Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

SỐ LIỆU THỰC TẾ- ĐỀ CƯƠNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (228.47 KB, 26 trang )

SỐ LIỆU THỰC TẾ- ĐỀ CƯƠNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Chương I. Đại cương về Tài chính tiền tệ
*Chế độ lưu thông tiền tệ ở Việt Nam
Lịch sử tiền tệ Việt Nam đã trải qua nhiều chế độ lưu thông khác nhau
Từ thời kỳ các triều đại Phong kiến: Hầu hết các triều Vua, Chúa nước ta đều phát hành
tiền bằng hai nguyên liệu chính là đồng và kẽm. Riêng Vua Hồ Quí Ly cho phát hành tiền
giấy và chỉ tồn tại 4 năm từ 1400 đến 1404, đến 1405 lại trở về sử dụng bằng chất liệu tiền
đồng và tiền kẽm. Sau đó, chúng ta cũng đã sử dụng nhiều loại tiền khác nhau như: tiền
Đông Dương mang bản vị bạc, tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,… Trải qua nhiều biến
cố của lịch sử, đồng tiền mới được thống nhất trên phạm vi cả nước. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, với đơn vị tiền tệ là “đồng”, ký hiệu quốc gia (viết tắt) là “đ”. Hệ thống tiền tệ của
Việt Nam đang lưu hành hiện nay bao gồm 2 loại, tiền giấy và tiền kim loại.Tiền giấy có 12
mệnh giá: 500.000đ, 200.000đ, 100.000đ, 50.000đ, 20.000đ, 10.000đ, 5.000đ, 2.000đ,
1.000đ, 500đ, 200đ và 100đ.Tiền kim loại có 5 mệnh giá: 5.000đ, 2.000đ, 1.000đ, 500đ và
200đ. Tiền giấy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn áp dụng kỹ thuật hiện đại và công
nghệ mới trong việc sản xuất tiền giấy, nhằm nâng cao chất lượng in ấn cũng như tính bảo
an của đồng tiền Việt Nam. Do đó có những thời điểm, trong lưu thông có 2 đồng tiền cùng
mệnh giá (giá trị ngang nhau), nhưng khác nhau về mẫu thiết kế (hình thức) cùng song song
lưu hành.
Ngày 17 tháng 12 năm 2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung vào lưu
thông 2 đồng tiền mệnh giá 500.000đ và 50.000đ được in trên chất liệu giấy polymer.Ngày
01 tháng 9 năm 2004, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung loại tiền giấy
polymer mệnh giá 100.000đ. Ngày 17 tháng 5 năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
tiếp tục phát hành vào lưu thông đồng tiền polymer mệnh giá 20.000đ.Và ngày 30 tháng 8
năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa vào lưu thông 2 đồng tiền mệnh giá
200.000đ và 10.000đ in trên giấy polymer. Như vậy, hiện nay trong lưu thông, mệnh giá
100.000đ, 50.000đ, 20.000đ và 10.000đ có 2 mẫu thiết kế, in trên chất liệu giấy nền
polymer và cotton cùng song song lưu hành.
Việc phát hành tiền polymer đã có ảnh hưởng, tác động lớn đến nền kinh tế cũng như đời
sống của nhân dân Xuất phát từ một số đặc tính của tiền polymer trong bảo quản, sử dụng


như: dễ bị biến dạng khi tiếp xúc với nguồn nhiệt, dễ bị nhàu nếu bị vò, miết mạnh… đòi
hỏi phải được sử dụng, bảo quản một cách thích hợp. Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng,
những thói quen mới dần được hình thành, tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông giảm đáng kể
so với trước. Tại thành phố Hồ Chí Minh, sau hai năm phát hành tiền mới vào lưu thông, tỷ
trọng tiền polymer không đủ tiêu chuẩn lưu thông chỉ chiếm khoảng 0,02% tổng doanh số
thu tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước năm 2005 và 0,08% doanh thu tiền không đủ tiêu
chuẩn lưu thông. So sánh với tỷ trọng tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông năm 2003 là
12,9% so với doanh số thu tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước năm 2003. Ngoài ra chất
lượng tiền sau hai năm đi vào lưu thông vẫn đảm bảo độ sạch đẹp hơn so với tiền cotton
được lưu hành trong cùng thời gian. Đặc điểm này của tiền Polymer sẽ giúp giảm đáng kể
chi phí phát hành dù chi phí in tiền Polymer có cao hơn so với tiền trên nền giấy cotton. Ưu
thế nổi trội của những tờ tiền in trên chất liệu polymer là khả năng chống giả của nó. Tiền
giả là một vấn nạn hầu hết các quốc gia trên thế giới chứ không chỉ của riêng nước ta. Tuy
nhiên, trước khi tiền polymer được phát hành thì tiền giả ở nước ta là một vấn đề bức xúc,
diễn biến phức tạp với mức độ làm giả ngày càng tinh vi, gây thiệt hại không nhỏ đến lợi
ích người dân và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế của đất nước. Hiệu quả của những đồng
tiền polymer không dừng lại ở đó. Do giấy nền polymer có độ bền cơ học cao hơn hẳn so
với giấy nền trên chất liệu cotton, lại không thấm nước và có lớp vec-ni in phủ bảo vệ nên
tiền polymer bền, sạch , độ ẩm và độ nở sau khi sử dụng không cao như tiền cotton . Đây
cũng là đặc điểm quan trọng giúp cho tiền polymer có thể thích ứng tốt với việc sử dụng các
công nghệ hiện đại trong hoạt động ngân hàng. Với sự ra đời của tiền polymer chúng ta đã
có những bước đi thích hợp để việc ứng dụng các thiết bị hiện đại trong giao dịch tiền mặt
nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kiểm đếm, phân loại tiền cũng như giảm chi phí cho các
giao dịch tự động qua máy ATM. Qua đó cũng tiết giảm được chi phí vận chuyển tiền mặt
do giảm chi phí bảo an trong vận chuyển so với chi phí bảo an khi từng ngân hàng thực hiện
công tác vận chuyển riêng lẻ và nhất là có thể chuyển một khối lượng khá lớn hoạt động
kho quỹ thuộc trách nhiệm của Ngân hàng Nhà Nước sang lĩnh vực dịch vụ công để Ngân
hàng Nhà nước tập trung thực hiện vai trò quản lý nhà nước của Ngân hàng trung ương.
Đây cũng là xu hướng chung của hoạt động ngân quỹ phù hợp với xu thế phát triển của hệ
thống ngân hàng trong tiến trình hội nhập. Như vậy, có thể nói rằng mặt dù đồng tiền Việt

Nam trên nền giấy polymer có những yêu cầu riêng cần được đáp ứng khi bảo quản và sử
dụng nhưng so với những lợi ích mà chúng mang lại cho từng người dân sử dụng đồng tiền
cũng như cho toàn bộ nền kinh tế là rất rõ nét . Với những ưu thế đó, đồng tiền polymer
đang dần có được lòng tin của người dân, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình
sản xuất, lưu thông hàng hoá và từng bước tham gia vào quá trình hiện đại hoá ngành ngân
hàng Tiền kim loại Ngày 17 tháng 12 năm 2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát
hành tiền kim loại vào lưu thông với 3 mệnh giá: 5.000đ, 1.000đ và 200đ. Ngày 01 tháng 4
năm 2004 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành thêm 2 mệnh giá: 2.000đ và 500đ.
Việc phát hành trở lại tiền kim loại không chỉ đánh dấu sự ổn định về mặt giá trị của đồng
tiền Việt Nam trong thời gian qua mà còn là bước đi nhằm hoàn thiện hệ thống tiền tệ Việt
Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế, tiết giảm chi phí phát hành đối với đồng tiền có mệnh
giá nhỏ. Không như tiền polymer công tác phát hành chỉ gặp khó khăn trong một thời gian
ngắn ở giai đoạn đầu. Những nguyên nhân được đưa ra để từ chối sử dụng tiền kim loại như
: tiền kim loại nặng, dễ rơi mất, khó bảo quản hơn tiền cotton cùng mệnh giá; nhiều trường
hợp trẻ nhỏ gặp sự cố đáng tiếc do nuốt phải tiền kim loại… Tuy đây không phải là lần đầu
tiên tiền kim loại xuất hiện trong lưu thông ở nước ta nhưng sự vắng mặt quá lâu của nó đã
làm người dân mất đi thói quen sử dụng trong khi việc hình thành một thói quen mới luôn
cần có thời gian. Mặc dù có những hạn chế về mặt tâm lý người sử dụng gây khó khăn
không nhỏ cho công tác phát hành tiền kim loại hiện nay, song tiền kim loại cũng có rất
nhiều ưu thế như: sạch hơn, bền hơn và do vậy tiết kiệm được nhiều chi phí phát hành hơn
so với tiền cotton. Ngoài ra tiền kim loại cũng phù hợp với việc sử dụng các máy bán hàng
tự động là loại hình dịch vụ thuận tiện đã và đang trở thành một kênh bán hàng hiệu quả
trong hệ thống bán lẻ trên thế giới. Như vậy so với một số hạn chế trong sử dụng tiền kim
loại như đã nêu thì những lợi ích mà tiền kim loại mang đến lớn hơn rất nhiều. Đây cũng là
lý do ngày nay tiền kim loại vẫn được sử dụng rộng khắp trên thế giới ngay cả ở những
nước phát triển hiện đại. Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng chủ trương phát hành tiền
kim loại vào lưu thông là một chủ trương đúng đắn, đem lại nhiều hiệu quả thiết thực về
mặt vĩ mô trong đó quan trọng nhất là tạo ra điều kiện tiền đề để tiến hành tự động hoá các
dịch vụ công cộng_ một nội dung không thể thiếu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.

Tóm lại: dù có những khó khăn bước đầu trong công tác phát hành, nhưng thực sự chủ
trương phát hành tiền polymer và tiền kim loại là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với
xu thế phát triển của đất nước. Với những ưu thế vốn có của mình, những đồng tiền trên
chất liệu mới chắc chắn sẽ dần khẳng định vị trí của mình trong đời sống người dân, đánh
dấu sự chuyển mình của đồng tiền Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Chương 2. Tổng quan về hệ thống tài chính
Chính sách tài chính ở VN hiện nay: đóng vai trò cực kỳ quan trọng góp phần thực hiện
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ
sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh đi đôi
với thực hiện công bằng xã hội. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: "Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính và tiền tệ,
bảo đảm tính ổn định và sự phát triển bền vững của nền tài chính quốc gia". Chính sách tài
chính quốc gia trong thời gian tới hướng vào những vấn đề sau đây:
a) Xây dựng và phát triển nền tài chính nhiều thành phần
Trước hết, cần cải tiến hệ thống thu - chi ngân sách nhà nước trên nguyên tắc thu đúng, thu
đủ, chi tiết kiệm, hợp lý, ưu tiên cho đầu tư phát triển phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá; phân cấp hợp lý giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương, giữa các ngành,
các cấp Việc xây dựng và củng cố ngân sách nhà nước phải đảm bảo cho Nhà nước đủ sức
mạnh để điều tiết kinh tế và hướng nền kinh tế phát triển theo kế hoạch và định hướng đã
định. Bên cạnh ngân sách nhà nước, phải đặc biệt coi trọng tài chính doanh nghiệp với tư
cách là nền tảng của nền tài chính quốc gia, là động lực của sự tăng trưởng kinh tế. Phát
triển tài chính doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Đặc biệt chú ý xây dựng và làm
lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp nhà nước, thực hiện chế độ tự chủ tài chính, thống
nhất chế độ thu - chi và phân phối tài chính trong các doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác
xã. Từng bước hướng các doanh nghiệp tư nhân thực hiện chế độ tài chính phù hợp với các
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa.
Chính sách tài chính cũng phải hướng tới bộ phận tài chính dân cư, coi đây là một trong
những nguồn cung cấp tài chính không nhỏ cho nền kinh tế. Từ đó, hướng dẫn họ thực hiện
nguyên tắc chi tiêu tiết kiệm, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tiêu dùng và tích luỹ.

b) Tạo điều kiện hình thành và phát triển thị trường tài chính
Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tài chính là
khâu trung gian gắn các khâu tài chính với nhau, có tác dụng thúc đẩy quá trình giao lưu các
nguồn lực tài chính, tăng cường sự vận động của giá trị trong nền kinh tế. Nhà nước cần hết
sức tạo điều kiện để thị trường tài chính hình thành và phát triển. Cùng với sự phát triển
kinh tế thị trường, từng bước hình thành thị trường chứng khoán, nhân tố quan trọng thu hút
vốn của xã hội và năng động hoá hoạt động đầu tư của nền kinh tế.
c) Xây dựng hệ thống thông tin, phân tích, kiểm tra, kiểm soát tài chính
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các hoạt động tài chính trong xã hội ngày
càng trở nên phức tạp. Tài chính là một lĩnh vực rất nhạy cảm, nếu không có đối sách hợp lý
và giải quyết kịp thời các vấn đề về tài chính nảy sinh thì hậu quả sẽ rất nặng nề, thậm chí
có thể gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế. Thực tế cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
cuối năm 1997 vừa qua ở châu á đã chứng tỏ điều đó. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống mạng
lưới thông tin tài chính nhanh nhạy, tăng cường khả năng phân tích, kiểm tra, kiểm soát tài
chính là nhu cầu khách quan và có tầm quan trọng đặc biệt của chính sách tài chính quốc
gia.
d) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp về tài chính
Với đà phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các quan hệ tài
chính nước ta ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, vì vậy xây dựng, cải tiến và hoàn
thiện luật pháp về tài chính là một nội dung lớn của chính sách tài chính. Trong thời kỳ quá
độ, luật pháp về tài chính phải tập trung vào các mục tiêu:
+ Xử lý tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, khai thác tối đa các nguồn lực tài chính
cho đầu tư phát triển phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Phát triển dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn tài chính bên ngoài.
+ Nâng cao sức cạnh tranh và tính hiệu quả của nền kinh tế, tạo điều kiện cho chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
đ) Kiện toàn bộ máy quản lý tài chính
Vai trò của tài chính cao hay thấp là nhờ yếu tố chủ thể mà trước hết là bộ máy quản lý tài
chính. Trong thời kỳ quá độ, bộ máy quản lý tài chính cần được cải tiến và tổ chức cho
thích ứng với từng thời kỳ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ máy

quản lý phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực tài
chính theo hướng: kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; cải tiến, kiện toàn hệ
thống tổ chức bộ máy quản lý tài chính từ trung ương đến địa phương, từ quản lý tài chính
doanh nghiệp đến các bộ phận quản lý tài chính dân cư và các tổ chức xã hội.
Các mặt trên đây của chính sách tài chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và cần
được thực hiện trong suốt thời kỳ quá độ, thích ứng với từng giai đoạn.
Chương 3. Ngân sách Nhà nước
1.Cân đối ngân sách của nước ta hiện nay
Quyết toán NSNN năm 2005: tổng thu cân đối ngân sách 283. 847 tỉ đồng, tổng chi cân
đối ngân sách 313. 479 tỉ đồng. Số bội chi NSNN là 40. 746 tỉ đồng.
Quyết toán NSNN năm 2006: tổng thu cân đối NSNN là 350. 843 tỷ đồng; Tổng chi
cân đối NSNN là 385. 666 tỷ đồng; Số bội chi NSNN là 48. 613 tỷ đồng, bằng 5% GDP.
Năm 2007: Theo Bộ Tài chính, tổng thu NSNN ước đạt 287. 900 tỉ đồng, vượt dự toán
cả năm (dự toán 281. 900 tỉ đồng) và tăng 11,6% so với năm 2006. Các khoản thu có tỷ
trọng lớn đều đạt mức khá. Một số khoản thu đạt khá so với dự toán, trong đó: thuế công
thương nghiệp ngoài quốc doanh; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 100,8%;
thu từ nhà và đất đạt 117,6% dự toán Tổng số chi NSNN cả năm 2007 ước đạt dự toán
năm. Bội chi ngân sách cả năm ước đạt 5% GDP.
Năm 2008: Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu NSNN ước tính tăng 26,3% so
với năm 2007 và bằng 123,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa bằng 110,9%; thu từ dầu
thô bằng 143,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 141,1%. Tổng
chi NSNN ước tính tăng 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9% dự toán năm, trong đó chi
đầu tư phát triển bằng 118,3% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 114,7…
Giai đoạn từ năm 2001-2007 NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng thu
hằng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình quân hằng năm đạt 18,5%.
* Vấn đề phân định nhiệm vụ chi, thu NSNN
Theo luật NSNN năm 2002, nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp được phõn định
theo nguyên tắc: ngõn sách trung ương (NSTƯ) giữ các nguồn thu quan trọng, đảm nhận
những nhiệm vụ chi chủ yếu; theo thời gian, ngân sách địa phương (NSĐP) được mở rộng
quyền tự chủ trong khai thác các nguồn thu tại chỗđể thực hiện các khoản chi quản lý hành

chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ cho sựphát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thực tế trong 8 năm từ 2001 đến năm 2008, tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao, ở
mức 17-18%/ năm. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát
hằng năm (năm 2001: 0,2%; năm 2002: 1,6%; năm 2003: 9,7%; năm 2004: 8,1%; năm
2005: 9,0%; năm 2006: 11,1%; năm 2007: 7,8%).
Trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã kiểm soát bội chi NSNN từ hai nguồn
là vay nước ngoài và vay trong nước nên sức ép tăng tiền cung ứng thêm ra thị trường là
không có, nhưng sức ép tăng chi tiêu của Chính phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu
tư là tăng lên.

*Chi tiêu công ở Việt Nam hiện nay
Ngân sách thâm hụt trầm trọng
Với bức tranh tài khóa tổng thể hiện nay, Việt Nam hiện chưa cân đối được thu chi ngân
sách. Thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục trong khoảng hơn một thập kỷ qua với mức độ kể
từ năm 2008 cao hơn so với những năm trước đó khi Việt Nam theo đuổi các chính sách mở
rộng tài khóa nhằm tránh suy giảm kinh tế.
Cụ thể, thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong
giai đoạn 2003-2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng gần gấp đôi lên 2,4% GDP
theo thống kê của Bộ Tài chính và tăng gần gấp ba lần lên 3,8% GDP theo thống kê của
IMF trong giai đoạn 2008-2012.
Nửa đầu 2013, mặc dù nguồn thu ngân sách từ dầu thô tăng đáng kể nhờ sự lên giá của giá
dầu trên thế giới, nhưng do hoạt động kinh tế trong nước tăng chậm đã khiến tình trạng
thâm hụt ngân sách của Việt Nam trở nên trầm trọng hơn, lên tới 6,1% GDP bao gồm chi trả
nợ gốc và 4,1% GDP chưa bao gồm chi trả nợ gốc.
Tổng thu/GDP của Việt Nam trong hai năm gần đây liên tục giảm, theo thống kê của IMF,
đã giảm từ 28,6% trung bình trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn 27,7% trong năm 2011
và 25,5% trong năm 2012. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, sự giảm thu này là do suy thoái
kinh tế chứ không phải do chủ định thay đổi định hướng tài khóa của Chính phủ.
Trong cơ cấu nguồn thu NSNN của Việt Nam có nhiều khoản thu không bền vững theo
nghĩa chúng phụ thuộc vào bên ngoài hoặc có nguy cơ cạn kiệt dần theo thời gian.

Cụ thể, thu từ viện trợ không hoàn lại đã giảm 0,61% GDP trung bình trong giai đoạn 2006-
2010 xuống còn 0,31% GDP trung bình kể từ năm 2011 đến hết tháng 6/2013. Bên cạnh đó,
thu từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất cũng có xu hướng ngày
càng giảm dần, từ 2,35% GDP xuống chỉ còn 1,53% GDP trong cùng giai đoạn trên khi các
tài sản loại này thuộc sở hữu nhà nước đang dần cạn.
Tương tự, thu từ khai thác dầu thô và các tài nguyên khác cũng có bản chất giống các khoản
thu từ việc bán các tài sản quốc gia. "Việc đưa những khoản thu này vào tính toán cán cân
ngân sách có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của thực trạng bội chi từ những con số báo
cáo, nhưng không che giấu được những rủi ro tiềm ẩn đối với an toàn ngân sách khi nguồn
tài nguyên thiên nhiên này là hữu hạn và phụ thuộc quá nhiều vào giá cả thể giới.
Nếu loại trừ các khoản thu có tính chất này, thâm hụt ngân sách không gồm chi trả nợ gốc
của Việt Nam sẽ là 9,1% GDP trong giai đoạn 2006-2010 và 8,3% GDP trong giai đoạn từ
2011 đến tháng 6/2013.
Rõ ràng, tình trạng bội chi ngân sách là nghiêm trọng ngay cả khi Việt Nam hiện đang có tỉ
lệ thu/GDP cao hơn so với các nước khác trong khu vực (cao hơn 1,2 lần Trung Quốc và
Thái Lan; 1,5 lần của Ấn Độ, Indonesia, Philippines và 1,7 lần của Campuchia).
Thâm hụt ngân sách vì chi quá nhiều
Lý giải về nguyên nhân của tình trạng thâm hụt cao kéo dài trong nhiều năm qua: tổng chi
NSNN quá cao chứ không phải do tổng thu thấp.
Dẫn thống kê của IMF, tổng chi Chính phủ của Việt Nam ổn định ở mức xấp xỉ 3,1% GDP
kể từ năm 2006 đến nay, cao gấp 1,4 lần của Trung Quốc và Thái Lan, 1,6 lần của Indonesia
và Philippines và 1,8 lần Campuchia.
Ngoài ra, Việt Nam hiện có những cách hạch toán chưa theo thông lệ quốc tế: Nhiều khoản
chi ngân sách từ nguồn trái phiếu Chính phủ cho các dự án giáo dục, thủy lợi, y tế được
để ngoại bảng, không tính vào chi tiêu NSNN.
Thời gian qua, vốn đầu tư của Nhà nước đã tập trung cho đầu tư phát triển các hệ thống kết
cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đã ở mức cao trong GDP,
khoảng hơn 10%. Trong đó, đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước chiếm ¾ tổng đầu tư cơ sở
hạ tầng. Điều này đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra sự tăng trưởng cao và ổn định về
kinh tế trong nhiều năm qua; tạo ra những yếu tố và năng lực sản xuất, dịch vụ to lớn của

một số ngành quan trọng (hệ thống giao thông đường bộ quốc gia; hệ thống cảng biển, cảng
hàng không quốc gia; hệ thống giao thông và viễn thông nông thôn; một số cơ sở đào tạo,
nghiên cứu khoa học và công nghệ quan trọng của quốc gia); duy trì và phát triển hệ thống
các cơ sở khám chữa bệnh từ Trung ương đến địa phương, bước đầu đáp ứng được một
phần nhu cầu cơ bản của xã hội; tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh chóng từ 15,5% năm 2006
xuống chỉ còn 9,45% năm 2010.
Tuy nhiên, hệ số ICOR (hệ số hiệu quả đầu tư theo hiệu suất vốn – sản lượng) tính theo tích
lũy tài sản gộp của Việt Nam đã tăng gấp đôi (từ mức 2,73 trong các năm 1990-1995 lên
đến 5,4 trong các năm 2006-2010). Điều này cho thấy hiệu suất đầu tư chưa cao, còn thất
thoát, lãng phí, không tạo ra năng lực sản xuất. Mức chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam
trong những năm gần đây lên mức khá cao, trên 30% giai đoạn 2005-2010, trong khi các
nước ở cùng mức độ phát triển trong khu vực (Indonesia, Philippin, Thái Lan), chỉ có ở mức
trên dưới 20% GDP. Tình trạng các dự án đầu tư chậm tiến độ vẫn còn phổ biến. Còn không
ít dự án đầu tư có hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu phát
triển kinh tế và xã hội, cá biệt có những dự án, nội dung đầu tư trùng lắp, chồng chéo, gây
cản trở hoặc làm mất hiệu quả của các dự án đã được đầu tư trước đó.
Một số Bộ, ngành, địa phương trong một số dự án cụ thể đã không chấp hành nghiêm các
quy định về quản lý đầu tư sử dụng vốn nhà nước, dẫn đến tình trạng phân bổ vốn đầu tư
dàn trải, nợ đọng, kéo dài tiến độ thực hiện, gây lãng phí, thất thoát trong đầu tư. Một số các
dự án đầu tư vi phạm quy định pháp luật về đầu tư. Kết quả thanh tra, kiểm tra cho thấy các
công trình, dự án đều có sai phạm trong khâu lập thủ tục đầu tư, thiết kế, đấu thầu, sử dụng
vốn có đầu tư sai mục đích, nghiệm thu, thanh toán khống, quyết toán sai so với khối lượng
thực tế đã thi công, đơn giá, định mức… gây thất thoát, lãng phí.
Sự thiếu nhất quán trong cách hạch toán tài khóa khiến cho các con số thống kê không
phản ánh chính xác về thực trạng chi tiêu NSNN của Việt Nam, gây khó khăn cho việc kiểm
chứng thông tin cho những người tham gia thị trường. Đồng thời cũng khiến cho việc so
sánh quốc tế, đánh giá và quản lý tài khóa và rủi ro nợ công của Việt Nam gặp khó khăn.
Có một vấn đề đáng lo ngại là trong cơ cấu nguồn chi, trong khi chi cho đầu tư phát triển có
xu hướng giảm từ 9,3% GDP trung bình trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn 6,7% GDP
trong giai đoạn 2011-6/2013 thi chi thường xuyên lại có xu hướng gia tăng từ 19,7% GDP

lên tới 21,4% trong cùng giai đoạn này. Qua đó cho thấy, các nỗ lực cắt giảm chi tiêu công
chủ yếu lại nằm vào phần chi cho đầu tư phát triển trong khi nhẽ ra phần phải cắt giảm
mạnh là chi thường xuyên lại tăng.
Do thâm hụt ngân sách kéo dài và nợ công tăng nhanh trong những năm gần đây nên nghĩa
vụ chi trả nợ gốc và lãi cũng đang ngày càng nặng hơn. Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy,
trong hai năm 2011-2012 mỗi năm Việt Nam phải trả hơn 100.000 tỷ đồng nợ gốc và lãi,
bằng hơn 50% chi đầu tư phát triển mỗi năm từ NSNN.
2.Tình hình thu hút vốn ODA của Việt Nam giai đoạn 1993-2012
Hiện có khoảng 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung cấp nguồn
ODA và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội của Việt Nam.
Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm 1993 đến 2012 đạt trên
58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ
USD và chiếm khoảng 88,4%, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD và chiếm khoảng
11,6%.
Trong hai thập kỷ qua, tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếm trên
66,92% tổng vốn ODA ký kết.
Theo số liệu thống kê, tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA tăng dần từ 80% trong
thời kỳ 1993-2000 lên 93% thời kỳ 2006-2010 và gần đây đã ở mức 95,7% trong hai năm
2011-2012.
Có thể thấy mức giải ngân vốn ODA đã có tiến bộ qua các năm song chưa tương xứng với
mức cam kết.
Riêng 2 năm trở lại đây, nhờ quyết tâm cao của Chính phủ, nỗ lực của các ngành, các cấp và
nhà tài trợ, giải ngân của một số nhà tài trợ quy mô lớn (Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới -
WB) đã có tiến bộ vượt bậc. Tỷ lệ giải ngân vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam năm 2011
đứng thứ nhì và năm 2012 đứng thứ nhất thế giới, tỷ lệ giải ngân của WB tại Việt Nam tăng
từ 13% năm 2011 lên 19% năm 2012.
Lĩnh vực giao thông vận tải và bưu chính viễn thông được ưu tiên tiếp nhận và sử dụng
nguồn vốn ODA lớn nhất trong tổng số 7 lĩnh vực khoảng 16,47 tỷ USD, trong đó 15,9 tỷ
USD là ODA vốn vay.
Trong thời kỳ 1993-2012, ngành giao thông vận tải đã hoàn thành và đang thực hiện 132 dự

án, trong đó đã hoàn thành 83 dự án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thực hiện 49 dự án
với số vốn ODA khoảng 12 tỷ USD.
Ngành năng lượng và công nghiệp có tổng vốn ODA được ký kết trong thời kỳ 1993-2012
đạt khoảng 10 tỷ USD, trong đó viện trợ không hoàn lại không đáng kể, khoảng 0,1%. Tổng
số nhà tài trợ là 32, trong đó có 26 nhà tài trợ song phương và 6 nhà tài trợ đa phương.
Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo nhận được
nguồn vốn ODA đứng thứ ba với tổng trị giá ký kết khoảng 8,85 tỷ USD (ODA vốn vay:
7,43 tỷ USD, ODA viện trợ không hoàn lại: 1,42 tỷ USD).
Hiện vẫn tồn tại tình trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA không đồng đều giữa các
tỉnh trên địa bàn các vùng trong cả nước trong đó vùng đồng bằng sông Hồng tiếp nhận
nguồn vốn ODA lớn nhất với 10,42 tỷ USD và vùng Tây Nguyên tiếp nhận nguồn vốn ODA
thấp nhất với 1,36 tỷ USD.
Chính phủ Việt Nam có chính sách sử dụng ODA để hỗ trợ các ngành, lĩnh vực và địa
phương ưu tiên, nhất là đối với những địa bàn có nhiều khó khăn trong từng thời kỳ phát
triển.
Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012 với
khoảng 19,81 tỷ USD. Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ ba với 2,33
tỷ USD.
WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷ USD. Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB) đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA cam kết.
Chương 4. Tài chính doanh nghiệp
Chương 5. Thị trường tài chính
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính:
3.2.1 Về thị trường vốn:
-Phát triển thị trường vốn đa dạng để đáp ứng nhu cầu huy động vốn và đầu tư của mọi đối
tượng trong nền kinh tế, phấn đấu đến năm 2010 giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán đạt
50% GDP và đến năm 2020 đạt 70% GDP, đó là một trong những mục tiêu cụ thể mà Thủ
tướng Chính phủ đề ra tại Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về việc phê
duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
a) Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các loại hàng hoá để đáp ứng nhu

cầu của thị trường:
-Mở rộng quy mô và đa dạng hoá các loại trái phiếu, các phương thức phát hành trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn;
phát triển các loại trái phiếu chuyển đổi của doanh nghiệp, trái phiếu công trình để đầu tư
vào các dự án hạ tầng trọng điểm của quốc gia;
-Đẩy mạnh chương trình cổ phần hoá các doanh nghiệp, tổng công ty nhà nước, tập đoàn
kinh tế và các ngân hàng thương mại nhà nước, gắn việc cổ phần hoá với niêm yết trên thị
trường chứng khoán; mở rộng việc phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn trên thị trường.
Đối với những doanh nghiệp đã cổ phần hoá đủ điều kiện phải thực hiện việc niêm yết;
đồng thời tiến hành rà soát, thực hiện việc bán tiếp phần vốn của Nhà nước tại các doanh
nghiệp nhà nước không cần giữ cổ phần chi phối hoặc không cần nắm giữ cổ phần. Chuyển
đổi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hình thức công ty cổ phần và niêm yết,
giao dịch trên thị trường chứng khoán;
-Phát triển các loại chứng khoán phái sinh như: quyền chọn mua, quyền chọn bán chứng
khoán; hợp đồng tương lai; hợp đồng kỳ hạn; các sản phẩm liên kết (chứng khoán - bảo
hiểm, chứng khoán - tín dụng, tiết kiệm - chứng khoán ); các sản phẩm từ chứng khoán
hoá tài sản và các khoản nợ
b) Từng bước hoàn chỉnh cấu trúc của thị trường vốn đảm bảo khả năng quản lý, giám sát
của Nhà nước:
-Tách thị trường trái phiếu ra khỏi thị trường cổ phiếu để hình thành thị trường trái phiếu
chuyên biệt. Từng bước nghiên cứu hình thành và phát triển thị trường giao dịch tương lai
cho các công cụ phái sinh, thị trường chứng khoán hoá các khoản cho vay trung, dài hạn
của ngân hàng…;
-Phát triển thị trường cổ phiếu theo nhiều cấp độ để đáp ứng nhu cầu phát hành cổ phiếu,
niêm yết, giao dịch của nhiều loại hình doanh nghiệp và đảm bảo khả năng quản lý, giám
sát của Nhà nước theo hướng tách biệt thị trường giao dịch tập trung, thị trường giao dịch
phi tập trung (OTC), thị trường đăng ký phát hành, giao dịch cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ;
-Chuyển Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành Sở Giao dịch chứng khoán hoạt động
theo mô hình công ty theo tinh thần của Luật Chứng khoán. Sở Giao dịch chứng khoán,

Trung tâm Giao dịch chứng khoán thực hiện chức năng tổ chức và giám sát giao dịch chứng
khoán tập trung. Nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật của thị trường, đảm bảo khả năng liên
kết với thị trường các nước trong khu vực;
-Tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC) theo hướng có quản lý
thông qua các giải pháp: thực hiện đăng ký, lưu ký tập trung đối với các công ty cổ phần đủ
điều kiện theo quy định của Luật Chứng khoán; nghiên cứu cơ chế giao dịch đối với các
chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết theo mô hình thoả thuận thông qua các công ty
chứng khoán; các giao dịch chứng khoán tập trung thanh toán và chuyển giao thông qua
Trung tâm Lưu ký chứng khoán; đồng thời, thiết lập cơ chế giám sát của thị trường giao
dịch chứng khoán trong việc công bố thông tin để tăng cường tính công khai, minh bạch
trên thị trường, đảm bảo sự quản lý, giám sát của Nhà nước đối với các giao dịch chứng
khoán, thu hẹp hoạt động trên thị trường tự do.
c) Phát triển các định chế trung gian và dịch vụ thị trường:
-Tăng số lượng hợp lý, nâng cao chất lượng hoạt động và năng lực tài chính cho các công ty
chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, Đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ cung cấp trên thị trường, nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng các dịch
vụ; đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng trên thị trường;
-Mở rộng phạm vi hoạt động Trung tâm Lưu ký chứng khoán, áp dụng các chuẩn mực lưu
ký quốc tế, thực hiện liên kết giao dịch thanh toán giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ;
-Từng bước hình thành thị trường định mức tín nhiệm ở Việt Nam. Cho phép thành lập các
tổ chức định mức tín nhiệm đủ điều kiện tại Việt Nam và cho phép một số tổ chức định mức
tín nhiệm có uy tín của nước ngoài thực hiện hoạt động định mức tín nhiệm ở Việt Nam.
d) Phát triển hệ thống nhà đầu tư trong và ngoài nước: -Khuyến khích các định chế đầu
tư chuyên nghiệp (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm…) tham gia đầu tư trên thị trường
theo quy định của pháp luật. Thực hiện lộ trình mở cửa đối với các nhà đầu tư chuyên
nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam theo lộ trình đã cam kết; -Đa dạng hoá các
loại hình quỹ đầu tư; tạo điều kiện cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tiết kiệm bưu điện,
… tham gia đầu tư trên thị trường vốn; từng bước phát triển, đa dạng hoá các quỹ hưu trí để
thu hút các vốn dân cư tham gia đầu tư; khuyến khích việc thành lập các quỹ đầu tư ở nước
ngoài đầu tư dài hạn vào thị trường Việt Nam.

đ) Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước:
-Hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ đáp ứng được yêu cầu quản
lý, giám sát và hội nhập với thị trường vốn của khu vực và quốc tế;
-Bổ sung các chế tài xử lý nghiêm minh về dân sự, hình sự để phòng ngừa và xử lý các
hành vi vi phạm trong hoạt động trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán;
-Nghiên cứu hoàn chỉnh các chính sách về thuế, phí, lệ phí đối với hoạt động chứng khoán,
khuyến khích đầu tư dài hạn, hạn chế đầu tư ngắn hạn; điều tiết lợi nhuận thu được do kinh
doanh chứng khoán, đồng thời thông qua thuế, phí, lệ phí góp phần giám sát hoạt động của
thị trường chứng khoán và từng đối tượng, thành viên tham gia thị trường (bao gồm cả các
nhà đầu tư trong và ngoài nước);
-Áp dụng các tiêu chuẩn giám sát thị trường theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh việc thanh tra,
kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các thành viên tham gia thị trường; kiểm tra,
giám sát hàng hoá đưa ra thị trường, đảm bảo tính công khai, minh bạch; tăng cường năng
lực giám sát, cưỡng chế thực thi của cơ quan giám sát thị trường;
-Củng cố bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường vốn;
từng bước tách bạch chức năng quản lý với chức năng giám sát các hoạt động của thị
trường; sớm nghiên cứu thành lập Cơ quan giám sát tài chính quốc gia, giúp Thủ tướng
Chính phủ điều phối chính sách và công cụ cảnh báo, điều hành, giám sát hoạt động tài
chính tiền tệ ở tầm vĩ mô.
e) Chủ động mở cửa, hội nhập với khu vực và quốc tế:
-Thực hiện mở cửa từng bước thị trường vốn cho nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình hội
nhập đã cam kết, đồng thời đảm bảo kiểm soát được luồng vốn vào, vốn ra; mở rộng hoạt
động hợp tác quốc tế trên các mặt tư vấn chính sách, tư vấn pháp luật và phát triển thị
trường;
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho thị trường vốn; tăng cường phổ
cập kiến thức về thị trường vốn, thị trường chứng khoán cho công chúng, doanh nghiệp và
các tổ chức kinh tế.
g) Đảm bảo an ninh tài chính quốc gia: thực hiện tốt việc giám sát các giao dịch vốn; áp
dụng các biện pháp kiểm soát luồng vốn chặt chẽ; trong những trường hợp cần thiết để giảm
áp lực đối với tỷ giá, ngăn ngừa nguy cơ biến dạng và khủng hoảng trên thị trường, cần có

những giải pháp xử lý thích hợp. Các giải pháp này được thể hiện trong văn bản quy phạm
pháp luật và công bố cho nhà đầu tư được biết và chỉ áp dụng khi có những nguy cơ ảnh
hưởng đến an ninh của hệ thống tài chính. Thực hiện cơ chế giám sát đặc biệt với các định
chế trung gian yếu kém để giảm thiểu tác động tiêu cực có tính chất dây chuyền trong toàn
hệ thống.
3.2.2 Thị trường tiền tệ:
-Văn kiện đại hội X của Đảng đã nêu rỏ quan điểm về việc việc xây dưng nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó các quan điểm về việc
xây dựng hệ thống ngân hàng Việt Nam vững mạnh được khẳng định mạnh mẽ. Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2000-2010 đã nêu rõ định hướng điều hành thị trường tiền tệ
trong thời gian tới là: “ thực thi chính sách tiền tệ bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát
lạm phát, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển. Sử dụng linh hoạt, có
hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ như tỷ giá, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở theo
nguyên tắc của thị trường. Nâng dần và tiến tới thực hiện đầy đủ tính chuyển đổi của đồng
tiền Việt Nam”.
-Từng bước đổi mới một cách căn bản, đồng bộ việc xây dựng và điều hành chính sách tiền
tệ phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó đảm bảo mức gia tăng huy động vốn luôn đáp ứng
mức gia tăng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đến năm 2010 nền kinh tế Việt Nam là
nền kinh tế được tiền tệ hóa và các nguồn vốn được thương mại hóa.(chiến lươc tiền tệ-
ngân hàng giai đoạn 2000-2010).
-Hình thành đồng bộ, thị trường tiền tệ, tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam,
phát triển thị trường tiền tệ với các hình thức đa dạng thích hợp, bao gồm hệ thống ngân
hàng, thể chế tài chính phi ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư… và bảo lãnh đầu
tư nhằm thu hút các nguồn vốn trong xã hội, mở rộng nguồn vốn dài hạn và trung hạn.
-Ngân hàng Nhà nước sẽ nhanh chóng thực hiện các chính sách điều hành tiền tệ để có biện
pháp thích hợp kiểm soát được mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và mức huy
động tín dụng; thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền
trong lưu thông ở mức hợp lý; giữ bình ổn tỷ giá hối đoái, các lãi suất chủ đạo của đồng tiền
Việt Nam, không để xảy ra những đột biến trên thị trường tiền tệ.
-Hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối nhằm giám sát và quản lý chặt chẽ các giao dịch

*Thực trạng hoạt động của thị trường tài chính nước ta trong thời gian qua
1 Thực trạng hoạt động thị trường tài chính ở nước ta:
1.1Thị trường tiền tệ: -Trước khi hình thành hệ thống 2 cấp(trước năm 1990):
Lúc đó, ở nước ta chưa hình thành thị trường liên ngân hàng, trong giai đoạn
này chỉ có duy nhất ngân hàng nhà nước Việt Nam vừa thực hiện chức năng
kinh doanh vừa quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng. Đặc
điểm nổi bật tín dụng trong thời kì này là: cho vay theo kế hoạch tập trung,
không căn cứ vào nhu cầu nguồn vốn, không quan hệ vay mượn vốn giữa các
ngân hàng, mà chỉ có quan hệ chuyển vốn trong hệ thống. Hậu quả tất yếu là
lạm phát cao trong thời kì này ( do phát hành quá nhiều để cung ứng tín dụng
cho nền kinh tế).
-Vì vậy, sự ra đời hai pháp lệnh ngân hàng ( 5-1990) đã đánh dấu sự ra đời của
hệ thống ngân hàng hai cấp với việc hình thành các ngân hàng thương mại của
nhiều thành phần kinh tế như: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng
hợp tác với nước ngoài và Thị trường liên ngân hàng Việt Nam ra đời theo chỉ
thị số 07/ CT-NH1 ngày 7-10-1992 của Thống đốc Ngân hàng
-Từ năm 1992-1998 để thúc đẩy việc giao dịch trên thị trường liên ngân hàng
được thuận lợi, Thống đốc ngân hàng đã lần lượt ra các chỉ thị cho phép các tổ
chức tín dụng thực hiện việc cho vay và đi vay lẫn nhau (07/CT-NH1) nhưng vì
chỉ thị này bộc lộ một số nhược điểm như chỉ đề cập tới một mặt của thị trường
liên ngân hàng ( chỉ thị quy định vốn cho vay được bảo đảm bằng hình thức thế
chấp hoặc cầm cố, việc quy định như vậy làm hạn chế hoạt động của thị trường
liên ngân hàng). Để thúc đẩy giao dịch trên thị trường liên ngân hàng 21-6-1993,
Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quy chế tổ chức hoạt động của thị
trường liên ngân hàng kèm theo Quyết định số 114/QD-NH14. Mục đích của
quy chế này tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hiểu nhau hơn. Theo đó thì
hàng tuần các tổ chức tín dụng là thành viên của thị trường liên ngân hàng do
Ngân hàng nhà nước tổ chức cùng gặp nhau tại ngân hàng Nhà nước, để đưa ra
nhu cầu vay và cho vay của mình trên thị trường, từ đó hình thành nên lãi suất
giao dịch và khối lượng giao dịch. Bảng số liệu giao dịch qua trung tâm thị

trường liên ngân hàng (1993-1996) 1993 1994 1995 1996 VND USD VND
USD VND USD VND USD Doanh số 61,9 1,5 80,3 10,5 45,5 24 3,5 Trong đó
NHNN bảo lãnh 1,5 80,3 10,5 45,5 24 3,5 Lãi suất bình quân 1,63%/ tháng
5,5%/ tháng 1,77%/ tháng 6,0%/ năm 2,1%/ tháng 8%/ năm 7,2%/ năm [3, trang
198]
-Ngoài việc là trung tâm giao dịch thì Ngân hàng nhà nước còn đóng vai trò là
người cho vay cuối cùng, thực hiện cho vay trực tiếp các thành viên tại trung
tâm thị trường. Bảng số liệu vay vốn giữa các ngân hàng trên thị trường nội tệ
liên ngân hàng (1993-1996). Hoạt động 1993 1994 1995 1996 Vay Ngân hàng
nhà nước 61,9 80,3 45,5 Các NHTM vay lẫn nhau 17 14 15 NHNN bão lãnh 2,0
12 15 NHNN cho vay 44,9 66,3 30,5 Vay mượn trực tiếp lẫn nhau 10.000 9.500
[3,trang 199]
-Hiện nay, tham gia là thành viên của các dạng thị trường tiền tệ có 5 Ngân hàng
thương mại Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, 36 Ngân hàng thương mại
cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Qũy tín
dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, một số công ty bảo hiểm và tái bảo
hiểm, Quỹ đầu tư Tuy nhiên tham gia là thành viên của thị trường liên ngân
hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước, thị trường mở thì không
phải tất cả các tổ chức trên, hầu như chỉ có các NHTM NN, NHTM cổ phần đô
thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, một số công ty bảo
hiểm
-Về cơ chế tác động và can thiệp trên thị trường tiền tệ, được thể hiện tập trung
ở các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương.
Theo đó, dần dần phù hợp với thông lệ quốc tế, từ tháng 6-2002, Ngân hàng
Nhà nước chuyển sang thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản trước đó.
Hàng tháng Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản, vẫn quy định lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; cùng với lãi suất nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ
Swap, lãi suất thị trường mở, lãi suất thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà
nước tác động vào lãi suất thị trường, lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay
của các Tổ chức tín dụng.

-Tác động vào lãi suất còn có công cụ dự trữ bắt buộc. Khi Ngân hàng Nhà nước
điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, có tác động làm tăng chi phí đầu vào của
các TCTD. Do đó hoặc là các TCTD giữ nguyên lãi suất huy động vốn thì phải
tăng lãi suất cho vay; hoặc là đồng thời vừa phải tăng lãi suất cho vay, vừa phải
tăng lãi suất huy động vốn.
-Công cụ điều hành tỷ giá cũng có tác động vào lãi suất của các TCTD trên thị
trường tiền tệ, nhưng không rõ nét.
-Với sự phát triển của các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các TCTD,
với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương tiến
dần tới phù hợp với thông lệ quốc tế, các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín
dụng được chủ động trong các hoạt động huy động vốn và cho vay của mình,
tham gia tích cực, năng động và cạnh tranh mạnh mẽ với nhau trên thị trường
tiền tệ, theo đó, nó cũng có điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển.
1.2 Thực trạng thị trường vốn (thị trường chứng khoán):
-Trong 7 năm qua, TTCK phát triển nhanh về qui mô; tổng mức vốn hoá đến
nay đã đạt mức 38% GDP, khoảng 22 tỷ USD, nếu kể cả trái phiếu đạt mức 46%
GDP. Hệ thống tổ chức trung gian cũng đã hình thành và phát triển, cho đến nay
đã có 55 công ty chứng khoán, 18 công ty quản lý quỹ, 6 ngân hàng hoạt động
lưu ký chứng khoán, 26 công ty niêm yết cổ phiếu và một số loại trái phiếu được
niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Trong
lĩnh vực này, hệ thống ngân hàng tiếp tục đóng vai trò tích cực trong phát triển
thị trường chứng khoán, với 7 công ty trong số 11 công ty kinh doanh chứng
khoán đang hoạt động là trực thuộc các ngân hàng thương mại, với đa dạng các
nghiệp vụ: môi giới, tư vấn đầu tư, lưu ký chứng khoán, cho vay thanh toán
chứng khoán Hầu hết các công ty này đều kinh doanh có hiệu quả. Một số
công ty đã tổ chức đại lý đấu thầu cổ phiếu của một số NHTM cổ phần phát
hành mới tăng thêm vốn điều lệ. NHNN cũng đã ban hành quy định tạm thời về
việc niêm yết cổ phiếu của NHTM cổ phần trên Trung tâm giao dịch chứng
khoán. Hiện nay nhiều NHTM cổ phần đã sẵn sàng niêm yết cổ phiếu trên Trung
tâm giao dịch chứng khoán. Được biết hiện nay NHTM cổ phần Sài Gòn

Thương Tín đã có đơn và hồ sơ đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép vấn đề
này. -Tuy chưa chính thức niêm yết giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng
khoán, nhưng thời gian qua, cổ phiếu của nhiều NHTM cổ phần đã giao dịch
đơn lẻ, không chính thức trên thị trường phi tập trung OTC. Mệnh giá cổ phiếu
của nhiều NHTM cổ phần được giao dịch cao gấp 1,1 lần đến 2,5 lần so với
mệnh giá ban đầu. Uy tín trong và ngoài nước của nhiều ngân hàng thương mại
cổ phần ngày càng tăng lên. Nhiều tổ chức tài chính quốc tế và ngân hàng nước
ngoài đã và đang mua cổ phần, chuyển giao công nghệ ngân hàng hiện đại, hỗ
trợ về tài chính cho các ngân hàng thương mại cổ phần.
-Thủ tướng Chính phủ đã chính thức có quyết định cổ phần hóa Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam. Theo kế hoạch, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam sẽ
triển khai bước đầu tiên cổ phần hóa vào đầu năm 2006. Tổng giá trị cổ phiếu
phát hành trên hai Trung tâm giao dịch chứng khoán để tăng vốn điều lệ vào
khoảng 1.000 tỷ đồng. -Với khối lượng giá trị cổ phiếu lớn như vậy nếu được
giao dịch và niêm yết trên hai Trung tâm giao dịch chứng khoán, thì chứng
khoán giao dịch chủ yếu của hai Trung tâm này sẽ là cổ phiếu của Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam. Tiếp theo đó sẽ là Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng
sông Cửu Long và Ngân hàng Đầu tư-phát triển Việt Nam cũng đề nghị được cổ
phần hóa. Khi đó chắc chắn hoạt động của hai Trung tâm giao dịch chứng khoán
sẽ sôi động hẳn lên, tạo nền tảng mới cho sự phát triển thị trường chứng khoán
Việt Nam.
2.Thành tựu và những hạn chế cần giải quyết của thị trường tài chính: 2.1 Thành
tựu:
-Thứ nhất, trong những năm qua, cùng với quá trình cải cách kinh tế, TTTC Việt
Nam đã có những bước phát triển nhất định. Trước hết, các thị trường cấu thành
cơ bản của TTTC đã được hình thành và từng bước hoàn thiện. Nhiều loại hình
định chế trung gian tài chính được thành lập. Đặc biệt, thị trường chứng khoán
đã được thiết lập và có những đóng góp ban đầu trong việc huy động các nguồn
vốn dài hạn cho nền kinh tế. -Thứ hai, trong hơn 5 năm lại đây, hệ thống ngân
hàng đã được cơ cấu lại nhằm giảm thiểu những yếu kém của hệ thống và những

sai lệch trong chính sách tín dụng. Chương trình cơ cấu lại tập trung vào việc
lành mạnh hoá và tăng cường năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng, đặc
biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước. Hoạt động tín dụng đã
được đổi mới theo hướng các tổ chức tín dụng có quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong quyết định cho vay, lựa chọn khách hàng và biện pháp đảm bảo tiền
vay trên nguyên tắc thương mại, đảm bảo an toàn và hiệu quả.
-Thứ ba, các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế về tính
minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát đã và đang từng bước được thể chế
hoá và ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tế. Các thể chế về quản trị doanh
nghiệp (kể cả ngân hàng) cũng được hoàn thiện một bước, nhất là đối với các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Cuối cùng, song không kém phần
quan trọng, khung pháp luật của TTTC đang ngày càng phù hợp hơn với các
chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Chính sách tín dụng ngày càng đối xử bình đẳng
hơn đối với các doanh nghiệp tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài. Các định
chế tài chính nước ngoài ngày càng được phép mở rộng phạm vi, lĩnh vực hoạt
động kinh doanh của mình.
2.2 Những hạn chế cần giải quyết:
-Mẫu hình TTTC Việt Nam cơ bản là dựa vào ngân hàng hay do ngân hàng chi
phối (bank-based or bank dominated financial market), trong khi thị trường tín
dụng lại chứa đựng không ít vấn đề như: -Mức độ tích tụ và phân khúc thị
trường còn cao. Các NHTM nhà nước hiện chiếm gần 80% thị phần huy động
tiền gửi và tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng. Nhóm khách hàng truyền
thống của các NHTM Nhà nước là các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Các
ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu tập trung vào đối tượng các doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Nhóm khách hàng của các ngân hàng liên doanh và chi
nhánh ngân hàng nước ngoài là khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
-Hơn nữa, áp lực cho vay theo chỉ định của Chính phủ trên thực tế và vấn đề
“rủi ro đạo đức” vẫn tồn tại. Phần lớn các khoản vay lại được thế chấp bằng bất
động sản, trong khi thị trường bất động sản biến động mạnh. Các khoản vay

được thế chấp chứng khoán tuy có tỷ trọng chưa lớn song cũng đáng lo ngại khi
năng lực của các nhà đầu tư cá nhân còn thấp và thị trường chứng khoán
(TTCK) vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây biến động lớn về giá cả.
-Trong khi đó, năng lực giám sát, quản trị ngân hàng còn nhiều hạn chế. Công
tác giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu.Quá trình giám sát từ xa còn bất cập
trong việc tổng hợp, thu thập và xử lý thông tin, đặc biệt trong bối cảnh các
chuẩn mực về kế toán, kiểm toán chưa được áp dụng thật rộng rãi, nhất quán.
Công tác giám sát tín dụng cũng chưa bao quát hết toàn bộ các định chế tài
chính có liên quan đến hoạt động tín dụng do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan quản lý Nhà nước và do mô hình quản lý hệ thống tài chính hiện tại
về thực chất là quản lý theo định chế tài chính. Các quy định quản lý theo tiêu
chuẩn quốc tế như quản lý rủi ro, quản trị tài sản có, tài sản nợ, kiểm toán nội
bộ,…mới được áp dụng, nên chưa thật sự có hiệu lực và hiệu quả. Nhìn chung,
trình độ quản trị nội tại ngân hàng chưa đáp ứng tốt các chuẩn mực quốc tế như
CAMEL và BASEL. Thị trường chứng khoán vẫn còn ít các định chế tài chính
quan trọng như các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư tương hỗ và chưa có các công ty
định mức tín nhiệm. Các nhà bảo lãnh phát hành chủ yếu là các NHTM Nhà
nước. Các công ty chứng khoán chưa đóng vai trò nhà tạo lập thị trường quan
trọng trên thị trường, mới chỉ thực hiện bảo lãnh phát hành đối với trái phiếu
chính phủ. Các nhà đầu tư cá nhân nhìn chung chưa có tính chuyên nghiệp; hành
vi đầu tư thường mang tính ngắn hạn, “bầy đàn”, gây biến động mạnh về giá và
làm giảm độ tin cậy đối với thị trường, nhất là trong bối cảnh mức độ công khai,
minh bạch của thị trường chưa cao.
-Lãi suất trái phiếu chính phủ vẫn chưa tạo được đường cong lãi suất chuẩn làm
cơ sở cho việc phát hành trái phiếu công ty và các hoạt động đầu tư trên TTTC.
Cách thức huy động vốn qua phát hành trái phiếu quốc gia trên thị trường quốc
tế dường như vẫn thiếu tầm nhìn, chưa thật rõ ràng về mục tiêu dài hạn (huy
động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng hay “bảo lãnh” cho một số ngành
hàng/dự án “chiến lược” được ưu tiên?).
-Thành phần tham gia đấu thầu trái phiếu Chính phủ trên thực tế chủ yếu vẫn là

các NHTM Nhà nước. Thị trường thứ cấp kém phát triển. Sự tham gia đầu tư
vào trái phiếu Chính phủ của công chúng còn hạn chế. Hệ thống tư pháp, các
chuẩn mực về công bố thông tin và kế toán, hệ thống thanh toán, cần được cải
thiện nhiều. Việc thiếu vắng các tổ chức định mức tín nhiệm cũng là nguyên
nhân kìm hãm thị trường.
-Có thể nói, hiện Việt Nam còn thiếu nhiều điều kiện nền tảng để phát triển thị
trường trái phiếu công ty.
*Giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường tài chính
=>Định hướng mở rộng và phát triển thị trường tài chính VN:
-Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc (bao gồm
thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ phái sinh, thị
trường tập trung, thị trường phi tập trung…), vận hành theo các thông lệ quốc tế
tốt nhất, có khả năng liên kết với các thị trường khu vực và quốc tế.
-Phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thị trường;
mở rộng hệ thống các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức; phát
triển đầy đủ các định chế trung gian; đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp, … đảm
bảo có đầy đủ các yếu tố cấu thành một thị trường vốn phát triển trong khu vực.
-Kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá; hài hoà giữa
mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững thị trường
vốn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an ninh tài chính
quốc gia.
-Tăng cường quản lý nhà nước, thực hiện có hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm
tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
trên thị trường.
Chương 7: Lãi suất
Một số vấn đề về lãi suất và các số liệu thực tế những năm 2012-2013
1) Chỉ trong 1 thời gian ngắn tức là trong khoảng cuối quý 1 đầu quý 2.2012 thì NHNN
đã tiến hành 2 lần điều chỉnh trần lãi suất huy động và qua đó kéo lãi suất từ 14% về
mức 12%. Đây được xem là động thái khá khẩn trương của NHNN trong bối cảnh
lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt và nền kinh tế, đặc biệt là các DN, đang vật lộn với

nhiều khó khăn.
Xét về môi trường tài chính thì việc hạ lãi suất của NHNN đã phần nào cởi một nút
thắt cho thị trường tài chính vốn đang bị co thắt mạnh từ việc thắt chặt chính sách
tiền tệ trong suốt năm 2011. Đáng lưu ý là sự khởi sắc trên TTCK khi chỉ số Vnindex
đã tăng khá mạnh trong cuối quý 1 và đầu quý 2. Hiện chỉ số này đang giao dịch ở
quang mức 460 – 470 điểm, tăng khoảng 30% so với đầu năm. Thanh khoản thị
trường cải thiện đáng kể khi KLGD và GTGD trên thị trường bằng 1,7-1,8 lần so với
2 tháng đầu năm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn đang gặp nhiều khó khăn và tình hình
kinh doanh của các DN bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì đà tăng của thị trường trong thời
gian qua là chưa chắc chắn. Đối với hoạt động kinh doanh đầu tư vào vàng thì xu hướng
giá vàng thế giới giảm mạnh cũng phần nào tác động đến giá vàng trong nước. Với hình
thức chủ yếu là buôn bán vàng miếng và xu hướng đầu tư 1 chiều như hiện nay thì hiện
nay vàng không phải là kênh thu hút vốn đầu tư. Trên thị trường BĐS, việc NHNN tiến
hành giảm lãi suất đồng thời đưa ra chính sách mới trong việc nới lỏng cung cấp tín
dụng cho thị trường BĐS phần nào cũng tác động tích cực đến thị trường. Các DN sẽ
tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn để triển khai dự án trong khi người có nhu cầu mua
nhà cũng được hỗ trợ vốn vay hơn so với trước kia.
Tuy nhiên, hiện thị trường này vẫn còn kém thanh khoản và thị trường vẫn kỳ vọng
giá nhà sẽ tiếp tục giảm nên chính sách hỗ trợ của NHNN tạm thời sẽ chưa tác động
gì nhiều đối với thị trường BĐS. Đối với kênh tiền gửi tiết kiệm thì lãi suất huy động
giảm về 12% phần nào khiến người có tiền không mặn mà với việc gửi tiền, tuy
nhiên, xem xét trong bối cảnh môi trường đầu tư hiện nay thì tiền gửi tiết kiệm vẫn là
kênh đầu tư thu hút phần đông người gửi tiền.
Tóm lại lãi suất giảm đã tạo tín hiệu tốt cho kinh tế trong giai đoạn tới, qua đó TTCK
vẫn đang duy trì xu thế tăng điểm. Tuy nhiên, LS giảm chưa thực sự tạo tình hình khả
quan cho hoạt đồng đầu tư tài chính và đầu tư BĐS. Mặc dù LS huy động chỉ còn
12%, thậm chí giảm xuống 10% thì gửi tiền vẫn là kênh tốt nhất (kết hợp giửa an
toàn và thu nhập). Ngoài ra khi LS giảm xuống 10% thì có thể là USD trở nên hấp
dẩn và tăng tỷ giá, đó là điểm cần quan tâm trong 3 thángtới.

Xét đến những tác động của việc giảm lãi suất đến tình hình kinh doanh của các DN,
mặc dù NHNN đưa ra thông điệp giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế đồng thời đưa ra
tuyên bố là DN sẽ tiếp cận với nguồn vốn giá rẻ (15-16%/năm) và các NHTM cũng
đưa ra nhiều gói cho vay với lãi suất ưu đãi trị giá hàng ngàn tỷ đồng, tuy nhiên số
lượng và đối tượng DN tiếp cận với nguồn vốn này vẫn còn rất hạn chế. Hiện nay lãi
suất cho vay, tuy có được hỗ trợ, những cũng vẫn xoay quanh mức 17 – 19%/năm.
Đây vẫn là mức quá cao so với sức chịu đựng của DN. Ngoài ra, hầu hết các DN hiện
nay đang gặp khó khăn cả về vốn và thị trường tiêu thụ. Thị trường tiêu thụ suy giảm
khiến tồn kho tăng mạnh nên dù DN có vay được vốn “rẻ” cũng chưa chắc đã cải
thiện được tình hình hoạt động. Đó là chưa kể đến trường hợp nhiều DN đã vay nợ
nhiều trong thời gian trước đây và đã cầm cố hầu hết các tài sản để vay nợ nên để tiếp
cận được với những khoản vay hiện nay, dù các DN rất muốn, nhưng chưa chắc đã
được.
Do đó, việc giảm lãi suất về 12% như hiện nay về cơ bản chưa giúp ích gì nhiều cho
các DN. Vấn đề doanh nghiệp cần hiện này chính là thị trường tiêu thụ khởi sắt trở lại
để có thể bán được hàng, mà vấn đề này thì việc giảm LS như hiện nay chỉ có tác
động một phần, phần quan trọng chính là việc chuyển vốn mạnh mẻ của NHTM vào
khu vực vay tiêu dùng và SX hàng hoá cũng như cần phải có một lực cung tiền của
Chính phủ cho lãnh vực này. Khi đó mối quan hệ Doanh nghiệp – thị trường – việc
làm mới phát triển tạo động lực cho nền kinh tế, trong đó có lợi ích của doanh
nghiệp.
2) Số liệu về lãi suất những tháng đầu năm 2013
Chính sách của chính phủ đưa ra năm 2013
Điều 1. Điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách
tại Ngân hàng Chính sách xã hội như sau:
1. Lãi suất cho vay ưu đãi đối với hộ cận nghèo bằng 120% lãi suất cho vay đối với hộ
nghèo quy định trong từng thời kỳ. Quy định này thay thế cho quy định tại khoản 1, Điều 3,
Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về
tín dụng đối với hộ cận nghèo.
2. Lãi suất cho vay đối với Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là

9,6%/năm (0,8%/tháng). Quy định này thay thế cho quy định tại văn bản số 436/2008/TTg-
KTTH ngày 25 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh lãi suất cho
vay Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
3. Lãi suất cho vay đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn là 9,6%/năm
(0,8%/tháng). Quy định này thay thế cho quy định tại khoản 1, Điều 8, Quyết định số
31/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với
hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn.
Tính theo lãi suất năm, mặt bằng lãi suất huy động giảm 7-10%, lãi suất cho vay giảm
9-12%; riêng 9 tháng năm 2013 lãi suất huy động giảm 2-3%, cho vay giảm 3-5%. Mặt
bằng lãi suất cho vay đã trở về mức của giai đoạn 2005-2006. Lãi suất cho vay đối với
các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 7-9%/năm; các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác
là 9-11,5%/năm; một số doanh nghiệp tình hình tài chính lành mạnh được vay với lãi
suất 6,5-7%/năm.
9 tháng đầu năm 2013, trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và xu hướng lạm phát
tăng ở mức thấp, ổn định của thị trường ngoại hối và tỷ giá, NHNN đã nhận định dư địa để
giảm mặt bằng lãi suất trong năm 2013 là không còn nhiều. Thực tế, NHNN đã thực hiện
giảm 2%/năm các mức lãi suất điều hành, cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng giảm từ 10 - 9 - 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn giảm 9 - 8 - 7%/năm,
lãi suất tái chiết khấu giảm từ 7 - 6 - 5%/năm. NHNN chỉ điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần
trăm lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi dưới 12 tháng từ cuối tháng 3/2013.
Báo cáo đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam 9 tháng năm 2013 của Ủy ban Giám sát tài
chính quốc gia (UBGS) nhận định, thị trường tiền tệ trong 9 tháng đầu năm 2013 tiếp tục có
những cải thiện tích cực: Thứ nhất, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được củng cố và
hiện khá dồi dào so với giai đoạn trước do tốc độ tăng huy động luôn đạt mức tăng cao hơn
nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống. Lãi suất cho vay trên thị trường liên
ngân hàng vì vậy đã duy trì được sự ổn định với mức thấp (3 - 4%/năm) trong phần lớn thời
gian của 9 tháng đầu năm; Thứ hai, tỷ lệ cho vay trên huy động trên thị trường 1 cũng như
tỷ lệ huy động từ thị trường 2 trên tổng tài sản của các TCTD đang giảm dần cho thấy
những tín hiệu tích cực khi mức độ rủi ro trong hoạt động của đa phần các TCTD và của
toàn hệ thống đã giảm đáng kể…


Có giảm được lãi suất cho vay?
Tính đến nay, mặt bằng lãi suất cho vay giảm khoảng 9 - 12%/năm so với thời điểm giữa
năm 2011 và đã trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005 - 2006, thấp hơn năm 2007. Lãi suất
thực tế đã không còn là rào cản đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN và người
dân. Hiện lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 7 - 9%/năm, lĩnh vực sản xuất,
kinh doanh ở mức 9 - 11%/năm, trong đó, đối với khách hàng tốt, lãi suất cho vay chỉ từ 6,5
- 7%/năm.
Mặc dù vậy, theo số liệu của NHNN, tính đến 18/9/2013, huy động vốn tăng 11,74%, trong
đó huy động vốn VND tăng 11,63% và ngoại tệ tăng 12,43%; Dư nợ tín dụng toàn hệ thống
tăng 5,83% so với đầu năm, trong đó tín dụng bằng VND tăng 9,98%, tín dụng ngoại tệ
giảm 13,05%.
Trong khi đó, các ngân hàng rất nỗ lực tung ra những gói vay vốn với lãi suất ưu đãi đối với
hộ kinh doanh, DN nhỏ và siêu nhỏ trong mùa kinh doanh cuối năm nay. Như Ocean Bank
vừa công bố lãi suất chỉ 8,5%/năm cố định trong 3 tháng đầu tiên nhằm bổ sung vốn lưu
động phục vụ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hạn mức vay cao, tùy thuộc vào quy
mô kinh doanh và mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Hay TienPhong Bank, với gói
2.500 tỷ đồng tín dụng ưu đãi với lãi suất chỉ từ 9%/năm đối với VND hoặc 4,8%/năm đối
với USD trong 3 tháng đầu tiên…
“Dưới tác động của Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011 với định hướng thắt chặt chính sách
tiền tệ - tài khóa, thành phần chu kì của lạm phát sau khi đạt đỉnh vào tháng 8/2011 đã liên
tục giảm xuống và chạm đáy vào tháng 7/2012, thành phần này chỉ thực sự có tác động nhẹ
trở lại vào tháng 7 và tháng 8/2013 và gần như không gây tác động đáng kể nào đến CPI
trong tháng 9/2013. Xu thế này nhiều khả năng sẽ được duy trì trong những tháng cuối năm
2013”, một lãnh đạo UBGS nói.
TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế cho rằng, nhiều khả năng lãi suất cho vay sẽ có dư
địa để giảm thêm trung bình từ 1 - 2%/năm. Tuy vậy, dù nỗ lực của NHNN rất lớn trong
việc ổn định lãi suất, xử lý nợ xấu, nhưng cầu nền kinh tế yếu, có hạ lãi suất cho vay nữa
cũng không thúc đẩy được hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chương 8: Lạm phát

Một số vấn đề về lạm phát năm 2012-2013
Theo UBGSTCQG, lạm phát theo tháng có xu hướng tăng kể từ tháng 6 và đạt mức cao
trong hai tháng cuối quý 3/2013 (bình quân tháng trong quý 3 tăng 0,7% so với mức âm của
quý trước). Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) các tháng này chịu tác động chủ yếu của
việc điều chỉnh mùa vụ (giá các hàng hóa, dịch vụ công do nhà nước quản lý) chứ không
phải do các yếu tố cơ bản của lạm phát tăng, đặc biệt là tổng cầu hiện vẫn còn thấp.
Sang tháng 10, lạm phát so với cùng kỳ giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2010 (5,92%)
và lạm phát cơ bản cũng trong xu hướng giảm (từ mức 10% trong tháng 9 xuống còn
8,85%). So với tháng trước, CPI tăng 0,49% do sự tăng lên của nhóm hàng lương thực thực
phẩm và nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.
Thông thường, quý 4 là quý có mức tăng CPI cao nhất trong năm. Các yếu tố chính gây
tăng giá trong quý này bao gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng, nhu cầu mua sắm
theo thời vụ các tháng cận Tết, khả năng điều chỉnh giá xăng dầu, gas. Tuy nhiên,
UBGSTCQG cho rằng, hiện sức cầu còn yếu nên sẽ hạn chế đáng kể đà tăng giá trong các
tháng tới.
Tính đến tháng 10, CPI tăng 5,14% so với đầu năm, do đó dư địa còn lại cho lạm phát quý 4
là 1,9%, tương ứng với mức bình quân tháng khoảng 0,63%. “Lạm phát cả năm 2013 vẫn
được kiểm soát xung quanh mức 7% nếu như có sự quản lý và điều tiết tốt việc điều chỉnh
giá các mặt hàng và dịch vụ do nhà nước quản lý” UBGSTCQG dự báo.
Như vậy, lạm phát trong những tháng vừa qua tăng khá mạnh so với giai đoạn đầu năm
nhưng không phải do những yếu tố cơ bản mà chủ yếu là do việc chủ động điều chỉnh giá
các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công. Để lạm phát diễn ra như trên, UBGSTCQG khuyến
nghị, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp, tránh
việc tăng giá tùy ý (về thời điểm tăng giá, mức tăng giá…) nhằm tránh gây tác động lạm
phát tâm lý trong thời gian tới.
Nếu lạm phát diễn ra đúng như dự báo, đây sẽ là thành quả nổi bật của kinh tế Việt Nam
trong việc duy trì lạm phát ổn định liên tiếp 2 năm giúp ổn định kỳ vọng lạm phát và ổn
định kinh tế vĩ mô.
Tăng trưởng tiếp tục tăng dần qua các quý và ước đạt 5,54% trong quý III, đưa GDP 9 tháng
đầu năm tăng 5,14% cao hơn cùng kỳ năm ngoái. GDP quý IV dự báo sẽ tăng ở mức 6% do

tổng cầu nền kinh tế sẽ chuyển biến tích cực hơn khi tính đến tính chất mùa vụ và tác động
của độ trễ chính sách (khoảng 9 tháng) trong những tháng cuối năm. Do vậy, tăng trưởng cả
năm được dự báo có phần khả quan hơn so với mức dự báo ban đầu của Ủy ban giám sát tài
chính quốc gia (5,3%)
Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam, cả về chủ quan và cả về khách quan.
Xét về chủ quan, việc bố trí cơ cấu kinh tế và theo đó là cơ cấu đầu tư mắc sai lầm kéo dài:
đầu tư phát triển công nghiệp nặng quá mức khi chưa có những tiền đề cần thiết; các ngành
sản xuất hàng hoá tiêu dùng chưa được chú ý phát triển; xây dựng nhiều mà hiệu quả kinh
tế thấp, dẫn đến tổng sản phẩm quốc dân tăng chậm, nạn khan hiếm hàng hoá diễn ra triền
miên. Ngân sách liên tục bội chi với mức độ quá lớn do mở rộng khu vực các doanh nghiệp
nhà nước tràn lan, hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong khi phải
thực hiện nhiệm vụ bao cấp bộ máy cồng kềnh, kém năng lực, tham nhũng, tiêu cực làm
thất thoát nguồn thu ngân sách. Tín dụng tăng cao quá mức, vi phạm những vấn đề có tính
nguyên tắc như: tốc độ tăng tín dụng nhanh hơn tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân; đầu tư
tín dụng vượt nguồn huy động của ngân hàng, buộc phải phát hành tiền bổ sung. Việc quản
lý và điều hành ở tầm kinh tế vĩ mô của Nhà nước mà trực tiếp là của Ngân hàng Nhà nước
còn yếu…
Do những nguyên nhân chủ yếu trên, lạm phát ở Việt Nam biến động khó lường. Lạm
phát về cơ bản tuy đã được kiềm chế, nhưng nguy cơ lạm phát tăng cao vẫn còn hiện hữu.
Đây cũng là một trong những lý do Nghị quyết 11 của Chính phủ được ban hành hồi tháng
2 năm 2011, với mục tiêu chủ yếu là tập trung kiềm chế lạm phát tiếp tục được thực thi.
Có thể thấy, để kiềm chế lạm phát ở mức thấp, năm 2013 cần có một chính sách tiền tệ
hợp lý và coi đây là một công cụ quan trọng. Vì, toàn bộ hoạt động kinh tế trong nền kinh tế
thị trường đều biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và chịu tác động về mặt vĩ mô của chính sách
tiền tệ. Một chính sách tiền tệ hợp lý là chính sách góp phần đắc lực vào việc ổn định và
tăng sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát ở mức chấp nhận được, duy trì được tỷ giá
hối đoái thực tế hợp lý, huy động được nhiều vốn và cho vay có hiệu quả cao.
Tăng cung để khuyến khích phát triển sản xuất
Để kiềm chế lạm phát ở mức hợp lý trong năm 2013, có nhiều biện pháp, có thể nêu ra
hai biện pháp chủ yếu sau: Về nhóm biện pháp tác động vào quan hệ cung - cầu: Để cân đối

tiền - hàng trong nền kinh tế, có thể thực hiện các giải pháp làm tăng cung như khuyến
khích phát triển sản xuất, khuyến khích cạnh tranh, mở cửa cho phép hàng hoá bên ngoài
vào trong nước (trong nước chưa sản xuất được hoặc hiệu quả sản xuất chưa cao) gắn chặt
với việc thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, nâng
cao nhịp độ tăng trưởng của các ngành sản xuất, nhất là các ngành sản xuất hàng hoá thiết
yếu và phục vụ xuất khẩu…
Tuy vậy, việc tăng sản lượng là điều không dễ, đòi hỏi phải có thời gian dài, trong khi
lạm phát luôn ở trạng thái biến động và luôn tạo ra trạng thái cầu lớn hơn cung. Do đó,
không thể thụ động đợi các biện pháp tăng cung từ sản xuất, mặc dù đó là giải pháp cơ bản
lâu dài, mà cần sử dụng các biện pháp tình thế sau: trên cơ sở nâng cao và khai thác tốt các
nguồn thu trong các thành phần kinh tế nhằm đáp ứng những nhu cầu chi thiết yếu, cơ bản
và hợp lý, cần xoá bỏ các khoản bao cấp đối với khu vực sản xuất, kinh doanh không có
hiệu quả, giảm chi ngân sách, bù đắp bội chi bằng cách phát hành công trái, tín phiếu… và
tiến tới chấm dứt bội chi ngân sách; thắt chặt tín dụng, thực hiện đúng những nguyên tắc
lưu thông tín dụng: cho vay phải có vật tư hàng hoá bảo đảm và tiền phải thường xuyên
quay về ngân hàng cả gốc lẫn lợi nhuận, thực hiện nguyên tắc cho vay bằng nguồn vay,
không dùng tiền phát hành để cho vay; sử dụng đúng đắn và linh hoạt đòn bảy lãi suất tiền
gửi và các hình thức huy động khác nhằm khuyến khích tiết kiệm trong dân chúng, giảm
lượng tiền giấy trong lưu thông.

Nỗ lực giảm chi phí sản xuất
Thực tiễn cho thấy, các giải pháp tác động chỉ riêng vào cung hoặc chỉ riêng vào cầu
không phải bao giờ cũng đưa lại một kết quả như mong đợi chủ quan, mà cần có sự tác
động đồng thời vào cả hai mặt cung và cầu.
Muốn khống chế và giảm lạm phát, trong năm 2013 cần có các giải pháp tác động để
giảm chi phí sản xuất, đó là: Thực hiện đa dạng hoá các nguồn cung ứng vật tư nguyên liệu
trên cơ sở lợi thế nhờ quy mô và lợi thế so sánh; xác lập các định mức tiêu hao vật tư
nguyên liệu có căn cứ khoa học, nhằm thực hiện việc tiết kiệm vật tư nguyên liệu trong quá
trình sản xuất. Đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, cải tiến công nghệ, chuyển giao công
nghệ để giảm thiểu tối đa chi phí các yếu tố đầu vào; khống chế, kiểm soát giá cả và tiền

lương, thực hành tiết kiệm các yếu tố gắn với thị trường đầu vào của sản xuất để giảm chi
phí sản xuất.
Ngoài các nhóm biện pháp trên, cũng cần áp dụng các biện pháp khác như: trao quyền
định giá các mặt hàng không độc quyền cho người sản xuất và người tiêu dùng; các mặt
hàng thiết yếu hoặc vật tư chiến lược, Nhà nước xác định rõ hơn khung áp giá; kiên quyết
áp dụng một tỷ giá ngoại hối thống nhất và linh hoạt cũng như thực hiện tập trung ngoại tệ
bằng cơ chế mua, bán thông qua ngân hàng theo tỷ giá kinh doanh sát với thị trường; đẩy
mạnh việc khuyến khích mang ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý vào trong nước (hạn chế hoạt
động xuất khẩu vàng), đồng thời kiểm soát việc mang những thứ đó ra nước ngoài; không
cấm việc kinh doanh vàng, bạc, đá quý của tư nhân, nhưng phải có sự quản lý chặt chẽ…
Thông thường, tâm lý là một yếu tố liên quan đến lạm phát. Trình độ của đa số dân trí
chưa cao, dễ tin theo tin đồn. Do đó, cần có các giải pháp hữu hiệu, nhất là công tác tuyên
truyền hiệu để tác động đến tâm lý của người sản xuất cũng như người tiêu dùng. Cần sử
dụng hiệu quả hơn phương tiện thông tin đại chúng để làm cho nhân dân có những thông tin
đầy đủ nhất, chính xác, kịp thời nhất về giá cả và chất lượng hàng hoá. Nhà nước cần công
bố kịp thời các chủ trương, biện pháp tác động đến thị trường, giá cả, lạm phát… trong từng
thời gian để cho nhân dân biết, qua đó mà điều chỉnh tâm lý của họ có lợi cho việc điều hoà
lưu thông tiền tệ./.

×