Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

Tài liệu Phát hiện sớm bệnh tự kỷ ở trẻ doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (63.9 KB, 3 trang )

Phát hiện sớm bệnh tự kỷ ở trẻ
Đây có thể được xem là một bước tiến quan trọng trong việc
chẩn đoán chứng tự kỷ ở trẻ. Trên thực tế, những rối loạn về
tâm thần thường không được chẩn đoán cho đến khi đứa trẻ
được 3-4 tuổi, mặc dù các bậc cha mẹ khẳng định rằng họ
rất quan tâm tới hành vi của trẻ.
Kết luận này dựa trên một thực nghiệm rất thú vị. Các nhà
nghiên cứu đã chọn 2 nhóm trẻ trong độ tuổi chập chững:
một nhóm hoàn toàn khỏe mạnh và một nhóm được cho là
có nguy cơ bị chứng tự kỷ cao bởi chúng có anh, chị ruột đã
hoặc đang bị chứng bệnh này.
Khi được 12 tháng tuổi, tất cả 46 trẻ trong nhóm bình
thường sẽ trải qua một cuộc trắc nghiệm "gọi tên" với yêu
cầu về khả năng phản ứng lại là từ 1-2 giây sau khi nghe
thấy tên mình và tất cả đều đạt yêu cầu trong khi chỉ có
86% trong số 101 đứa trẻ thuộc nhóm nguy cơ vượt qua
được trắc nghiệm.
Cả 2 nhóm trẻ được theo dõi cho tới sinh nhật 2 tuổi. Kết
quả là 3/4 số trẻ trong nhóm có nguy cơ đã không vượt qua
được cuộc "trắc nghiệm gọi tên" và các trắc nghiệm tiếp
theo cho thấy chúng có vấn đề về sự phát triển tâm thần.
Trong số những trẻ bị tự kỷ chẩn đoán muộn, một nửa đã
thất bại trong cuộc trắc nghiệm gọi tên khi 1 tuổi và ở
những trẻ có dấu hiệu chậm phát triển thì 39% trong số này
không vượt qua cuộc trắc nghiệm gọi tên khi 1 tuổi.
Aparna Nadig và các cộng sự đang thử "trắc nghiệm gọi tên"
với những trẻ mới được 6 tháng tuổi. Tuy nhiên, kết quả cho
trắc nghiệm ở độ tuổi này là quá sớm và không cho kết quả
chính xác.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng trắc nghiêm gọi tên chỉ
là một phần trong các trắc nghiệm chẩn đoán bệnh tự kỷ và


nó chỉ có giá trị tham khảo. Tức là nếu một đứa trẻ không
vượt qua được bài trắc nghiệm này thì cũng không có nghĩa
rằng bé có thể bị chứng tự kỷ. Tuy nhiên, với những bé này,
cha mẹ cần phải quan tâm nhiều hơn và sớm đưa đi kiểm tra
để được can thiệp kịp thời.
Calci được hấp thu phần lớn qua tá tràng ruột non với một
cơ chế phức tạp ảnh hưởng bởi sinh tố D, và tùy thuộc sự
chuyển tải qua tế bào ruột non. Các chất làm giảm sự hấp
thu gồm có phytat oxalat, phosphat (có trong các thuốc điều
trị bao tử) - làm giảm rất lớn sự hấp thu của calci qua ruột
non. Ở một đứa trẻ còi xương (một dạng loãng xương do
bệnh), lượng calci trong máu không thiếu mà xương vẫn
không hấp thụ đủ calci vì thiếu sinh tố D. Sự hấp thu calci
giảm khi tuổi càng cao. Hấp thu nhiều nhất là lúc trẻ, và giai
đoạn tiền dậy thì - là những giai đoạn tăng trưởng nhanh
của cơ thể, hoặc hấp thu tăng lên sau một giai đoạn ăn uống
thiếu kém calci.

×