Tải bản đầy đủ (.doc) (66 trang)

Giải pháp tín dụng đối với phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng công thương thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (321.06 KB, 66 trang )

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, các DNVVN là một tế bào không thể thiếu
bởi nó ngày càng có nhiều của cải đóng góp cho xã hội. Kinh nghiệm thực tế
của một số nớc trên thế giới cho thấy việc phát triển DNVVN sẽ tạo điều
kiện khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
nguồn lao động, nguồn công nghệ... Tạo ra nhiều của cải vật chất, phân phối
lu thông giúp nền kinh tế ổn định, đứng vững khi mà chu kì khủng khoảng và
suy thoái trên thế giới đang ngày càng có xu hớng ngắn lại.
Những nớc có nền kinh tế phát triển mạnh thì tỉ lệ DNVVN chiếm
phần lớn trong tổng số các doanh nghiệp. Cụ thể nh ở Mỹ, DNVVN chiếm
90% tổng số hãng kinh doanh có thuê công nhân, thu hút 52% lao động,
chiếm 31% kim nghạch xuất khẩu hàng hoá (năm 2000). Còn ở Nhật theo số
liệu năm 1998 DNVVN chiếm 99.7% tổng số DN cả nớc, sử dụng 70% lao
động, tạo ra 40% doanh thu và 60% giá trị gia tăng toàn khu vực nông
nghiệp...
Nh vậy loại hình DNVVN đã rất phổ biến ở tất cả các nớc trên thế
giới, ở Việt Nam trớc đây loại hình doanh nghiệp này cha thực sự đợc đầu t
quan tâm. Nhng trớc nhu cầu phát triển của đất nớc cũng nh quá trình hội
nhập với trong khu vực và trên thế giới thì vai trò của DNVVN đã phát huy
tác dụng. Nhận thức đợc tầm quan trọng đó Đảng và Nhà nớc ta đã chủ trơng
tạo điều kiện cho DNVVN phát triển. Hiện nay nớc ta có khoảng 70% đến
80% DNVVN trong tổng số các doanh nghiệp và hàng năm các doanh nghiệp
này đóng góp khoảng 25% GDP cho ngân sách Nhà Nớc .
Với đờng lối đổi mới kinh tế và định hớng phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
Nớc đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhất là DNVVN.
Do xuất phát điểm của nớc ta là nớc nông nghiệp lạc hậu thị trờng vốn kém
1
phát triển nên gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tìm
kiếm các nguồn vốn mở rộng phát triển sản xuất. Bên cạnh đó nhiều


DNVVN cha đủ uy tín để vay vốn, lại cha có chính sách hỗ trợ hợp lý cho
các doanh nghiệp này. Vì thế Nhà Nớc cũng nh bản thân các doanh nghiệp
phải tìm ra những giải pháp thích hợp để đẩy lùi khó khăn
Một trong những yếu tố đầu tiên để cho DNVVN phát triển là nhu
cầu vốn, ngoài nguồn vốn tự có nhỏ bé doanh nghiệp cần đợchỗ trợ từ các
nguồn bên ngoài nhất là nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Nhng có một
thực tế là có những doanh nghiệp vay vốn ngân hàng song lại sử dụng không
có hiệu qủa, vì thế mà việc tìm ra giải pháp tín dụng đối với DNVVN đang là
mối quan tâm đặc biệt của các NHTM. Xuất phát từ quan điểm đó và thực
trạng hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay, sau một thời gian thực tập và
tìm hiểu về Chi nhánh NHCT Thái Nguyên em đã chọn đề tài: Giải pháp
tín dụng đối với phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân
hàng Công thơng Thái Nguyên.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá một cách tổng quát thực
trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVVN tại Thái Nguyên và
hoạt động đầu t tín dụng của chi nhánh NHCT Thái Nguyên cho loại hình
doanh nghiệp này. Đồng thời đề tài cũng đa ra một số giải pháp tín dụng
nhằm góp phần phát triển DNVVN trên địa bàn.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng cho các DNVVN
của Chi nhánh NHCT Thái Nguyên, phạm vi nghiên cứu và số liệu thu thập
từ Chi nhánh NHCT Thái nguyên trong thời gian năm 2001, 2002, 2003.
4 Phơng pháp nghiên cứu
Trong qúa trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phơng pháp nghiên cứu
khoa học để phân tích lý luận và giải thích thực tiễn nh phơng pháp: biện
2
chứng duy vật, phơng pháp duy vật lịch sử, phơng pháp phân tích hoạt động
kinh tế
5. Kết cấu đề tài

Tên đề tài: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển các doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Chi nhánh ngân hàng công thơng Thái Nguyên
- Phần mở đầu
- Phần nội dung.
Trong phần nội dung gồm có 3 chơng:
Chơng 1: Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tín dụng ngân hàng đối với sự
phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế.
Chơng 2: Thực trạng đầu t tín dụng đối với phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Chi nhánh NHCT Thái Nguyên.
Chơng 3: Giải pháp tín dụng đối với phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Chi nhánh ngân hàng công thơng Thái Nguyên
- Phần kết luận
3
Ch ơng 1 DOANH NGHIệP vừa Và NHỏ - Vai trò của tín dụng
Ngân hàng đối với sự phát triển Doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong nền kinh tế
1.1 Vị trí và vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền
kinh tế
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế,
nhng để đa ra một khái niệm cụ thể về doanh nghiệp thì lại có nhiều quan
điểm khác nhau. Theo DLarue-Acitlat: doanh nghiệp là một đơn vị sản
xuất và là một đơn vị phân phối doanh nghiệp là một hệ thống mở, có
mục tiêu và quản lý theo hớng tạo ra lợi nhuận hùng mạnh, vĩnh cửu...
(Kinh tế nông nghiệp- NXB Khoa học kỹ thuật 1994). Còn theo Luật Doanh
nghiệp hiện hành của Việt Nam: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định đợc đăng kí kinh
doanh theo qui đinh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động
kinh doanh
Nh vậy doanh nghiệp đợc hiểu là một tổ chức hoạt động kinh tế có t

cách pháp nhân, đợc thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một lĩnh
vực nhất định với mục đích thu đợc lợi nhuận hoặc công ích.
Trong nền kinh tế thi trờng có rất nhiều doanh nghiệp ta có thể phân
theo một số các tiêu thức:
- Theo qui mô sản xuất hoạt động: doanh nghiệp qui mô lớn, doanh
nghiệp qui mô vừa và nhỏ
- Theo cấp quản lý: doanh nghiệp trung ơng, doanh nghiệp điạ phơng,
doanh nghiệp t nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp.
4
Theo ngành kinh tế kỹ thuật: doanh nghiệp nghành công nghiệp,
doanh nghiệp ngành thơng mại và dịch vụ, doanh nghiệp ngành nông- lâm
nghiệp, doanh nghiệp ngành tài chính, doanh nghiệp ngành phi tài chính.
DNVVN là một trong số các doanh nghiệp đợc phân loại theo tiêu
thức trên, nó đang tồn tại và phát triển rộng trong nền kinh tế thị trờng.
DNVVN cũng mang những đặc điểm chung giống nh các loại hình doanh
nghiệp khác nhng lại có những đặc điểm riêng mà chỉ có ở những doanh
nghiệp có qui mô vừa và nhỏ. Vậy doanh nghiệp thế nào là đợc coi là
DNVVN, tuỳ vào điều kiện của từng nớc khác nhau thì đa ra các khá niệm
khác nhau. Nhng để căn cứ chính xác thờng phải dựa vào vốn tự có, số ngời
lao động làm việc trong doanh nghiệp, giá trị tài sản cố định của doanh
nghiệp Nh theo quan điểm của Mỹ mức lợi nhuận hàng năm dới 150.000
USD đợc coi là DNVVN, theo quan điểm của Thái Lan doanh nghiệp vừa là
doanh nghiệp có từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp
có dới 50 lao động. Còn ở Việt Nam theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP của
Chính Phủ ban hành ngày 23/11/2001 thì DNVVN đợc hiểu: DNVVN là cơ
sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo luật hiện hành
có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 ngời . Theo nghị định này thì DNVVN sẽ bao gồm các
doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp Nhà nớc, các doanh nghiệp
hoạt động theo luật doanh nghiệp, các hợp tác xã hoạt động theo luật Hợp tác

xã, các hộ kinh doanh cá thể.
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNVVN cũng là một tổ chức kinh tế, ngoài những đặc trng vốn có
của một doanh nghiệp thì nó cũng mang những đặc trng riêng xuất phát từ
chính khái niệm của nó.
Một là: Vốn tự có thấp không quá 10 tỷ đồng, chu kỳ kinh doanh ngắn
nên các doanh nghiệp này có thời gian hoàn vốn ngắn hơn nhiều so với các tổ
chức kinh tế có qui mô lớn
5
Hai là: Những DNVVN sản xuất thờng không có tính ổn định trên thị
trờng, nên cơ cấu mặt hàng sản phẩm dịch vụ thờng xuyên thay đổi và không
lớn về số lợng.
Ba là: Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh gọn nhẹ, các mối quan hệ
nội bộ dễ điều chỉnh, vì thế có tính linh hoạt cao, dễ thích ứng với biến động
của nền kinh tế. Công tác điều hành mang tính trực tiếp và quan hệ giữa ngời
quản lý và ngời lao động thờng rất chặt chẽ.
Bốn là: Ngành nghề hoạt động của DNVVN rất đa dạng và phong phú
nhờ vậy mà việc mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp này sẽ giúp ngân
hàng phân tán rủi ro hoặc gây rủi ro nhng biến động không nhiều đối với hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Năm là: Tỷ suất vốn đầu t trên lao động thấp hơn doanh nghiệp lớn
nên hiệu suất làm việc cao hơn.
Sáu là: Khả năng cạnh tranh của những doanh nghiệp này còn thấp do
hạn chế vốn, trình độ công nghệ, phơng thức quản lý, khả năng tiếp cận thị
trờng kém. Đây chính là yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho ngân hàng khi cho các
DNVVN vay vốn.
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị
trờng
Trong nền kinh tế thị trờng luôn đòi hỏi các doanh nghiệp phải linh
hoạt, nhạy bén thích ứng nhanh với sự biến động trên thị trờng và thờng các

DNVVN rất dễ đáp ứng đợc các yêu cầu đó . Vì thế loại hình doanh nghiệp
này ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhất là ở nớc
ta khi nhu cầu của ngời tiêu dùng tăng lực lợng lao động dồi dào môi trờng
kinh doanh lại đang đợc Đảng và Nhà nớc luôn tạo điều kiện thuận lợi
Một là: DNVVN góp phần thu hút tối đa mọi nguồn lực trong dân,
giải quyết nạn thất nghiệp tạo ra sự phát triển cân đối trong nền kinh tế:
6
Với qui mô tổ chức gọn nhẹ đa rạng nhiều nghành nghề đã thu hút đ-
ợc nhiều lao động, giải quyết đợc tình trạng thất nghiệp và tận dụng tốt sự bỏ
ngỏ một số nghành kinh tế mà các doanh nghiệp lớn cha kinh doanh hoặc
không đủ sức đảm trách vì đó không phải là nghành có tầm quan trọng sống
còn đối với nền kinh tế . Theo thống kê DNVVN thu hút khoảng 64,8% lực
lợng lao động mỗi năm (Thông tin NHCTVN-số 1/2004). Nh vậy các
DNVVN đã điều tiết phân giải lực lợng lao động trên các khu vực còn nhiều
khoảng trống , góp phần giãn cách điều hoà nhu cầu lao động tạo ra sự phát
triển cân đối cho nền kinh tế. Trình độ của lực lợng lao động ở nớc ta còn
thấp ,tiềm năng phát triển của nền kinh tế lại lớn .Vì vậy chỉ có các DNVVN
mới có thể thực hiện tốt điều đó.
Hai là: DNVVN tạo thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc, tăng thu
nhập cho ngời lao động và cải thiện đời sống dân c:
Do có lợi thế là chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập đợc
doanh nghiệp chính điều đó thể hiện tính năng động tính linh hoạt cao, có
khả năng thích ứng với nhu cầu thay đổi thờng xuyên của ngời tiêu dùng nên
DNVVN trong những năm qua phát triển khá nhanh. Sau 4 năm thi hành
Luật doanh nghiệp ở Việt Nam đã có gần 73.000 doanh nghiệp mới đăng ký
với số vốn hơn 145.000 tỷ đồng. Đến nay cả nớc đã có hơn 120.000 doanh
nghiệp, 15.000 hợp tác xã, 13.000 trang trại và gần 3.000.000 hộ kinh doanh
cá thể, trên 10.000.000 hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Đây là lực lợng đóng
góp to lớn vào sự phát triển tăng trởng cuả nền kinh tế tạo ra 25% GDP của
cả nớc mỗi năm (thông tin NHCTVN-1/2004). Đời sống của ngời lao động

đợc cải thiện, kỹ thuật sản xuất của DNVVN chủ yếu là trong các lĩnh vực
thơng mại, dịch vụ, chế biến nông lâm sản... nên có khả năng thu hút nhiều
lao động tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội và tăng thu nhập đảm bảo đời
sống cho ngời lao động. Trong khi các doanh nghiệp lớn kỹ thuật sản xuất
hiện đại, công nghệ tiên tiến, nhất là đối với các doanh nghiệp tự động hoá
làm cho số ngời thât nghiệp ngày càng tăng phát sinh nhiều tiêu cực xã hội
7
Nh vậy DNVVN cũng là một nguồn thu thêm cho ngân sách Nhà nớc
bởi số lợng doanh nghiệp ngày càng đông , giá trị kinh tế tạo ra ngày càng
nhiều, giải quyết tốt công ăn việc làm cho ngời lao động. Tuy nhiên trong
điều kiện hiện nay của nớc ta do hạn chế về vốn kỹ thuật vì vậy Nhà nớc cần
phải có các chính sách thích hợp tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển
góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Ba là: DNVVN đáp ứng tích cực nhu cầu hàng hoá tiêu dùng của xã
hội ngày càng phong phú và đa dạng, và tham gia vào quá trình lu thông .
DNVVN đáp ứng ngày càng tích cực nhu cầu hàng hoá tiêu dùng cho
xã hội. Bởi có những mặt hàng mà ngời tiêu dùng có nhu cầu ít, cá biệt song
chất lợng, chủng loại, mẫu mã, kiểu cách không ngừng thay đổi. Trong trờng
hợp này doanh nghiệp lớn không thể đáp ứng đợc nhng DNVVN do có qui
mô sản xuất nhỏ nên có khả năng điều chỉnh sản phẩm để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng một cách nhanh chóng thuận tiện. Nên hàng năm giá trị sản
xuất của DNVVN luôn chiếm tỉ trọng khoảng hơn 50% tổng giá trị sản xuất
của tổng các doanh nghiệp cả nớc.
Trong quá trình tái sản xuất hàng hoá từ khâu sản xuất đến khâu tiêu
dùng phải trải qua khâu trung gian, đó là khâu lu thông do các cửa hàng bán
buôn, bán lẻ đảm nhận. Với lợi thế sẵn có DNVVN đã thực hiện vai trò này
rất tốt vì hệ thống cửa hàng kinh doanh thơng mại dịch vụ vừa và nhỏ đặt ở
khắp các đờng phố, các khu công nghiệp, các tụ điểm dân c có thể đáp ứng
nhu cầu của ngời tiêu dùng một cách nhanh chóng.
Có thể nói rằng DNVVN ngày càng tham gia tích cực vào các mối

quan hệ kinh tế của xã hội, chiếm tỉ trọng về số lợng, giá trị sản xuất tạo ra
ngày càng nhiều. Từ đó cho thấy sự quan tâm tạo điều kiện từ phía Nhà Nớc,
ngân hàng về vốn, hệ thống luật, môi trờng kinh doanh là rất cần thiết cho
các DNVVN.
Bốn là: DNVVN có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phơng và
khai thác thế mạnh tiềm năng của từng vùng:
8
Xuất phát từ lợi thế qui mô vừa và nhỏ dễ thuận lợi cho việc thành lập
ở mọi nơi nên tuỳ vào từng đặc điểm của từng loại lãnh thổ, thì có các
DNVVN kinh doanh sản xuất các mặt hàng khác nhau để phục vụ ngời tiêu
dùng và kiếm lợi nhuận cho mình từ các tiềm năng thế mạnh của vùng . Việt
Nam có điều kiện tự nhiên rất đa dạng nên các DNVVN ở từng địa phơng sản
xuất và kinh doanh những mặt hàng cũng khác nhau. Chính nhờ đặc điểm
này mà DNVVN đã tham gia tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nhất là khu vục nông nghiệp, tạo ra sự phát triển cân đối trên toàn quốc
theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Sáu là: DNVVN tạo ra môi trờng cạnh tranh trong nền kinh tế, thúc
đẩy thị trờng vốn, thị trờng tín dụng phát triển.
DNVVN hoạt động đa rạng trên nhiều lĩnh vực, đã tạo ra sự cạnh tranh
trong nền kinh tế. Phát triển DNVVN tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá dịch
vụ với chất lọng cao là cơ hội thuận tiện cho ngời tiêu dùng lựa chọn so
sánh.Nh vậy chính điều này đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất là
luôn phải nâng cao chất lợng sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của khách hàng
làm cho nền kinh tế thị trờng trở nên sôi động
Sự xuất hiện của các DNVVN tạo ra một nhóm khách hàng thờng
xuyên cho các Ngân hàng, để sản xuất kinh doanh các DNVVN cần phải có
vốn trong khi đó vốn tự có của họ nhỏ bé không đủ đáp ứng vì vậy các DN
này cần phải đi vay mợn trên thị trờng thơng mại. Nhng không phải lúc nào
các DN bạn hàng cũng thừa vốn để cho mợn nên các DNVVN sẽ đi vay ngân
hàng. Hiện nay các DNVVN không chỉ vay vốn qua ngân hàng mà còn thanh

toán qua ngân hàng, điều đó có nghĩa ngân hàng vừa là ngời cho vay vừa là
trung gian thanh toán phục vụ cho các nhà kinh doanh. Với tốc độ phát triển
nhanh chóng cả về qui mô, về chất lợng các DNVVN đã tạo ra một nhu cầu
lớn với Ngân hàng đó là nhu cầu về vốn, nhu cầu về thanh toán dịch vụ qua
Ngân hàng. Có thể nói loại hình doanh nghiệp này là thị trờng đầy triển vọng
của ngân hàng .
9
DNVVN ngày càng đóng vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Dù không
phải là chủ đạo nhng tiện ích của DNVVN thì lại rất lớn, không chỉ làm tăng
thu nhập cho nền kinh tế quốc dân, giải quyết việc làm cho ngời lao động mà
còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nớc phát triển. Hiện nay, các DNVVN
ở Việt Nam cha thực sự phát triển theo đúng tiềm năng vốn có. Bởi nền kinh
tế nớc ta còn đang ở trong gia đoạn thấp, nhất là gia đoạn chuyển đổi kinh tế
hàng hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà Nớc. Các
DNVVN còn bộc lộ nhiều yếu kém trong quá trình hoạt động, do đó rất cần
đợc quan tâm hỗ trợ từ các phía.
1.1.4 Điều kiện để phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
nền kinh tế thị trờng.
Phát triển có nghĩa là sự vật thay đổi theo chiều hớng tốt lên. Doanh
nhgiệp phát triển có nghĩa là doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, sản xuất ra
nhiều sản phẩm có chất lợng tốt hơn phục vụ có ích cho xã hội. Từ đó tăng
thu nhập cho ngời lao động, tăng tích luỹ để mở rộng sản xuất, muốn cho nền
kinh tế đất nớc ngày càng phát triển thì quốc gia đó phải quan tâm tới mọi
loại hình doanh nghiệp. Đặc biệt là loại hình DNVVN vì số lợng của nó ngày
càng chiếm đại đa số trong nền kinh tế, để các DNVVN phát triển cần phải
tạo các điều kiện nhất định nh
* Điều kiện về vốn tài chính
Vốn là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp khi sản xuất kinh
doanh. Điều kiện về vốn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển các doanh
nghiệp nói chung và nhất là DNVVN. Hiện nay các DNVVN rất hạn hẹp về

vốn, nguyên nhân là do qui mô hoạt động của doanh nghiệp nhỏ không đủ
sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Và khả năng
tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng lại hạn chế vì không đủ tài sản thế chấp,
mức lãi suất cho vay quá cao so với mức lợi nhuận thu đợc, thời gian cho vay
ngắn... Đây là khó khăn rất lớn với cả doanh nghiệp và Ngân hàng, nếu vấn
đề này đợc giải quyết thì đây chính là tiền đề để doanh nghiệp phát triển.
10
* Điều kiện thị trờng
Thị trờng là nơi doanh nghiệp tồn tại và thực hiện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, cũng qua thị trờng doanh nghiệp biết sản xuất cái gì, sản
xuất nh thế nào và sản xuất cho ai. Thị trờng đợc hiểu bao gồm cả thị trờng
yếu tố đầu vào và thị trờng đầu ra của sản phẩm. Với đặc điểm và u thế của
mình, các DNVVN nên tập trung vào những thị trờng nhỏ đầu t vào những
sản phẩm hàng hoá có giá bán thấp phù hợp với yêu cầu của từng địa phơng.
Tuy nhiên để có thể cạnh tranh và phát triển không ngừng, các DNVVN cũng
cần phải quan tâm đến thị trờng các địa phơng khác và vơn ra thị trờng quốc
tế, hớng vào những sản phẩm có chất lợng và có giá trị kinh tế cao. Hiện
nay, các doanh nghiệp vẫn cha thực sự khai thác một cách tối đa thị trờng
trong tầm tay để từ đó phát triển ra thị trờng rộng hơn, chính điều này cũng
ảnh hởng không ít tới sự phát triển của doanh nghiệp.
* Điều kiện về cơ sở vật chất.
Trớc sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ trên thế giới,
buộc các doanh nghiệp nhất là các DNVVN ngừng cải tiến thiết bị công nghệ
cho phù hợp với thời đại để nâng cao sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr-
ờng. Điều kiện thiết bị sẽ quyết định tới năng suất, chất lợng sản phẩm cũng
nh hiệu quả của công tác quản lý.
Các yếu tố về cơ sở hạ tầng là những điều kiện quan trọng giúp các
doanh nghiệp có thêm thuận lợi trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Chính vì vậy để có thể giúp các DNVVN thì rất cần phải quan tâm đến vấn
đề này.

* Điều kiện về khả năng lãnh đạo kinh doanh của chủ doanh nghiệp.
Lãnh đạo doanh nghiệp là ngời điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, một trong những cản trở lớn đối với sự phát triển
của các DNVVN là trình độ cuả ngời lãnh đạo bị hạn chế. Lãnh đạo doanh
nghiệp phải biết thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích và đánh giá các loại
thông tin kinh tế - kỹ thuật, từ đó đề ra chiến lợc đúng đắn cho doanh nghiệp.
11
Để thực hiện đợc các yêu cầu đó đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải có trình
độ kiến thức cao, năng lực quản lý giỏi.
* Điều kiện về tri thức tay nghề của ngời lao động.
DNVVN sử dụng rất nhiều nhân công, song hầu hết đều có trình độ
tay nghề thấp nhng lại rất quan trọng vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển
của loại hình doanh nghiệp này. Nếu nh trình độ của ngời quản lý tốt luôn tạo
những cơ hội cho ngời lao động phát triển, khi ngời lao động có tri thức có
tay nghề cao sẽ làm ra nhiều sản phẩm đẹp với chất lợng và năng suất cao.
Điều kiện này rất cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp.
* Điều kiện về hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà Nớc.
Hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà Nớc tác động tới mọi mặt
của đời sống xã hội trong đó có cả sự tồn tại và phát triển của DNVVN. Hệ
thống này sẽ tạo điều kiện hoặc gây khó khăn cản trở cho các doanh nghiệp,
nếu pháp luật hoàn thiện tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi thì ở quốc gia đó
các DNVVN sẽ phát triển rất mạnh và đóng góp vào sự phát triển chung của
Nhà Nớc.
* Điều kiện về hệ thống các biện pháp hỗ trợ phát triển:
Hệ thống các biện pháp hỗ trợ của Nhà Nớc cũng nh của các tổ chức
kinh tế là những điều kiện quan trọng để hỗ trợ các DNVVN phát triển. Các
DNVVN có bất lợi là thờng hoạt động đơn độc, không có sự liên kết hỗ trợ
lẫn nhau. Vì thế cần có các tổ chức giúp đỡ để bảo vệ quyền lợi cũng nh đại
diện cho các doanh nghiệp đa ra yêu cầu cho các cấp có thẩm quyền, nhằm
tạo cho hoạt động của doanh nghiệp đợc phát triển một cách thuận lợi nhất.

Tóm lại: Sự phát triển của các DNVVN chiụ sự tác động của rất nhiều
yếu tố. Nếu nh tất cả các điều kiện trên đợc thuận lợi có thể giúp DNVVN
phát huy tối đa vai trò tích cực của mình đối với nền kinh tế. Ngoài ra, bản
12
thân mỗi doanh nghiệp và các cấp có thẩm quyền cần phải quan tâm nhiều
hơn và toàn diện hơn tới tất cả các yếu tố.
1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát
triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thơng mại trong nền kinh
tế
Hệ thống ngân hàng là trung gian tài chính, luân chuyển vốn từ nơi
thừa vốn sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn, là trung tâm thần kinh của nền
kinh tế tập trung thu phát hoạt động kinh doanh nói chung của nền kinh tế.
Theo pháp lệnh số 38 về NHTM, Hợp tác xã và các tổ chức tín dụng định
nghĩa: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động thờng xuyên
và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng, với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phơng tiện
thanh toán Vậy hoạt động kinh doanh của ngân hàng là xoay quanh đồng
tiền. Ngoài vốn tự có không đủ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, ngân hàng
phải đi huy động để cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt động tín dụng là
hoạt động chủ yếu của NHTM .
Ta có thể hiểu tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là
ngân hàng với một bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình trong xã
hội. Trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là ngời đi vay, vừa là ngời cho vay.
Tín dụng ngân hàng ra đời với nhiệm vụ huy động các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội để tạo thành một quỹ cho vay khổng lồ, đáp ứng các
nhu cầu về vốn cho các thành phần kinh tế.
1.2.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp
vừa và nhỏ
Ngân hàng luôn đợc coi là ngời bạn đồng hành thân thiết với các nhà

doanh nghiệp vì tín dụng ngân hàng luôn có khả năng đáp ứng các nhu cầu
vốn của doanh nghiệp. Đối với DNVVN ngân hàng thờng có các hình thức
cấp tín dụng chủ yếu sau:
13
Một là: Tín dụng chiết khấu
Chiết khấu thơng phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó
khách hàng chuyển nhợng thơng phiếu cha đáo hạn cho ngân hàng để đổi lấy
một số tiền bằng mệnh giá của thơng phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng
phí (nếu có). Khi khách hàng có nhu cầu chiết khấu những giấy tờ còn thời
hạn thanh toán, thì làm giấy đề nghị chiết khấu và làm các thủ tục giống nh
vay vốn. Ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá, kiểm tra hạn mức chiết khấu của
mình còn thì sẽ cho khách hàng vay khi họ thoả mãn các điều kiện. Ngân
hàng chỉ nhận chiết khấu những giấy tờ có giá còn thời hạn không quá 90
ngày, khi cần thiết ngân hàng có thể đem chiết khấu lại taị Ngân hàng trung -
ơng.
Hai là: Cho vay trả góp
Đó là những khoản vay tài trợ cho nhu cầu mua máy móc thiết bị và
các nhu cầu khác của doanh nghiệp. Tiền vay đợc thanh toán dần cho khách
hàng theo định kì. Các điều khoản về mức vay, lãi suất vay, kì hạn trả, mức
trả từng lần cho cả gốc và lãi đợc ngân hàng và khách hàng thoả thuận trong
hạn mức tín dụng. Cho vay trả góp cũng bao gồm cả việc ngân hàng mua
những khoản nợ phát sinh do những công ty mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ
trả góp cho các tổ chức và cá nhân. Hình thức cho vay này đáp ứng nhu cầu
vay vốn của doanh nghiệp lại vừa hỗ trợ cho tiêu dùng hàng hoá.
Ba là: Cho vay ứng trớc
Kỹ thuật cho vay ứng trớc là phơng thức tài trợ trực tiếp cho ngời đi
vay để đáp ứng nhu cầu vốn lu động ngắn hạn. Ngân hàng và khách hàng
thoả thuận một mức cho vay trong thời hạn nhất định. Bên đi vay chịu trách
nhiệm vô điều kiện việc hoàn trả nợ vay khi đến hạn. Cho vay ứng trớc gồm
hai phơng thức là hạn mức tín dụng và thấu chi trên tài khoản vãng lai.

Vay theo hạn mức tín dụng là loại cho vay đáp ứng toàn bộ nhu cầu
vốn lu động thiếu hụt của doanh nghiệp, và giới hạn tối đa số tiền ngân hàng
14
có thể cấp cho một khách hàng trong một thời gian nhất định. Trờng hợp này
áp dụng với những doanh nghiệp kinh doanh ổn định, có nhu cầu vay nợ th-
ờng xuyên và có tín nhiệm với ngân hàng .
Cho vay thấu chi là ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền vợt quá số
tiền trên tài khoản vãng lai trong phạm vi thời hạn, hạn mức nhất định. Hình
thức này giúp doanh nghiệp tránh phải làm lại thủ tục vay nhiều lần trong
một thời kì.
Bốn là: Cho vay bảo lãnh
Theo quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 của Thống
đốc NHNN ban hành: Bảo lãnh là cam kết bằng văn bản của ngân hàng
(bên bảo lãnh) với bên có quyền nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng (bên đợc bảo lãnh). Khi không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết .
Mục đích của cho vay bảo lãnh là bù vào những thiếu hụt vốn trong
thời gian đang thiếu vốn tạm thời. Đảm bảo cho các dự án có đủ vốn thực
hiện đúng kế hoạch, tránh tốn kém về chi phí và thời gian. Đây là một hình
thức cấp tín dụng có độ rủi ro cao, vì vậy cần phải có sự tín nhiệm giữa ngân
hàng và khách hàng
Năm là: Tín dụng thuê mua tài chính
Tín dụng thuê mua tài chính là một hình thức tài trợ vốn trong đó theo
yêu cầu của bên đi thuê, bên cho thuê sẽ tiến hành mua tài sản và chuyển
giao cho bên đi thuê sử dụng. Theo phơng thức này, ngời đi vay không phải
bỏ vốn mua mà chỉ phải trả tiền thuê tài sản cho công ty tài chính. Khi hết
hạn thuê hợp đồng, ngời vay đợc quyền mua lại tài sản. Hình thức này có lợi
cho những doanh nghiệp hạn hẹp về ngân quỹ, giúp doanh nghiệp có tài sản
mới sử dụng khi không đủ tiền mua hoặc thay thế những tài sản cũ kỹ, lạc
hậu... thích hợp với các DNVVN

15
Nh vậy có thể nói rằng các hình thức tín dụng của NHTM ngày càng
đa rạng, phong phú để thoả mãn tối đa nhu cầu vay vốn của các mọi doanh
nghiệp trong nền kinh tế. Do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờngtiền tệ nên
các ngân hàng luôn phải quan tâm và hoàn thiện các sản phẩm tín dụng của
mình.
1.2.3.Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trờng NHTM là trung gian tài chính điều hoà vốn
của nền kinh tế. DNVVN cũng là những khách hàng vay vốn thờng xuyên
của ngân hàng, nhờ có nguồn vốn vay này mà doanh nghiệp tiếp tục hoạt
động kinh doanh có hiệu quả. Vai trò ấy đợc thể hiện nh sau:
1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp vừa và nhỏ đợc liên tục
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế, các doanh nghiệp luôn phải
cải tiến máy móc để đa ra những sản phẩm tốt hơn. Nhng trên thực tế rất ít
doanh nghiệp có đủ 100% vốn đảm bảo cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Việc phát triển và mở rộng sản xuất chủ yếu dựa vào các nguồn vốn tài trợ
mà phần lớn là của hệ thống ngân hàng. Vốn tín dụng ngân hàng tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp đầu t xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị và
trang trải những chi phí cần thiết phục vụ cho quá trình tái sản xuất và phát
triển. Chính nhờ nguồn vốn này góp phần giúp cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đợc thực hiện một cách liên tục.
1.2.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất và
nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
16
Trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh và
không ngừng phát triển. Vì có những hạn chế về qui mô, trình độ tay nghề
cũng nh trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ nên các doanh nghiệp phải tìm
mọi biện pháp để nâng cao tồn tại đó. Để có đủ lợng vốn đáp ứng cho nhu

cầu trên các doanh nghiệp phải tìm đến các NHTM, vì các ngân hàng có khả
năng thoả mãn đợc các nhu cầu này bằng các nguồn vốn huy động đợc trong
dân với các mức lãi suất phù hợp, giúp cho các doanh nghiệp mở rộng sản
xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trờng trong cạnh tranh với mức chi phí hợp lý.
1.2.3.3 Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối u
cho các doanh nghiệp và và nhỏ
Xét trên phơng diện lý thuyết, một doanh nghiệp có vốn tự có tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh nhiều, vốn đi vay ít là một doanh nghiệp
có tình hình tài chính lành mạnh. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy quá nhiều
vốn chủ sở hữu sẽ gây lãng phí và không mang lại hiệu quả cao nh một cơ
cấu vốn với số lợng vốn nợ vay hợp lý. Điều này không những làm giảm bớt
rủi ro mất vốn của doanh nghiệp mà còn đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận
lớn nhất từ những đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra kinh doanh
Một cơ cấu vốn tối u sẽ giúp tận dụng triệt để mọi nguồn lực từ đó có
thể khai thác tối đa mọi tiềm năng của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng.
1.2.3.4 Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng ngoài phần gốc phải trả nh đã
thoả thuận còn phải trả thêm phần lãi, vì vậy các doanh nghiệp phải có đầy
đủ hồ sơ theo qui định nh về khả năng tài chính, các phơng án sản xuất kinh
doanh có hiệu quả. Các ngân hàng thờng quan tâm doanh nghiệp kinh doanh
nh thế nào, sản xuất nh thế nào, đầu vào và thị trờng đầu ra có khả thi để
chấp nhận cho doanh nghiệp vay vốn. Ngoài việc quan tâm thu hồi đẩy đủ
vốn ngân hàng còn quan tâm đến việc doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả,
17
tăng vòng quay vốn nhanh, đảm bảo có lãi sau khi đã trả nợ ngân hàng...
Điều đó có nghĩa ngân hàng phải thực hiện kiểm soát trớc trong và sau khi
cho vay để đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích. Nh vậy
tín dụng ngân hàng đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các

DNVVN.
Tóm lại những phân tích trên cho thấy tín dụng ngân hàng có vai trò
hết sức quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và với DNVVN nói riêng.
Ngân hàng giúp các DNVVN phát triển, ngợc lại sự phát triển của DNVVN
cũng giúp ngân hàng hoàn thiện hơn các hoạt động kinh doanh của mình.
1.3. Kinh nghiệm của một số nớc trong hoạt động tín
dụng đối với phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1. ấn độ
Xu hớng phát triển DNVVN ngày càng trở nên phổ biến trên toàn thế
giới. Cũng giống nh các doanh nghiệp ở Việt Nam, các DNVVN ở ấn độ
trong gia đoạn trớc thờng thiếu vốn nghiêm trọng, ấn độ không chấp nhận
việc tài trợ cho các thơng phiếu, các khoản phải thu trong sổ nợ. Điều này
gây không ít khó khăn cho DNVVN khi vay vốn. Vấn đề cấp thiết đặt ra là
cần phải thúc đẩy các dịch vụ mua bán nợ, và các nhà tài trợ vốn với việc có
nhận trách nhiệm thu hồi, bảo hộ, kiểm soát tín dụng cho khách hàng thuộc
đối tợng khu vực ngành nghề nhỏ hay không. Chính phủ ấn độ đã khuyến
khích các nhà tài trợ mua các khoản phải thu của khách hàng khi phát sinh,
tham gia vào việc giữ sổ sách liên quan đến các khoản phải thu và thực hiện
các chức năng phụ trợ khác. Mặc dù tăng thêm các chi phí nhng dịch vụ mua
bán nợ đã giúp các DNVVN vợt qua những khó khăn liên quan đến vốn lu
động.
18
Để cấp tín dụng cho các doanh nghiệp này có hiệu quả cao, Chính phủ
ấn độ còn đa ra các giải pháp nhằm tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển
nh: Các NHTM và NHTW đa ra một danh mục đánh giá về chức năng của
các chi nhánh ngân hàng đặc biệt phục vụ các DNVVN, bao gồm vị trí tổ
chức, nhân viên và dịch vụ. Nếu cần thiết các chi nhánh đặc biệt có thể có
thể đợc chuyển tới vị trí thuận lợi hơn hoặc ở ngay trong khu ngành nghề nhỏ
tập trung. Điều quan trọng là các chi nhánh này phải cung cấp dịch vụ một
cách toàn diện cho các DNVVN nh t vấn các thông tin liên quan đến hoạt

động sản xuất kinh doanh, công nghệ, marketing... Chính phủ cấp giấy phép
cho các ngân hàng hoạt động dễ hơn để hớng tới phục vụ các quận huyện nơi
có đông các ngành nghề nhỏ tập trung. Các DNVVN có quyền lựa chọn chi
nhánh ngân hàng mà họ thấy thuận tiện nhất.
Để giảm chi phí của các khoản vay và rủi ro của ngời đi vay, dịch vụ
tín dụng đợc mở rộng. Các chi phí liên quan đến xếp hạng tín dụng sẽ thấp
hơn nếu nh việc tổ chức đánh gía xếp loại tín dụng doanh nghiệp đợc thực
hiện trong khu vực có DNVVN tập trung nhiều. Bên cạnh đó các ngân hàng
và tổ chức tài chính còn góp vốn cổ phần để tạo vốn chủ sở hữu lành mạnh
cho các doanh nghiệp này. Nh thế các ngân hàng và các tổ chức tài chính sẽ
là các nhà đầu t dài hạn vào những doanh nghiệp này.
Ngoài ra, các ngân hàng và các tổ chức tài chính tìm cách mở rộng
hoạt động tới các khách hàng tiềm năng là những DNVVN cha có quan hệ
tín dụng với mình bằng cách giới thiệu miễn phí các chơng trình đào tạo về
quản lý doanh nghiệp, marketing, quản lý tài chính, kỹ thuật sản xuất ...
Có thể nói rằng Chính phủ ấn độ đã áp dụng các chính sách u đãi
doanh nghiệp dới mọi hình thức nhằm cung ứng vốn cho các DNVVN phát
triển một cách hiệu quả nhất.
1.3.2. Nhật Bản
Nhật Bản là ngày nay là một nớc có trình độ công nghệ phát triển cao
trên thế giới. Từ một nớc nghèo về tài nguyên thiên nhiên, nhng đến nay thì
đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế phát triển. Có đợc thành quả
19
đó là do chính phủ Nhật đã đa ra những chính sách hỗ trợ đặc biệt các doanh
nghiệp, nhất là những DNVVN để tháo gỡ những khó khăn cản trở trong việc
tăng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh nh: thiếu sự đảm bảo về vốn
vay, khả năng tiếp cận vốn thấp, vấn đề tài chính còn nhiều bất cập. Các
chính sách đó gồm: Những biện pháp hỗ trợ tín dụng giúp cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận đợc với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thông
qua sự bảo lãnh của hiệp hội bảo lãnh tín dụng. Ngoài ra, còn có ba tổ chức

tài chính công khác là Công ty tài chính DNVVN, công ty tài chính nhân dân
và Ngân hàng Shoko Chu kin do Chính phủ đầu t thành lập, nhằm tài trợ vốn
cho các DNVVN đổi mới máy móc thiết bị và hỗ trợ vốn lu động dài hạn mở
rộng và phát triển sản xuất kinh doanh.
Ngay từ năm 1980 Chính phủ Nhật đã thành lập công ty doanh nghiệp
nhỏ Nhật bản phụ trách việc thực hiện các chính sách đối với doanh nghiệp
nhỏ trong toàn quốc với các chức năng chủ yếu:
- Hớng dẫn chỉ đạo thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, tài trợ
cho các dự án, nâng cấp hoạt động kinh doanh của các DNVVN thông qua
việc thành lập các hội. Giúp các DNVVN liên kết, liên doanh với các tổ chức
khác và hỗ trợ việc tăng cờng quản lý điều hành các DNVVN thông qua việc
thành lập một khu vực kinh tế gồm các DNVVN tại các địa phơng.
- Thành lập các viện các trờng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ chuyên
môn cho các DNVVN. Phục vụ thông tin và hỗ trợ cho việc quốc tế hoá và
cải tiến kỹ thuật cho DNVVN.
-Hệ thống tơng trợ nhằm ngăn ngừa việc phá sản các DNVVN thông
qua việc đóng góp của các thành viên trong hệ thống các DNVVN, nhằm
mục đích ngăn chặn các doanh nghiệp đi tới chỗ phá sản hoặc đang gặp
khủng hoảng trong hoạt động do các công ty khách hàng gây ra.
Nhật Bản đã chú trọng rất nhiều đến ngời quản lý và điều hành
DNVVN cũng nh các chính sách đãi ngộ ngời lao động. Ngoài ra Chính
phủ đã có đợc các biện pháp hạn chế việc phá sản DNVVN từ đó tạo điều
kiện cho doanh nghiệp phát triển ổn định trong nền kinh tế.
1.3.3. Đài Loan
20
Các DNVVN ở Đài Loan trong giai đoạn trớc cũng trong tình trạng
thiếu vốn, thiếu công nghệ và thừa lao động. Để khắc phục tình trạng này,
Chính quyền Đài Loan đã tập trung vào việc giúp các doanh nghiệp bằng
những chính sách rất hiệu quả.
Những năm 1990 nớc này chính thức ban hành hệ thống chính sách

tổng hợp hỗ trợ các DNVVN. Từ khi thực hiện chính sách này, Đài Loan đã
thành công trong việc phát triển DNVVN, các doanh nghiệp này đã đóng góp
bình quân mỗi năm khoảng 40% GNP cho đất nuớc, khoảng 60% kim ngạch
xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho khoảng 68% lực lợng lao động. Đặc biệt
là chính sách hỗ trợ tài chính tín dụng đã đem lại nhiều hiệu quả nhất.
Chính sách hỗ trợ tài chính tín dụng có mục tiêu là cung cấp tín dụng
cho các DNVVN, giúp điều chỉnh cơ cấu tài chính cho phù hợp với ngành
nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp. Bên cạnh đó Chính quyền cũng đa
ra các biên pháp thực hiện mục tiêu tạo thuân lợi cho các DNVVN tiếp cận
nguồn vốn tín dụng, đợc bảo lãnh tín dụng, t vấn quản lý tài chính tín dụng,
giảm thuế, trợ giúp hoạt động kế toán, quản lý ngân sách hàng ngày và quản
lý tài sản, tiếp cận thị trờng chứng khoán...
Nội dung chính của chính sách hỗ trợ tín dụng các doanh nghiệp gồm:
Thứ nhất: Khuyến khích các ngân hàng cho các DNVVN vay vốn
thông qua điều chỉnh mức lãi suất. Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng và qui
định tỉ lệ cấp tài chính cho các doanh nghiệp này phải tăng lên hàng năm.
NHTW yêu cầu các NHTM thành lập riêng phòng tín dụng dành cho các
DNVVN, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận đợc với ngân hàng. NHTW
cũng sử dụng các chuyên gia t vấn cho các DNVVN về cách củng cố cơ sở
tài chính, tăng khả năng nhận tài trợ.
Thứ hai: Thành lập quỹ phát triển DNVVN để cung cấp vốn cho các
DNVVN. Đài Loan đã thành lập ba quỹ, các quỹ này có chức năng cấp vốn
cho các DNVVN qua hệ thống ngân hàng. Hàng năm, Chính quyền tiến hành
phân bổ vốn cho các DNVVN nào thoả mãn các điều kiện Chính quyền đa ra
với một mức lãi suất u đãi. Lãi thu đợc của quỹ này dùng vào chơng trình trợ
giúp các DNVVN ở địa phơng.
21
Thứ ba: Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng. Nớc này thành lập quỹ bảo
lãnh tín dụng cho các DNVVN để giúp các doanh nghiệp này có thể xin vay
vốn dới sự bảo lãnh của Quỹ. Quỹ sẽ cùng ngân hàng chia sẻ rủi ro nên các

ngân hàng thấy tin tởng hơn khi cấp tín dụng cho các DNVVN. Sự ra đời của
Quỹ đã góp phần đa các DNVVN vào nhiều kênh tài chính khác nhau, đồng
thời cũng góp phần ổn định môi trờng tài chính cho những doanh nghiệp này.
1.3.4. Bài học kinh nghiệm vân dụng đối với Việt Nam
Với những kinh nghiệm của các nớc đi trớc nh ấn độ ,Nhật Bản, Đài
Loan trong việc hỗ trợ các DNVVN phát triển là những bài học quý giá cho
Việt Nam học tập. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và vận dụng vào điều kiện
thực tế của đất nớc, có thể rút ra đợc một số bài học sau:
Một là: Về vốn
Đảng và Nhà nớc cần tạo các điều kiện thuận lợi về vốn cho các
DNVVN trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nên thành lập các tổ chức hỗ
trợ về vốn chuyên dành cho các DNVVN. Tổ chức này sẽ giúp các doanh
nghiêp tiếp cận đợc nguồn vốn của nhiều tổ chức tài chính khác nhau trong
xã hội, nhất là nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thông qua các biện pháp:
bảo lãnh, đồng tài trợ, hỗ trợ lãi suất u đãi...
Các NHTM cần xây dựng và hoàn thiện chính sách vay vốn đối với
các DNVVN, nên giúp các DNVVN xây dựng các phơng án sản xuất kinh
doanh khả thi và t vấn quản lý tài chính kế toán cho các DNVVN. Điều này ở
Việt Nam cha làm đợc.
Hai là: Môi trờng cạnh tranh
Nhà Nớc và các cơ quan có thẩm quyền phải xây dựng môi trờng kinh
doanh lành mạnh cho các DNVVN nh: hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đa ra các hệ
thống chính sách pháp luật phù hợp... Nền kinh tế thị trờng luôn biến đổi, vì
vậy việc xây dựng hành lang pháp lý là cơ sở quan trọng để các DNVVN
hoạt động kinh doanh đúng luật và phát huy hết tiềm năng thực sự của mình.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh cho DNVVN ngoài yếu tố thuộc về
vốn thì Chính phủ nên thành lập các tổ chức chuyên trách quản lý DNVVN.
22
Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp này liên kết với nhau lại để tăng
sức cạnh tranh và tính ổn định trong kinh doanh.

Ba là: Tổ chức quản lý.
Cơ cấu tổ chức của các DNVVN nói chung thuờng khá chặt chẽ vì số
lợng ngời lao động không nhiều hoặc có các mối rằng buộc khác nhau nh
quan hệ gia đình bạn bè... Thế nhng để thích nghi với nền kinh tế luôn biến
động thì các DNVVN cần phải nâng cao khả năng tự tổ chức quản lý nh: đào
tạo thêm kỹ năng tổ chức quản lý cho lãnh đạo doanh nghiệp, học hỏi kinh
nghiệm quản lý từ nớc ngoài... Bên cạnh đó Nhà Nớc ta nên có một trung tâm
cung cấp các thông tin về thị trờng cho các DNVVN để họ kịp nắm bắt xu h-
ớng phát triển của nền kinh tế tạo cho việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Đây chỉ là một số ý chính rút ra từ kinh nghiệm của một số nớc đi trớc.
Trên cơ sở các ý đó khi vận dụng vào Việt Nam phải đa ra các biện pháp cụ
thể hơn nữa cho phù hợp.
Nói tóm lại: Qua những phần lý luận trình bày ở chơng 1 đã đa ra cho
chúng ta một cách nhìn khái quát nhất về DNVVN. Vai trò của tín DNVVN
trong nền kinh tế thị trờng và các điều kiện để phát triển DNVVN. Đóng góp
vào phát triển DNVVN là vai trò của tín dụng ngân hàng đối vơí phát triển
DNVVN. Và thông qua kinh nghiệm trong việc hỗ trợ DNVVN phát triển
của các nớc đi trớc thì rút ra một số bài học cho Việt Nam.
23
Ch ơng 2
Thực trạng đầu t tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Chi nhánh ngân hàng công thơng Thái Nguyên
2.1.Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ
trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc có diện tích tơng đối rộng
trong đó đồi núi là chủ yếu, dân số không nhiều song cũng có tới hơn 300
doanh nghiệp hoạt động ở mọi loại hình kinh tế. Để phát huy những tiềm
năng vốn có về tài nguyên nh: diện tích rừng nhiều, có vùng đồi chè Tân C-
ơng, có mỏ than Khánh Hoà, mỏ sắt Trại Cau, khu du lịch Hồ Núi Cốc...
Tỉnh đang cố gắng xây dựng một cơ cấu công nông nghiệp, dịch vụ, du lịch

hợp lý, nâng cấp cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ.
Năm 2003 tỉnh Thái Nguyên đợc Nhà Nớc phong lên thành phố hạng
hai vì nền kinh tế của Tỉnh có nhiều bớc phát triển mới. Trong đó có một
phần không nhỏ là sự đóng góp của màng lới DNVVN trên địa bàn. Các
DNVVN không chỉ tập trung nhiều ở trung tâm thành phố Thái Nguyên, khu
công nghiệp Gang Thép mà còn phân bố ở các vùng xa, vùng cao nh ở các
huyện Định Hoá, Võ Nhai, Phú Bình... Hiện tại cả Tỉnh có khoảng gần 200
doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ gồm các loại hình doanh nghiệp: Doanh
nghiệp Nhà nớc, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty t nhân.
Từ năm 2002 số lợng các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ trên địa
bàn tăng thêm nhiều: Công ty cổ phần tăng thêm 25 đơn vị, công ty TNHH
tăng thêm 20 đơn vị, công ty t nhân tăng thêm14 đơn vị và tỉnh đã có một
công ty liên doanh với nớc ngoài mở ở khu công nghiệp Sông Công. Cũng
trong năm này Chính quyền Tỉnh đa ra chính sách cơ cấu tổ chức lại các
doanh nghiệp trên địa bàn nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
phát triển. Sang đến năm 2003 số DNVVN Nhà nớc tăng lên 14 đơn vị, Công
ty cổ phần thêm 16 đơn vị, Công ty TNHH thêm 18 đơn vị, Công ty t nhân
thêm 8 đơn vị. Với sự phát triển và mở rộng không ngừng nên trong những
24
năm qua, các DNVVN đã đóng góp nhiều cho Ngân sách của Tỉnh. Năm
2003 tăng trởng GDP 8,7%, sản xuất công nghiệp tăng 14,3%, sản xuất lơng
thực đạt 397,7 ngàn tấn tăng 10% so với năm 2002...
Bên cạnh những kết quả đạt đợc thì các DNVVN hoạt động trên địa
bàn của Tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục nh : Khả năng tự chủ về
tài chính của những doanh nghiệp còn yếu, nhiều doanh nghiệp vẫn cha có
khả năng tiếp cận vốn tín dụng của ngân hàng dẫn đến mất cơ hội đầu t kinh
doanh. Cơ sở vật chất còn lạc hậu kém phát triển cha bắt kịp với nhu cầu của
thị trờng, phần lớn máy móc là công cụ thủ công hoặc nửa cơ giới đã gần hết
khấu hao.
Do hạn chế về qui mô, ngành nghề kinh doanh nên ngời điều hành

doanh nghiệp này thờng có trình độ quản lý yếu kém, nhất là quản lý mảng
sổ sách kế toán tài chính. Nhiều doanh nghiệp cha hạch toán đúng theo qui
định cuả Bộ tài chính, cha lập quỹ dự phòng rủi ro xảy ra trong kinh doanh và
không có khả năng xây dựng kế hoạch sản xuất khả thi. Hầu hết ngời lao
động làm trong các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ trên địa bàn đều có
trình độ thấp, cha đợc đào tạo tay nghề kỹ càng. Xuất phát rừ những hạn chế
trên đã làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng. Chính
điều này dễ dẫn doanh nghiệp đến phá sản, đây chính là lý do tại sao mỗi
năm có thêm nhiều doanh nghiệp mới ra đời làm ăn có lãi, nhng cũng có
nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong vài năm trở lại đây, các DNVVN trên địa bàn đã làm ăn có hiệu
quả tạo ra nhiều của cải cho địa phơng. Song mặt bằng chung giống nh các
DNVVN trên cả nớc thì các DNVVN ở Thái Nguyên còn nhiều mặt hạn chế
xuất phát từ nhiều phía nh: từ bản thân doanh nghiệp, các điều kiện kinh tế
xã hội, môi trờng pháp luật.... Nhng tựu chung lại phát triển DNVVN trên địa
bàn là cần thiết, bởi nó tạo đà cho nền kinh tế của Tỉnh phát triển cân đối
giữa các huyên vùng sâu, vùng xa với trung tâm thành phố.
25

×