Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

thực trạng tình hình xuất khẩu đồ gỗ của việt nam vào thị trường mỹ và các giải pháp thúc đẩy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (198.13 KB, 23 trang )

I. Lời mở đầu
Sau khi hiệp định thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực tháng
12 năm 2001, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã phát
triển nhảy vọt. Hiện nay Việt Nam đã trở thành bạn hàng lớn thứ 40
của Hoa Kỳ (tính theo kim ngạch 2 chiều). Nếu tính riêng xuất khẩu
vào Hoa Kỳ thì Việt Nam đứng thứ 35.
Từ một nớc xuất khẩu gỗ nguyên liệu là chủ yếu, những năm gần đây,
Việt Nam đã vơn lên thành nớc xuất khẩu các sản phẩm gỗ chế biến
với tốc độ tăng trởng khá nhanh và đạt kim ngạch xuất khẩu cao. Sản
phẩm của các doanh nghiệp đồ gỗ Việt Nam đã có mặt tại thị trờng
nhiều nớc trong đó có thị trờng Mỹ, một quốc gia nhập khẩu gỗ, các
sản phẩm từ gỗ và hàng gỗ nội thất đứng đầu thế giới. Đơn cử trong
các mặt hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ năm 2003, mặt hàng gỗ đứng thứ
16 trong 30 mặt hàng nhập khẩu lớn nhất vào Mỹ, chiếm 1,3% tỷ
trọng trong tổng trị giá năm 2003.
Mặc dù đã có mặt tại thị trờng lớn và cũng đầy thách thức này nhng
sản phẩm gỗ Việt Nam vẫn chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ: 0,86%.
Với những tài liệu tham khảo của mình, trong khuôn khổ bài đề án
môn học này, em xin đợc trình bày về thực trạng xuất khẩu đồ gỗ của
các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trờng Mỹ và những giảI pháp
thúc đẩy phát triển trong thời gian tới.
Em xin chân thành cảm ơn T.S Trần Văn Hoè đã giúp đỡ em có thể
hoàn thành đợc bài đề án này.
1
II. Lý luận chung
1/ Thị trờng Mỹ và những đặc điểm:
1.1. Thị trờng có sức mua lớn nhất:
Mỹ là một quốc gia hình thành non trẻ. Nớc Mỹ có diện tích khoảng
9,3 triệu km2, là nớc có diện tích lớn thứ 4 trên thế giới sau Nga,
Canada và Trung Quốc. Mỹ nằm ở trung tâm Châu lục Bắc Mỹ: phía
Bắc giáp Canada, phía Nam giáp Mêhicô, phía Đông giáp Đại Tây D-


ơng và phía Tây giáp Thái Bình Dơng.
Dân số của Mỹ khoảng 280 triệu ngời (tính đến hết năm 2000) chiếm
khoảng 5% dân số thế giới, mật độ dân số khoảng 30ngời/km2. Đây là
nớc đông dân thứ 3 trên thế giới chỉ sau Trung Quốc, ấn Độ. Mỹ là n-
ớc đa sắc tộc, có nền văn hoá đa dạng phong phú.
Với dân số trên 280 triệu ngời, nớc Mỹ tạo ra tới 20,8% GDP toàn thế
giới, chiếm 17,8% tổng xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thế giới.
Thị trờng quốc nội của Mỹ là thị trờng lớn nhất thế giới với mức GNP
đạt xấp xỉ 10 000 tỷ USD vào năm 2000; mỗi năm Mỹ tiêu thụ một l-
ợng hàng hoá và dịch vụ trị giá 5500 tỷ USD, trong đó giá trị hàng
nhập khẩu là 1100 tỷ USD. Hiện tại Hoa Kỳ nhập khẩu hàng hoá từ
170 quốc gia với đủ chủng loại sản phẩm, từ cao cấp nh ô tô, máy bay,
các thiết bị điện công nghiệp đến hàng tiêu dùng nh quần áo, giầy dép,
đồ chơi trẻ em Ngoại th ơng luôn là nguồn lực quan trọng làm giàu
đất nớc. Tăng trởng thơng mại và tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc
là xu hớng chủ đạo trong nền kinh tế Mỹ. Kim ngạch xuất nhập khẩu
của Mỹ không ngừng tăng lên trong đó kim ngạch xuất nhập khẩu
hàng hoá chiếm tỷ trọng đến 80%, còn dịch vụ chỉ chiếm 20%.
Bng: Túm tt ngoi thng Hoa K(n v: t USD)
2


Xã hội Mỹ là một xã hội tiêu thụ bởi vì phần thu nhập dành cho tiêu
dùng rất lớn. Thu nhập bình quân tính theo đầu ngời ở Mỹ là khoảng
2000 2001 2002 2003
Tng kim ngch XK 1070,1 1007,6 974,1 1018,6
Xut khu hng húa 772,0 718,7 681,9 713,8
Xut khu dch v 298,1 288,9 292,2 304,8
Tng kim ngch NK 1445,4 1365,4 1392,1 1507,9
Nhp khu hng húa 1224,4 1145,9 1164,7 1263,2

Nhp khu dch v 221,0 219,5 227,4 244,8
Tng cỏn cõn TM - 75,4 - 57,8 -418,0 -489,4
Cỏn cõn TM hng húa -452,4 -427,2 -482,9 -549,4
Cỏn cõn TM dch v 77,0 69,4 64,8 60,0
3
36.300 USD năm 2002. Theo thống kê của Bộ thơng mại, Mỹ có
khoảng 98 triệu hộ gia đình, trong đó có khoảng 1 triệu hộ có tàI sản
trên 1 triệu USD, 5% số hộ có thu nhập hàng năm trên 10.000 USD.
Số hộ còn lại có thể chia thành bốn nhóm: nhóm 1: nhóm có thu nhập
thấp nhất khoảng 17 000 USD/năm; nhóm 2: gồm những hộ có thu
nhập khoảng 30 000 USD/năm; nhóm ba: gồm những hộ có thu nhập
khoảng 45 000 USD/năm; nhóm bốn: nhóm có thu nhập cao nhất
khoảng 67 000 USD/năm.
Nh vậy số hộ thuộc nhóm một (nhóm nghèo nhất) chỉ chiếm khoảng
15% dân số. Nhng ngay cả nhóm này cũng có thu nhập hơn thu nhập
bình quân của Việt Nam tới gần 40 lần. Bởi vậy họ vẫn có sức mua
đáng kể đối với hàng tiêu dùng các loại.
Ngời dân Mỹ có mức sống rất khác nhau nên nhu cầu tiêu dùng cũng
khác nhau. Bên cạnh các cửa hàng dành cho ngời có thu nhập cao còn
có những cửa hàng dành cho ngời có thu nhập thấp với các mặt hàng
thiết yếu và giá cả phảI chăng. Bởi vậy, hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ
cũng rất đa dạng về chủng loại và chất lợng, có cả hàng cao cấp và
bình dân. Mỹ cũng nhập hàng từ nhiều nớc khác nhau, kể cả các nớc
phát triển và các nớc đang phát triển, phục vụ cho những yêu cầu tiêu
dùng khác nhau.
1.2. Thị trờng với các tiêu chuẩn đa dạng:
Mỹ nhập nhiều hàng hóa đa dạng cả về chủng loại và cấp bậc chất l-
ợng. Điều đó cũng có nghĩa là mọi loại hàng hoá với mọi loại cấp độ
về chất lợng đều đợc thị trờng Mỹ chấp nhận - hàng cao cấp cho
những ngời có thu nhập cao và hàng chất lợng vừa phảI dành cho

những ngời có thu nhập trung bình và thu nhập thấp. Tuy nhiên hàng
hoá nhập vào thị trờng này phảI đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về
4
chất lợng, nhãn mác hàng hoá, các tiêu chuẩn về lao động, các quy
định về môI trờng, vệ sinh dịch tễ,các hạn chế hạn ngạch
1.3. Thị trờng có tính cạnh tranh cao:
Thị trờng Mỹ rất rộng lớn, nhu cầu nhập khẩu đa dạng nên hầu hết các
nớc đều đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trờng này và do vậy sự cạnh tranh
giữa các nớc để chiếm lĩnh thị trờng cũng diễn ra rất gay gắt và khốc
liệt. Hiện tại có khoảng 170 nớc đều cố gắng phát huy những thế mạnh
của mình và tìm cách chiếm lĩnh thị trờng. Có nớc tận dụng u thế về
địa lý nh Canada, Mêhicô có những n ớc tận dụng u thế về kiều dân
ở Mỹ để tạo kênh khảo sát thị trờng và thiết lập kênh phân phối nh
Trung Quốc Những nớc khác thì tận dụng u đãi về thuế quan. Vì vậy
muốn đợc thị trờng Mỹ chấp nhận, hàng hoá nhập khẩu phảI có tính
cạnh tranh cao về chất lợng, giá cả, chủng loại, mẫu mã và các tiêu
chuẩn về an toàn môI trờng, lao động
Bng: Bn hng chớnh ca Hoa K
(n v:triu USD)
stt bạn hàng nhập khẩu xuất khẩu cán cân tm
1 Canada $224.016,1 $148.748,6 -$75.267,5
2 Mêhicô $137.199,3 $83.108,1 -$54.091,2
3 Trung Quốc $151.620,1 $26.706,9 -$124.913,2
4 Nhật Bản $118.485,1 $48.862,2 -$69.622,9
5 Đức $66.531,8 $26.806,1 -$39.725,7
6 Anh $42.455,3 $30.556,1 -$11.899,2
7 Hàn Quốc $36.929,6 $22.524,7 -$14.404,9
8 ĐàI Loan $31.489,7 $16.110,6 -$15.379,1
9 Pháp $28.895,9 $15.682,6 -$13.213,4
10 Malaysia $25.320,8 $10.124,2 -$15.196,6

11 Italia $25.292,7 $9.942,8 -$15.349,9
12 áI Nhĩ Lan $25.765,6 $7.225,5 -$18.540,0
13 Hà Lan $10.972,9 $19.206,7 + $8.233,7
14 Singapore $14.291,5 $14.889,4 + $598,0
15 Braxin $17.716,5 $9.948,0 - $7.768,5
5
40 Việt Nam $4.472,0 $1.291,1
- $3.180,9

Ngun: U ban thng mi quc t Hoa K. Bng trờn xp theo th t
tng kim ngch hai chiu nm 2003. Cỏc s liu trong bng ch bao gm
thng mi hng húa.
Đối với việt Nam từ trớc tới nay hàng rào thuế quan là yếu tố làm
giảm tính cạnh tranh và hiệu qủa xuất khẩu lớn nhất do cha đợc hởng
chế độ u đãi tối huệ quốc. Với hiệp định thơng mại Việt Nam - Mỹ có
hiệu lực thi hành từ ngày 10/12/2001, hàng Việt Nam sẽ có thêm sức
cạnh tranh và chắc chắn thị trờng Mỹ sẽ mở ra những triển vọng mới
cho các nhà xuất khẩu Việt Nam.
Một khi đã bình đẳng về thuế quan thì hàng Việt Nam cũng phải cạnh
tranh bình đẳng với hàng hoá của các nớc khác cả về chất lợng, mẫu
mã, nhãn mác, giá thành trong đó giá cả là yếu tố cạnh tranh lớn
nhất và là yếu tố quan trọng để chiếm lĩnh thị trờng, nhất là thị trờng
bình dân dành cho những ngời có thu nhập thấp.
2/ Nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào thị tr-
ờng Mỹ trong năm 2003:
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ bao gồm:
- Dệt may: 56,2%
_ Thuỷ hảI sản: 16,3% (kể cả thuỷ hảI sản chế biến)
- Giầy dép: 7,2%
- Nông lâm sản và thực phẩm kể cả thực phẩm chế biến : 5,2% trong

đó chủ yếu là cà phê, hạt điều, tiêu, mật ong tự nhiên, cao su thiên
nhiên.
- Dầu khí và sản phẩm dầu khí: 4,6%
6
- Đồ gỗ nội thất : 4,2%
2.1- Nhóm hàng dệt may:
Theo số liệu của HảI quan Hoa Kỳ, năm 2003, Việt Nam đã xuất khẩu
sang Hoa Kỳ gần 2514 tỷ USD hàng dệt may, trong đó hàng phi hạn
ngạch chiếm khoảng 20%, tăng gần 160% so với năm 2002 và chiếm
khoảng 56,2% tổng trị giá xuất khẩu của Việt nam sang thị trờng này.
Thị phần hàng dệt may của Việt Nam tại Hoa Kỳ đã tăng lên đáng kể.
Trong năm 2003, riêng nhóm hàng quần áo, Việt Nam đã trở thành n-
ớc xuất khẩu lớn vào Hoa Kỳ đứng thứ 5 về trị giá và thứ 7 về số lợng.
2.2- Thuỷ sản đông lạnh và chế biến:
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng hảI sản (kể cả chế
biến) đạt 730,5 triệu USD, tiếp tục xếp vị trí thứ hai sau hàng dệt may
trong bảng xuất khẩu của Việt nam vào Hoa Kỳ. Trong nhóm hàng
thuỷ sản, tôm đông lạnh đạt kim ngạch 469 triệu USD, tăng 27 % so
với năm trớc và chiếm 64% tổng kim ngạch nhóm hàng thuỷ sản; Tôm
và cua chế biến đạt 162 triệu USD, tăng 17% so với năm trớc. Kim
ngạch phi lê cá giảm khoảng 19% so với trớc do tác động của thuế
chống bán phá giá. Kim ngạch cá ngừ đóng hộp tăng khoảng 7,3%.
III. Thực trạng tình hình xuất khẩu đồ gỗ
của Việt Nam vào thị trờng Mỹ và các GiảI
pháp thúc đẩy
1/ Tình hình xuất khẩu chung:
1.1- Tính hình sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu của các doanh
nghiệp Việt Nam
7
Hiện nay cả nớc có khoảng 2000 doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm

sản trong đó có trên 300 doanh nghiệp chuyên về xuất khẩu sản
phẩm gỗ. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ trong những năm gần đây liên
tục tăng (năm 2001:337,8 triệu USD; năm 2002: 430 triệu USD). Thị
trờng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam cũng đợc mở rộng và có khả
năng cạnh tranh tại Trung Quốc, Nhật Bản, EU và hiện nay là thị trờng
Mỹ.
+ Khu vực phía Bắc tập trung nhiều ở các vùng làng nghề truyền thống
nh Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Hà Tây, Nghệ An và Hà Nội. Các
doanh nghiệp ở khu vực này hớng chủ yếu vào các sản phẩm đồ gỗ tự
nhiên, mang tính truyền thống và sản phẩm gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ giả cổ,
đờng nét tinh xảo, sử dụng nhiều lao động. Thị trờng chủ yếu: Trung
Quốc, ĐàI Loan, Hồng Kông và một số ít doanh nghiệp tìm đợc hợp
đồng cung cấp cho khách hàng châu Âu hoặc Mỹ nhng không thờng
xuyên và giá trị hợp đồng không lớn.
Kim ngạch xuất khẩu hiện nay của khu vực phía Bắc vào khoảng 200
triệu USD/năm.
+ khu vực phía Nam (từ Bình Định trở vào): đợc đánh giá là trung tâm
chế biến và xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ lớn nhất của Việt Nam hiện
nay. Sản phẩm chủ yếu đợc chế biến từ gỗ rừng trồng nh cao su, keo lá
tràm, tràm bông vằn . Các sản phẩm đồ gỗ gia dụng và bàn ghế
ngoàI trời là thế mạnh của các doanh nghiệp phía Nam tại các thị tr-
ờng EU, Nhật Bản, Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp khu
vực phía Nam hiện vào khoảng 300-350 triệu USD và dự kiến còn tăng
hơn nữa trong thời gian tới (số liệu cần xem lại).
Trong gần 5 năm qua, ngành chế biến sản xuất đồ gỗ xuất khẩu đã
phát triển hết sức mạnh mẽ. Từ vài chục doanh nghiệp trớc kia, nay đã
8
lên tới hơn 1.200 doanh nghiệp, trong đó có 51 doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài thu hút gần 150.000 lao động trên cả nớc.
Từ chỗ các doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ ở các nơi khác nhau, đến nay

đã hình thành các khu vực sản xuất đồ gỗ tập trung quy mô khá lớn ở
một số tỉnh nh: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dơng Điều
đặc biệt đáng lu ý là các nhà đầu t nớc ngoàI cũng tăng mạnh đầu t
vào ngành này, nhất là trong 5 tháng đầu năm 2004.
1.2 - Xuất khẩu đồ gỗ sang thị trờng Mỹ:
Bắt đầu từ cuối năm 2001, khi hiệp định thơng mại Việt - Mỹ có hiệu
lực, ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam bắt đầu "cất cánh"
với tốc độ tăng vọt, kim ngạch xuất khẩu đạt 335 triệu USD, tăng
53,5% so với năm 2000. Liên tiếp 2 năm 2002 và 2003, tốc độ tăng
xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ tiếp tục ở mức cao và trong 9 thang năm
2004, lợng ớc xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Mỹ là 741 triệu USD, tăng
186,2% so với cùng kỳ năm 2003.
Xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam vào Hoa Kỳ năm 2003 đạt trên
150 triệu USD (không kể đồ nội thất không phảI là gỗ), tăng khoảng
160% so với năm 2002. Hiện nay Việt Nam là một trong 20 nớc xuất
khẩu đồ gỗ nội thất lớn nhất vào Mỹ.

9
Sản phẩm gỗ Việt Nam
xuất khẩu sang Mỹ

Xuất khẩu đồ gỗ nội thất Việt Nam vào thị trờng Hoa Kỳ tăng nhanh
do những nguyên nhân sau:
- Thuế nhập khẩu giảm do hiệu lực của hiệp định thơng mại song ph-
ơng Việt Mỹ (BTA) trung bình từ 50 - 55% xuống còn 0-3%.
- Nhập khẩu đồ gỗ từ Trung Quốc vào Hoa Kỳ tăng mạnh và chiếm thị
phần lớn trong những năm qua dẫn đến sức ép giảm nhập khẩu từ
Trung Quốc.
Một số nhóm hàng đồ gỗ phòng ngủ đang bị kiện bán phá giá. Hơn
nữa, bản thân các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ cũng không muốn quá phụ

thuộc vào nguồn cung cấp hàng của Trung Quốc, do vậy họ có xu h-
ớng chuyển sang tìm thêm nguồn hàng từ những nớc khác trong đó có
Việt Nam.
10
- Năng lực cung ứng hàng đồ gỗ của Việt Nam đợc tăng cờng đáng kể
và nhiều thông tin về khả năng này đợc chuyển tảI đến các nhà nhập
khẩu.
Tuy nhiên thị phần xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang Mỹ mới ch
chiếm hơn 0,86% tỷ trọng tổng khối lợng nhập khẩu đồ gỗ vào thị tr-
ờng này.
Phần lớn các mặt hàng Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ là đồ gỗ nội
thất, trong khi nớc này đang có nhu cầu nhập rất lớn các sản phẩm gỗ
văn phòng, đồ gỗ cao cấp cho các công sở, đồ gỗ ngoàI trời, đồ dùng
trong gia đình bằng gỗ.
2/ Lợi thế của đồ gỗ Việt Nam:
2.1 - Giá của Việt Nam có tính cạnh tranh.
Sản phẩm của Việt Nam có tính cạnh tranh cao do giá nhân công rẻ, -
ớc tính rẻ hơn từ 8% đến 10% so hàng của Trung Quốc. Trong lúc đó
hàng của Trung Quốc rẻ hơn hàng sản xuất tại Mỹ đến 30%.
2.2 - Đồ gỗ Việt Nam đợc sản xuất đa dạng, mang nét độc đáo riêng
có của Việt Nam.
2.3 - Đội ngũ những ngời lao động thủ công khéo tay, thông minh,
cần cù, sáng tạo và giá nhân công của Việt Nam thấp hơn các nớc
trong khu vực.
Thị trờng Mỹ a chuộng sản phẩm gỗ của Việt nam vì ngoài việc đảm
bảo chất lợng, sản phẩm còn thể hiện đợc nét văn hoá tinh xảo độc đáo
do bàn tay khéo léo của ngời thợ Việt Nam.
Hơn thế nữa, giá nhân công của Việt Nam đợc coi là thấp nhất trong
những nớc xuất khẩu đồ gỗ vào thị trờng Mỹ.
3/ Những khó khăn còn tồn tại của ngành sản xuất đồ gỗ tại Việt

Nam:
11
3.1- Công nghệ lạc hậu:
Thực tế khảo sát cho thấy có tới trên 70% các doanh nghiệp chế biến
lâm sản tại Việt Nam vẫn áp dụng công nghệ chế biến cũ kỹ. Với
những thiết bị sản xuất nhập từ các nớc Đông Âu, Trung Quốc qua
nhiều thập kỉ sử dụng chắc chắn không thể cho chất lợng sản phẩm
sản xuất ổn định. 30% con số máy móc còn lại cũng chỉ đạt mức độ
trung bình.Nguyên nhân của tình trạng chậm đổi mới công nghệ đợc
lý giảI là, theo tính toán để có thể xây dựng một xởng chế biễn gỗ xuất
khẩu có 200 lao động đem lại doanh thu 1,2 triệu USD/năm thì cần
khoảng 15 tỷ đồng và sau 5 năm mới hồi vốn, với hầu hết các doanh
nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ nguồn
tàI chính còn hạn chế thì để đáp ứng đợc nhu cầu đổi mới công nghệ
xem ra không phảI là đơn giản. Mặt khác, phần lớn lao động trong
ngành lâm sản cha qua đào tạo cơ bản, chủ yếu vẫn ở dạng phổ thông
do đó năng suất lao động thấp. Số liệu so sánh cho thấy rằng một lao
động trong ngành chế biến gỗ của trung Quốc có thể tạo đợc giá trị
sản phẩm khoảng 15000 USD.năm trong khi đó tại Việt Nam lao động
chỉ đạt khoảng 7000-8000 USD/năm.
3.2 - Quy mô sản xuất nhỏ lẻ.
Thị trờng đồ gỗ Mỹ có đặc điểm là dặt hàng với khối lớng lớn, yêu cầu
đòi hỏi cao. Có những doanh nghiệp của Mỹ đặt hàng 1000 container
lại 40 feet đồ gỗ từ Trung Quốc nhng đối với các công ty khá nhất của
Việt Nam thì cũng chỉ có khả năng cung cấp 100 container mỗi tháng,
còn lại thờng là 30 -50 container.
3.3 - Đội ngũ lao động trong ngành gỗ còn nhiều yếu, kém cả về số
lợng và cơ cấu, thể hiện:
12
- Đội ngũ lao động cha qua đào tạo là phổ biến, phơng thức đào tạo

theo kiểu truyền nghề, cầm tay chỉ việc là chính nên trình độ tay nghề
thấp, tính đồng đều trong sản phẩm không cao.
- Thợ lành nghề bậc cao ít, thiếu quy hoạch đào tạo, bồi dỡng do đó
thợ bậc cao lại càng thiếu và đội ngũ kế thừa ít.
- Đội ngũ làm công tác thiết kế sản phẩm tuy có đợc đào tạo, song một
là các trờng chỉ đào tạo cơ bản, không chuyên sâu, thiếu sự kết hợp
giữa đội ngũ thiết kế đợc đào tạo trong nhà trờng với đội ngũ nghệ
nhân. Các nghệ nhân về lĩnh vực sản xuất đồ mộc hầu nh không đợc
chú ý bồi dỡng, tuyển chọn
Những hạn chế về lao động trên đây đã dẫn đến tình hình là năng suất
lao động thấp, mẫu mã nhiều khi còn đơn điệu không phong phú, sản
phẩm khó bán trực tiếp đến ngời tiêu dùng.
Hơn nữa, lâu nay các doanh nghiệp trong nớc có thói quen chỉ làm
theo đơn đặt hàng của đối tác nớc ngoài. Việc này sẽ làm cho doanh
nghiệp bị động trong việc thiết kế những mẫu mã mới mà không phát
huy đợc những sáng tạo của mỗi nghệ nhân trong quá trình chế tác
từng sản phẩm gỗ. Đây cũng là những hạn chế của doanh nghiệp xuất
khẩu đồ gỗ vào thị trờng Mỹ.
3.4 - Doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam phải phụ thuộc vào gỗ
nguyên liệu nhập khẩu
Trừ nguồn tre nứa trong nớc có thể đáp ứng đợc nhu cầu chế biến
thì còn lại 80% nguyên liệu chế biến lâm sản phảI từ nhập khẩu. Mức
độ phụ thuộc vào nguyên liệu gỗ nhập khẩu của Việt nam ngày càng
gia tăng trong khi giá gỗ trên thế giới luôn có chiều hớng tăng lên do
những nguyên nhân nh: nạn phá rừng, môI trờng thế giới ngày càng
13
suy thoáI, nhiều nớc lân cận cung cấp gỗ cho Việt Nam nh: Lào,
Inđônêsia,Malaysia cấm xuất khẩu gỗ thô, chi phí vận chuyển cao do
khủng hoảng dầu mỏ và phảI nhập từ các nớc xa xôI nh New Zealand,
Nga, Mỹ và tốc độ trồng rừng chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng tiêu

thụ sản phẩm gỗ trên thế giới. Trong 5 tháng đầu năm 2004, giá gỗ
nguyên liệu vào Việt Nam đã tăng 15-20% so với cùng kỳ năm 2003,
gỗ thông nhập khẩu tăng lên 163 USD/m
3
, tăng 20USD/m
3
so với năm
ngoái. Giá nguyên liệu gỗ tăng đã làm giảm đáng kể lợi nhuận của các
doanh nghiệp do tỷ trọng gỗ, phụ liệu gỗ trong giá xuất khẩu sản
phẩm gỗ tăng mạnh, năm 2002 con số này là 41%, năm 2003 tăng lên
hơn 48% và năm nay dự kiến có thể vọt lên tới 60%, trong khi giá đầu
ra xuất khẩu chỉ tăng rất ít (một vàI %/năm). Điều này ảnh hởng rất
nhiều đến lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ, khiến
xuất khẩu gỗ của Việt Nam cha đạt kim ngạch cao và hiệu quả kinh tế
nh mong muốn. Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ năm 2003 lên
đến 245 triệu USD, chiếm trên 43% giá trị kim ngạch xuất khẩu, thực
trạng này đang biến các doanh nghiệp Việt Nam thành những nhà gia
công hơn là những "chủ nhân thực sự của các sản phẩm đồ gỗ". Việc
phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu cũng khiến cho
giá thành sản phẩm gỗ Việt Nam không ổn định, các doanh nghiệp
khó chủ động về nguồn nguyên liệu và sản xuất.
3.5. Yêu cầu khắt khe của thị trờng Mỹ:
ở Mỹ, khí hậu giữa bờ Đông và bờ Tây khác nhau, ở mỗi bang có
khi cũng khác nhau, mà hệ thống phân phối của nhiều công ty Mỹ thì
trảI dài nhiều bang nên các nhà kinh doanh đồ gỗ của Mỹ đặt ra yêu
cầu về độ ẩm của sản phẩm rất nghiêm ngặt. Độ ẩm tiêu chuẩn của
14
đồ gỗ thờng là 15%, và với độ ẩm này thì sản phẩm sẽ không bị cong
vênh, nứt nẻ khi sử dụng ở nhiều vùng khác nhau.
Tuy nhiên các công ty Việt Nam thờng quen làm hàng gỗ cho Nhật

và Châu âu thờng sấy gỗ sao cho khi sản xuất, gỗ có ấm độ 10 -12%,
trong khi đó các nhà nhập khẩu của Mỹ quy định ấm độ đồ gỗ phảI
là 8%, cao nhất là 10%, đồng nghĩa với việc kéo dàI thêm thời gian
sấy.
Thêm vào đó, thờng các sản phẩm đồ gỗ bán ở thị trờng Mỹ có kích
cõ lớn hơn hàng xuất đi Châu Âu và Nhật. Ví dụ nh giờng ngủ nhng
khách hàng Mỹ có thói quen sử dụng loại có kích cỡ lớn hơn, chân
giờng đợc tiện bằng máy khá chắc chắn. Mà để có thể đáp ứng đợc
kích thớc lớn hơn nh vậy thì buộc các doanh nghiệp Việt Nam phảI
thay đổi phơng thức sản xuất, điều chỉnh lại máy móc cho phù hợp
mà điều này hoàn toàn không dễ dàng.
NgoàI ra thì các sản phẩm đồ gỗ của Việt nam vẫn nặng về tính dân
tộc, đặc biệt là đồ gỗ thủ công mỹ nghệ. Loại sản phẩm này có thể đ-
ợc a chuộng với thị trờng Nhật nhng có thể sẽ không phù hợp với thị
hiếu ngời Mỹ.
3.6- Khó khăn lớn nhất đối với ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt
nam là vẫn phảI xuất khẩu gián tiếp qua các công ty hoặc các thị
trờng trung gian, dẫn đến doanh thu bị ảnh hởng.
Ngoại trừ một số doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp củ yếu tập trung ở
phía Nam còn lại hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phảI xuất
khẩu qua trung gian hoặc tìm kiếm các hợp đồng gia công lại cho
các công ty Mỹ. Những hợp đồng xuất khẩu lớn từ 10.000 USD trở
15
lên hầu nh phảI thông qua các thơng gia môI giới ĐàI Loan. Các sản
phẩm gỗ khi qua tay trung gian đều sẽ đợc gắn nhãn mác của
Malaysia, Hồng Kông, Trung Quốc . với mức giá cao hơn rất nhiều
lần.
4/ GiảI pháp để thúc đẩy xuất khẩu gỗ sang Mỹ:
4.1/ Từ phía chính phủ:
4.1.1- Hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm lựa chọn thị trờng nhập khẩu gỗ

nguyên liệu, nhất là gỗ rừng tự nhiên để sản xuất sản phẩm gỗ xuất
khẩu.
4.1.2- Hoàn thành quy hoạch trồng rừng nguyên liệu + khuyến khích
các thành phần kinh tế trồng rừng để tạo nguồn nguyên liệu ổn định
cho phát triển xuất khẩu. Trồng rừng trong nớc phảI tính toán trồng
cây gì để vừa giải quyết việc trồng rừng vừa có thể khai thác.
4.1.3 - Các chính sách u đãi và phát triển đồ gỗ xuất khẩu cần thông
thoáng hơn nh chính sách tín dụng, thởng xuất khẩu
+ Cần lập các dự án, chơng trình xúc tiến thơng mại trọng điểm quốc
gia cho mặt hàng đồ gỗ.
4.1.4 - Khuyến khích đầu t trong nớc và thu hút đầu t nớc ngoài. Để
giúp đỡ các doanh nghiệp trong nớc cần tháo gỡ khó khăn nh phân cấp
xét duyệt danh mục hàng hoá khuyến khích trong nớc khi nhập khẩu
đợc miền thuế nhập khẩu cho các địa phơng để rút ngắn thời gian xét
duyệt. Với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoàI, cần hớng vào
lĩnh vực chế biến, sản xuất đồ gỗ, đặc biệt là các công ty đa quốc gia,
vừa sản xuất vừa có mạng lới phân phối lớn trên thế giới để đảm bảo
đầu ra cho sản phẩm.
4.1.5 - Cải cách hành chính:
16
dỡ bỏ việc doanh nghiệp phảI xuất trình văn bản kiểm lâm với các sản
phẩm gỗ xuất khẩu sản xuất từ gỗ nhập khẩu làm thủ tục xuất khẩu
hoặc cơ quan hảI quan chỉ áp dụng chế độ kiểm tra đối với đồ gỗ xuất
khẩu.
4.2/ Từ phía doanh nghiệp:
4.2.1- Tập trung khai thác thị phần sản phẩm đồ gỗ cao cấp vì thị
phần này còn bỏ ngỏ.
4.2.2- Tập trung đáp ứng sở thích mua hàng theo ngẫu hứng, độc
đáo, đòi hỏi phải mang tính sáng tạo cao.
4.2.3 - Tập trung vào các nhà nhập khẩu gỗ có năng lực thực sự để

thâm nhập vào thị trờng Mỹ.
4.2.4 - Đầu t đổi mới công nghệ:
- Công nghệ nâng cao chất lợng sản phẩm hiện hữu trên thị trờng
- Nâng cao năng lực chế biến nguyên liệu.
- Tạo ra nhiều sản phẩm mới có kiểu dáng đẹp đồng thời đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng.
- Tạo ra những biện pháp quản lý mới.
Vấn đề đầu t công nghệ cũng là một trong những chuyện nan giảI của
doanh nghiệp. Hiện tại cả nớc có đến cả ngàn doanh nghiệp chế biến
gỗ nhng thực tế phần lớn đều có quy mô nhỏ, thiết bị lạc hậu, khó theo
kịp với yêu cầu chất lợng sản phẩm ngày càng cao, số lợng đơn đặt
hàng ngày càng lớn. Nhng để đầu t thì không đơn giản. Chi phí máy
móc hiện đại của ngành này khá lớn, từng nhà máy phải tự trang bị thì
không sử dụng hết công suất, lại phải khấu hao cao dẫn đến giá sản
phẩm kém cạnh tranh. Nếu có sự phân công trong ngành để nhiều nhà
17
máy cùng hợp vốn đầu t thì có lẽ sẽ tránh đợc sự lãng phí này mà vẫn
đạt đợc các mục tiêu đầu t.
4.2.5 - Liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và sản xuất đồ gỗ ở
Mỹ tạo nên liên doanh có chung lợi ích để phòng ngừa việc đánh
thuế chống bán phá giá sản phẩm gỗ ở thị trờng Mỹ.
Các doanh nghiệp Việt Nam nên liên kết với các nhà sản xuất tại Mỹ
hay các thị trờng khác để gia công phần thô (công đoạn, chi tiết) còn
phần hoàn thiện thì để phía đối tác thực hiện bởi công nghệ hoàn thiện
sản phẩm cuả họ tốt hơn. Hơn nữa khi liên kết sản xuất sẽ tránh phảI
đối đầu với các rào cản mà phía đối tác có thể đặt ra nhằm bảo hộ thị
trờng của họ, đặc biệt là thị trờng Mỹ.
4.2.6 - Đa dạng hoá trong khâu thiết kế:
- Kết hợp việc sử dụng nguyên liệu gỗ với các nguyên liệu khác nh
Inox, mây tre lá, composite, nhựa

- Đa dạng hoá mẫu mã sao cho phù hợp thị hiếu và vóc dáng ngời tiêu
dùng.
Để đẩy mạnh xuất khẩu gỗ vào thị trờng Mỹ, các doanh nghiệp cần
liên tục thay đổi mẫu mã để đáp ứng đợc nhu cầu, thị hiếu của ngời
tiêu dùng Mỹ. "Phát huy những truyền thống văn hoá của Việt nam
lên từng sản phẩm gỗ là điều tốt. Tuy nhiên, tuỳ vào thị trờng mà
chúng ta chọn những hoa văn, kiểu dáng khác nhau, cho phù hợp với
nhu cầu của mỗi nớc"
Thị trờng Mỹ có đặc điểm là đặt hàng với số lợng rất lớn và vì vậy
doanh nghiệp phảI tính đến việc chuyên môn hoá để có thể sản xuất
hàng loạt. Mặt khác việc tổ chức chuyên môn hoá, sản xuất hàng loạt
sẽ giúp doanh nghiệp hạ đợc giá thành , nâng cao khả năng cạnh tranh
trên thị trờng xuất khẩu.
18
4.2.7- Chủ động tham dự các hội chợ đồ gỗ có uy tín ở Mỹ.
Quy mô nhất là hội chợ đồ gỗ High Point đợc tổ chức hai lần một
năm. Một hội chợ khác ở Las Vegas, có quy mô không kém High
Point sẽ đựoc tổ chức lần đầu tiên vào tháng 7 -2005. NgoàI ra còn có
các hội chợ ở Chicago, San Francisco
IV. Kết luận
Rõ ràng việc xuất khẩu đồ gỗ vào thị trờng Mỹ, một thị trờng đầy tiềm
năng đã và đang sẽ mang đến nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp
Việt Nam. Những lợi thế mà các doanh nghiệp Việt Nam có đợc có
thể tạo nên một sức mạnh lớn, một nguồn lợi lớn thu hút ngành gỗ
Việt Nam hoà vào dòng chảy chung của sự phát triển kinh tế toàn cầu,
từng bớc nâng cao vị trí, vai trò, tầm ảnh hởng và sức cạnh tranh của
mình. Nhng đối với một thị trờng rộng lớn, có tính cạnh tranh cao và
nhu cầu đa dạng nh Mỹ thì đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam không
những chỉ nắm vững đặc điểm của thị trờng mới này, văn hoá, thị hiếu
về đồ gỗ của ngời tiêu dùng Mỹ mà hơn nữa là việc xác định phân

khúc thị trờng nào phù hợp với năng lực và quy mô của các doanh
nghiệp Việt Nam, cùng với sự hỗ trợ, chỉ đạo từ phía chính phủ, các
19
Bộ, ngành để có thể đa kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam
trong những năm tới tăng cao và ổn đinh.
TàI liệu tham khảo
1. Đánh giá tác động của hiệp định thơng mại Việt Mỹ đối với nền
kinh tế Việt Nam
2. Bất ngờ với đồ gỗ và mỹ nghệ - Chánh KhảI - Thời báo kinh tế SàI
Gòn 24/7/2003
3. Xuất khẩu gỗ cán đích 1 tỷ USD - Hàm Long - Kinh tế Việt nam
số 7/2004
4. Thị trờng lớn cho đồ gỗ Việt Nam - Ngọc Long - Kinh tế Việt nam
số 7/2004
5. Thị trờng Mỹ: Lợi thế cho ngành sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ -
Thanh Lâm - Thơng mại số 17/2004
6. Xuất khẩu đồ gỗ có khai thác đợc cơ hội ? - Lê Uy Linh - Thời báo
kinh tế SàI Gòn 8/7/2004
20
7. Đồ gỗ tìm đờng vào thị trờng Mỹ - Lê Uy Linh - - Thời báo kinh tế
SàI Gòn 8/7/2004
8. Đồ gỗ Việt Nam: cơ hội lớn, thách thức cao - HảI Ngọc - Kinh tế
Châu á TháI Bình Dơng
9. Khối việc phảI làm - Ngọc Quỳnh - Kinh tế Việt Nam số 41/2004
10. Đồ gỗ Việt Nam sẽ rộng mở - Kinh tế Châu á TháI Bình Dơng số
20/2004
11. Hớng tới mục tiêu xuất khẩu 1 tỷ USD sản phẩm gỗ - Thông tin
thơng mại số tháng 9/2003
12. Cần làm gì để xuất khẩu đồ gỗ đạt 1 tỷ USD năm 2005 - Thơng
mại tháng 7/2004

13. Xuất khẩu đồ gỗ: giá trị tăng, hiệu quả thấp - Hồng Vân- - Thời
báo kinh tế SàI Gòn 3/6/2004
14. Cuộc chiến hàng đồ gỗ - Kinh tế Châu á TháI Bình Dơng số
20/2004
15. Thách thức với 1 tỷ USD xuất khẩu gỗ chế biến - Dơng Lê - Thơng
mại số 10/2004
16. GiảI pháp phát triển ngành nghề chế biến gỗ xuất khẩu - Vũ Trờng
Thành - Thơng mại số 2/2004
17. Đồ gỗ nội thất vào Mỹ: thị trờng lớn thị phần nhỏ - SàI Gòn tiếp
thị 19/7/2004
18. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ tăng mạnh - Thông tấn xã Việt Nam
22/9/2004
19. Ưu thế đồ gỗ Việt Nam là kiểu dáng độc đáo - Vnexpress
23/9/2004
20. Cơ hội vàng chó đồ gỗ xuất khẩu - Thời báo kinh tế SàI Gòn
12/10/2004
21. Nhiều nhà nhập khẩu Mỹ đổ sang Việt Nam - Tuổi trẻ 24/6/2004
21
22. Cẩm nang về xâm nhập thị trờng Mỹ - Võ Thanh Thu
Mục lục
I. Lời mở đầu: 1
II. Lý luận chung 2
1/ Thị trờng Mỹ và những đặc điểm: 2
1.1. Thị trờng có sức mua lớn nhất 2
1.2. Thị trờng với các tiêu chuẩn đa dạng 5
1.3. Thị trờng có tính cạnh tranh cao: 5
2/ Nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
vào thị trờng Mỹ trong năm 2003: 6
2.1- Nhóm hàng dệt may 6
2.2- Thuỷ sản đông lạnh và chế biến: 7

III. Thực trạng tình hình xuất khẩu đồ gỗ
22
của Việt Nam vào thị trờng Mỹ và các giảI pháp thúc đẩy 7
1/ Tình hình xuất khẩu chung 7
1.1- Tính hình sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu
của các doanh nghiệp Việt Nam 7
1.2 - Xuất khẩu đồ gỗ sang thị trờng Mỹ: 9
2/ Lợi thế của đồ gỗ Việt Nam: 11
3/ Những khó khăn còn tồn tại của ngành sản xuất
đồ gỗ tại Việt Nam: 11
4/ GiảI pháp để thúc đẩy xuất khẩu gỗ sang Mỹ: 16
4.1/ Từ phía chính phủ: 16
4.2/ Từ phía doanh nghiệp 17
IV. Kết luận 19
TàI liệu tham khảo 20
23

×