không còn phù
hợp, mặt khác nó còn thể hiện nhiều mặt hạn chế làm kìm hÃm phát triển kinh
tế.
Tuy nhiên nền kinh tế nớc ta so víi khu vùc vµ thÕ giíi vÉn lµ mét nỊn kinh tÕ
chËm ph¸t trtriĨn kinh tÕ - x· héi. VÊn đề đặt ra là phải đổi mới sâu sắc cơ
chế đó. Phơng hớng cơ bản của sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nớc ta đÃ
đợc đại hội VI của Đảng xác định và tiếp tục đợc đại hội VII khắng định
Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ và
vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc {Văn kiện
đại hội VII. NXB sự thật, tr23}.
Sự chuyển đổi đó đợc xem nh một quá trình phủ định biện chứng, nó đà tạo ra
những tiền đề, những điều kiện đẩy nhanh phát triển kinh tế. Từ thực tiễn hơn
10 năm đổi mới, Đại hội VIII của Đang đà khẳng định rằng cơ chế thị trờng
đà phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế - xà hội. Nó

chẳng những không đối lập mà còn là nhân tố khách quan cần thiết cho xây
dựng và phát triển đất nớc theo con đờng xà hội chủ nghĩa. Tuy nhiên chuyển
từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trờng không phải là một quá trình phủ định
hoàn toàn, những nhân tố của kinh tế bao cấp còn cần thiết cho kinh tÕ TT vÉn

6


đợc kế thừa và phát triể trong điều kiện mới. Đó là nhân tốc kế hoạch hoá và
định hớng xà hội chủ nghĩa.
Kế hoạch hoá là quá trình nhận thức và vận dụng tổng hợp các quy luật khách
quan, trớc hết là các quy luật kinh tế trong đó có các quy luật của thị trờng để
xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế và xà hội.
Kế hoạch hoá là một trong những công cụ trọng yếu thực hiện chính sách kinh
tế của Nhà nớc hớng đến sự phát triển sản xuất để thoả mÃn tốt hơn nhu cầu
vật chất và văn hoá của nhân dân. Nhờ kế hoạch hóa, Nhà nớc quản lý sản
xuất xà hội, điều chỉnh sản xuất , phân phối và trao đổi của cải vật chất. Kế
hoạch hoá rất cần thiết cho quản lý kinh tế của Nhà nớc, đặc biệt trong thêi kú
qóa ®é nh ë níc ta hiƯn nay. Chất lợng của kế hoạch hoá phụ thuộc voà mức
độ xà hội hoá sản xuất , vào trình độ nhận thức và vận dụng các quy luật
khách quan trong quá trình kế hoạch hoá. Nhân tố kế hoạch hoá đợc kÕ thõa
tõ kinh tÕ bao cÊp sang kinh tÕ thÞ trờng bởi kế hoạch có u điểm là tập trung đợc tiềm năng cho những mục tiêu phát triển kinh tế với mụctiêu phát triển xÃ
hội ngay từ đầu. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần kế họach phải
bao quát tất cả các thành phần kinh tế, tất cả các quan hệ thị trờng, không chỉ
thị trờng trong nớc mà cả với thị trờng ngoài nớc. Kế hoạch của nhà nớc bao
gồm kế hoạch dài hạn và kế hoạch ngắn hạn. Thông qua kế hoạch dài hạn, nhà
nớc cụ thể hoá chiến lợc phát triển kinh tế - xà hội, từ đó vạch ra các chơng
trình kinh tế có mục tiêu để định hớng đầu t, điều tiết các hoạt động kinh tế,
đề ra các chính sách kinh tế phù hợp. Thông qua kế hoạch ngắn hạn mà nhà nớc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ kinh tế của từng lĩnh vực, từng bớc đi cụ
thể, gắn liền với diễn biến phức tạp của thị trờng, nhờ đó mà nâng cao hiệu

quả kinh tế - xà hội theo định hớng mong muốn.
Do nớc ta là nớc XHCN nên khi đổi mới nền kinh tế thì cơ cấu kinh tế vừa dựa
trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trờng vừa đợc dẫn dắt, chi
phối bởi các nguyên tắc và bản chất XHCN, nhằm phục vụ CNXH. Để hạn
chế những tiêu cực của cơ chế thị trờng ở nớc ta phải nâng cao vai trò quản lý
của Nhà nớc cũng đồng nghĩa với phát huy ®Þnh híng XHCN. NỊn kinh tÕ

7


hàng hoá đợc điều tiết bở cả bàn tay vô hình của thị trờng và hữu hình của
Nhà nớc. Trong nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN, Nhà nớc XHCN sẽ can thiệp vào nền kinh tế nhằm bảo về quyền
lợi chính đáng của toàn thể nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu dân giầu, nớc mạnh, xà hội công bằng văn minh. Sự thành công của nền kinh tế thị trờng
theo định hớng XNCH không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trởng cao mà còn ở
chỗ mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân c đều đợc nâng lên, y tế, giáo dục
đều phát triển, khoảng cách giầu - nghèo đợc thu hẹp, đạo đức, truyền thống,
bản sắc văn hoá dân tộc đợc giữ vững, môi trờng sinh thái đợc bảo vệ. Nhà nớc XHCH có chính sách phân phối cả về t liệu sản xuất lẫn t liệu tiêu dùng,
nhờ đó mà đảm bảo cho mọi thành viên trong xà hội đều có cơ hội đợc tham
gia vào quá trình sản xuất và phân phố sản phẩm theo nguyên tắc công bằng
và hiệu quả. Đồng thời Nhà nớc còn có chính sách thoả đáng đối với những
đối tợng đặc biệt nh các gia định liệt sĩ, các gia đình có công với cách mạng,
thơng binh, ngời giµ yÕu, tµn tËt. Trong khi khuyÕn khÝch mäi ngêi làm giầu
hợp pháp, Đảng và Nhà nớc rất quan tâm đến việc xoá đói giảm nghèo thông
qua nhiều chủ trơng, chÝnh s¸ch, biƯn ph¸p. Nh vËy, ph¸t triĨn kinh tÕ hàng
hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng ở nớc ta rất cần có sự
quản lý của Nhà nớc để nâng cao hiệu quả kinh tế - xà hội để giữ vững định hớng xà hội chủ nghĩa. Nhân tố quyết định nhất đảm bảo giữ vững định hớng
XHCN của nền kinh tế thị trờng là vai trò quản lý của nhà nớc dới sự lÃnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam.
2.2


Kinh tế Kế hoạch hoá tập trung và kinh tế thị trờng định hớng
XHCN

Những đặc trng của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp:
Nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu. Điều đó
đợc thĨ hiƯn ë sù chi tiÕt ho¸ c¸c nhiƯm vơ do trung ơng giao bằng một hệ
thống chỉ tiêu pháp lƯnh tõ mét trung t©m.

8


Các cơ quan hành chính - kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sơ, nhng lại không chịu trách nhiệm gì
về mặt vật chất đối với các quyết định của mình.
Kinh tế bao cấp bỏ qua quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả. Phát và giao
nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu. Do đó hạch toán kinh tế chỉ là
hình thức. Chế độ bao cấp đợc thực hiện dới các hình thức: bao cấp giá, bao
cấp qua tiền lơng hiện vật (chế độ tem phiếu) và bao cấp qua cấp phát vốn
ngân sách, mà không ràng buộc vật chất đối với ngời đợc cấp phát vốn. Từ đó
đà dẫn đến bộ máy qu¶n lý rÊt cång kỊnh, cã nhiỊu cÊp trung gian và kém
năng động, theo đó làm cho một đội ngũ cán bộ kém năng lực quản lý, không
thạo nghiệp vụ kinh doanh nhng phong cách thì quan liêu cửa quyền.
Kinh tế thị trờng là một mô hình kinh tế trong đó sản xuất và tái sản xuất xÃ
hội gắn chặt với thị trờng, tức là gắn chặt với quan hệ hàng hoá tiền tệ và quan
hệ cung - cầu. Trong nỊn kinh tÕ thÞ trêng nÐt biĨu hiƯn cã tÝnh chất bề mặt
của đời sống xà hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xà hội đều phải tính
đến quan hệ hàng hoá nh là mộ khâu trung gian. Cơ chế thị trờng là hệ thống
tự điều tiết nền kinh tế rất linh hoạt, uyển chuyển. Nó tác dụng kích thích
mạnh mẽ đổi mới kỹ thuật, công nghệ, quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng. Nó có tác dụng lớn trong tuyển chọn, đào thải, kích thích sản
xuất phát triển. Bên cạnh những u điểm đó, kinh tế thị trờng lại mang những

khuyết tật có tính tự phát, hơn nữa quan hệ thị trờng còn là môi trờng thuận lợi
để phát sinh tiêu cực và tệ nạn xà hội. Trong kinh tế thị trờng vì chạy theo lợi
nhuận đơn thuần, các nhà sản xuất , kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu,
nh môi trờng bị huỷ hoại, cạnh tranh không lÃnh mạnh, lừa đảo, hối lộ, coi
nhẹ lợi ích công cộng, phân hoá xà hội. Để khắc phục đợc những khuyết điểm
của kinh tế thị trờng cần nâng cao vai trò quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN. Định hớng XHCN là đi đến mục tiêu không còn áp bức, bóc lột, đi tới
chế độ công hữu t liệu sản xuất , thực hiện đợc một xà hội công bằng với mức
sống cao. Một vấn đề đợc đặt ra trong việc phát triển nền kinh tế TT định hớng XHCN là làm thế nào để giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trởng kinh
tế với công bằng xà hội, rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo, giảm bớt thất
9


nghiệp. Điều đó có nghĩa là vừa phải phát triển kinh tế thị trờng vừa phải phát
huy định hớng XHCN.
Vì vậy, trong điều kiện công hữu XHCN cũng có thể phát triển đợc chế độ
kinh tế thị trờng. Sự khác nhau giữa kinh tế bao cấp và KT thị trờng không
phải ở chỗ nền KT này có kế hoạch còn nền kinh tế kia thì không. Thực ra yếu
tố kế hoạch vẫn đợc kinh tế thị trờng kế thừa từ kinh tế bao cấp nhng khác
nhau ở hình thức kế hoạch hoá. Khác với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong
nền kinh tế thị trờng, kế họch không chỉ do trung ơng mà còn do từng xí
nghiệp, từng cơ sở sản xuất kinh doanh chủ động xác định. Đó là một sự kế
thừa có phê phán, sáng tạo và cũng là một trong những điểm phân biệt giữa
kinh tế TT và kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
2.3

Thực trạng kinh tế Việt Nam hiện nay

Sau hơn thập kỉ đổi mới nền kinh tế Việt Nam đà đạt đợc một số thành tựu
đáng kể:

Trớc hết phải kể đến tốc độ tăng trởng kinh tế cao và tơng đối ổn định. Giai
đoạn 1986 - 1990, GDP tăng trung bình 3,9%, giai đoạn từ 1990 đến nay,
GDP tăng bình quân trên 7%, cơ cấu giữa các thành phần kinh tế và các ngành
cũng hợp lý hơn. Hàng loạt các công ty, doanh nghiệp t nhân hoạt động trong
mọi lĩnh vực xà hội ra đời. Dịch vụ thơng mại phát triển tơng đối mạnh đà tạo
điều kiện cho sản xuất hàng hoá, làm phong phú chủng loại và cải tiến chất l ợng hàng hoá. Giao thông vận tải đợc chú trọng nên kinh tế hàng hoá đợc phát
triển đến những vùng sâu, vùng xa và miền núi.
Trớc xu thế chủ đạo của thế giới là hợp tác để phát triển, Việt Nam đà bớc đầu
hội nhập với nền KT thế giới thông qua viƯc gia nhËp c¸c tỉ chøc kinh tÕ cđa
khu vực cũng nh quốc tế.
Một thành tựu quan trọng nữa là trong điều kiện nền KT thị trờng trên
thế giới với sự cạnh tranh rất khốc liệt gây ra sự phân cực giầu nghèo mạnh
mẽ với nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, Đảng kịp thời rút kinh
nghiệm và đà có những đờng lối, chính sách định hớng cho nỊn kinh tÕ ph¸t
10


triển theo đúng định hớng XHCN, hớng thị trờng hàng hoá vào sự cạnh tranh
lành mạnh cùng có lợi, cùng giầu có. Chính vì thế nền kinh tế thị tr ờng của ta
chẳng những không xẩy ra khủng hoảng mà còn tránh đợc ảnh hởng tiêu cực
của những cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới mà cụ thể là khủng
hoảng tiền tệ năm 1997. Tuy nhiên nền kinh tÕ níc ta so víi khu vùc vµ thÕ
giíi vẫn là một nền kinh tế chậm phát triển, cần có nhiều biện pháp có thể
theo kịp các quốc gia phát triển.
2.4

Những nhân tố và giải pháp đảm bảo phát triển kinh tế thị trờng
định hớng XHCN.

Nớc ta đang trong thời kì quá độ lên CNXH mà thực chất là thời kì Nhà nớc

và nhân dân tự đảm đơng nhiệm vụ lịch sử phát triển lực lợng sản xuất , tự tạo
lập những điều kiện vật chất của sản xuất và những quan hệ xà hội làm cơ sở
hiện thực cho CNXH. Nhng kinh tế thị trờng có thể phát triển theo hớng
TBCN hoặc XHCN. Nh thế xu hớng khách quan cha đủ để phát triển kinh tế
thị trờng định hớng XHCN mà có đòi hỏi các nhân tố chủ quan, đó là:
Phát huy vai trò lÃnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng xác định mục
tiêu chính trị cho sự phát triển kinh tế - xà hội, cơng lĩnh đờng lối chiến lợc
phát triển, bằng những nguyên tắc và chính sách trong đối nội và đối ngoại.
Xây dựng Nhà nớc cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh quản lý
kinh tế có hiệu quả.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần khơi dậy tiềm năng sáng tạo của cả
cộng đồng dân tộc. Đặc biệt đối với nớc ta có nhiều ngành nghề cổ truyền bị
cơ chế cũ làm mai một nay lại có điều kiện phát huy. Hơn nữa nớc ta có dân
số động, nguồn nhân công dồi dào đủ khả năng đáp ứng cho một nền kinh tế
phát triển.
Những giải phép để phát triển kinh tế thị trờng định hớng XHCN:
Một là: Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần trong đó
kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ đạo.

11


Hai là: Mở rộng phân công lao động, phát triển nền kinh tế vùng, lÃnh thổ, tạo
lập đồng bộ các yếu tố thị trờng.
Ba là: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bốn là: Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, triệt để
xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính bao cấp, đổi mới các chính sách tài chính,
tiền tệ, giá cả.
Năm là: Xây dựng và kiện toàn hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội

ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi, đáp ứng yêu cầu của
nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
Sáu là: Thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế
hàng hoá, phát huy nội lực, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.

12


III.

Kết luận

Chủ trơng đổi mới của Đảng chuyền từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trờng
định hớng XHCN là hoàn toàn đúng đắn. Nếu kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần đà khơi dậy tiềm năng sản xuất , khơi dậy năng lực sáng tạo chủ động củ
các chủ thể lao động trong sản xuất kinh doanh thúc đẩy sản xuất phát triển.
Do đó nền kinh tế nớc ta thực sự đợc đổi mớ và đạt đợc những thành tựu to
lớn: Từ một nớc đói kém, cơ sở vật chất nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu nay trở
thành một nớc không những chỉ đủ ăn mà còn là nớc xuất khẩu gạo lớn thứ hai
thế giới. Nhịp độ tăng bình quân tổng sản phẩm quốc nội trong 5 năm 1991 1995 là 8,5%, sản xuất công nghiệp tăng 13,3%, sản xuất nông nghiệp tăng
4,5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 20%. Cơ cấu kinh tế có bớc chuyển đổi tích
cực: Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,7% năm 1990 lên
30,3% năm 1995, tỷ trọng dịch vụ từ 38,6% lên 41,5%. Bắt đầu có tích luỹ từ
nội bộ nền tế. Vốn đầu t cơ bản toàn xà hội tăng từ 15,8% GDP năm 1990 lên
27,7% năm 1995. Lạm phát bị đẩy lùi từ 67,1% năm 1991 xuống 12,4% đầu
năm 1995. Quan hệ sản xuất đợc điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu lực lợng
sản xuất . Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo
giảm.
Bên cạnh những thành tựu đà đạt đợc, nền kinh tế nớc ta vẫn còn những hạn
chế nhất định. Hiện nay, để vợt qua khó khăn nhằm thực hiện thắng lợi những

mục tiêu do Đại hội lần thứ IX của Đảng đà đề ra, chúng ta phải kiên quyết
tiếp tục đổi mới theo định hớng XHCN.
Để thực hiện đợc điều đó ta phỉ xem sự nghiệp đổi mới nh là một quá trình
phủ định biện chứng, tránh những sai lầm cực đoan: hoặc là không kiên quyết
từ bỏ cái cũ lỗi thời, hoặc ngợc lại, phủ nhận mọi thành tựu đà đạt đợc trong
thời kì trớc đổi mớ, Hồ Chí Minh. Khi đó đổi mới sẽ là cho đất nớc Việt Nam
ngày càng lớn mạnh, phát triển trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xÃ
hội, sánh vai cùng các quốc gia phát triển bậc nhất trên thế giới.

13


Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình triết học Mác - Lênin, NXB chính trị quốc gia.
2. Giá trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB Giáo dục
3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB chính trị quốc gia
4. Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB Giáo dục
5. Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI; VII;VIII;IX.
6. Một số vấn đề cơ bản về phát triển nhận thức kinh tế học chính trị Mác Lênin trong quá trình đổi mới ở nớc ta, tác giả: Nguyễn Đình Kháng, NXB
chính trị quốc gia
7. Tạp chí triết học số 4, tháng 8/1999
8. Tạp chí Cộng sản số 4, tháng 2/2000.

14



×