Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Tài liệu BÁO CÁO " HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA BẮC THƠM 7 SẢN XUẤT THEO HƯỚNG HỮU CƠ TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI " doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (353.4 KB, 6 trang )

Tạp chí Khoa học và Phát triển 2012: Tập 10, số 1: 9 - 14 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG
SUẤT LÚA BẮC THƠM 7 SẢN XUẤT THEO HƯỚNG HỮU CƠ TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
Effectiveness of Organic Foliar-Fertilizers to Growth and Yield of Bacthom 7
Rice Variety to be Produced by Organic Direction at GiaLam, Hanoi
Phạm Tiến Dũng
Khoa Nông học trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Địa chỉ email tác giả liên hệ:

Ngày gửi đăng 04.11.2011 Ngày chấp nhận: 27.02.2012
TÓM TẮT
Để giúp cho nông dân có cơ sở lựa chọn được loại phân bón sản xuất hữu cơ hiệu quả, nghiên
cứu này được tiến hành vào hai vụ lúa xuân và vụ mùa năm 2010 trên đất phù sa sông Hồng không
được bồi hàng năm tại cánh đồng số 4 trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Kết quả thí nghiệm đã
cho thấy: Trong sản xuất lúa Bắc thơm 7, nếu cho 1 ha, chỉ bón 12 tấn phân chuồng trong vụ xuân, 10
tấn cho vụ mùa và 1500 kg phân vi sinh sông Gianh, việc phun phân bón lá đem lại hiệu q
uả cao hơn
rõ rệt so với không phun. Trong số các loại phân bón lá được thử nghiệm bao gồm: dinh dưỡng tổng
hợp, Chelax Lay O, CHELAX Sugar Express, và CHELAX Rice thì phun Chelax Lay O có ảnh hưởng tốt
nhất đến sinh trưởng, năng suất lúa, tiếp theo là dinh dưỡng tổng hợp với năng suất tương ứng
trong vụ xuân là 50,50 tạ ha
-1
và 46,33 tạ ha
-1
, của vụ mùa là 38,20 tạ ha
-1
và 36,10 tạ ha
-1
. Với giá gạo
người tiêu dùng đã chấp nhận ở vụ xuân là 16000 đồng/kg và vụ mùa là 20000 đồng/kg thì tổng thu
của hai vụ lúa đạt 97,3 đến 104 triệu đồng, ha


-1
, năm.
Từ khoá:
Giống lúa Bắc thơm 7, hiệu quả phân bón lá hữu cơ, phân bón lá dạng xelat.
SUMMARY
In order to help farmers adopt organic foliar feririlizers available a comparative study on their
effectiveness was conducted in Spring and Summer rice seasons on Red River Delta’s alluvial soils at
Hanoi University of Agriculture. Research results indicated that for Bac Thom 7 variety, application of
12 tons and 10 tons of compost in spring and summer season, respectively, plus 1500 kg of Sông
Gianh microbial organic fertilizer ha-1, together with spraying organic foliar fertilizer increased growth
significantly in comarison with control (no foliar fertilizer). Among foliar fertilizers used, viz. Chelax
Lay O, CHELAX Sugar Express, CHELAX Rice and combined nutrients, Chelax Lay O was most
effective to the growth and productivity, followed by the combined nutrients. The corresponding
economic return amounted to VND 97.3 mil. and VND 104 million ha-1, year.
Key
words: Organic foliar fertilizers, organic foliar fertilizer effectiveness, rice cultivar Bac Thom 7.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vệ sinh an toàn thực phẩm đang là mối
quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới,
đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam. Để có nông sản an toàn, có
nhiều cách khác nhau hiện đang được Chính
phủ quan tâm thực hiện như các chương
trình rau an toàn, ViệtGAP, sản xuất theo
hướng hữu cơ.
Sản xuất hữu cơ dựa tối đa vào việc
quay vòng mùa vụ, các phần thừa sau thu
hoạch, phân động
vật và việc canh tác cơ giới
để duy trì hiệu suất đất thông qua khả năng

cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng,
kiểm soát cỏ dại, côn trùng và các loại sâu
bệnh khác. Sự khác biệt rõ nhất giữa các loại
sản phẩm hữu cơ với sản phẩm sạch, an toàn
khác là quy trình sản xuất: Sản xuất các sản
9
Hiệu quả của một số loại phân hữu cơ bón lá đến sinh trưởng tại Gia Lâm, Hà Nội
phẩm hữu cơ không sử dụng thuốc trừ sâu
và phân hoá học; nguồn thức ăn trong chăn
nuôi là nguồn thức ăn tự nhiên. Sản phẩm
hữu cơ không có chất thải từ thuốc trừ sâu
và chất kích thích tăng trưởng; sản phẩm
hữu cơ có vị ngon hơn, nhiều dinh dưỡng hơn
và bảo quản được lâu hơn. Đặc biệt, các sản
phẩm hữu cơ có chứa nh
iều chất chống oxy
hoá có tác dụng chống các bệnh ung thư so
với các loại thực phẩm canh tác theo phương
thức thông thường. Theo Liên đoàn Quốc tế
về thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ (IFOAM,
2000): "Vai trò của nông nghiệp hữu cơ, dù
cho trong canh tác, chế biến, phân phối hay
tiêu dùng, là nhằm mục đích duy trì sức
khỏe của hệ sinh thái và các sinh vật từ các
sinh vật có kích thước nhỏ nhất sống trong
đất đến con người".
Ở nhiều nước trên thế giới,
nông dân từ
lâu đã trồng trọt theo phương thức hữu cơ,
trong khi đó canh tác hữu cơ theo hiểu biết

quốc tế lại khá mới đối với Việt Nam.
Để sản xuất lúa hữu cơ, ngoài việc sử
dụng phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh bón
qua rễ thì việc bón phân qua lá là biện pháp
kỹ thuật rất quan trọng, đặc biệt là các loại
phân b
ón lá hữu cơ. Tuy nhiên vấn đề này
còn ít được nghiên cứu nên đề tài được đặt ra
nhằm xác định ảnh hưởng của một số loại
phân hữu cơ bón lá đến các chỉ tiêu sinh
trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất lúa Bắc Thơm 7 tại Gia Lâm - Hà
Nội trong cả hai vụ xuân và mùa và tìm ra
loại phân bón lá mang lại hiệu quả cao trong
sản xuất lúa theo hướng hữu cơ.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu nghiên cứu gồm các loại phân
bón lá ở dạng xelat của Công ty Greendelta
Co., Ltd-Vietnam được sản xuất dưới dạng
phức hữu cơ lỏng gồm: CHELAX Lay O (16%
hữu cơ từ rong biển, 10% amino axit. Được
chiết xuất từ rong biển/ seaweeds, auxin,
citokinin và các amino axit), CHELAX Sugar
Express (67% mônosacarit, 1,66% L-Cystein,
0,33% axit folic. Là sản phẩm sử dụng đường
tự nhiên, amino và folic axit đầu tiên),
CHELAX Rice (5% Zn, 3,3% MgO, 5% S cho
cây ăn củ, quả, hạt và chuyên dùng cho lúa.
Được chiết xuất từ các vi lượng dạng xelat
hữu cơ cần t

hiết cho lúa), phân lân hữu cơ vi
sinh sông Gianh (sản phẩm của công ty cổ
phần Sông Gianh. Trong phân có thành phần
gồm: hữu cơ ≥ 15%; P
2
O
5
≥ 1,5%; Ca ≥ 1%; Mg
≥ 0,5%; S ≥ 0,2%. Các chủng vi sinh vật có ích
trong phân gồm: aspergillus sp. đạt 1.10
6

CFU/g, azotobacter và bacillus là 1.10
6

CFU/g), phân chuồng (lợn, gà) ủ với vi sinh
vật bản địa và dinh dưỡng tổng hợp được tác
giả chiết xuất bằng gỉ mật từ các loại động
thực vật (cá, quả chuối, thân cây chuối, đu đủ,
ngải cứu, rau muống và dung dịch xương
giấm) theo phương pháp của Hàn Quốc (Han
Kyu Cho, 1997), giống lúa Bắc thơm 7.
Thí nghiệm được tiến hành trong hai vụ
lúa xuân và mùa năm 2010 theo cách tiếp
cận kế thừa kết quả của vụ trước để thực
hiện vụ sau.
Thí nghiệm vụ xuân gồm 5 công thức:
CT
1 (Đ/C): Không dùng phân bón lá, CT2:
phân bón lá CHELAX Lay O, CT3: phân

bón lá CHELAX Sugar Express,
CT4: phân
bón lá CHELAX Rice, CT5: phân bón lá
dinh dưỡng tổng hợp. Nền cho 1 ha: 12 tấn
phân chuồng, bón lót toàn bộ; 1500 kg phân
hữu cơ vi sinh Sông Gianh, bón lót 40%, còn
lại thúc khi đẻ nhánh; phun thuốc thảo mộc
(chiết xuất từ tỏi, gừng, ớt), phun các loại
phân bón lá và dinh dưỡng tổng hợp vào
giai đoạn bắt đầu đẻ nhánh và kết thúc đẻ
nhánh với lượng 4 ml/sào. Thời kỳ làm đòng
đến trỗ phun 3 lần, mỗi lần cách nhau 2
tuần với lượng 4 ml/sào. Phun dinh dưỡng

vào buổi sáng, khi nhiệt độ dưới 30
o
C (Lê
Văn Tri, 2001).
10
Phạm Tiến Dũng
11
Thí nghiệm vụ mùa gồm 3 công thức:
L1: (Chelax LayO), L2: (Chelax Rice), L3:
dinh dưỡng tổng hợp. Nền thí nghiệm cho 1
ha: 10 tấn phân chuồng bón lót toàn bộ, 1500
kg phân hữu cơ vi sinh sông Gianh bón lót
40% và thúc khi làm cỏ 60%; phun các loại
dinh dưỡng giống như vụ xuân.
Các thí nghiệm được bố trí trên đất phù
sa không được bồi hàng năm tại cánh đồng

số 4 trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội có
pH: 6,4; hàm lượng N tổng số là 0,10%, P, K
dễ tiêu tương ứng là 23,6 mg/100g đất và 10
mg/100 gam đất; EC là 268

s/cm; diện tích
ô thí nghiệm 20 m
2
; 3 lần nhắc lại, bố trí
theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ
(Kawanchai & cs.,1984).
Các chỉ tiêu theo dõi: Chiều cao cây cuối
cùng, số nhánh hữu hiệu, chỉ số diện tích lá
(LAI) trước trỗ, các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất, lãi thuần bằng tổng thu
trừ tổng chi phí biến động (gồm cả công lao
động). Phân tích phương sai kết quả thí
nghiệm trên máy tính bằng IRRISTAT
(Phạm Tiến Dũng, 2010).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng
Biểu hiện đầu tiên của phân bón ảnh
hưởng đến cây trồng là quá trình sinh
trưởng của cây; các chỉ tiêu theo dõi được thể
hiện ở bảng 1
Bảng 1. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của lúa
Chỉ tiêu theo dõi, vụ trồng
C.cao cây cuối cùng
*
(cm) Số nhánh hữu hiệu

Chỉ số diện tích lá
(LAI) trước trỗ
Công thức phun
Xuân Mùa Xuân Mùa Xuân Mùa
Nước lã (Đ/C) 87,20
a
-

6,87
b
- 4,24
b
-

CHELAX Lay O 88,03
a
111,56
a
8,00
a
5,57
a
5,99
a
5,32
a

CHELAX Sugar Express 83,40
a


-
7,27
b
- 3,66
b
-
CHELAX Rice 85,77
a
108,79
b
6,87
b
5,43
ab
4,78
b
5,16
b

Dinh dưỡng tổng hợp 84,53
a
111,65
a
7,20
b
5,30
b
4,53
b
5,18

ab

LSD 0,05 5,49 1,12 0,56
0,15
1,40
0,15
CV,% 3,4 1,0 4,1 2,6 16,1 2,9
* Ghi chú: trong bảng số liệu, các giá trị trong cùng cột mang trên mũ khác chữ cái a, b,… thì chúng
khác nhau có ý nghĩa và ngược lại là khác nhau không ý nghĩa.
Bảng 2. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến khối lượng chất khô (DM) tích lũy
Đơn vị: gam/khóm
Đẻ nhánh rộ Bắt đầu trỗ Chín sáp
Công thức phun
Xuân Mùa Xuân Mùa Xuân Mùa
Nước lã (Đ/C) 3,58
a
- 13,68
b
- 20,27
c
-
CHELAX Lay O 4,36
a
8,41
a
18,71
a
19,01
a
28,38

a
24,68
a

CHELAX Sugar Express 3,56
a
- 17,03
a
- 25,67
b
-
CHELAX Rice 3,39
a
8,55
a
17,78
a
18,20
b
24,83
b
24,49
a

Dinh dưỡng tổng hợp 3,87
a
8,47
a
18,50
a

18,24
b
25,57
b
24,04
a

LSD
0,05
0,80 0,32 1,72
0,38
1,24
0,77
CV,% 11,3 3,7 5,3 2,0 2,6 3,1
Ghi chú: trong bảng số liệu, các giá trị trong cùng cột mang trên mũ khác chữ cái a, b,… thì chúng khác
nhau có ý nghĩa và ngược lại là khác nhau không ý nghĩa
Hiệu quả của một số loại phân hữu cơ bón lá đến sinh trưởng tại Gia Lâm, Hà Nội
Ảnh hưởng của phân bón lá tới chiều cao
cây cuối cùng không có sự khác biệt có ý
nghĩa ở vụ xuân, nhưng ở vụ mùa loại
CHELAX Lay O và dinh dưỡng tổng hợp cho
hiệu quả cao hơn của CHELAX Rice (111,56
và111,65 cao hơn 108,79 ). Về số nhánh hữu
hiệu và LAI trước trỗ, CHELAX Lay O luôn
cho hiệu quả cao hơn có ý nghĩa so với các
công thức còn lại (ví dụ số nhánh hữu hiệu ở
vụ xuân 8,00 cao hơn tất cả các giá trị khác
có ý
nghĩa, còn vụ mùa thì hiệu quả của
CHELAX Lay O giống của CHELAX Rice

nhưng cao hơn của dinh dưỡng tổng hợp
(Bảng 2).
Trong vụ xuân, ở giai đoạn đẻ nhánh
khả năng tích lũy chất khô chưa nhiều, cây
lúa tập trung dinh dưỡng cho tạo thân, lá và
đẻ nhánh nên biểu hiện chưa rõ giữa các loại
phân bón lá khác nhau. Nhưng sang các giai
đoạn sau (trỗ và chín sáp) khả năng tích lũy
xảy ra mạnh hơn và vai trò của phân bón lá
có tác dụn
g khác nhau có ý nghĩa so với đối
chứng. CHELAX Lay O luôn cho khối lượng
tích lũy chất khô cao hơn các loại phân bón
lá khác có ý nghĩa, rõ nhất là thời kỳ chín
sáp. Kết quả này tương tự như kết luận của
Nguyễn Văn Uyển (1995): “Hiệu quả của
một loại phân bón lá không thể giống nhau
đối với tất cả các mục tiêu khác nhau như
tăng bộ lá, tăng hàm lượng đường hoặc làm
quả mau chín với c
ác loại đất khác nhau
hoặc với các thời vụ khác nhau”. Trong vụ mùa
thì quy luật gần tương tự như vụ xuân, nhưng
ở giai đoạn chín sáp, hiệu quả của CHELAX
Lay O khác chưa có ý nghĩa so với hai loại
phân bón lá kia (Bảng 2).
Trong số bốn yếu tố cấu thành năng
suất được theo dõi ở vụ xuân, trừ khối
lượng 1000 hạt, thì ba yếu tố còn lại hiệu
quả ở công thức phun CHELAX Lay O luôn

cao hơn có
ý nghĩa thống kê so các công
thức khác và đối chứng (Bảng 3), nhưng
không có ý nghĩa so với dinh dưỡng tổng
hợp ở chỉ tiêu tỷ lệ hạt chắc. Trong vụ
mùa, kết quả cũng tương tự. Riêng đối với
chỉ tiêu khối lượng 1000 hạt thì sự khác
biệt lại không có ý nghĩa giữa các loại bón
lá cũng như giữa các mùa vụ; điều này do
điều kiện cả vụ xuân
và vụ mùa khá lý
tưởng cho khả năng vận chuyển dinh
dưỡng tích lũy trong hạt nên vai trò của
phân bón lá không rõ. Chỉ tiêu khối lượng
1000 hạt trong nghiên cứu này chỉ phụ
thuộc bản chất di truyền của giống.
Bảng 3. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến yếu tố cấu thành năng suất của
lúa Bắc Thơm 7
Bông/khóm Hạt/bông Tỷ lệ hạt chắc (%) P1000 hạt (g)
Công thức
Xuân Mùa Xuân Mùa Xuân Mùa Xuân Mùa
Nước lã (Đ/C) 6,8
b
- 119
c
- 78,1
d
- 17,3
a
-

CHELAX Lay O 8,0
a
5,7
a
152
a
166
a
87,4
a
94,8
a
17,5
a
17,3
a

CHELAX Sugar xpress 7,3
b
- 129
b
- 83,8
c
- 17,3
a
-
CHELAX Rice 6,9
b
5,3
b

129
b
157
b
77,2
d
95,6
a
17,1
a
17,2
a

Dinh dưỡng tổng hợp 7,2
b
5,4
b
134
b
160
ab
84,8
ab
94,9
a
17,4
a
17,3
a


LSD
0,05

0,6 0,2 9,8 6,10 3,23 0,97 0,6 0,13
CV,%
4,1 5,1 3,9 3,7 2,1 1,0 1,9 0,7
Ghi chú: trong bảng số liệu, các giá trị trong cùng cột mang trên mũ khác chữ cái a, b,… thì chúng khác
nhau có ý nghĩa và ngược lại là khác nhau không ý nghĩa.
12
Phạm Tiến Dũng
Bảng 4. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến năng suất của giống lúa Bắc Thơm
7 vụ xuân và mùa tại Hà Nội (Đơn vị: tạ/ha)
Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu
Công thức
Xuân Mùa Xuân Mùa
Nước lã (Đ/C)
42,63
- 37,73
d
-
CHELAX Lay O 62,83 46,33 50,50
a
38,20
a

CHELAX Sugar Express 48,90 - 43,40
c
-
CHELAX Rice 46,70 41,63 42,63
c

34,62
c

Dinh dưỡng tổng hợp 50,47 43,21

46,33
b
36,10
b

LSD
0,05


2,34 1,2
CV,%

2,8 3,2
Ghi chú: trong bảng số liệu, các giá trị trong cùng cột mang trên mũ khác chữ cái a, b,… thì chúng khác
nhau có ý nghĩa và ngược lại là khác nhau không ý nghĩa
Bảng 5. Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến sâu bệnh
*

trên lúa Bắc Thơm 7
Chỉ tiêu theo dõi, vụ trồng
Sâu đục thân Khô vằn Rầy

Loại phân
Xuân Mùa Xuân Mùa Xuân Mùa
Nước lã (Đ/C) 3


1

1

CHELAX Lay O 1 2

1 0 1 3
CHELAX Sugar Express 1
-
1 - 1 -
CHELAX Rice 1 1

1 0 1 1
Dinh dưỡng tổng hợp 1 2 1 0 1 1
* Thang điểm theo IRRI từ 1 đến 9 theo mức bị hại tăng dần
Bảng 6 Hiệu quả kinh tế của thí nghiệm khi dùng các loại phân bón lá khác nhau
trong sản xuất hữu cơ cho lúa Bắc Thơm 7
Đơn vị tính: 1000 đồng/ha
Vụ xuân Vụ mùa
Loại phân
Tổng thu
*
Tổng chi
phí biến
động
Lãi thuần Tổng thu Tổng chi phí
biến động
Lãi thuần
Nước lã (Đ/C) 39.616

23.752
15.864
-
-
-
CHELAX Lay O 53.025 24.452 28.573 51.486 32.005 19.481
CHELAX Sugar Express 45.570 24.452 21.118 - - -
CHELAX Rice 44.761 24.452 20.309 46.414 32.005 14.409
Dinh dưỡng tổng hợp 48.646 24.452 24.194 48.703 32.005 16.698
* Gạo hữu cơ bán trực tiếp cho người tiêu dùng, vụ xuân: 16000đ/kg, mùa: 20000đ/kg; tỷ lệ gạo/thóc của
vụ xuân là 65,6%, của vụ mùa là 67,4%
13
Hiệu quả của một số loại phân hữu cơ bón lá đến sinh trưởng tại Gia Lâm, Hà Nội
Sự chênh lệch năng suất giữa các công
thức là khá lớn, tuy không phân tích thống kê
nhưng kết quả cho thấy năng suất lý thuyết
của công thức phun CHELAX Lay O vẫn cao
nhất. Về năng suất thực thu, ở cả hai vụ năng
suất của công
thức phun CHELAX Lay O khác
rõ so với của các loại bón lá khác và đối chứng
(Bảng 4). Đây là kết quả cuối cùng của quá
trình sản xuất lúa, nó cũng là biểu hiện tập
trung, tổng hợp của mọi hoạt động thành phần
khác nên thường được đánh giá cao hơn và
quyết định hơn. Do vậy có thể nói vai trò của
CHELAX Lay O là tốt nhất, ổn định qua cả hai
vụ nên khả năng áp dụng cho sản xuất lúa là
rất cao
, tiếp theo là dinh dưỡng tổng hợp.

Kết quả theo dõi sâu bệnh cho thấy sự
khác biệt không đáng kể giữa các loại phân
bón lá, riêng trong vụ mùa ở công thức phun
CHELAX Lay O lúa bị nhiễm sâu đục thân và
rầy hơi cao hơn (được đánh giá điểm 2 và 3).
Tuy nhiên ảnh hưởng này chưa làm suy giảm
năng suất thực thu có ý nghĩa nên cuối cùng
năng suất thực thu của công thức phun
CHELAX Lay O vẫn cao hơn (Bảng 5).
Trong cả hai
vụ: xuân, mùa khi dùng
phân bón lá khác nhau cho hiệu quả kinh tế
cũng khác nhau. Loại phân bón lá dòng
CHELAX Lay O luôn cho lãi cao hơn so với đối
chứng và cũng cao hơn so với sử dụng
CHELAX Rice hoặc tổ hợp dinh dưỡng (Bảng
6). Điều này càng chứng tỏ phân bón lá
CHELAX Lay O tỏ rõ tính ưu việt của nó trong
sản xuất lúa hữu cơ.
4. KẾT LUẬN
Trong sản xuất lúa hữu cơ, ngoài việc sử
dụng các loại phân hữu cơ bón vào đất như
phân chuồng hoai mục, phân hữu cơ vi sinh
sông Gianh, việc bổ sung thêm dinh dưỡng
hữu cơ qua lá có vai trò quan trọng cho sinh
trưởng, phát triển và năng suất của lúa. Phun
thêm dinh dưỡng qua lá đã làm cho năng suất
tăng có ý nghĩa và hiệu quả kinh tế tăng từ
28% đến 80% tùy theo mỗi loại dinh dưỡng so
với đối chứng không phun.

Trong số cá
c loại phân bón lá được thử
nghiệm bao gồm: Chelax Lay O, CHELAX
Sugar Express, CHELAX Rice và dinh dưỡng
tổng hợp thì phun Chelax Lay O có ảnh hưởng
tốt nhất đến sinh trưởng, năng suất lúa, tiếp
theo là dinh dưỡng tổng hợp với năng suất
tương ứng trong vụ xuân là 50,50 tạ ha
-1

46,33 tạ ha
-1
, của vụ mùa là 38,20 tạ ha
-1

36,10 tạ ha
-1
. Với giá gạo người tiêu dùng đã
chấp nhận ở vụ xuân là 16000 đồng/kg và vụ
mùa là 20000 đồng/kg thì tổng thu của hai vụ
lúa đạt 97,3 đến 104 triệu đồng, ha
-1
, năm
tương ứng với phun phân bón lá Chelax Lay O
và dinh dưỡng tổng hợp. Do vậy, nếu trong
điều kiện nông dân không mua được Chelax
Lay O thì họ có thể tự tạo ra dinh dưỡng tổng
hợp để sử dụng và hoàn toàn chủ động.
Trong điều kiện thí nghiệm sản xuất lúa
hữu cơ, mỗi vụ đã cho tổng thu từ khoảng 44 đến

51 triệu đồng một vụ ha
-1
, thu cả năm xấp xỉ 100
triệu đồng chưa kể hiệu quả của cây vụ đông. Do
vậy khả năng sản xuất hữu cơ là có thể trở thành
thực tiễn với hiệu quả cao ở Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phạm Tiến Dũng và Nguyễn Đình Hiền (2010).
Thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần
mềm thống kê IRRISTAT. Nhà xuất bản Tài
Chính, Hà Nội. P. 61-63.
Lê Văn Tri (2001). Hỏi đáp về phân bón. Nhà xuất
bản Nông nghiệp, Hà Nội. P 82.
Nguyễn Văn Uyển (1995). Phân bón lá và các chất
kích thích sinh trưởng. Nhà xuất bản Nông
nghiệp, TP Hồ Chí Minh. P. 82.
Cho Han Kyu and Atsushi Koyama (1997). Korean
Natural Farming. Indigenous Microorganisms
and Vital Power of Crop/Livestock. Korean
natural Farming Publisher. P.45-55.
Gomez Kawanchai A. & Gomez Arturo A. (1984).
Statistical Procedures for Agricultural
Research. An International rice research
institute book. Printed in Singapore: p. 20-30.
IFOAM (2000). Basis Standards for Organic
Production and Processing. IFOAM, Tholey-
Theley, Germany.
14

×