Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

bệnh do virus và vi khuẩn trên tôm thẻ chân trắng (penaeus vannamei)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 35 trang )

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
BÁO CÁO MÔN HỌC: KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG VÀ
NUÔI GIÁP XÁC
ĐỀ TÀI
BỆNH DO VIRUS VÀ VI KHUẨN
TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei)
GVHD: ThS: ÔNG MỌC QUÝ
CÁC THÀNH VIÊN THỰC HIÊN:
NGUYỄN VĂN PHÚC DH10NT 10116096
MAI THỊ VÂN ANH DH10NT 10116003
NGUYỄN THÀNH NHÂN DH10NT 10116086
NGUYỄN TIẾN DH10NT 10116135
LÊ THANH TÙNG DH10NT 10116154
BỆNH DO VIRUS VÀ VI KHUẨN TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei)
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) (TTCT) phát triển mạnh
trong
khoảng hơn mười năm trở lại đây. Loài này có nguồn gốc từ Tây Thái Bình Dương,
Châu Mỹ La Tinh, đã được nghiên cứu nuôi thí nghiệm tại Tahiti trong đầu những năm
1970 với mục đích nghiên cứu về tiềm năng để phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản.
Việc sản xuất thành
công con giống ở Nam Mỹ đã dẫn đến sự nhân rộng của loài tôm
này vào Châu Á trong
những năm 1990 như: Trung Quốc (1988); Đài Loan (1995);
Việt Nam (2000); Indonesia
(2001); Thái Lan (1998); Malaysia (2001); Ấn Độ (2001),
Philippine (1997) (Briggs và ctv., 2004.)
Thái Lan, Indonesia và Trung Quốc đã nhanh chóng chuyển từ nuôi tôm sú sang


nuôi
TTCT trong giai đoạn 2002-2009. Kết quả, trong một thời gian ngắn, sản lượng
TTCT đã thống trị trong các hệ thống nuôi tôm của các nước này. Trong khi đó, vào
năm 2003, Bộ
Thủy Sản Việt Nam cấm nuôi TTCT trong cả nước vì sợ lây truyền các
bệnh do virus giữa TTCT ngoại lai và loài bản địa như tôm sú (P. monodon) cũng như tác
động lên sự đa dạng sinh học. Mãi cho đến năm 2006, Bộ đã cho phép nuôi TTCT ở miền
Trung và miền Bắc Việt Nam nhưng vẫn bị cấm nuôi ở miền Nam. Dưới áp lực của nhà
sản xuất, bắt đầu từ tháng 1 năm 2008, Bộ đã đồng ý cho phép nuôi TTCT ở các tỉnh đồng
bằng Cửu Long. Mặc dù TTCT đã bắt đầu nuôi từ khoảng năm 2000 nhưng sản lượng của
nó vẫn còn nhỏ, chỉ đạt 84 320 tấn so với 236 492 tấn tôm sú năm 2009 (NN&PTNT, 2009)
(Bảng 1).
Bảng 1. Diện tích và sản lượng tôm ở Việt Nam năm 2009 (NN&PTNT)
Tôm sú Tôm thẻ chân trắng Tôm khác Tổng cộng
Diện tích 598.679 18.628 12.136 629.443
Sản lượng 236.492 84.320 66.729 387.541
Trong những năm trở lại đây, diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng đang
tăng trưởng mạnh.
(Nguồn: NN&PTNT)
Cùng với sự tăng trưởng mạnh về diện tích và sản lượng và mô hình nuôi công
nghiệp, ngành nuôi tôm thẻ chân trắng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc
biệt là vấn đề về dịch bệnh.
Phạm vi đề tài tập trung vào bệnh do virus và vi khuẩn gây ra trên tôm thẻ chân
trắng. Qua đó đưa ra các biện pháp phòng và trị bệnh để ngành nuôi tôm thẻ chân trắng
có thể phát triển bền vững hơn.
B. NỘI DUNG
I. TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
Tên la tinh: Penaeus vannamei
Tên Tiếng Anh: White Shrimp
Tên Tiếng Việt: Tôm thẻ chân trắng

1. PHÂN LOẠI
Ngành: Arthropoda
Lớp: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Giống: Lipopenaeus
Họ: Penaeidae
Loài: Lipopenaeus vannamei
1. ĐẶC ĐIỂM
Tôm chân trắng vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm Bạc, bình thường có
màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi tôm chân trắng. Chuỳ là phần kéo dài
tiếp với bụng. Dưới chuỳ có 2 - 4 răng cưa, đôi khi có tới 5 - 6 răng cưa ở phía bụng.
Những răng cưa đó kéo dài, đôi khi tới đốt thứ hai. Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai
râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telssm), không có rãnh sau mắt, đường gờ
sau chuỳ khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực. Gờ bên chuỳ ngắn, chỉ kéo dài tới gai
thượng vị. Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có. Telsson
(gai đuôi) không phân nhánh. Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so
với vỏ giáp. Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3 - 4 hàng, phần cuối
của xúc biện có hình roi. Gai gốc (basial) và gai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực
2. PHÂN BỐ
Phân bố vùng ven bờ phía Đông Thái Bình Dương, từ biển Pêru đến Nam Mê-hi-
cô, vùng biển Equađo; Hiện tôm chân trắng đã được di giống ở nhiều nước Đông á và
Đông Nam á như Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Indonexia, Malaixia và Việt Nam.
3. SINH SẢN
Tôm chân trắng thành thục sớm, con cái có khối lượng từ 30 - 45 g/con là có thể
tham gia sinh sản. Ở khu vực tự nhiên có tôm chân trắng phân bố thì quanh năm đều bắt
được tôm chân trắng. Song mùa sinh sản của tôm chân trắng ở vùng biển lại có sự khác
nhau ví dụ: ở ven biển phía Bắc Equađo tôm đẻ tử tháng 12 đến tháng 4. Lượng trứng của
mỗi vụ đẻ phụ thuộc vào cỡ tôm mẹ: Nếu tôm mẹ từ 30 - 45g thì lượng trứng từ 100.000
- 250.000 trứng, đường kính trứng 0.22mm. Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng tôm
lại phát triển tiếp. Thời gian giữa 2 lần đẻ cách nhau 2 - 3 ngày. Con đẻ nhiều nhất tới 10

lần/năm. Thường sau 3 - 4 lần đẻ liên tục thì có lần lột vỏ. Sau khi đẻ 14 - 16 giờ trứng
nở ra ấu trùng Nauplius. Ấu trùng Nauplius trải qua 6 giai đoạn: Zoea qua 3 giai đoạn,
Mysis qua 3 giai đoạn thành Postlarvae. Chiều dài của Postlarvae tôm P. Vannamei
khoảng 0,88 - 3mm.
II. BỆNH TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
1. BỆNH DO VIRUS
1.1. Bệnh đốm trắng trên tôm thẻ chân trắng
Bệnh đốm trắng (WSSV – White Spot Syndrome Virus) là bệnh nguy hiểm nhất
và gây thiệt hại rất nặng nề, đặc biệt là về kinh tế, trong nghề nuôi tôm công nghiệp trên
thế giới.
Dịch bệnh đốm trắng lần đầu tiên được phát hiện tại Đài Loan – 1992, Trung Quốc
– 1993, Nhật Bản – 1994, sau đó là các nước In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Ấn Độ, Băng-la-
desh, bang Texas (Hoa Kỳ).
Ở Việt Nam, từ năm 1999 đến nay, hiện trạng tôm bị chết và chết trên diện rộng ở
nhiều vùng nuôi tôm trọng điểm đều được báo cáo là do WSSV ( Tạp chí khoa học
2012:22c 106-108, Đại học Cần Thơ).
Bệnh lây lan rất nhanh, mầm bệnh có độc lực rất cao, gây tỷ lệ chết rất lớn trong
ao nuôi, có nhiều trường hợp gây chết toàn bộ cho ao nuôi.
1.1.1. Nguyên nhân
Do virus Whisspovirus
Định danh
- Giống: Non Occuluded Baculovirus
- Họ: Baculoviridae
- Họ phụ: NudiBaculoviridae
Theo hội nghị virus học quốc tế lần thứ 12 (2002), các nhà khoa học đã phân loại
virus gây bệnh đốm trắng là một giống mới Whisspovirus thuộc họ mới Nimaviridae (Tạp
chí thông tin KHCN và Kinh Tế Thủy Sản, số 4 – 2004).
Virus dạng hình que, kích thước 120 x 275 mm, có một đuôi phụ ở một đầu, kích
thước 70 x 300 mm. Virus có ít nhất 5 lớp protein, trọng lượng phân tử từ 15 – 28 kD. Vỏ
bao có hai lớp protein VP28 và VP29; Nucleocapsid có ba lớp VP26, VP24, VP15. Nhân

cấu trúc ADN mạch đôi (Tạp chí thông tin KHCN và Kinh Tế Thủy Sản, số 4 – 2004).
1.1.2. Triệu chứng
a. Dấu hiệu bên ngoài.
Dấu hiệu đặc trưng: xuất hiện nhiều đốm trắng dưới vỏ (đường kính cỡ 0,5 – 3
mm) ở vùng mang và đốt cuối thân.
Phần phụ bị tổn thương, nắp mang phồng, có nhiều sinh vật bám ở vỏ, ốp.
Đôi khi toàn thân tôm có màu đỏ, hồng, nhợt nhạt.
Tôm thường bơi lên mặt nước hoặc bơi dạt vào bờ.
b. Dấu hiệu mô bệnh học trên lớp vỏ bọc ngoài và lớp biểu mô dưới vỏ.
Tôm sắp chết do virus đốm trắng giảm ăn nhanh chóng, trên lớp kitin xuất hiện
nhiều đốm trắng, hầu hết xuất hiện ở mặt trong của vỏ.
Lớp biểu mô dưới vỏ:
+ Cơ quan đích để virus tấn công.
+ Virus tấn công vào nhân, tạo thể vùi WSSV trong nhân phình đại.
+ Tuyến râu cũng là cơ quan đích của virus đốm trắng.
+ Giai đoạn sớm của thể vùi WSSV gần giống thể vùi Cowdry A, số lượng
tế bào hoại tử không nhiều.
+ Giai đoạn muộn, gia tăng tế bào hoại tử, thể vùi thay đổi hình thái, thể
vùi to hơn, xuất hiện mép rìa nhiễm sắc thể và bắt màu yếu bazo.
Mang của tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng.
Tỷ lệ tôm phát bệnh trong
vòng từ 3 – 10 ngày lên đến
100%, tôm chết nhiều. Khi
quan sát thấy đàn tôm có các
triệu chứng của bệnh đốm
trắng thì thường không kịp
xử lý để làm giảm thiệt hại.
Tuy nhiên không phải tôm
có đốm trắng nào cũng do
virus WSSV gây ra, mà tôm

bị đốm trắng có thể do hàm
lượng vôi trong ao quá lớn
hoặc do vi khuẩn Vibrio sp.
Điều kiện: Virus WSSV
tồn tại trong môi trường:
- Độ mặn: 5 – 40 ppt
- pH: 4 -10
- Nhiệt độ: 0 – 79
o
C
Dạ dày của tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng.
1.1.3. Lây truyền bệnh.
a. Lây nhiễm dọc.
Tôm bố mẹ bị nhiễm bệnh
Thức ăn của tôm bố mẹ bị nhiễm mầm bệnh
Nước dùng trong trại giống bị nhiễm mầm bệnh
Noãn bào tôm nhiễm WSSV thì không thành thục được nhưng trong quá trình tôm
đẻ trứng có thể thải ra môi trường các virus WSSV, do đó ấu trùng tôm nhiễm WSSV.
b. Lây nhiễm ngang.
Virus từ tôm bệnh, vật chủ trung gian (cua, còng, tôm đất,…) mang mầm bệnh
hoặc các mầm bệnh săn có trong nước truyền nhiễm sang tôm khỏe do:
+ Nuôi ở mật độ cao
+ Không có lưới ngăn
+ Không dùng ao lắng
+ Bơm nước trực tiếp từ ngoài vào ao nuôi chưa qua xử lý
Một số loài chim ăn tôm nhiễm bệnh có thể lây bệnh cho tôm khỏe vùng khác.
1.1.4. Phòng và trị bệnh.
Chọn tôm bố mẹ có chất lượng tốt, không nhiễm WSSV.
Không vận chuyển tôm giống ở mật độ cao.
Dùng thức ăn tươi sống và nấu chin.

Nguồn nước cấp cho ao nuôi phải lắng, lọc và được khử trùng
Ngăn chặn không cho cua, còng, giáp xác, chim, tiếp cận ao nuôi.
a. Phòng ngừa và xử lý bệnh tại trại giống.
Phương tiện sản xuất giống phải đạt tiêu chuẩn.
Kiểm tra PCR tôm bố mẹ.
Nhập tôm bố mẹ tốt, sạch giống.
b. Phòng ngừa và xử lý bệnh tôm giống.
Kiểm tra PCR
Chọn tôm giống theo các tiêu chuẩn quy định
Kiểm tra sự căng thẳng của tôm giống bằng cách thử sốc với formalin.
Mật độ ương nuôi giống phải phù hợp.
c. Phòng ngừa và xử lý bệnh tại ao nuôi
Cải tạo đáy ao
Diệt khuẩn trong ao và nước, diệt vật chủ trung gian.
d. Chuẩn bị nước
Giảm bớt chất hữu cơ trong ao bằng phương pháp thay nước, xiphong, tăng thời
gian chạy máy sục khí.
Gây màu nước, dùng phân NPK, DAP, ure, hoặc các chế phẩm gây màu nước
chuyên dụng.
e. Quản lý ao nuôi và nước trong quá trình nuôi
Kiểm tra hằng ngày để duy trì vi sinh có ích và dưỡng chất, ổn định chất lượng
nước, màu nước, các chỉ tiêu: pH, kH, oxygen hòa tan, độ trong, nền đáy:
- Men vi sinh
- Chế phẩm xử lý nước ao nuôi
- Hút bùn đáy, thay nước, quạt nước.
Khi môi trường nước và ao thay đổi do chất lượng nước và thời tiết: bổ sung dinh
dưỡng cho tôm bằng các chất tạo kháng thể, giảm stress cho tôm bằng:
- Vitamin C
- Feed coat
- Thức ăn bổ xung

- Vaccin
Kiểm tra sức khỏe và thức ăn của tôm: kiểm tra thức ăn trong vó, hình thể và hoạt
động của tôm.
Bệnh do virus nên không có thuốc điều trị. Nếu tôm bắt từ trại đã miễn nhiễm
bệnh, sử dụng kháng sinh, thuốc diệt khuẩn theo chỉ định để phòng trị các bệnh khác,
giúp tôm có sức đề kháng tốt hơn với các bệnh lây nhiễm từ môi trường. Khi phát hiện
tôm bệnh, tốt nhất là nên thu hoạch ngay. Nước ao nuôi bị nhiễm WSSV phải xử lý bằng
Chlorine, không được thải trực tiếp ra môi trường. Vớt hết tôm chết ra khỏi ao trước khi
xử lý ao để nuôi tiếp. Khi tôm bị bệnh tỷ lệ chết có thể lên đến 100%, gây thiệt hại rất lớn
cho người nuôi, bệnh không có thuốc điều trị nên phòng bệnh là cách tốt nhất để tránh
thiệt hại do bệnh đốm trắng gây ra002E
1.2. Bệnh hoại tử cơ ở tôm thẻ chân trắng
Bệnh hoại tử cơ là một bệnh truyền nhiễm do tác nhân virus gây ra (infectious
myonecrosis virus – IMNV). Đây là một trong những bệnh virus trên tôm được phát hiện
trong thời gian gần đây nhất. Năm 2002, bệnh xảy ra lần đầu tiên ở các ao nuôi tôm thẻ
chân trắng Penaeus vannamei miền Đông Bắc Braxin. Sau đó, bệnh lây lan sang các
nước khác thuộc khu vực Châu Á như Indonesia, Thái Lan và tỉnh Hải Nam, Trung
Quốc. Quá trình lây lan của IMNV qua các châu lục khác nhau được ghi nhận là do sự
nhập chuyển của tôm bố mẹ P. vannamei.
1.2.1 Nguyên nhân.
IMNV là virus có vật chất di truyền là ARN mạch đôi, với kích thước 7.560bp,
cấu trúc không có lớp màng bao. Phân tích phát sinh loài dựa vào gen RNA-dependent
RNA polymerase (RdRp) đã phân loại IMNV vào họ Totiviridae, giống Giardiavirus.
Tôm thẻ chân trắng được ghi nhận là vật chủ chính của IMNV do khả năng gây tỉ
lệ chết cao ở loài tôm này. IMNV thường gây tỉ lệ chết cho tôm thẻ chân trắng trong
khoảng từ 40 cho đến 70% quần đàn. Tuy nhiên, trong các vùng nuôi tôm thẻ chân trắng
có xảy ra dịch bệnh thì tỉ lệ chết do IMNV có thể lên đến 100%. Trong điều kiện phòng
thí nghiệm đã cho thấy IMNV có khả năng cảm nhiễm với hai loài tôm, tôm xanh Nam
Mỹ (Penaeusstylirostris) và tôm sú (Penaeus monodon). Nhiệt độ và nồng độ muối được
xem là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến quá trình bộc phát của bệnh

hoại tử cơ.
1.2.2 Triệu chứng
Ở giai đoạn cấp tính, tôm bệnh hoại tử cơ thường có các dấu hiệu bệnh lý như
phần cơ bụng và cơ đuôi trắng đục, do vậy có thể dẫn đến hiện tượng hoại tử và đỏ ở các
vùng cơ này. Trong một số trường hợp, cơ quan lympho trương to lên gấp 2-4 lần kích
thước bình thường (Hình 1). Ao tôm nhiễm IMNV mức độ nặng có thể chết đột ngột và
kéo dài trong nhiều ngày. Bệnh hoại tử cơ với tỉ lệ chết cao đột ngột, thường xảy ra vào
sau các thời điểm hay các hoạt động có thể gây sốc cho tôm ví dụ chài tôm, độ mặn hay
nhiệt độ thay đổi một cách đột ngột Một số tôm bệnh chết do IMNV vẫn ở trạng thái no
với ruột đầy thức ăn, đó là do tôm vừa được cho ăn no ngay trước thời điểm xuất hiện của
các nhân tố gây sốc kể trên.
Bệnh hoại tử cơ IMN trên tôm thẻ chân trắng có dấu hiệu lâm sàng và đặc điểm
mô bệnh học tương tự với bệnh trắng đuôi trên tôm biển gây ra bởi một loài virus khác có
tên là Penaeus vannamei novavirus – PvNV. Do vậy, cần lưu ý đặc điểm này trong quá
trình chẩn đoán bệnh.
Tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn ấu niên, tiền trưởng thành là thường nhạy cảm
nhất với IMNV. Trong đó, cơ quan đích của IMNV được ghi nhận là cơ vân, mô liên kết,
tế bào máu, và cơ quan bạch huyết. Do vậy, đây là một trong những cơ quan được sử
dụng cho các qui trình chẩn đoán bệnh. Trường hợp tôm nhiễm IMNV mãn tính, cơ quan
bạch huyết được ưu tiên dùng để phân lập IMNV. Chân bơi là cơ quan được khuyến cáo
nên dùng cho quá trình phát hiện IMNV trên tôm bố mẹ.
Tôm bị bệnh có biểu hiện hoại tử cơ, nhìn thấy ở một số phần vùng bụng đổi màu hơi
trắng.
1.2.3 Lây nhiễm
Về phương thức lây nhiễm, IMNV được xác định có khả năng truyền bệnh nếu
tôm khỏe ăn tôm bệnh nhiễm IMNV. Ngoài ra, IMNV còn được ghi nhận lây lan thông
qua nguồn nước. Phương thức lây nhiễm theo chiều dọc từ bố mẹ truyền qua cho thế hệ
con vẫn chưa được xác định là do sự nhiễm bên ngoài trứng hay bên trong buồng trứng.
Vẫn chưa có số liệu về vật truyền bệnh IMN. Tuy nhiên, do tác nhân gây bệnh hoại tử cơ
có cấu trúc ARN mạch đôi, không có màng bao cho nên rất có khả năng là IMNV vẫn

còn giữ khả năng lây nhiễm khi tồn tại trong ruột và chất thải của một số loài chim biển
đã ăn những con tôm bệnh chết do IMNV.
1.2.4 Phòng trị
Trong các trại sản xuất tôm giống, phương thức tiệt trùng trứng và ấu trùng được
xem là một trong những phương pháp phòng bệnh hiệu quả. Sàng lọc và thả tôm giống
không nhiễm IMNV được xem là giải pháp phòng bệnh trong các ao nuôi tôm thịt.
IHHNV là bệnh do virus, nên hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu chữa trị. Do đó,
giải pháp khắc phục bệnh là định hướng chủ yếu để quản lý bệnh này trong thực tế sản
xuất. Để khắc phục bệnh cần quan tâm đến một số vấn đề sau:
- Chỉ nên dùng tôm mẹ không nhiễm virus để tham gia sinh sản nhân tạo trong
các trại tôm giống.
- Nên chọn những đàn giống không nhiễm IHHNV bằng kỹ thuật PCR nuôi thịt.
- Có thể áp dụng kỹ thuật sốc post larvae bằng formol (150 – 200 ppm) thời gian
30 phút và sục khí mạnh để loại đi những con post larvae yếu và mang mầm bệnh trước
khi thả tôm giống xuống ao nuôi thương phẩm.
- Làm tốt công tác tẩy dọn vệ sinh trước và sau một vụ nuôi để diệt virus tự do,
diệt và ngăn chặn xâm nhập của những cơ thể sinh vật mang virus (cua, còng, chim ăn
cá).
- Áp dụng hình thức nuôi tôm ít thay nước và không lấy nước trực tiếp từ biển để
tránh sự xâm nhập của virus vào ao; duy trì thích hợp và ổn định các yếu tố môi trường.
- Trong ao chứa nước, có thể dùng Neguvon để diệt các sinh vật mang mầm bệnh
với nồng độ 0,4 – 0,6 ppm và làm mất khả năng cảm nhiễm của virus tự do trong nước
bằng một số hóa chất sát trùng như formol 30 – 50 ppm, chlorine 30 – 60 ppm,…
- Tùy theo từng địa phương mà chọn vụ nuôi thích hợp, tránh mùa mà bệnh
thường xuất hiện là giải pháp có hiệu quả để khắc phục bệnh trong thực tiễn sản xuất.
Ngoài ra, quản lý chất lượng nước và môi trường ao nuôi luôn thích hợp và ổn định là
phương pháp quan trọng và có hiệu quả.
- Trường hợp ao nuôi thịt vừa xuất hiện vài con tôm chết với dấu hiệu của bệnh
hoại tử cơ, nên thực hiện các bước xử lý: ổn định môi trường ao nuôi, chú trọng đến nhiệt
độ, nồng độ muối, pH; tăng cường sục khí; giảm lượng thức ăn hoặc ngừng cho tôm ăn.

Trường hợp bệnh xảy ra với tỉ lệ chết cao, ao nuôi tôm thịt cần được xử lý với chlorine
30ppm trong vài ngày.
1.3. Bệnh nhiễm trùng virus dưới da và hoại tử (Infectious Hypodermal and
haematopoietic Necrosis Virus – IHHNV)
Bệnh IHNNV được phát hiện ở Mỹ trong đàn tôm chân trắng (Penaeus vannamei),
còn gọi là hội chứng dị hình còi cọc của tôm chân trắng Nam Mỹ. Bệnh xuất hiện từ giai
đoạn postlarvae đến tôm trưởng thành. Tỷ lệ chết của tôm P. stylirostris rất cao. Bệnh
xuất hiện cả ở Singapore, Philippines, Thái Lan, Indonesia và Malaysia
Bệnh IHHNV lan truyền cả chiều đứng và chiều ngang, virus có thể truyền từ tôm
bố mẹ sang tôm ấu trùng hoặc lây nhiễm ở giai đoạn sớm của ấu trùng tôm.
Ở Việt Nam qua phân tích mô bệnh học gan tuỵ của tôm sú P.monodon Minh Hải,
Sóc Trăng xuất hiện các thể vùi ở nhân tế bào tuyến anten của tôm sú (Bùi Quang Tề,
1994) nhưng tỷ lệ nhiễm virus thấp. Tôm sú và tôm chân trắng (P. vannamei) nuôi ở
Quảng Ninh chẩn đoán bằng test PCR cho thấy tôm đã nhiễm bệnh IHHNV, tôm nuôi
chậm lớn và không đều, tỷ lệ tôm còi 20-50% (Bùi Quang Tề, 2004).
1.3.1 Nguyên nhân
Tác nhân gây bệnh nhiễm trùng virus dưới da và hoại tử lμ giống Parvovirus, cấu
trúc acid nhân là ADN, đường kính 22 nm. Virus ký sinh trong nhân tế bào tuyến anten,
tế bào hệ bạch huyết, tế bào mang, tế bào dây thần kinh, không có thể ẩn (occlusion
body) mà có thể vùi (inclusion body), chúng làm hoại tử và sưng to nhân vật chủ
1.3.2 Triệu chứng
Tôm nhiễm bệnh IHHNV thường hôn mê, hoạt động yếu, chủy biến dạng. Tôm sú
(P.monodon) bị bệnh lúc sắp chết thường chuyển màu xanh, cơ phần bụng mμu đục. Tôm
chân trắng (P. vannamei) thể hiện hội chứng dị hình còi cọc, tôm giống (Juvenil) chủy
biến dạng, sợi anten quăn queo, vỏ kitin xù xì hoặc biến dạng.
Hệ số còi cọc trong đàn tôm giống chân trắng bị bệnh IHHNV thường từ 10-30%,
khi bị bệnh nặng hệ số còi cọc lớn 30% có khi tới 50%. Tôm P. stylirostris bị bệnh dạng
cấp tính, tỷ lệ chết rất cao, virus bệnh lây từ mẹ sang ấu trùng (phương thẳng đứng)
nhưng không phát bệnh, thường đến postlarvae 35 dấu hiệu bệnh quan sát là tỷ lệ chết
cao, virus lây lan theo chiều ngang ở tôm giống ảnh hưởng rất mãnh liệt, tôm trưởng

thành đôi khi có dấu hiệu bệnh hoặc chết.
Kiểm tra mô bệnh học tế bào tuyến anten, tế bào dây thần kinh và tế bào mang của
tôm nhiễm bệnh IHHNV, có thể vùi trong nhân tế bào. Thời kỳ đầu thường nhỏ nằm ở
trung tâm của nhân, sau lớn dần nằm gần kín nhân (bắt màu Eosin màu đỏ đến đỏ xẫm).
Trong thể vùi có chứa nhiều virus.
1.3.4 Phòng trị
Áp dụng theo phương pháp phòng bệnh tổng hợp. Tránh vận chuyển tôm từ nơi cá
bệnh đến nơi chưa phát bệnh để hạn chế sự lây lan vùng lân cận. Những tôm chết vớt ra
khỏi ao, tốt nhất là chôn trong vôi nung hoặc đốt. Nứớc tơ ao tôm bệnh không thải ra
ngói xử lý bằng vôi nung hoặc bằng clorua vôi (theo phương pháp tẩy ao). Xem xét tôm
thường xuyên, nếu phát hiện có dấu hiệu bệnh, tốt nhất là thu hoạch ngay. Nếu tôm quá
nhỏ không đáng thu hoạch thì cần xử lý nước ao trước khi tháo bỏ.
1.4 Hội chứng Taura
Hội chứng Taura là một trong những bệnh khá nguy hiểm trên tôm thẻ chân trắng
(Penaeus vannamei). Bệnh được mô tả lần đầu tiên tại Ecuador vào tháng 6 năm 1992.
Đến tháng 3 năm 1993 bệnh trở nên bùng phát dữ dội, một số nghiên cứu trước đây cho
thấy dấu hiện hội chứng Taura có lẽ đã xuất hiện trong ao tôm nuôi ở Colobia từ năm
1990 và cũng chính virus này đã tồn tại ở Ecuador từ giữa năm 1991. Trong khoảng thời
gian 5 năm (1992-1997) hội chứng Taura bùng phát mạnh, gây nguy hiểm cho tôm nuôi ở
khắp các vùng nuôi tôm công nghiệp ở châu Mỹ, ước tính bệnh Taura đã gây thiệt hại
kinh tế khỏang 2 tỉ USD cho nền nuôi tôm công nghiệp của Châu Mỹ trong trong thời
gian này.
1.4.1 Nguyên nhân
Virus gây hội chứng Taura lần đầu tiên được phân loại thuộc họ Picornaviridae,
đến năm 2005 virus này được tái phân loại và thuộc họ Dicistrovirdae. Virus hình cầu, có
20 mặt, đường kính 32nm, cấu trúc nhân là RNA. Hệ thống gen là một mạch đơn RNA
dài 10,2kb. Cấu trúc protein capsid gồm 3 phần (24, 40 và 55 kDa)
1.4.2 Triệu chứng
Tôm bị hội chứng Taura thường diễn biến qua 3 giai đoạn: cấp tính, chuyển tiếp
và mãn tính.

- Giai đoạn cấp tính: Tôm thẻ chân trắng khi bị bệnh sẽ có màu đỏ nhạt, đặc biệt là
đuôi và các chân bơi, chính vì thế nên dân gian thường gọi là bệnh đỏ đuôi. Sự thay đổi
màu là do sự gia tăng của sắc tố đỏ trong lớp biểu mô ở vỏ. Các mép chân bơi, chân bò
và đuôi tôm dày lên, đây là dấu hiệu đầu tiên của sự hoại tử cục bộ. Tôm bệnh còn có
một số dấu hiệu khác như: mềm vỏ, ruột rỗng và thường chết khi lột xác. Ở tôm thẻ chân
trắng, giai đoạn bệnh cấp tính có tỷ lệ chết cao (40 – 90%).
- Giai đo chuyển tiếp: giai đoạn này chỉ diễn ra trong trong thời gian ngắn, nhưng
cũng thể hiện một số dấu hiệu: có nhiều điểm bị thương tổn màu nâu, đen trên lớp vỏ
kitin, màu đen là của sắc tố melanin và là sản phẩm cuối cùng của cơ chế hoạt động miễn
dịch tự nhiên ở tôm. Ở thời kỳ này tôm bệnh có thể có hay không có hiện tượng mềm vỏ
và đổi màu đỏ của các phần phụ. Tôm bệnh ở thời kỳ này vẫn có thể bắt mồi bình
thường.
- Giai đoạn mãn tính:
những con tôm bị bệnh do nhiễm
virus gây hội chứng Taura
nhưng sống sót qua thời kỳ cấp
tính và thời kỳ chuyển tiếp thì sẽ
bước sang thời kỳ mãn tính. Sau
vài lần lột xác, tôm có thể trở lại
bình thường, các dấu hiệu bệnh
lý ở các thời kỳ trước biến mất
nhưng tôm vẫn mang virus gây
bệnh. Tuy nhiên, không có các
dấu hiệu đặc thù để có thể nhận
biết. Tôm bị hội chứng taura ở giai đoạn chuyển tiếp


Theo TS. Nguyễn Quang Tề, có thể quan sát thấy như sau: Hình A: Tôm sú (P. monodon)
gây nhiễm bệnh TSV (7/2004) đuôi hơi chuyển màu hồng. Hình B: Tôm chân trắng (L.
vannamei) nhiễm bệnh TSV cấp tính, hôn mê, đuôi đỏ, mép đuôi hoại tử (thu mẫu ở Hải

Phòng, 12/2002). Hình C: Tôm chân trắng thân chuyển màu hồng và đuôi có màu trắng
đục (con phía trên)- mẫu thu Hải Phòng 11/2003. Hình D: Tôm chân trắng bị bệnh thân
chuyển màu trắng đục (mẫu thu Nam Định, 9/2003).
Theo TS. DV Lightner (Đại học Arizona - Hoa Kì): Hình 1: Tôm yếu, mềm vỏ, đỏ đuôi.
Hình 2: Nhìn trên kính hiển vi, thấy đuôi tôm có rìa bị hoại tử. Hình 3, 4: Thân tôm có
thể chuyển sang màu trắng đục và luôn có đốm đen do hoại tử
(Nguồn: Thư viện của Anaca)
1.4.4 Lây nhiễm
Hội chứng Taura có khả năng lây nhiễm theo trục ngang và dọc. Sự lây nhiễm
theo trục ngang xảy ra khi ao nuôi bị nhiễm nguồn nước có chứa chất thải từ tôm bệnh,
những động vật ăn tôm chết cũng trở thành nguồn lây nhiễm bệnh từ nơi này sang nơi
khác. Ngoài ra, lây nhiễm theo trục dọc cũng rất dễ xảy ra do những con tôm bị bệnh ở
thời kỳ mãn tính sau vài lần lột xác, những dấu hiệu của bệnh TSV biến mất, nhưng trong
cơ thể vẫn mang mầm bệnh. Những tôm này sau đó được sử dụng làm tôm bố mẹ nên rất
khó tránh nguy cơ sản sinh ra các đàn tôm giống mang mầm bệnh.
1.4.5 Phòng trị
Giải pháp quản lý dịch bệnh hội chứng Taura được áp dụng theo phương pháp
phòng bệnh tổng hợp như quản lý và tối ưu hóa môi trường nước trong ao nuôi, nước cấp
vào ao phải qua xử lý và lắng lọc. Chọn tôm giống chất lượng tốt, cần quan tâm đến khâu
kiểm dịch tôm giống trước khi thả nuôi. Chọn thức ăn có chất lượng đảm bảo dinh dưỡng
và cho ăn đúng khẩu phần, quan sát và theo dõi tôm, ao nuôi hàng ngày. Đặc biệt trong
khâu chọn tôm bố mẹ cần tránh những tôm đã từng bị hội chứng Taura.
Các điều kiện nuôi tôm đều ảnh hưởng tới dịch bệnh “bùng phát do virus”.
Tuy nhiên nguyên nhân chính là môi trường xấu đi, chức năng gan tụy của tôm
suy giảm, làm cho hệ miễn dịch trên tôm yếu đi là tác nhân làm cho virus sinh sản nhanh
hơn và đạt ngưỡng gây hại trên tôm thì tôm mới có triệu chứng điển hình như: gan tụy
vàng, tôm tấp mé, lờ đờ trên mặt nước, lúc này tôm đã rớt đáy.
Chính vì vậy vấn đề ở đây phải thấy rằng việc nhiễm bệnh là không thể tránh khỏi.
Nếu biện pháp quản lý môi trường tốt, kết hợp phòng bệnh ngay từ đầu bằng thuốc thảo
dược thì nhiều khả năng làm chậm quá trình sinh sản của virus từ đó có nhiều cơ hội cho tới

kỳ thu hoạch.
* Phòng bệnh: theo “quy trình phòng bệnh đa chức năng cho tôm”.
* Điều trị: Khi phát hiện hoặc nghi ngờ bệnh Taura, điều đầu tiên cần xử lý môi
trường, buổi sáng nâng pH > 8 để tôm ít lột vỏ, yếu, nằm đáy, chết nhiều (vì bệnh này
nếu tôm lột vỏ sẽ rớt đáy).
Xử lý môi trường bằng TS B52 và Zeolite, liều dùng: 1kg TS B52 +
20kgZeolite /1000m
3
nước, buổi sáng để lắng tụ chất lơ lửng, khử độc tố có trong nước, 8h
tối xử lý tiếp OxyMax 2kg/1000m
3
nước + 1/2kg TS B52 tạo Oxy, giảm tính độc trong
nước, giảm nhờn nước đáy, giảm nhớt thân, sạch mang tôm, giúp tôm khỏe để tiếp thuốc
điều trị.
Dùng Oxyxanhletomine liều dùng 1,5kg/1000m
3
đánh vào nước chạy quạt đảo đều,
sau 2 giờ dùng SDK liều dùng 2 lít/1000m
3
nước, TR 555 2 lít/1000m
3
nước, Bet-to-gane 2
lít/1000m
3
nước lần lượt đánh vào ao nuôi.
Cho tôm ăn TS 1001, Bet-to-gane liều dùng 50ml/1kg thức ăn, cho ăn ngày 2
cữ liên tục trong 5 ngày.
- Ngày thứ 6 diệt khuẩn lại lần 2 bằng SDK + TR 555.
- Ngày thứ 8 xử lý lại môi trường bằng men vi sinh liều cao.
- Qua ngày thứ 10 khi tôm ổn định ăn trở lại thì nên tăng từ từ tránh dư chất dinh

dưỡng làm tôm lột vỏ sẽ bị rớt đáy. Bắt đầu thay nước lượng ít 10% lượng nước
trong ao nuôi, ngày thứ 2: 10%, ngày thứ 3: 10% tránh gây sốc cho tôm và đồng
thời khi thay nước tôm lột vỏ từ từ không rớt đáy, lúc này tăng
cường Khoáng + C - Tat đánh xuống ao tôm sẽ bóng vỏ đẹp trở lại, tăng cường
cho ăn liều cao liên tục 5 - 7 ngày với các nhóm vitamin.
Sau khi sử dụng vi sinh xử lý thay nước đánh lại TS B52 + Zeolite để lắng lọc
nước tốt, màu nước đẹp hơn. Khi thay nước xong thì diệt khuẩn SDKđể chống sốc cho
tôm.
Chú ý: Khi tôm bị bệnh thì các yếu tố môi trường thay đổi như: Tảo sụp, kiềm, pH
giảm thấp Vì vậy khi điều trị bệnh nên kết hợp cải tạo môi trường.
2. BỆNH DO VI KHUẨN
2.1 Hoại tử gan tụy.
Gan tụy là cơ quan trọng yếu liên quan đến quá trình tiêu hóa thức ăn, hấp thụ và
dữ trự dinh dưỡng của tôm. Lần đầu tiên bệnh vi khuẩn hoại tử gan tụy Necrotizing
Hepatopancreatitis – NHP được báo cáo ở Texas vào năm 1985 làm tôm chết và gây thiệt
hại lớn về kinh tế ở khắp các trang trại nuôi tôm ở Trung và Nam Mỹ, do đó bệnh này
còn có tên “Hội chứng tử vong trong ao ở Texas”(TNHP). Mức độ tăng trưởng và sinh
sản của NHP trong các tế bào biểu mô gan tụy hình ống có liên quan đến tình trạng chán
ăn, lờ đờ, teo cơ vùng bụng, mềm vỏ, chậm lớn và chết ở mức độ 20-95%.

×