Tải bản đầy đủ (.pdf) (56 trang)

ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa om4218 trong vụ hè thu năm 2012 tại xã vĩnh thuận tây, huyện vị thủy, tỉnh hậu giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (950.76 KB, 56 trang )


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG





LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ NÔNG HỌC




Tên đề tài:
ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM4218 VỤ HÈ THU NĂM 2012 TẠI XÃ
VĨNH THUẬN TÂY, HUYỆN VỊ THỦY,
TỈNH HẬU GIANG





Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Gs.Ts Nguyễn Bảo Vệ Trang Kiên Bush
Ths Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103495
Lớp: NH K36









Cần Thơ, 2013
i

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
 O 


Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ ngành Nông Học

ĐỀ TÀI:
“ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM 4218 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ VĨNH THUẬN TÂY HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG”


Sinh viên thực hiện: TRANG KIÊN BUSH
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.



Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Cán bộ hƣớng dẫn




Gs.Ts. Nguyễn Bảo Vệ
Ths. Trần Thị Bích Vân
ii

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
 O 

Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM 4218 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ VĨNH THUẬN TÂY, HUYỆN VỊ THỦY,
TỈNH HẬU GIANG”

Do sinh viên TRANG KIÊN BUSH thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng.
Ý kiến hội đồng:
…………………………………………………………………………………………

… ……………………………………………………………………………………
……… ………………………………………………………………….……………
…………
Luận văn đã đƣợc hội đồng đánh giá ở mức: ……………
Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng






DUYỆT KHOA
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp & SHƢD

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.




Tác giả luận văn



Trang Kiên Bush
















iv

CẢM TẠ

Kính dâng
Cha mẹ đã tận tụy nuôi dƣỡng và tạo điều kiện cho tôi đƣợc học tập và rèn luyện.
Chân thành cảm tạ
Thầy Nguyễn Bảo Vệ và cô Trần Thị Bích Vân đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn
Quý thầy cô của Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Khoa Thủy Sản,
Trƣờng Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong quá
trình học tập và rèn luyện tại trƣờng.
Các bạn sinh viên nghành Nông Học, Khóa 36 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá
trình học tập và thực hiện đề tài.



















v

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

LÝ LỊCH SƠ LƢỢC
Họ và tên: Trang Kiên Bush
Ngày sinh: 28/ 06/ 1991
Nơi sinh: Vị Thanh, Cần Thơ
Dân tộc: Kinh
Chổ ở hiện nay: Ấp 1, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
Điện thoại: 01677282024
E- mail:
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 2002 tốt nghiệp tiểu học.
Năm 2006 tốt nghiệp trung học cơ sở.
Năm 2009 tốt nghiệp trung học phổ thông.
Năm 2010-2013 là sinh viên nghành Nông học khóa 36 Trƣờng Đại học Cần Thơ.
















vi

TRANG KIÊN BUSH, 2012 “ Ảnh hƣởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa
OM4218 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu
Giang”. Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trƣờng Đại học Cần Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: Gs. Ts Nguyễn Bảo Vệ và Ths. Trần
Thị Bích Vân.

TÓM LƢỢC
Hiện nay, tập quán sản xuất lúa của nông dân còn mang tính truyền thống là
sạ dày, bón nhiều phân đạm nên tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu
bệnh làm giảm rất đáng kể đến năng suất. Do đó, đề tài “Ảnh hƣởng của mật độ
gieo sạ đến năng suất giống lúa OM4218 trong vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh
Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu xác
định mật độ gieo sạ thích hợp để làm tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Thí nghiệm đƣợc tiến hành trong vụ Hè Thu 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây,
huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm đƣợc bố trí theo thể thức khối hoàn
toàn ngẫu nhiên, ba lần lặp lại, bao gồm các nghiệm thức: sạ ở mật độ 100 kg/ha, sạ
ở mật độ 150 kg/ha, sạ ở mật độ 200 kg/ha.
Kết quả thí nghiệm cho thấy trong vụ Hè Thu, sạ ở mật độ 200 kg/ha có

chiều cao cây và số chồi cao hơn so với các mật độ sạ còn lại. Nghiệm thức sạ ở
mật độ 100 kg/ha có số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lƣợng 1000 hạt cao nhất,
nghiệm thức sạ 150 kg/ha và nghiệm thức sạ 200 kg/ha tƣơng đƣơng nhau, sạ với
mật độ 100 kg/ha tỏ ra hiệu quả trong việc hạn chế sự đỗ ngã và năng suất tƣơng
đƣơng với hai mật độ 200 kg/ha và 150 kg/ha. Tiết kiệm đƣợc lƣợng giống đáng kể
(100 kg/ha) so với tập quán sạ dày của nông dân (200 kg/ha) tại địa phƣơng.
.

vii

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i
Lời cam đoan iii
Cảm tạ iv
Quá trình học tập v
Tóm lƣợc vi
Mục lục vii
Danh mục bảng x
Danh mục hình xi
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1. THỜI KỲ SINH TRƢỞNG CỦA CÂY LÚA 2
1.1.1. Giai đoạn tăng trƣởng 2
1.1.2. Giai đoạn sinh sản. 3
1.1.3. Giai đoạn chín 4
1.2. CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 5
1.2.1. Số bông/m
2
5

1.2.2. Số hạt/bông 6
1.2.3. Tỷ lệ hạt chắc 7
1.2.4. Trọng lƣợng 1000 hạt 8
1.3. PHƢƠNG PHÁP GIEO SẠ 9
1.3.1. Phƣơng pháp sạ lan 10
1.3.2. Phƣơng pháp sạ hàng 10
1.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO SẠ 11
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT 13
1.5.1. Nhiệt độ 13
1.5.2. Ánh sáng 14
1.5.3. Lƣợng mƣa 14
1.5.4. Nƣớc 14
1.5.5. Gió 15
viii

1.5.6. Ảnh hƣởng của đất 15
1.5.7. Ảnh hƣởng của sâu bệnh 15
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP 16
2.1. PHƢƠNG TIỆN 16
2.1.1. Thời gian và địa điểm 16
2.1.2. Phƣơng tiện 17
2.2. PHƢƠNG PHÁP 17
2.2.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm 17
2.2.2. Biện pháp canh tác 18
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi 19
2.2.4. Đánh giá chỉ tiêu về các thành phần năng suất 19
2.2.5. Đánh giá chỉ tiêu về năng suất. 20
2.2.6. Đánh giá khả năng phản ứng với một số sâu bệnh hại 20
2.2.7. Phƣơng pháp phân tích số liệu 21
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22

3.1. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN 22
3.2. ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO SẠ ĐẾN SỰ SINH TRƢỞNG CỦA
CÂY LÚA. 23
3.2.1. Chiều cao cây. 23
3.2.2. Số chồi/m
2
24
3.2.3. Chiều dài bông 27
3.3. ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO SẠ ĐẾN THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
VÀ NĂNG SUẤT. 28
3.3.1. Số bông/m
2
28
3.3.2. Số hạt/bông. 29
3.3.3. Số hạt chắc/bông 30
3.3.4. Tỷ lệ hạt chắc 30
3.3.5 Trọng lƣợng 1000 hạt. 31
3.3.6. Năng suất lý thuyết. 31
3.3.7. Năng suất thực tế. 33
3.4. HIỆU QUẢ KINH TẾ 34
CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
ix

4.1. KẾT LUẬN 35
4.2. ĐỀ NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
x

DANH MỤC BẢNG



Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 18
Bảng 3.1 Ghi nhận tổng quan thí nghiệm giống lúa OM4218 sạ với các mật độ khác
nhau tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2012 22
Bảng 3.2 Thành phần năng suất của giống lúa OM4218 đƣợc thí nghiệm ở các mật
độ khác nhau tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu
2012 28
Bảng 3.3 Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa OM4218 đƣợc thí
nghiệm ở các mật độ khác nhau tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu
Giang vụ Hè Thu 2012 32
Bảng 3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế 34
xi

DANH MỤC HÌNH


Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 16
Hình 3.1: Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến chiều cao của giống lúa OM4218 vụ
Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 23
Hình 3.2: Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến số chồi/m
2
của giống lúa OM4218 vụ
Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 25
Hình 3.3: Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến chiều dài bông của giống lúa OM4218
vụ Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 27






















1


MỞ ĐẦU
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu chứng minh sự tƣơng quan giữa mật độ
gieo trồng và năng suất lúa, kết luận rằng năng suất lúa thực sự không thay đổi giữa
2 khoảng cách trồng 10 và 100 buội/m
2
. Các kết quả này cũng chứng minh rằng cây
lúa có khả năng thích ứng rộng với mật độ gieo trồng bằng cách tự điều chỉnh số
bông, số nhánh bông/ bông và tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào điều kiện môi trƣờng
(Takeda và Hirota, 1971; đƣợc trích bởi Nguyễn Hữu Huân 2011).
Ở nƣớc ta nghề trồng lúa nƣớc đã có từ rất lâu và năng suất lúa ngày càng tăng
một phần là do sự góp phần quan trọng của công tác chọn giống lúa, bằng phƣơng

pháp cổ truyền, chọn lọc theo kiểu phả hệ, lai hữu tính, ứng dụng công nghệ sinh
học nhƣ tạo biến dị, nuôi cấy mô, biến đổi gen. Nhờ chính sách đổi mới và khoa học
kỹ thuật trong công tác lai tạo, chọn lọc giống lúa ở các viện, trƣờng, trung tâm và
cá nhân trong cả nƣớc, qua nhiều năm đã tạo ra rất nhiều giống lúa có năng suất
cao, ngắn ngày thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở từng địa phƣơng.
Do ngƣời dân có tập quán truyền thống gieo sạ với mật độ cao khoảng 200
kg/ha, nhƣng trong thực tế lúa là loại cây có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể,
nếu sạ với mật độ quá cao cây lúa sẽ đẻ nhánh ít hoặc không đẻ nhánh, tỉ lệ chồi vô
hiệu cao, thậm chí cây bị chết do cạnh tranh sinh tồn, cùng với đó là việc bón nhiều
phân đạm dẫn đến sâu bệnh phát triển mạnh và làm giảm năng suất (Nguyễn
Trƣờng Giang, 2010 ). Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông
càng nhiều. Trong một giới hạn nhất định việc tăng số bông không làm giảm số hạt/
bông và khối lƣợng nghìn hạt nhƣng nếu vƣợt qua giới hạn nhất định, số hạt/ bông
sẽ giảm dần và khối lƣợng nghìn hạt sẽ giảm dần do sự cạnh tranh dinh dƣỡng và
ánh sáng, vì thế khi cấy quá dầy sẽ làm năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên,
nếu cấy mật độ quá thƣa đối với giống có thời gian sinh trƣởng ngắn ngày khó đạt
đƣợc số bông tối ƣu. Vì vậy, chọn mật độ thích hợp là phƣơng pháp tối ƣu nhất để
đạt đƣợc số lƣợng hạt chắc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn
Thị Nga, 2011). Do đó, đề tài “ Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống
lúa OM4218 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, Huyện Vị Thủy, Tỉnh
2

Hậu Giang” đƣợc thực hiện nhằm tìm ra mật độ gieo sạ thích hợp làm tăng năng
suất và hiệu quả kinh tế.
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 THỜI KỲ SINH TRƢỞNG CỦA CÂY LÚA
Về mặt nông học, ngƣời ta chia đời sống của cây lúa thành ba giai đoạn
chính (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.1 Giai đoạn tăng trƣởng

Giai đoạn này của cây lúa đƣợc bắt đầu từ khi hạt nảy mầm cho đến khi bắt
đầu phân hóa đòng. Thời gian dành cho giai đoạn này khác nhau tùy theo thời gian
sinh trƣởng của từng giống lúa. Đối với những giống có thời gian sinh trƣởng 120
ngày đƣợc trồng ở các nƣớc có khí hậu nhiệt đới, giai đoạn này chiếm 60 ngày
(Yosida, 1981). Đối với vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, các giống lúa có thời
gian sinh trƣởng là 90 ngày thì giai đoạn này chiếm khoảng 30 ngày.
Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi
mới. Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thƣớc ngày càng lớn giúp cây lúa nhận đƣợc
nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dƣỡng, gia tăng chiều cao, nở
bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau. Trong điều kiện đầy đủ chất dinh dƣỡng, ánh
sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6 (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2008). Thời gian sinh trƣởng của cây lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ
yếu là do giai đoạn tăng trƣởng này dài hay ngắn (Nguyễn Thành Hối, 2010).
Nhờ sự phát triển của rễ và lá diễn ra cùng lúc nên thúc đẩy sự phát triển
mạnh của thân chính và quá trình đẻ nhánh diễn ra đều đặn làm tăng dần số nhánh
trên một bụi lúa. Quá trình đẻ nhánh của cây lúa chỉ diễn ra trong một thời gian nhất
định đƣợc gọi là thời gian đẻ nhánh và thời gian này kết thúc khi cây lúa đạt đƣợc
số chồi tối đa trên một đơn vị diện tích. Mật độ gieo sạ thƣa thì thời gian đẻ nhánh
dài hơn so với gieo sạ dày (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997). Sự khác biệt về giống,
thời vụ và kỹ thuật canh tác sẽ làm thay đổi thời gian đẻ nhánh của cây lúa.
Trong giai đoạn này những nhánh đƣợc hình thành chỉ có hai khả năng, (1) là
hình thành nhánh hữu hiệu (nhánh sẽ hình thành bông) và (2) là hình thành nhánh
3

vô hiệu (nhánh không hình thành bông). Thƣờng thì các nhánh đẻ sớm thì cho bông,
còn các nhánh đẻ muộn thì có thể cho bông và không (Yosida, 1981).

Thời gian sinh trƣởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu
là do giai đoạn tăng trƣởng này dài hay ngắn. Thƣờng các giống lúa rất ngắn ngày
và ngắn ngày có giai đoạn tăng trƣởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy

ra trƣớc hoặc ngay khi cây lúa đạt đƣợc số chồi tối đa. Ngƣợc lại các giống lúa dài
ngày (trên 4 tháng) thƣờng đạt đƣợc số chồi tối đa trƣớc khi phân hóa đòng. Thông
thƣờng, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay là chồi có ích) thấp hơn so với
số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trƣớc khi đạt đƣợc số chồi tối đa. Các chồi
ra sau đó, thƣờng sẽ tự rụi đi không cho bông đƣợc, do chồi nhỏ, yếu không đủ khả
năng cạnh tranh dinh dƣỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu, trong
canh tác ngƣời ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này
bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc
thêm chồi từ khoảng 7 ngày trƣớc khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dƣỡng
cho những chồi hữu hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn này bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông, giai đoạn
này kéo dài khoảng 27 - 35 ngày, trung bình là 30 ngày, giống lúa dài ngày hay
ngắn ngày thƣờng không khác nhau nhiều, lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh,
chiều cao bắt đầu tăng rõ rệt do sự vƣơn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình
thành và phát triển qua nhiều giai đoạn cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ
bông (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Trong đời sống của cây lúa, giai đoạn này đƣợc đặc trƣng bởi hiện tƣợng
thân chính của lúa vƣơn cao nhanh làm tăng chiều cao cây, giảm nhanh chóng số
nhánh vô hiệu, xuất hiện lá đòng, kéo dài tốt và cuối cùng là trổ bông (Nguyễn
Thành Hối, 2003).
Trong giai đoạn này, điều quan tâm nhất chính là sự hình thành và phát triển
của đòng lúa, sự phân hóa đòng thƣờng diễn ra sau khi cây lúa đạt đƣợc số chồi tối
đa. Đây chính là thời kỳ báo hiệu cây lúa chuyển từ pha sinh trƣởng sang pha sinh
sản. Dấu hiệu đầu tiên là sự vƣơn lóng diễn ra ở lóng đầu tiên và kế đến là quá trình
4

hình thành đòng lúa. Sự phát triển của đòng lúa trải qua nhiều quá trình phân chia tế
bào và giảm nhiễm. Theo Nguyễn Xuân Trƣờng (2004), thì quá trình này trải qua
chín bƣớc, sau khi đòng lúc hình thành hoàn chỉnh thì nhờ sự vƣơn dài của hai lóng

trên cùng mà đòng lúa thoát ra khỏi bẹ lá cờ (đƣợc trích dẫn bởi Nguyễn Đình Giao
và ctv., 1997).
Ở giai đoạn này, cây lúa đƣợc cung cấp đầy đủ dinh dƣỡng, mực nƣớc thích
hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành
nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thƣớc lớn nhất của giống (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Nhƣ vậy, trong giai đoạn này đặc trƣng bởi sự phân hóa và hình thành đòng
của cây lúa, quá trình này sẽ quyết định đến số hoa đƣợc phân hóa trên bông lúa nên
ảnh hƣởng đến sự hình thành số hạt/bông, số hạt chắc/bông và tỷ lệ hạt chắc của cây
lúa (Nguyễn Trƣờng Giang, 2010).
1.1.3 Giai đoạn chín
Giai đoạn này đƣợc tính từ khi cây lúa trổ bông đến khi thu hoạch. Thời gian
dành cho giai đoạn này khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa. Tuy nhiên,
nếu đất ruộng có nhiều nƣớc, thiếu lân, thừa đạm, trời mƣa ẩm, ít nắng trong giai
đoạn này thì sẽ làm cho thời gian chín kéo dài hơn và ngƣợc lại (Lê Văn Hòa và
ctv., 2001).
Trong giai đoạn này lá lúa sẽ già đi và sự phát triển to dần lên của hạt lúa, hạt
lúa tăng trƣởng mạnh cả về khối lƣợng hạt tƣơi và khối lƣợng khô trong giai đoạn
này. Tuy nhiên, trƣớc khi chín khô tăng chậm, mà khối lƣợng tƣơi giảm nhanh
chóng do mất nƣớc. Dựa vào sự thay đổi về hình dạng, màu sắc, chất dự trữ và
trọng lƣợng hạt mà quá trình chín của hạt lúa đƣợc chia thành các thời kỳ chín sữa,
chín sáp, chín vàng và chín hoàn toàn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Trong đó quan trọng nhất của giai đoạn này là thời kỳ chín sữa. Trong quá
trình chín sữa, các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp đƣợc chuyển
vào trong hạt. Hơn 80% lƣợng vật chất khô tích lũy trong hạt là do quá trình quang
hợp sau trổ cung cấp. Do đó, các điều kiện dinh dƣỡng, tình trạng sinh trƣởng, phát
triển của cây lúa và thời tiết giai đoạn sau trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá
trình hình thành năng suất lúa, kích thƣớc và trọng lƣợng hạt gạo tăng dần làm đầy
vỏ trấu (Nguyễn Bảo Vệ, 2003).
5


Nhƣ vậy, trong giai đoạn này thời kỳ chín sữa là quan trọng nhất, do sự tích
lũy vật chất khô vào hạt tăng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng và dinh dƣỡng. Đó là
quá trình ảnh hƣởng rất lớn đến trọng lƣợng hạt.
1.2 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) thì năng suất đƣợc hình thành và chịu ảnh
hƣởng của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất: số bông trên đơn vị diện
tích, số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lƣợng 1000 hạt. Năng suất lúa đƣợc
tính theo công thức:

Y = N x F x w x 10
-5

Trong đó:
Y: Năng suất (tấn/ha)
N: số hạt/m
2

F: tỷ lệ hạt chắc
w: trọng lƣợng 1000 hạt (g)

Năng suất là chỉ tiêu tổng hợp của tất cả các yếu tố cấu thành năng suất. Trên
thực tế, các yếu tố cấu thành năng suất có quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Muốn tăng
năng suất lúa không chỉ tác động riêng rẽ từng yếu tố mà phải tác động tổng hợp
(Nguyễn Thị Nga, 2011).
1.2.1 Số bông/m
2

Số bông/m
2
là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất lúa. Với mật

độ gieo sạ khác nhau thì số bông/m
2
là khác nhau (Nguyễn Thị Nga, 2011). Số bông
trên đơn vị diện tích đƣợc quyết định vào giai đoạn sinh trƣởng ban đầu của cây lúa
(giai đoạn tăng trƣởng), nhƣng chủ yếu là giai đoạn từ khi cấy đến khoảng 10 ngày
trƣớc khi có chồi tối đa, số bông trên đơn vị diện tích tùy thuộc vào mật độ sạ cấy
và khả năng nở bụi của lúa. Mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa thay đổi tùy
theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lƣợng phân bón nhất là phân đạm và chế
độ nƣớc. Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hƣởng thuận với năng suất lúa
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
6

Theo Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) thì số bông/m
2
là yếu tố đóng góp
nhiều nhất vào năng suất lúa. Số bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi đó
số hạt và trọng lƣợng của hạt đóng góp 26%. Khi xem xét mối quan hệ nguồn và
sức chứa thì số bông/m
2
ảnh hƣởng đến năng suất kinh tế với hệ số tƣơng quan rất
cao r = 0,91 (Phạm Văn Chƣơng, 2002).
Khi phân tích tƣơng quan hệ số Path năng suất và thành phần năng suất cho
thấy số bông/m
2
gia tăng khi mật độ sạ tăng (Trần Thị Ngọc Huân và ctv,. 1999).
Tuy nhiên, trong điều kiện mật độ sạ cao làm tăng số bông/m
2
ở mức vừa phải, nếu
tăng mật độ lên quá cao sẽ gây hiện tƣợng lốp, đỗ, sâu bệnh dễ bộc phát và số hạt
trên bông sẽ ít đi rõ rệt (Yosida, 1981).

Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999), số bông trên đơn vị diện
tích đƣợc quyết định bởi hai yếu tố: mật độ sạ và tỷ lệ đẻ nhánh. Mật độ sạ đặt cơ sở
cho việc hình thành số bông. Trong điều kiện thâm canh cần mật độ sạ phù hợp tùy
giống, đất đai, phân bón, thời vụ,
Nói chung, đối với các giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu,
nhiều nắng nên gieo cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích. Ngƣợc lại, trên
đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lƣợng phân bón nhiều (nhất là đạm) và giữ nƣớc thích
hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể gieo cấy thƣa hơn. Các giống lúa cải thiện thấp cây
có số bông/m
2
trung bình phải đạt 500 – 600 bông đối với lúa sạ hoặc 350 – 450
bông đối với lúa cấy mới có đƣợc năng suất cao (Phạm Sĩ Tân, 2008).
Tóm lại, số bông/m
2
là một thành phần năng suất góp phần quan trọng trong
việc tạo nên năng suất và chịu ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ. Số chồi hữu hiệu là
yếu tố trực tiếp quyết định đến số bông/m
2
.
1.2.2 Số hạt/bông
Số hạt/bông cũng là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất. Số hạt/bông chủ
yếu do yếu tố di truyền của giống quy định. Tuy nhiên nó cũng chịu tác động của
các yếu tố ngoại cảnh do ảnh hƣởng đến quá trình phân hóa hoa. Số hạt/bông phụ thuộc
vào số gié, số hoa phân hóa cũng nhƣ số gié, số hoa thoái hóa. Số hạt/bông = Số hoa phân
hóa - Số hoa thoái hóa (Nguyễn Thị Nga, 2011).
Số hạt trên bông đƣợc quyết định từ lúc tƣợng cổ bông đến 5 ngày trƣớc khi trổ,
nhƣng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực. Ở giai đoạn này,
7

số hạt trên bông có ảnh hƣởng thuận đối với năng suất lúa do ảnh hƣởng đến số hoa đƣợc

phân hóa. Sau giai đoạn này, số hạt trên bông đã hình thành có thể bị thoái hóa có ảnh
hƣởng âm (Võ Thị Lang và ctv,. 2008).
Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, hoa phân hóa cũng nhƣ số gié,
hoa thoái hóa. Các quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trƣởng sinh dục từ lúc làm đòng
đến trổ bông (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Số hạt/bông chịu ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố. Yếu tố trồng trọt: trong điều kiện
canh tác ngoài đồng cây lúa tăng trƣởng kém, số hạt/bông có thể đƣợc làm tăng bằng cách
gia tăng mật độ gieo sạ ở mức vừa phải và gia tăng lƣợng phân đạm bón cho cây. Yếu tố
đặc tính sinh trƣởng: nếu nhƣ cây lúa có đặc tính đẻ nhánh kém thì đòi hỏi mật độ gieo sạ
phải cao, các giống có thời gian sinh trƣởng ngắn và trong điều kiện bón ít phân đạm thì
đòi hỏi mật độ sạ phải cao hơn để đạt số hạt trên đơn vị diện tích không thay đổi (Lê Hữu
Toàn, 2009).
Nhìn chung, số hạt/bông phụ thuộc vào số hoa đƣợc phân hóa và số hoa bị thoái
hóa, hai yếu tố này chịu ảnh hƣởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết.
Đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng
mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa sẽ nhiều, số hoa thoái hóa càng ít, nên số hạt
cuối cùng trên bông cao. Ở các giống lúa cải thiện, số hạt từ 80 – 100 hạt đối với lúa sạ
hoặc 100 – 120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện Đồng Bằng Sông Cửu Long
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Nhƣ vậy, số hạt/bông là yếu tố quyết định bởi sự sai khác giữa
số hoa đƣợc phân hóa và số hoa bị thoái hóa đi, yếu tố thành phần năng suất này chịu ảnh
hƣởng của đặc tính về giống và điều kiện ngoại cảnh.
1.2.3 Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc đƣợc quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào chắc
nhƣng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu, thụ phấn,
thụ tinh và vào chắc. Tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của
cây lúa và chịu ảnh hƣởng lớn của điều kiện ngoại cảnh, thƣờng số hoa trên bông quá
nhiều sẽ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp. Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và
chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đỗ ngã sớm, lại trổ
và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dƣỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngƣợc
lại. Muốn có năng suất cao tỷ lệ hạt chắc phải trên 80% (Nguyễn Xuân Trƣờng, 2004).

8

Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa
gặp rét hoặc nóng quá, ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả
năng nảy mầm hoặc trƣớc đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn
bị hại (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Khi xét mối quan hệ nguồn và sức chứa, số hạt chắc trên bông ảnh hƣởng đến năng
suất thực tế (Phạm Văn Chƣơng, 2002). Kết quả phân tích hệ số tƣơng quan Path năng
suất và thành phần năng suất cho thấy khi gia tăng mật độ gieo sạ thì số hạt chắc/bông
giảm và làm giảm tỷ lệ hạt chắc (Trần Thị Ngọc Huân và ctv., 1999).
Nguyễn Thành Hối (2003) cho rằng, lúa Hè Thu xuống giống muộn sẽ gặp bất lợi
nhiều về điều kiện thời tiết lúc lúa trổ, do lúc này mƣa dầm nên vũ lƣợng cao, mƣa kéo dài
và đặc biệt là trời hay mƣa vào buổi sáng nên bông lúa khó thụ phấn, thụ tinh và hạt bị lép
nhiều. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nhƣ nhiệt độ thấp và cao vào giai đoạn
phân bào giảm nhiễm và trổ gié hoa có thể gây ra bất thụ. Các điều kiện thời tiết không
thuận lợi lúc chín có thể ức chế sự sinh trƣởng trực tiếp của vài gié hoa, cho ra những gié
hoa lép (Bùi Huy Đáp, 1980).
Tỷ lệ hạt chắc ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố nhƣ: phân bón, nhiệt độ, mƣa gió và hạn
hán. Đối với mỗi giống có yêu cầu về lƣợng phân bón nhất định. Nhiệt độ trên 20
0
C nếu
duy trì liên tục từ lúc lúa làm đòng đến trổ bông hoặc nhiệt độ cao trên 35
0
C sau khi lúa
trổ xong đều làm giảm tỷ lệ hạt chắc. Gió, mƣa và bão làm ảnh hƣởng đến quá trình thụ
phấn, thụ tinh và gây đỗ ngã làm ảnh hƣởng đến tỷ lệ hạt chắc. Ngoài ra, hạn hán làm thiếu
nƣớc tƣới của một số vùng cũng làm giảm tỷ lệ hạt chắc nhất là khi cây lúa vừa trổ xong
và bắt đầu ngậm sữa (Lê Hữu Toàn, 2009). Tỷ lệ hạt chắc là kết quả của quá trình thụ phấn
và thụ tinh trong môi trƣờng. Và thành phần này chịu sự ảnh hƣởng của nhiều yếu tố môi
trƣờng vào khoảng thời gian trƣớc, trong và sau trổ.

1.2.4 Trọng lƣợng 1000 hạt
Trọng lƣợng hạt đƣợc quyết định ngay từ thời kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín,
nhƣng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ. Trọng lƣợng hạt
tùy thuộc vào cỡ hạt và độ mẩy (no đầy) của hạt lúa. Đối với lúa, ngƣời ta thƣờng biểu thị
trọng lƣợng hạt bằng trọng lƣợng của 1000 hạt với đơn vị là gram. Ở phần lớn các giống
lúa, trọng lƣợng 1000 hạt thƣờng biến thiên tập trung trong khoảng 20 – 30 gram (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2008).
9

Trọng lƣợng 1000 hạt ít chịu tác động của môi trƣờng và có hệ số di truyền cao. Nó
phụ thuộc hoàn toàn vào giống. Trọng lƣợng 1000 hạt của một giống giữ ổn định không có
nghĩa là từng hạt có khối lƣợng nhƣ nhau, chúng thay đổi trong một giới hạn nhất định
nhƣng có giá trị trung bình luôn ổn định. Trọng lƣợng 1000 hạt do hai bộ phận cấu thành,
trọng lƣợng vỏ trấu và trọng lƣợng hạt gạo. Trọng lƣợng vỏ trấu thƣờng chiếm 20% và
trọng lƣợng hạt gạo chiếm 80% trọng lƣợng toàn hạt. Muốn có trọng lƣợng hạt gạo cao
phải tác động vào cả hai yếu tố này (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Khi xem xét mối quan hệ nguồn và sức chứa cho thấy, trọng lƣợng 1000 hạt ảnh
hƣởng đến năng suất thực tế (Phạm Văn Chƣơng, 2002). Kết quả phân tích tƣơng quan hệ
số Path năng suất và thành phần năng suất cho thấy trọng lƣợng 1000 hạt là đặc tính của
giống và là nhân tố thứ hai (sau số hạt chắc/bông) trong xác định năng suất cây lúa (Trần
Thị Ngọc Huân và ctv., 1999).
Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) cho rằng hạt lúa đƣợc quy định bởi kích thƣớc
của hai vỏ trấu tạo nên sức chứa cho hạt và yếu tố kế đến là lƣợng chất khô tích lũy tạo nên
hạt gạo. Cho nên, quá trình quang hợp trong giai đoạn chín của cây lúa sẽ làm ảnh hƣởng
đến sự cung cấp carbohyrate cho hạt, bên cạnh đó nếu tình trạng đỗ ngã xảy ra sẽ làm ngăn
cản sự chuyển vị sản phẩm của quang hợp làm cho hạt lúa bị lép lững nhiều. Trọng lƣợng
hạt chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết định, điều kiện môi trƣờng có ảnh hƣởng
một phần vào thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trƣớc khi trổ) trên cở hạt, cho đến khi vào chắc
rộ (15 – 25 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Nhƣ vậy, trọng lƣợng 1000 hạt chịu ảnh hƣởng lớn của đặc tính giống, sự tác động

của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật canh tác có thể cũng làm thay đổi trọng lƣợng hạt phần
nhỏ, sản phẩm quang hợp sau trổ là yếu tố quyết định đến trọng lƣợng 1000 hạt.
1.3 PHƢƠNG PHÁP GIEO SẠ
Có nhiều phƣơng pháp để gieo sạ. Tuy nhiên, dựa vào điều kiện đất đai và nƣớc
tƣới mà chọn lựa phƣơng pháp sạ thích hợp. Những vùng chủ động đƣợc nguồn nƣớc tƣới
và đất tƣơng đối bằng phẳng thƣờng áp dụng phƣơng pháp sạ ƣớt. Hiện nay, hầu hết diện
tích trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long là lúa cao sản và phƣơng pháp sạ ƣớt đƣợc áp
dụng nhiều nhất (Nguyễn Thành Hối, 2010).


10



1.3.1 Phƣơng pháp sạ lan
Đặc điểm của phƣơng pháp sạ này là cây lúa đẻ nhánh sớm, số bông nhiều, năng
suất quan hệ chặt chẽ với số bông. Tuy nhiên, nhƣợc điểm của phƣơng pháp này là mật độ
thƣờng không đều, bộ rễ ăn cạn, dễ bị chim chuột phá hoại và lúa thƣờng bị đỗ ngã vào
mùa mƣa gió nhiều (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Phƣơng pháp sạ lan đã đƣợc nông dân áp dụng từ khi bắt đầu canh tác lúa cao sản
thay thế cho lúa mùa năng suất thấp. Phƣơng pháp này tỏ ra có những ƣu điểm nổi trội so
với phƣơng pháp sạ hoặc cấy lúa mùa về khả năng gia tăng số bông/m
2
, tính đồng đều về
chiều cao và khả năng nhận ánh sáng (Trần Đức Viên, 2007).
Hiện nay, lƣợng giống cao sản ngắn ngày sạ lan đƣợc khuyến cáo là 150 kg/ha
(Nguyễn Thành Hối, 2010). Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất thƣờng ngƣời dân trồng lúa
theo tập quán với mật độ cao, lƣợng giống gieo sạ từ 200 – 300 kg/ha (Nguyễn Văn Luật,
2001). Với lƣợng giống gieo sạ nhiều nhƣ thế thì sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến sự tiếp nhận ánh
sáng của từng cây lúa trong quần thể ruộng lúa, nhu cầu dinh dƣỡng từ đất trồng và tạo

điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. Các nhà khoa học đã chứng minh đƣợc những
yếu tố gây dịch bệnh tích cực nhất là khi cây trồng phải sống trong quần thể chật hẹp thiếu
ánh sáng cho các lá dƣới, làm cây lúa trở nên yếu ớt sâu bệnh dễ tấn công (Nguyễn Kim
Chung và Nguyễn Ngọc Đệ, 2005).
1.3.2 Phƣơng pháp sạ hàng
Hiện nay, sạ hàng ở Đồng bằng sông Cửu Long đã thể hiện nhiều ƣu điểm so
với sạ lan truyền thống nhƣ: tiết kiệm vật tƣ mà chủ yếu là giống và phân bón, tạo
điều kiện thuận lợi để thâm canh, giảm thiệt hại do sâu bệnh, tăng năng suất so với
sạ lan và kết hợp nuôi cá hay nuôi vịt chóng lớn (Nguyễn Văn Luật, 2001).
Ứng dụng kỹ thuật từ mẫu máy sạ hàng đƣợc cải tiến từ “drum seeder” của
Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và bắt đầu đƣợc thực hiện ở Đồng bằng sông
Cửu Long từ năm 1990 cho đến nay (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2009). Có
thể thấy rằng phƣơng pháp sạ hàng tỏ ra hiệu quả so với sạ lan truyền thống. Tuy
nhiên, việc áp dụng kỹ thuật này cũng gặp một số trở ngại nhƣ ốc bƣơu vàng, diện
tích nhỏ khó áp dụng và đất thiếu bằng phẳng (Lê Trƣờng Giang, 2005).
11

Với phƣơng pháp này, cây lúa có sự phân bố trong quần thể ruộng lúa thích
hợp nên đã tận dụng đƣợc năng lƣợng mặt trời cho quá trình quang hợp tạo năng
suất và làm giảm thiệt hại do tác động của ngoại cảnh (Nguyễn Văn Luật, 2001).
Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy lƣợng giống gieo sạ thích hợp cho kỹ thuật
này ở Đồng bằng sông Cửu Long là khoảng từ 70-100 kg giống/ha (Bùi Chí Bửu và
Nguyễn Thị Lang, 2009). Dƣới điều kiện quản lý đồng ruộng tốt, mật độ sạ 100 kg
giống/ha đƣợc khuyến cáo để nhận năng suất lúa có chất lƣợng tốt, cũng nhƣ đáp
ứng đủ số bông/m
2
cho việc chín đồng bộ trong hệ thống canh tác lúa sạ ƣớt (Trần
Thị Ngọc Huân và ctv ., 1999).
So với phƣơng pháp sạ lan truyền thống thì phƣơng pháp sạ hàng có thể làm
giảm đƣợc lƣợng giống sử dụng từ 50-75%, lƣợng giống giảm tƣơng ứng khoảng

100-150 kg/ha (Nguyễn Văn Luật và ctv., 1999). Nhƣ vậy, phƣơng pháp sạ hàng có
nhiều ƣu điểm so với sạ lan nhƣ: giảm đƣợc lƣợng giống gieo sạ, giảm sâu bệnh và
có thể tăng năng suất.
1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO SẠ
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995), thì tùy từng giống lúa để chọn mật độ thích
hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa thông thoáng, các bụi lúa
không chen nhau. Cách bố trí bụi lúa theo hình chữ nhật là phù hợp nhất vì nhƣ thế
mật độ trồng đƣợc đảm bảo nhƣng lại tạo ra đƣợc sự thông thoáng trong quần thể,
tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao
hơn.
Mật độ trồng thích hợp, quần thể lúa sẽ sử dụng tốt nƣớc và dinh dƣỡng để
tạo ra năng suất cao nhất, mật độ sản xuất giống đảm bảo tạo ra 400-500 bông/ m
2
,
có nghĩa là 70-100 cây mạ/ m
2
là tốt nhất. Mật độ thƣa sẽ tăng khả năng đẻ nhánh
và có thể gây ra biến động lớn về độ chín đồng đều của các bông ảnh hƣởng tới chất
lƣợng hạt giống, mật độ thƣa làm tăng cỏ dại cũng làm giảm chất lƣợng hạt giống.
Mật độ trồng quá cao làm giảm năng suất và chất lƣợng hạt giống vì cạnh tranh
nƣớc và dinh dƣỡng, che khuất lẫn nhau, dễ đổ và giảm kích thƣớc hạt (Nguyễn Thị
Nga, 2011).
Theo Tăng Thị Hạnh (2003) cho rằng mật độ gieo cấy khác nhau ảnh hƣởng
rõ đến khả năng đẻ nhánh của cây lúa. Chỉ số diện tích lá tăng khi mật độ tăng từ
12

25- 165 chồi/ m
2
, nếu cùng số chồi/ bụi khi mật độ tăng trong hai giai đoạn nhƣng
sang giai đoạn chín sữa khối lƣợng chất khô sẽ giảm nếu tiếp tục tăng mật độ. Công

thức cấy thƣa ( 25-30 bụi/m
2
) có hiệu suất quang hợp cao nhƣng chỉ số diện tích lá
thấp hơn nên khối lƣợng chất khô đƣợc tổng hợp qua các thời kỳ ít hơn công thức
cấy dày. Mật độ thích hợp còn hạn chế đƣợc quá trình đẻ nhánh kéo dài, hạn chế
nhánh vô hiệu, lãng phí chất dinh dƣỡng. Cấy dày các cây còn cạnh tranh về dinh
dƣỡng, ánh sáng, cây lúa sẽ vƣơn cao, lá nhiều rậm rạp ảnh hƣởng đến hiệu suất
quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khả năng chống chịu kém và
năng suất cuối cùng không cao. Hạt chín không đều, mầm mống sâu bệnh trên hạt
có thể tăng do độ ẩm hạt tăng nhanh chóng trong quá trình bảo quản… ảnh hƣởng
không nhỏ tới chất lƣợng hạt giống (Nguyễn Thị Nga, 2011).
Mật độ là một trong những biện pháp ảnh hƣởng đến năng suất lúa vì mật độ
cấy quyết định diện tích lá và sự cấu tạo quần thể, đến chế độ ánh sáng và sự tích
lũy chất khô của ruộng lúa mạnh mẽ nhất (Nguyễn Văn Hoan, 2003). Nhận xét về
mối quan hệ diện tích dinh dƣỡng và sự đẻ nhánh, Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng sự
đẻ nhánh của lúa có quan hệ với diện tích dinh dƣỡng. Nếu diện tích dinh dƣỡng
càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài. Ngƣợc lại diện tích dinh dƣỡng càng nhỏ thì
thời gian đẻ nhánh càng ngắn. Cấy dày ở mật độ cao lúa sẽ không đẻ nhánh và một
số cây mẹ sẽ lụi dần. Đối với lúa cấy, số lƣợng tuyệt đối về nhánh thay đổi nhiều
qua các mật độ, nhƣng tỷ lệ nhánh hữu hiệu giữa các mật độ lại không thay đổi
nhiều. Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho
năng suất mà chỉ những nhánh đạt đƣợc thời gian sinh trƣởng và số lá nhất định mới
thành bông (Nguyễn Thị Nga, 2011).
Về khả năng chống chịu sâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác
giả và đều có chung nhận xét rằng: gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trƣờng thích
hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không đƣợc thông thoáng, các lá
bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi nhiều (Bùi Huy Đáp, 1980).
Nhƣ vậy, mật độ là một kỹ thuật làm tăng quang hợp của cá thể và quần thể
của ruộng lúa, do khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá thích
hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, ảnh hƣởng tới khả năng đẻ nhánh và số nhánh

13

hữu hiệu/bụi, khả năng chống chịu sâu bệnh, từ đó mà ảnh hƣởng mạnh đến năng
suất lúa.
Dựa trên sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Bùi
Huy Đáp (1999), đã đƣa ra lập luận các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt
chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh
hƣởng lẫn nhau. Số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/ bông và tỷ lệ hạt
chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhƣng số bông tăng quá cao, số hạt/bông và tỷ lệ
hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp. Trong 3 yếu tố cấu thành năng suất: số
bông/ m
2
, số hạt chắc/bông và trọng lƣợng 1000 hạt thì 2 yếu tố đầu giữ vai trò quan
trọng và thay đổi theo cấu trúc quần thể còn khối lƣợng 1000 hạt của mỗi giống ít
biến động. Vì vậy, năng suất sẽ tăng khi mật độ cấy trong phạm vi nhất định. Phạm
vi này phụ thuộc vào nhiều đặc tính của giống, đất đai, phân bón và thời tiết. Để
tăng số bông/đơn vị diện tích gieo cấy có thể tăng mật độ cấy hay tăng số bụi.
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995), để có cùng số bông trên đơn vị diện tích nên
cấy ít tép nhiều bụi tốt hơn cấy ít bụi nhiều tép. Không nên cấy quá nhiều tép vì khi
đó cây lúa đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp, số hạt/ bông ít
dẫn đến năng suất không đạt yêu cầu.
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT
1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trƣởng của cây lúa nhanh
hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-30
o
C), nhiệt độ càng tăng cây
lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 40
o
C hoặc dƣới 17

o
C cây lúa tăng trƣởng
chậm lại. Dƣới 13
o
C cây lúa ngừng sinh trƣởng, nếu kéo dài quá một tuần cây lúa sẽ
chết (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Nhiệt độ cao tăng vận tốc ra lá và sinh nhiều mầm chồi hơn. Nhiệt độ cao sẽ
rút ngắn giai đoạn vào chắc, thời tiết có mây thƣờng xuyên gây hại cho sự chắc hạt.
Nhiệt độ cao hơn 35
o
C khi trổ gié hoa có thể làm phần trăm bất thụ cao (Đinh Thế
Lộc, 2006).

×