Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính năm 2004 của công ty btl việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (231.18 KB, 25 trang )

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TSCĐ: Tài sản cố định.
KTTH: Kế toán tổng hợp.
KTTT: Kế toán thanh toán.
KTCN: Kế toán công nợ.
KTHTK: Kế toán hàng tồn kho.
KTT: Kế toán trưởng.
KTV: Kiểm toán viên.
ĐĐH: Đơn đặt hàng.
HTKSNB: hệ thống kiểm soát nội bộ.
KSNB: Kiểm soát nội bộ.
LNTT: Lợi nhuận trước thuế.
VCSH: Vốn chủ sở hữu.
DT: Doanh thu
CPQLDN: Chi phí quản lý doanh nghiệp.
HTK: Hàng tồn kho
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, ở Việt nam kiểm toán vẫn còn là một lĩnh vực rất mới mẻ so với các
nước trên thế giới. Lịch sử hình thành và phát triển của kiển toán Việt Nam mới chỉ
bắt đầu từ những năm đầu thập niên 90, trong khi các nước khác hình thành từ rất sớm;
xuất phát từ nhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường: đòi hỏi các hoạt
động kinh tế- tài chính diễn ra một cách bình đẳng, công khai, minh bạch. Điều này
thật sự cần thiết đối với các nhà đầu tư, các doanh nhân, thương nhân và cả nhà nước.
Họ rất cần độ tin cậy cao của những thông tin kinh tế- tài chính để sử dụng, xem xét
cân nhắc khi đưa ra quyết định đầu tư kinh doanh hoặc quyết định về kinh tế, tài chính,
ngân sách địa phương, nhà nước. Và họ chỉ có thể yên tâm, mạnh dạn đưa ra các quyết
định đầu tư khi các thông tin do kế toán cung cấp được đánh giá và xác nhận một cách
khách quan trung thực bởi tổ chức hay cá nhân hành nghề kiểm toán độc lập. Đó chính
là các hoạt động kiểm toán do kiểm toán viên thực hiện. có rất nhiều các công ty kiểm


toán độc lập được thành lập và đi vào hoạt động đóng góp một phần công sức vào sự
nghiệp phát triển đất nước. Nhiệm vụ của họ là thực hiện các cuộc kiểm toán thật hiệu
quả và chính xác.
Trên thực tế, để đảm bảo cho công cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có
hiệu quả thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán, việc lập
kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán là nhằm
chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ
bản trong công tác kiểm toán. Nguyên tắc đó được quy định thành chuẩn mực và đòi
hỏi kiểm toán viên phải tuân thủ đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán
có hiệu quả và đạt chất lượng. Một kế hoạch kiểm toán hoàn thiện, hợp lí và chi tiết sẽ
giúp kiểm toán viên thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán, đảm bảo cho cuộc kiểm
toán được hoàn thiện theo đúng kế hoạch đặt ra.
Nhận thức được tầm quan trọng của của công việc lập kế hoạch kiểm toán thì
trong quá trình tham gia lớp học: kiểm toán tài chính nhóm chúng tôi đã vận dụng
những kiến thức đã được cô dạy và tìm hiểu thực tế; nhóm chúng tôi đã dựa vào tình
2
huống giả định là: công ty trách nhiệm hữu hạn BTL Việt Nam để thực hiện bài tiểu
luận: “LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH NĂM 2004 CỦA
CÔNG TY BTL VIỆT NAM”.
Do giới hạn về thời gian và trình độ nghiên cứu nên bài tiểu luận còn nhiều thiếu
sót. Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để bài tiểu luận hoàn thiện
hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán báo cáo tài chính từ khi bắt đầu đến khi hoàn tất
công việc chuẩn bị kiểm toán.
Vận dụng những kiến thức đã học về kiểm toán để lập kế hoạch một cuộc kiểm
toán báo cáo tài chính cụ thể.
Biết cách vận dụng những nguyên tắc cơ bản của kiểm soát nội bộ để tư vấn nâng
cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với một số khoản mục và chu
trình nghiệp vụ chủ yếu trong các tình huống cụ thể.

Nâng cao kỹ năng trình bày tài liệu, phân tích và tổng hợp thông tin, chọn lọc
thông tin để phát hiện và giải quyết vấn đề.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn kiến thức và thời gian nghiên cứu nên bài tiểu luận chỉ tập trung
nghiên cứu việc lập kế hoạch kiểm toán trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
đối với kiểm toán độc lập mà chưa đi sâu nghiên cứu được việc vận dụng vào các lĩnh
vực kiểm toán khác. Cụ thể là báo cáo tài chính của công ty TNHH BTL Việt Nam
năm 2004.
4. Phương pháp nghiên cứu
Với kiến thức đã học và tự tích lũy nhóm chúng tôi đã thực hiện bài tiểu luận này bằng
các phương pháp toán học, kết hợp giữa tổng hợp và phân tích, đưa ra những nhận
định đánh giá chung về quá trình lập kế hoạch kiểm toán.
5. Kết cấu nội dung đề tài
Gồm có 5 mục chính:
1.Tìm hiểu khách hàng
2. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
3. Xác lập mức trọng yếu cho tổng thể và từng bộ phận báo cáo tài chính
4. Tổng hợp các rủi ro trọng yếu bao gồm cả gian lận được xác định trong giai
đoạn lập kế hoạch
5. Thư quản lý gửi cho khách hàng
3
PHẦN II: NỘI DUNG TRÌNH BÀY
1. Tìm hiểu khách hàng
1.1. Hiểu biết môi trường hoạt động và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến
DN:
1.1.1. Môi trường kinh doanh chung
Năm 2004 tình hình kinh tế của Việt Nam có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng
GDP cao, kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) chuyển
biến theo hướng tích cực, tuy nhiên chỉ số lạm phát trong năm này vẫn ở mức cao.
Về tốc độ tăng trưởng GDP.

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì GDP tăng trưởng cao 7,69% trong năm 2004,
trong đó công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ 7,47% và nông lâm nghiệp và
thuỷ sản 3,5%, giúp nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 490 USD năm 2003
lên 553 USD năm 2004. GDP bình quân đầu người tính theo tỷ giá ngang giá sức mua
(PPP) đạt 2.580 USD, tăng 12,2% so với năm 2003. Tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm
trong các năm qua, tỷ lệ thất nghiệp độ tuối lao động ở thành thị giảm từ 6,4% năm
2000 xuống còn 5,6% trong năm 2004.
Về lạm phát.
Mức lạm phát năm 2004 tương đối cao, đạt 9,5%. Việc tăng trưởng chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) chủ yếu do giá dầu trên thế giới biến động bất thường và ảnh hưởng của
dịch cúm gia cầm, làm giảm 1/3 lượng gia cầm của Việt Nam.
Về đầu tư
Tổng vốn đầu tư năm 2004 đạt 258.700 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2003, trong
đó vốn đầu tư phát triển của khu vực Nhà nước là 154.000 tỷ đồng, chiếm 60%. Đầu
tư của khu vực tư nhân tăng thêm 11.375 tỷ đồng trong năm 2004, bằng 20%. Đầu tư
nước ngoài cũng tăng 14%, từ 38.650 tỷ đồng năm 2003 lên 44.200 tỷ đồng năm 2004.
Năm 2004, Việt Nam thu hút được thêm 2,08 tỷ USD vốn FDI đăng ký mới vào 679
dự án đầu tư được cấp phép, cùng với trên 2 tỷ USD vốn bổ sung cho các dự án đang
hoạt động. Cơ cấu các dự án FDI tăng thêm vẫn chủ yếu nghiêng về các tỉnh, thành
phố phía Nam , nơi chiếm 70,5% về số dự án và 64,2% số vốn.
Về xuất khẩu.
Xuất khẩu năm 2004 là điểm chói sáng nhất trong bức tranh toàn cảnh nền kinh tế
Việt Nam năm 2004. Kim ngạch xuất khẩu năm 2004 tăng vọt lên 26 tỷ USD (20,2 tỷ
USD năm 2003). Xuất khẩu tăng ở cả hai khu vực; khu vực kinh tế nhà nước đạt 11,74
tỷ USD, tăng 17,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có mức tăng trưởng xuất khẩu
cao nhất, tăng 40,4% so với năm 2003, chiếm tỷ trọng 54,9% tổng kim ngạch xuất
khẩu năm 2004. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều tăng kim
ngạch xuất khẩu năm 2004, trong đó đáng kể nhất là dầu thô, tăng 1.184 triệu USD,
tương đương 48,3%. Năm 2004, ngành dầu khí Việt Nam sản xuất và khai thác được
4

khoảng 19 triệu tấn dầu và hơn 6 tỷ mét khối khí thiên nhiên, đạt doanh thu trên 6 tỷ
USD. Như vậy so với giá trị xăng dầu đã qua chế biến nhập khẩu là 3,571 tỷ USD,
Việt Nam là nước có xuất khẩu thuần dương về dầu mỏ (2,095 tỷ USD).
Về thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ.
Thị trưởng ngoại hối và tiền tệ trong nước chịu ảnh hưởng của biến động phức tạp
trên thị trường thế giới. đồng USD mất giá kỉ lục so với Euro và JNP và một số ngoại
tệ khác.
Tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng chỉ tăng khoảng 0,63% so với mức
tăng tương tự là 1,52% năm 2003
Nhìn chung, năm 2004 tỷ giá VND/USD khá ổn định
1.1.2. Các vấn đề về ngành nghề mà DN kinh doanh và xu hướng của ngành
nghề
Năm 2004, thị trường hàng kim khí điện máy không có nhiều biến động lớn, ngoại
trừ việc xuất hiện nhiều mặt hàng với giá thấp nhắm vào các đối tượng người tiêu
dùng có thu nhập thấp và trung bình. Một số mặt hàng điện lạnh có xu hướng tăng tốc
độ tiêu thụ nhanh do thời tiết nóng, đặc biệt vào các tháng hè.
Các sản phẩm giá rẻ có xu hướng lỗi thời ngày càng nhanh. Tuy nhiên nguy cơ này
là không cao đối với những nhãn hiệu nổi tiếng đã có chỗ đứng trên thị trường. Các
sản phẩm của những nhãn hiệu lớn chủ yếu cạnh tranh qua chất lượng và kiểu dáng
sản phẩm.
Các nhà phân phối hàng kim khí điện máy ngày càng nắm vững hơn tình hình thị
trường, họ liên tục tung ra các đợt khuyến mãi, giảm giá, tặng quà vào những dip lễ
lớn. Tuy nhiên, các biện pháp này chủ yếu được áp dụng tại các thành phố lớn và do
một số nhà phân phối lớn thực hiện thông qua hệ thống siêu thị kim khí điện máy.
Người tiêu dùng ngày càng khó tính hơn trong việc lựa chọn sản phẩm do thu nhập
thực tế của phần lớn người tiêu dùng là giảm khi giá cả tăng cao, đặc biệt là giá xăng
dầu, cùng với việc ngày càng có nhiều sản phẩm hơn để người tiêu dùng lựa chọn.
Các dự báo của những chuyên gia thị trường kim khí điện máy về tình hình thị
trường năm 2005 nhìn chung là khả quan, đặc biệt là khả năng tiêu thụ rất mạnh của
khu vực hàng giá rẻ. Tuy nhiên, nếu muốn tồn tại, các nhà phân phối hàng kim khí

điện máy cần có chính sách đa dạng hóa mặt hàng để tạo thêm sự lựa chọn cho khách
hàng và cũng để phân tán rủi ro.
1.2. Hiểu biết về DN
1.2.1. Các hoạt động và tình hình kinh doanh chủ yếu
Bản chất của các nguồn doanh thu: từ bán hàng, cung cấp dịch vụ
Cơ cấu doanh thu:
5
Theo sản phẩm thì từ bán hàng chiếm 98% và phần nhỏ là từ cung cấp dịch vụ
chiếm 2%.
Theo khách hàng: bán cho các nhà phân phối 93%, bán trực tiếp 7%.
Các sản phẩm và dịch vụ chính mà doanh nghiệp cung cấp: chủ yếu kinh doanh
các mặt hàng kim khí điện máy, và cung cấp các dịch vụ sửa chữa bảo trì, bảo trì máy
móc cho khách hàng (có tính phí).
Doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng trên để tiêu thụ ở thị trường Việt Nam:
khách hàng chủ yếu của doanh nghiệp là các nhà phân phối, cũng bán trực tiếp nhưng
không đáng kể.
Địa điểm sản xuất, kinh doanh: Trụ sở chính đặt tại Nguyễn Thị Minh Khai quận 3
thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2003, 2004 công ty đã khai trương thêm hai của hàng
trưng bày sản phẩm tại quận 1 và quận 5 nhằm giới thiệu sản phẩm và thương hiệu của
công ty.
Các nhà cung cấp chính: chủ yếu là các hãng điện máy của Nhật Bản. Năm 2004
thì công ty kí hợp đồng làm đại lý độc quyền phân phối máy điều hòa hòa nhiệt
độ,máy nước nóng và tủ lạnh nhãn hiệu Rotus.
1.2.2. Sở hữu, các bên liên quan và cấu trúc tổ chức của DN
 Tổ chức bộ máy quản lý:

6
BAN GIÁM ĐỐC
HỘI ĐỒNG QUẢN
TRỊ

GIÁM ĐỐC KINH
DOANH
GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH
BP
kho
phòng
mua
hàng
phòng
hành
chính
cửa
hàng
KD
phòn
g KD
phòng
kế toán
Bp
tài
vụ
Ban giám đốc của công ty bao gồm Tổng Giám Đốc và hai Phó Tổng Giám Đốc
chịu trách nhiệm điều hành công việc chung của toàn công ty theo chiến lược phát
triển công ty được Hội Đồng Quản Trị thông qua.Những vấn đề quan trọng liên quan
đến định hướng phát triển hoặc những giao dịch quan trọng đều phải được thông qua
tại cuộc họp Hội Đồng Quản Trị trước khi thực hiện.
Giúp việc cho Ban Giám Đốc có hai giám đốc bộ phận, gồm một Giám đốc kinh
doanh phụ trách vấn đề kinh doanh và một Giám đốc tài chính phụ trách tài chính- kế
toán. Giám đốc kinh doanh chịu trách nhiệm về doanh số của công ty và thực hiện kế
hoạch mua hàng và tồn trữ hàng để đảm bảo doanh số theo mục tiêu chung của công

ty. Giám đốc tài chính chịu trách nhiệm cân đối thu- chi, cơ cấu các nguồn lực tài
chính để tài trợ cho các hoạt động của công ty, đồng thời tổ chức hệ thống kế toán để
ghi chép, theo dõi tình hình hoạt động của công ty để báo cáo cho Ban Giám Đốc và
cho các đối tượng bên ngoài khác (chủ yếu là công ty mẹ và cơ quan thuế)
 Tổ chức và hoạt động của bộ máy kế toán
a. Nhân sự
Nhân sự phòng kế toán hiện tại có 5 người:Bà Lâm Ngọc Hà-kế toán trưởng, cô
Hoàng Liên Thanh-kế toán tổng hợp,cô Phạm Thị Mơ-kế toán thanh toán, cô Nguyễn
Thị Lan-kế toán công nợ, cô Trịnh Thị Huyền-kế toán hàng tồn kho. Cô Huyền là nhân
viên mới bắt đầu làm việc vào tháng 10/2004, sau khi cô Phạm Thị Hoa Mai xin nghỉ
việc (ngay sau khi ông Thành-kế toán trưởng cũ của công ty xin từ chức vào cuối năm
2004). Tuy nhiên, do công ty BTL thuê dịch vụ của công ty Laostrans để xử lý các thủ
tục nhập hàng nên công việc của kế toán hàng tồn kho không đến nỗi quá phức tạp.
Tất cả các nhân viên làm việc tại phòng kế toán đều có trình độ đại học.
Ngoài ra, công ty không thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ hay một phòng ban
nào có chức năng tương tự.
b. Tin học hóa công tác kế toán
Công ty sử dụng phần mềm kế toán Auto Balacing, một phần mềm khá lạc hậu và
có nhiều điểm không tương thích với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam. Phần
mền này chỉ mở được sổ kế toán tổng hợp và sổ chi tiết công nợ, không lập được bất
cứ chứng từ nào, toàn bộ hệ thống chứng từ được xử lý thủ công với mẫu in sẵn và
đánh số từ trước, cung cấp các báo cáo ở mức độ rất hạn chế. Phần mềm tự động cân
đối bằng cách tạo ra một tài khoản trên bảng cân đối kế toán với số dư bằng đúng số
chênh lệch, ngoài ra phần mềm cò cho phép người dùng xóa, sửa, thêm, bớt nghiệp vụ
ngay cả khi đã chuyển sổ cái.
7
c. Một số diễn biến quan trọng trong hoạt động của phòng kế toán từ khi thành lập.
Cuối năm 2004 ông Thành (kế toán trưởng) nghỉ việc do bất đồng với Giám đốc
tài chính về việc xử lý các khoản mục chi phí không có chứng từ hợp lệ.
Khi bà Hà nhận chức thay ông Thành thì những khoản chi không có chứng từ hợp

lệ cũng được thanh toán miễn là được phê duyệt đầy đủ.
Tình hình thu hồi nợ phải thu của công ty trở nên trì trệ hơn do khách hàng chậm
trễ trong việc thanh toán tiền, các nhà cung cấp trong nước cũng có xu hướng đòi nợ
sớm và quyết liệt hơn
Biện pháp trong năm tới là thắt chặt thời hạn bán chịu đối với những khách hàng
thường xuyên không thanh toán đúng hạn. Tuy nhiên qua năm 2005 vẫn chưa được
Ban giám đốc chấp thuận.
1.2.3. Các thay đổi lớn về quy mô hoạt động của DN
Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động trong năm 1996, qui mô của Doanh nghiệp chưa
lớn. Nhưng từ năm 2002, công ty đẩy mạnh qui mô chuyển sang kinh doanh các loại
hàng xuất khẩu ở Nhật Bản. Liên tục trong 2 năm 2003 và 2004 công ty đã khai trương
thêm hai cửa hàng trưng bày sản phẩm tại Quận 1 và Quận 5 nhằm giới thiệu sản
phẩm và thương hiệu của công ty. Dựa vào kết quả khả quan thu từ hoạt động của hai
cửa hàng này, công ty đang triển khai thêm kế hoạch xây dựng một cửa hàng tương tự
tại quận Tân Bình trong năm 2005, kế hoạch dự kiến cũng là thuê một mặt bằng có vị
trí tốt và bỏ thêm vào chi phí để trang trí trước khi sử dụng, tương tự như hai cửa hàng
trước.
Năm 2004 cũng là năm công ty kí được hợp đồng làm đại lý độc quyền phân phối
máy điều hòa nhiệt độ, máy nước nóng và tủ lạnh nhãn hiệu Rotus. Với ưu thế giá rẻ,
những mặt hàng này đều bán rất chạy trong năm 2004 và góp phần quan trọng trong
việc đẩy doanh số của năm 2004 tăng đột biến, bên cạnh việc liên tục tăng nhanh
doanh số của sản phẩm truyền thống của công ty.
1.2.4 Hiểu biết về hệ thống kế toán áp dụng
2. Chế độ kế toán: BTL đăng ký chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam.
3. Niên độ tài chính bắt đầu vào ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm.
4. Hình thức sổ kế toán: Nhật ký chung
5. Đồng tiền sử dụng để ghi sổ và lập báo cáo tài chính: VNĐ
6. Nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
7. Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ
8. tính giá xuất hàng tồn kho theo phương pháp FIFO

9. Khấu hao tài sản cố định được trích theo phương pháp đường thẳng, tỷ lệ khấu
hao cho nhà cửa là 4%/năm, phương tiện vận chuyển là 10%/năm và thiết bị
quản lý là 20% - 25%/năm
8
1.2.5. Kết quả kinh doanh và thuế
Từ khi đi vào hoạt động năm 1996, công ty liên tục bị lỗ. Tuy nhiên 6 năm liên tiếp
lỗ lãi thì từ năm 2002 công ty đã bắt đầu có lãi.
Hàng năm công ty đều kê khai và nộp thuế đầy đủ, chưa có tiền lệ bị cơ quan thuế
vụ phát hiện ra các sai phạm, hành vi trốn hay hoãn việc nộp thuế.
Công ty được chuyển lỗ của những năm đầu hoạt động nên đến năm 2004 công ty
vẫn chưa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp do theo kế hoạch chuyển lỗ đã đăng ký
do lãi của công ty trong năm 2002, 2003, 2004 vẫn nhỏ hơn số lỗ được chuyển sang.
1.3. Các vấn đề khác
1.3.1. Nhân sự chủ chốt của DN
Họ tên Chức vụ Bằng cấp và kinh
nghiệm
Liên lạc (mail/tel)
Nakatawa Tổng giám
đốc

1.3.2. Nhân sự kế toán
Họ tên Chức vụ Công việc Liên lạc (mail/tel)
Lâm Ngọc Hà Kế toán
trưởng
Hoàng Liên Thanh Kế toán tổng
hợp
Nguyễn Thị Lan Kế toán công
nợ
Trịnh Thị Huyền Kế toán hàng
tồn kho

1.4. GIAO DỊCH BẤT THƯỜNG VÀ CÁC RỦI RO PHÁT HIỆN
Qua việc tìm hiểu KH và môi trường kinh doanh, KTV đã xác định sơ bộ các rủi ro
như sau
9
 Phần mềm kế toán công ty sử dụng không tương thích với chế độ kế toán hiện hành, tự
động cân đối bằng cách thêm một tài khoản bất kỳ với số dư tương ứng sẽ làm sai lệch
so với số liệu thực tế và có thể ảnh hưởng tới bất kỳ tài khoản nào trên báo cáo tài
chính. Cần phải nâng cấp hoặc thay thế bằng một phần mềm kế toán phù hợp hơn.
 Sự thay đổi kế toán trưởng trong kỳ do bất đồng với Giám đốc tài chính về việc xử lý
các khoản chi bất hợp lý làm gián đoạn công tác kế toán. Kế toán trưởng nghỉ cũng là
lí do của kế toán hàng tồn kho xin nghỉ việc.
 Không có hệ thống kiểm soát nội bộ vì vậy khả năng phát hiện sai sót trong quá trình
thực hiện công tác kế toán sẽ hạn chế. Cần lập hệ thống kiểm soát nội bộ cho công ty.
 Từ khi bà Hà lên làm kế toán trưởng thì những khoản chi không hợp lý được phê duyệt
miễn là có đầy đủ chữ ký sẽ làm cho chi phí tăng cao, làm giảm lợi nhuận và cũng có
thể bị trừ ra khi tính thu nhập chịu thuế làm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tăng
lên. Cần phải dựa vào hạn mức tối đa cho phép của những khoản mục chi phí, tìm
những chứng từ chứng minh chi phí đó hợp lý hay không?
 Khó đòi các khoản nợ phải thu sẽ ảnh hưởng đến tình hình quay vòng vốn của doanh
nghiệp, tình trạng chiếm dụng vốn hoặc là mất hẳn các khoản nợ.
 Chủ nợ đòi nợ sớm và quyết liệt hơn làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của
công ty, hạn chế việc quay vòng vốn. Cần phải xác lập lòng tin nơi nhà cung cấp bằng
cách thanh toán đúng hơn trong những lần đầu và có những biện pháp mềm mỏng
khác để lấy lòng tin từ khách hàng.
2. Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị
có tính môi trường đến việc thiết kế, hoạt động xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm
soát nội bộ.
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên quan tới quan điểm

thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lí doanh nghiệp vì vậy qua
việc xem xét hồ sơ về cơ cấu tổ chức của công ty, KTV nhận thấy các vấn đề sau :
- Công ty thiết lập cơ cấu tổ chức theo mô hình tập trung, đứng đầu là Hội đồng quản
trị, sau đó là Ban giám đốc gồm giám đốc kinh doanh và giám đốc tài chính, 2 bộ phận
này trực tiếp quản lí các phòng ban trực thuộc nên các hoạt động trong công ty đều
được kiểm soát và chỉ đạo khá chặt chẽ, phù hợp với từng bộ phận.
- Chính sách nhận sự của công ty có nhiều ưu đãi, tạo điều kiện cho nhân viên hoàn
thành tốt công việc
10
- Kế hoạch mua hàng hay việc thực hiện các khoản chi phí trong công ty đều được thực
hiện theo dự toán, đây vừa là ưu điểm trong chính sách quản lí chi phí của BTL, nhưng
cũng là kẽ hở của việc gian lận, biển thủ khi những khoản chi tiêu bất hợp lí, không có
chừng từ hợp lệ nhưng nằm trong dự toán vẫn được chấp nhận thanh toán
- Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 1996, công ty dưới sự quản lý của ông Andrew
sythes công ty liên tục bị thua lỗ nhưng từ năm 2002 , ông Nakatawa nhận chức tổng
giám đốc thay cho người tiền nhiệm, đây được xem là cột mốc quan trọng khi ông
Nakatawa đã góp công lớn trong việc làm giảm đáng kể giá vốn của hàng nhập khẩu từ
Nhật Bản, tỉ suất lợi nhuận cung cải thiện đáng kể. hội đồng công ty đã quyết định
thưởng cho ông 1% lợi nhuận sau thuế hàng năm. Tuy nhiên, ông đã không nhận hết
số tiền mà chia cho các Phó giám đốc, Trưởng phòng kinh doanh, Giám đốc tài chính
mỗi người 10% số tiền mình được hưởng.Có thể nói rằng nhà quản lý của công ty đã
có quan điểm kinh doanh rất nhạy bén cũng như biết cách cư xử đúng đắn với nhân sự
trong công ty, các quan điểm tốt đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các
qui định và cách thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp.
2.2. Hệ thống kế toán áp dụng
Qua việc tìm hiểu các thông tin trong hồ sơ công ty, KTV nhận thấy rằng :
Thứ nhất, công ty áp dụng chế độ và chuẩn mực kế toán Việt Nam, niên độ tài
chính bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm, đồng tiền sử dụng để
ghi sổ và lập BCTC là VNĐ, khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường
thẳng… Như vậy, công ty BTL đã áp dụng đầy đủ các quy định theo chế độ kế toán

Việt Nam, đây cũng là cơ sở để kiểm toán viên đưa ra các nhận định, tiêu chí khi kiểm
toán các thông tin khi kiểm toán BCTC của công ty.
Thứ hai, bộ máy kế toán của BTL có sự phân chia trách nhiệm giữa các bộ phận
khá rõ ràng, mỗi nhân viên đảm nhận một lĩnh vực kế toán riêng, đồng thời có thực
hiện sự phân chia 3 chức năng : xử lí nghiệp vụ, ghi chép sổ sách, và bảo quản tài sản,
hơn nữa các nhân viên tại phòng kế toán đều có trình độ đại học. Như vậy, xét về
nguyên tắc, công ty BTL đã xây dựng một bộ máy kế toán khá phù hợp với quy định
kế toán Việt Nam.
Thứ ba, phần mềm kế toán công ty áp dụng là Auto Balancing – một phần mềm kế
toán khá lạc hậu và có nhiều điểm không tương thích với chuẩn mực và chế độ kế toán
Việt Nam. Auto Balancing chỉ mở được các sổ kế toán tổng hợp và sổ chi tiết công nợ
và cung cấp các báo cáo ở mức độ rất hạn chế, ngoài ra nó còn tự động điều chỉnh các
sai sót xảy ra khi lập bảng cân đối kế toán. Rõ ràng đây là một điểm yếu mà công ty
cần khắc phục kịp thời, nó đem lại nhiều rủi ro không chỉ về bộ máy kế toán mà còn
ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công ty khi hệ thống kế toán đưa ra các thông
tin không chính xác cho các quyết định kinh doanh của ban quản lí, hay sự nhìn nhận
sai lệch về các thông tin tài chính của công ty từ các đối tượng bên ngoài công ty, mà
đặc biệt là các đối tác đầu tư khi đang trong giai đoạn tìm hiểu đầu tư.
11
Thứ tư, về các thủ tục kiểm soát, công ty đã thiết lập một hệ thồng kiểm soát nhằm
hạn chế các gian lận và sai phạm. Thông qua việc tìm hiểu các chu trình kế toán của
công ty, KTV nhận thấy rằng : hệ thống kế toán công ty thực hiện các thủ tục như
kiểm kê hàng tồn kho, quản lí nhân sự, đối chiếu công nợ với khách hàng và nhà cung
cấp… được thực hiện khá đầy đủ, có sự kiểm soát khá chặt chẽ, phù hợp với các
nguyên tắc kế toán đề ra. Tuy nhiên, với một số chu trình như : chu trình mua hàng và
chi tiền, chu trình bán hàng và thu tiền, vẫn tồn tại không ít những nhược điểm, sai
sót, vi phạm một số nguyên tắc về tính độc lập, phân chia trách nhiệm giữa một số
nhân viên, hay sự phù hợp trong quá trình luân chuyển chứng từ khi có nghiệp vụ kinh
tế phát sinh, do đó có thể gây nên những rủi ro trọng yếu cho các thông tin trên báo
cáo tài chính.

Thứ năm, về kiểm toán nội bộ, công ty BTL không thành lập bộ phận kiểm toán
nội bộ hay một phòng ban nào có chức năng tương tự. Như vậy, đây là một yếu kém
cần khắc phục trong hệ thống kiểm soát nội bộ của BTL, bởi một công ty với sự đầu tư
của 100% vốn nước ngoài thì việc thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ vô cùng quan
trọng, nó vừa tạo điều kiện để công ty kiểm soát chặt chẽ các chu trình, nghiệp vụ phát
sinh trong bộ máy kế toán, vừa giúp thực hiện tốt các quy định yêu cầu trong chuẩn
mực, chế độ kế toán quy định, và đặc biệt là tạo niềm tin với các đối tác đầu tư từ nước
ngoài, tạo cơ hội mở rộng quy mô doanh nghiệp.
3. Xác lập mức trọng yếu cho tổng thể và từng bộ phận của báo cáo tài
chính
3.1. Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính và xác định khu vực rủi ro cao (số liệu thô phụ
lục I, II)
Trên cơ sở những báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp cùng với các phân tích sơ
bộ, KTV đã nhận thấy được sự biến động tình hình kinh doanh của công ty qua 2 năm
2003 – 2004. Nhìn chung, tình hình kinh doanh của công ty TNHH BTL Việt Nam đạt
kết quả khả quan. Trước tình hình cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế và sự xuất hiện
của nhiều sản phẩm mới cạnh tranh trên thị trường nhưng lợi nhuận sau thuế của công
ty vẫn tăng lên rất mạnh với mức 3.316.872 triệu đồng, tương ứng 200,3%., vốn chủ
sở hữu tăng 4.972.924 triệu đồng tương ứng 17,1%,các khoản nợ phải trả mà chủ yếu
là nợ ngắn hạn có giảm xuống 11,6% do đó hệ số thanh toán của công ty được cải
thiện đáng kể khi qua 2 năm hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán hiện hành đều
tăng lên. Đồng thời hệ số đo lường hiệu quả hoạt động và hệ số sinh lời cũng tăng lên
thấy rõ trong năm 2004. Như vậy, đặt trong thời kì các doanh nghiệp phải đối mặt với
lạm phát tăng cao thì đây có thể nói là một dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ tiềm lực kinh
tế và khả năng kinh doanh của công ty
12
Tuy nhiên, khi xem xét cụ thể từng khoản mục trong các báo cáo tài chính và
đối chiếu với tình hình thực tại về môi trường kinh doanh tại công ty cũng như tình
hình thực tế của thị trường kim khí điện máy năm 2004, KTV đã phát hiện ra các
khoản mục có thể có rủi ro cao và cần phải xem xét trong quá trình thực hiện kiểm

toán, cụ thể như sau :
Năm 2004, khoản phải thu khách hàng tăng đột biến với mức 109,5% tương
ứng tăng 2.455.813 triệu đồng trong khi đó tiền mặt tại quỹ của công ty cũng tăng
tương đối cao với mức 81,8%. Do đó, khoản mục này có thể có rủi ro về việc ghi nhận
khách hàng ảo trong năm 2004. Bởi vậy cần thực hiện gửi thư xác nhận số dư phải thu
khách hàng, xem xét tuổi nợ, kiểm tra thanh toán sau…, xác định khả năng thu hồi nợ
Hàng tồn kho tăng khá cao với mức 40,6% tương ứng tăng 3.706.764 triệu
đồng, khoản mục này có thể có rủi ro về hàng hóa bị lạc hậu, lỗi thời ,bởi trong năm
2004 công ty có số lượng máy điều hòa, máy nóng lạnh và tủ lạnh giá rẻ tương đối lớn
Do đó cần xem xét chính sách HTK có gì thay đổi, kiểm tra xem HTK có bị ứ đọng,
giảm giá, lỗi thời, chu kì sống của sản phẩm…
Công ty BTL chuyên nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nhưng trong 2 năm
2003 và 2004 không phát sinh khoản chêch lệch tỷ giá hối đoái nào
Doanh thu và chi phí tài chính năm 2004 tăng đột biến, lần lượt tăng 190,5% và
193,6%, trong khi đó năm nay công ty không có các khoản đầu tư tài chính ngắn và
dài hạn nào, đồng thời cũng không có các khoản vay nợ ngắn và dài han, các khoản
chênh lệch tỷ giá hối đoái nào, do đó khoản mục này có thể có rủi ro về gian lận, khai
khống hoặc phân loại và ghi nhận sai khoản mục chi phí cũng như doanh thu. Cần tập
trung kiểm tra việc phân loại chi phí, doanh thu đã hợp lí chưa; xem xét chi tiết các
khoản doanh thu và chi phí tài chính có đầy đủ chứng từ hợp lệ chi phí bán hàng tăng
12,3%, tuy nhiên khoản mục này có thể có rủi ro về khai thiếu chi phí, bởi năm 2004
tình hình cạnh tranh của các hãng kim khí điện máy trên thị trường khá cao, công ty
phải đẩy mạnh các dịch vụ bán hàng như: quảng cáo, khuyến mãi, đồng thời công ty
có mở thêm 2 cửa hàng trưng bày sản phẩm nên chi phí bán hàng năm 2004 sẽ tăng lên
khá cao. Do đó cần kiểm tra chi tiết khoản mục này.
Chi phí quản lí doanh nghiệp tăng 39,6%, mức tăng tuy không cao nhưng khoản
mục này có thể có rủi ro về việc khai khống chi phí, hoặc thanh toán cho các chi phí
bất hợp lí, bởi việc quản lí chi phí của công ty chỉ dựa vào dự toán ngân sách cấp cho
từng bộ phận, các khoản chi không hợp lệ vẫn được chấp nhận thanh toán miễn là
được phê duyệt đầy đủ. Do đó, cần kiểm tra chi tiết từng khoản mục chi, yêu cầu kế

toán xét duyệt thanh toán khi có chứng từ hợp lí, hợp lệ.
Giá trị hao mòn lũy kế năm 2004 tuy tăng không cao (37,5%) nhưng KTV cũng
cần phải xem xét lại khoản mục này, bởi việc lập bảng tính khấu hao không được thực
hiện lần lượt theo từng tháng mà kế toán công ty thường copy tháng này qua tháng
khác, có thể có rủi ro về việc trích khấu hao tháng này sai dẫn đến sai các tháng khác
mà không phát hiện được. Do đó, KTV cần kiểm tra lại bảng tính khấu hao, phương
pháp khấu hao áp dụng…
13
Các khoản phải trả người lao động giảm tuy không nhiều (25,1%) nhưng trong
năm qua công ty đang mở rộng quy mô bằng việc mở thêm các cửa hàng trưng bày sản
phẩm và số lượng công nhân có thể tăng thêm. Bởi vậy, khoản mục này có thể có rủi
ro về việc ghi nhận thiếu hoặc tính toán sai chi phí lương nhân công.
Năm 2004 tình hình kinh doanh ngành kim khí điện máy gặp nhiều khó khăn,
đặc biệt cuối quý IV mức tiêu thụ sản phẩm bị chựng lại nhưng Doanh thu của công ty
vẫn tăng lên. Do đó, có thể có rủi ro về gian lận hoặc khai khống doanh thu.
3.2. Phân tích từng chu trình tìm rủi ro và đề ra giải pháp.
Chu trình Yếu kém Rủi ro Giải pháp
Mua hàng
Đối với
mua hàng
về để bán
Đơn đặt hàng chỉ có
2 liên
Thiếu căn cứ ghi
nhận ở một số bộ
phận
Cần có 1 liên nữa để
lại tại phòng mua
hàng
Chi tiền chỉ dựa vào

thông báo bằng email
Có thể không nhận
được email, lỗi mạng
Chỉ chi tiền khi có
giấy tờ đã đóng dấu
xác nhận của cấp trên
Ghi nhận hàng nhập
kho theo hóa đơn của
nhà cung cấp
Có thể nhập kho
những đơn đặt hàng
ảo, hàng hóa không
đúng như DDH
Cần dựa trên cả đơn
đặt hàng và hóa đơn.
Thủ kho lập phiếu
nhập kho khi chưa
nhận được hàng
Hàng có thể bị thất
lạc, hoặc hàng về
không đầy đủ.hoặc
hư hỏng thì không
thể đổi được
Phải chờ hàng về thủ
kho mới lập phiếu
nhập kho
Các loại
hàng hóa
khác
Thủ quỹ phụ trách

mua hàng
Thủ quỹ có thể biển
thủ tiền hoặc hàng
hóa
Tách biệt bộ phận
mua hàng và thủ quỹ
Xét duyệt mua hàng
căn cứ vào hạn mức
kinh phí
Có thể chi tiền cho
những khoản không
hợp lý hoặc không
cần thiết
Khi chi tiền cần phải
dựa vào hạn mức kinh
phí nhưng cũng cần
phải xem xét xem
khoản nào là hợp lý,
khoản nào không hợp
lý.
A, chi tiền
mặt
Chi tiêu không có
xét duyệt (chi trong
hạn mức tín dụng)
Có thể chi những
khoản không hợp lý,
chi những mặt hàng
không cần thiết
Cần có sự xét duyệt

hợp lý
Thủ quỹ tự động rút Thủ quỹ biển thủ tiền Trước khi thủ quỹ rút
14
tiền khi không có sự
xét duyệt (khi số dư
thấp hơn 2 triệu
đồng, thủ quỹ tự
động ra ngân hàng
làm thủ tục rút tiền
về nhập quỹ)
tiền cần có cần có sự
xét duyệt của cấp trên
B, chi tiền
gửi ngân
hàng
Ghi nhận chi phí khi
chưa có chứng từ đầy
đủ
Có thể có hóa đơn ảo Cần đối chiếu với đơn
đặt hàng
Đóng dấu thanh toán
khi chưa nhận được
giấy báo nợ
Có thể tiền chưa
được chuyển đến tài
khoản của nhà cung
cấp.
Nhận được giấy báo
nợ của ngân hàng mới
đóng dấu thanh toán

Bán hàng
Bán cho
nhà phân
phối:
Phê duyệt DDH khi
chưa xem xét lại số
dư HTK chỉ xét mức
tín dụng của KH
Cung ứng hàng hóa
cho KH không kịp
thời, đầy đủ
Cần phải xem xét
lượng hàng tồn trong
kho trước khi duyệt
DDH
Thông báo bằng
Email
-Khách hàng ảo
-Lỗi mạng
-Quên thông báo
Đối chiếu và kiểm tra
thường xuyên các
ĐĐH của nhà phân
phối. Nên gửi trực
tiếp đên nhà phân
phối thay bằng gửi
qua Email.
Xuất hàng mà không
có sự đối chiếu với
DĐH

Chứng từ không đầy
đủ, xuất sai hàng hóa
Khi nhận hàng cần
phải yêu cầu nhà cung
cấp kèm theo ĐĐH để
đối chiếu.
Thu tiền
Phần mềm kế toán tự
động ghi nhận DT
khi cập nhật khoản
phải thu
Ghi nhận sai doanh
thu do phần mềm lạc
hậu lỗi thời và có
chức năng tự điều
chỉnh chênh lệch
Nâng cấp phần mềm
kế toán, cài đặt lại chế
độ, không phải khoản
phải thu nào cũng ghi
nhận vào doanh thu
Dựa vào hồ sơ trên
giấy tờ để cập nhật
Sót nghiệp vụ Khi ghi nhận khoản
nợ vào phần mềm nên
khai báo thời hạn nợ
để xác định những
15
những khoản nợ đến
hạn

khoản nợ đến hạn
KTCN đi đòi nợ và
trực tiếp thu tiền
Biển thủ Nên tách người theo
dõi công nợ và người
đi đòi nợ
Khi thu được tiền thì
khoản nợ phải thu
được xóa trên sổ chi
tiết
Không thể theo dõi
chi tiết các khoản nợ
trong năm đã phát
sinh cũng như theo
dõi khả năng trả nợ
của khách hàng đó
Không được xóa,
trường hợp này phải
lưu lại và nên đánh
dấu vào những trường
hợp đã trả nợ để có
thể theo dõi một cách
rõ ràng và chính xác.
Đầu tư
thanh lý
TSCĐ và
tính khấu
hao
Trưởng bộ phận xét
duyệt căn cứ vào dự

toán đã được duyệt
để xét duyệt phiếu
yêu cầu
những TSCĐ có giá
trị lớn nhưng cần
thay mới sẽ không
được mua.
Trưởng bộ phận căn
cứ trên dự toán và
mức độ cần thiết của
TSCĐ để xét duyệt,
giám đốc duyệt
Khi nhận được phiếu
yêu cầu đã được
duyệt, BP mua hàng
lập các thư mời báo
giá gửi cho các nhà
cung cấp
Không phải khi nào
công ty cũng có đủ
nguồn lực để đáp ứng
hết những yêu cầu từ
các bộ phận có nhu
cầu
Phiếu yêu cầu đã
được duyệt cần
chuyển cho giám đốc
trước để giám đốc
duyệt xem có nên tiến
hành mua sắm TSCĐ

đó không
Đơn đặt hàng chỉ lập
2 liên cho giám đốc
và văn thư.
Một số bộ phận cần
chứng từ để lưu trữ
không có
DDH lập 3 liên, trong
đó 1 liên gửi cho bộ
phận yêu cầu xét
duyệt xem TSCĐ cần
mua đã chính xác.
Copy bảng tính khấu
hao của tháng trước
để tính khấu hao
tháng này
Nếu bảng tính khấu
hao của tháng trước
bị tính sai dẫn đến
tính khấu hao tháng
này sai và các tháng
tiếp theo cũng vậy
Doanh nghiệp tính
khấu hao theo đường
thẳng nên việc tính
khấu hao tương đối
đơn giản vì vậy không
nên copy.
Lập dự
toán ngân

sách
Chi phí thường
xuyên hay đầu tư
không nằm trong dự
toán hay có giá cao
hơn dự toán sẽ không
Những khoản chi cần
thiết không được
thực hiện
Cần linh động trong
việc chi tiêu khi đã
lập dự toán, nên xét
đến sự cần thiết của
việc chi tiêu này khi
16
được duyệt chi khi
thanh toán
nó ảnh hưởng lớn đến
tình hình hoạt động
SXKD của công ty.
Nhân sự Để thanh toán lần
cuối, nhân viên nghỉ
việc sẽ làm việc với
cô Thanh để tính ra
số lương tháng cuối
cùng, số tạm ứng hay
các khoản khác chưa
thanh toán với công
ty và trợ cấp thôi
việc.

Khi tính lương cho
nhân viên nghỉ việc
không có sự tham gia
của người chấm công
điều này có thể dẫn
đến sai sot trong quá
trình tính lương.
Cần phải có sự tham
gia của nhân viên
chấm công
Khi có nhân viên mới
thì thỏa thuận các
điều khoản hợp đồng
là cô Thanh mà
không phải ban giám
đốc của công ty. Hơn
nữa hợp đồng lại
được kí tên sẵn.
Có thể tạo nhân viên
khống trong công ty,
hoặc các điều khoản
không đúng với quy
định cấp trên.
Phải có phòng nhân
sự đảm bảo việc tuyển
dụng, hợp đồng lao
động phải do ban
giám đốc trong công
ty quyết định và được
kí sau khi lập.

Bảng tính lương
được lập căn cứ vào
hồ sơ nhân sự.
Sai sót trong quá
trình lập vì không
dựa vào: bảng chấm
công, thẻ thời gian
hay hợp đồng giao
khoán gì cả.
Phải dựa vào các
chứng từ trên để đưa
ra bảng tính lương.
Chỉnh hợp
tài khoản
tiền gửi
ngân hàng
Cô Thanh – KTTH
vừa đối chiếu các
khoản thu chi qua
NH đã được ghi nhận
trên sổ sách vừa xác
nhận đã đối chiếu lên
sổ phụ và lưu sổ phụ
cùng các biên bảng
giải trình vào hồ sơ
riêng, đồng thời thực
hiện các bút toán
điều chỉnh nếu cần
thiết
Gian lận, biển thủ Phân chia trách

nhiệm. Cô Thanh sẽ
đối chiếu, Kế toán
trưởng sẽ xác nhận và
giao cho cô Thanh
điều chỉnh
Đối chiếu
công nợ
với nhà
cung cấp
Cô Lan -KTCN vừa
trích số liệu, lập biên
bản đối chiếu công
nợ vừa theo dõi đối
Ghi khống, ghi thiếu
các khoản công nợ
Cô Lan sẽ trích số
liệu, lập biên bản dối
chiếu công nợ gửi cho
NCC và KH, một kế
17
và khách
hàng
chiếu để thu hồi các
biên bản và giải
quyết
toán khác sẽ theo dõi,
đối chiếu để thu hồi
các biên bản. Nếu có
sai biệt thì báo và sẽ
cùng với cô Lan xem

xét lại để giải quyết
Kê khai và
quyết toán
thuế
Cô Thanh đã trừ
trước vào tiền lương
của các nhân viên có
liên quan trong bảng
tính lương
Nếu tính lương sai
mà kế toán lại trừ
trước tiền lương
trong bảng tính lương
thì sẽ dẫn đến sai sót.
Cô Thanh phải giao
cho thủ quỹ phát
lương, đối chiếu với
nhân viên, có gì sai
sót thì phải điều chỉnh
rồi mời trừ sau
3.3. Xác định ban đầu chiến lược kiểm toán
Chu trình TK ảnh hưởng Chiến lược kiểm
toán
Ghi chú
Chu trình bán
hàng – thu tiền
511,
421,711,413
111, 112,
642,3331

Mức cao HTKSNB có thiết kế
nhưng hoạt động chưa
hiệu quả
Chu trình mua
hàng- trả tiền
111, 112, 331,
133
Mức cao HTKSNB có thiết kế
nhưng hoạt động chưa
hiệu quả
Chu trình mua
sắm tài sản cố
định
211, 133,
641,642, 111,
112, 331
Mức trung bình Hệ thống KSNB có thiết
kế và hoạt động. KTV kế
toán viên không thực hiện
kiểm tra HTKSNB
Chu trình lương
và các khoản trích
theo lương
334, 111, 112 Mức trung bình Hệ thống KSNB có thiết
kế và hoạt động. KTV kế
toán viên không thực hiện
kiểm tra HTKSNB
Chu trình hàng 632, 156 Mức trung bình Hệ thống KSNB có thiết
18
tồn kho, giá vốn kế và hoạt động. KTV kế

toán viên không thực hiện
kiểm tra HTKSNB
3.4 Xác định mức trọng yếu tổng thể và mức trọng yếu thực hiện trong giai
đoạn kiểm lập kế hoạch
Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế

Tiêu chí được sử dụng để ước tính mức
trọng yếu
(LNTT/DT/VCSH/Tổng TS)
DT DT
Lý do lựa chọn tiêu chí này để xác định
mức trọng yếu
Do công ty TNHH BTL hoạt động chủ
yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ,
công ty luôn kì vọng có doanh thu cao
để chiếm lĩnh thị trường khi sự cạnh
tranh trên thị trường kim khí điện máy
ngày càng gay gắt. Mặt khác lợi nhuận
của công ty có biến động thất thường
trong nhiều năm bởi vậy KTV lựa chọn
DT làm tiêu chí xác định mức trọng yếu
Giá trị tiêu chí được lựa chọn 55,000,000
55,213,16
4
Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu
- LNTT: 5%-10%
- DT: 0,5%-3%
- Tổng TS hoặc VCSH: 2%
1.5% 1.5%
Mức trọng yếu tổng thể (PM) 825,000 828,197

Mức trọng yếu thực hiện: MP= (50%-
75%)*PM 50%*PM
41
2,500

414,099
Ngưỡng sai sót không đáng kể/sai sót
có thể bỏ qua 4%*MP 16,500 16,564
19
Căn cứ vào bảng trên, KTV chọn ra mức trọng yếu để áp dụng khi thực hiện
kiểm toán
Chỉ tiêu lựa chon Năm nay
Năm
trước
Mức trọng yếu tổng thể 825,000 0
Mức trọng yếu thực hiện 412,500 0
Ngưỡng sai sót không đáng kể/sai sót có thể bỏ qua 16,500 0
4. Tổng hợp các rủi ro trọng yếu
Các rủi ro
trọng yếu
Mô tả rủi ro
CSDL Ảnh hưởng
tới khoản
mục nào
trên BCTC
Thủ tục kiểm
toán
Ghi nhận
khống chi
phí QLDN

CPQLDN có thể ghi
nhận khống do các
khoản chi tiêu bất
hợp lí, không có
chứng từ hợp lệ
nhưng kế toán vẫn
chấp nhận thanh
toán, ghi nhận
Hiện hữu,
phát sinh
TK 335,
642, 421,
333
Kiểm tra kĩ các
khoản chi phí
phát sinh có
chứng từ hợp lí,
hợp lệ không,
việc phân loại
chi phí phù hợp
với mục đích sử
dụng không
Ghi nhận
thiếu các
khoản chênh
lệch tỷ giá
hối đoái
Các khoản mục tiền,
công nợ có gốc
ngoại tệ chưa được

đánh giá lại vào thời
điểm cuối kì
Đầy đủ
TK 111,
112, 131,
331 , 413,
635, 515
Kiểm tra lại các
khoản mục tiền
tệ có gốc ngoại
tệ có thể có phát
sinh chênh lệch
tỷ giá
20
Ghi nhận
khách hàng
ảo, không có
thật trong kì
Khoản phải thu
khách hàng trong kì
tăng đột biến
Hiện hữu
phát sinh,
quyền và
nghĩa vụ
TK 131,
511, 333
Gửi thư xác
nhận tới khách
hàng, xem xét

tuổi nợ, kiểm tra
thanh toán sau
HTK có thể
bị lỗi thời,
lạc hậu
HTK tăng, bên cạnh
đó công ty có khối
lượng hàng hóa giá
rẻ tương đối lớn, nếu
không tiêu thụ kịp
thời sẽ có nguy cơ bị
lỗi thời, lạc hậu do
có các sản phẩm
mới thay thế
Tính giá,
đo lường
TK 156,
133, 632,
Thực hiện kiểm
kê HTK, xem
xét chính sách
HTK có gì thay
đổi,ngày tháng
sản xuất ghi trên
hàng hóa
Ghi nhận
doanh thu
không có
thật
Doanh thu có thể ghi

nhận không đúng kì,
không có thật
(doanh thu ảo,
doanh thu bị ghi
nhận sớm)
Hiện hữu
phát sinh,
trình bày
và công bố
TK 511,
131, 421,
333
Kiểm tra trước
và sau ngày
khóa sổ 15 ngày
để xem xét việc
chia cắt niên độ,
đối chiếu giữa
hóa đơn cung
cấp dịch vụ
hàng hóa với số
liệu kế toán,
biên bản nghiệm
thu, bàn giao
hàng hóa đã
được các bên
xác nhận
KẾT LUẬN
Chúng tôi đã hoàn toàn hài lòng rằng hợp đồng kiểm toán này đã được lập
kế hoạch một cách thích hợp, qua đó đã đưa ra những xem xét đầy đủ đối với các

đánh giá của chúng tôi về tầm quan trọng của những yếu tố rủi ro đã được xác
định, bao gồm cả yếu tố rủi ro gian lận, và qua đó phê duyệt cho tiến hành công
việc tại KH, như đã được lập kế hoạch.
Các thành viên nhóm kiểm toán đã đọc, thảo luận và nắm vững các nội dung của
Kế hoạch kiểm toán trên đây.
21
Chức danh Họ tên Chữ ký Ngày/
tháng
Thành viên BGĐ phụ trách cuộc
KT
Người soát xét công việc KSCL
Chủ nhiệm kiểm toán
KTV chính/Trưởng nhóm
Kiểm toán viên
Trợ lý 1
Trợ lý 2
Trợ lý 3
……….
……….
5. Thư quản lý gửi cho khách hàng
Công ty Kiểm toán Student Accountant Ltd
TP Hồ Chí Minh ngày 10/02/2005
Kính gửi : Hội đồng quản trị công ty TNHH BTL Việt Nam
Kính thưa quý Ông
Chúng tôi đã kiểm tra báo cáo tài chính của Công ty TNHH BTL Việt Nam
cho năm kết thúc ngày 31/12/2004 và sau đó đã phát hành báo cáo của chúng tôi
ngày 10/02/2005. Chúng tôi đã nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
về kế toán của công ty, trong phạm vi yêu cầu của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
như là một phần của cuộc kiểm tra. Theo các chuẩn mực này mục tiêu của sự đánh
giá là là để làm cơ sở cho việc dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ về kế toán nhằm

22
xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thiết cho việc
đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính và đồng thời để trợ giúp cho kiểm toán viên lập
lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính.
Việc kiểm tra của chúng tôi tuân thủ theo các các chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam, bao gồm cả vệc xem xét và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ về kế toán với
các mục đích đã nêu trên và không cần thiết phải đưa ra tất cả mọi yếu kém về kiểm
soát nội bộ vì việc kiểm tra chỉ được tiến hành trên các thử nghiệm chọn lọc đối với
sổ sách kế toán và dữ liệu liên quan. Tuy nhiên, việc kiểm tra và xem xét cho thấy
đã có một vài tình trạng mà chúng tôi cho là trọng yếu sau đây:
Trong chu trình bán hàng thu tiền việc chấp nhận đơn đặt hàng chỉ dựa vào
hạn mức tín dụng của khách hàng, thông báo thông tin hàng hóa khách hàng đặt qua
Email cho bộ phận thủ kho chuẩn bị hàng cũng như việc xuất kho hàng hóa không
có sự đối chiếu với đơn đặt hàng sẽ dẫn đến những sai phạm tiềm tàng như cung
ứng hàng hóa cho khách hàng không kịp thời, không đúng chủng loại, không đủ số
lượng…, Đồng thời khi phần mềm tự động ghi nhận doanh thu khi cập nhật một
khoản phải thu sẽ làm cho doanh thu có thể bị ghi nhận sai khi những khoản phải
thu phát sinh có thể là khoản thu nhập khác. Vì vậy cần phải kiểm tra số dư hàng
tồn kho trước khi chấp nhận đơn đặt hàng, thông báo trực tiếp bằng văn bản cho bộ
phận kho hoặc gửi đơn đặt hàng cho bộ phận kho chuẩn bị hàng hóa để giao cho
khách hàng, nâng cấp phần mềm kế toán, chỉ khi nào bán hàng hóa mới ghi nhận
doanh thu.
Trong chu trình mua hàng chi tiền thì việc chấp nhận thanh toán hàng hóa đã
mua chỉ dựa vào thông báo qua Email, không có chứng từ nào để lưu sổ, căn cứ cụ
thể để chi tiền. Ghi nhận hàng hóa mua về lập phiếu nhập kho mà không có sự đối
chiếu với đơn đặt hàng. Mua hàng hóa khác chỉ căn cứ vào hạn mức tín dụng cho
phép, thủ quỹ là người đi mua hàng hóa đó, mua về thì giao hàng hóa cho bộ phận
sử dụng, còn hóa đơn thì giao cho kế toán ghi nhận tình trạng này sẽ dẫn đến việc
nhập kho hàng hóa không đúng như đơn đặt hàng, tình trạng biển thủ, gian lận xảy
ra. Đồng thời việc thủ quỹ tự động ra ngân hàng rút tiền về nhập quỹ mà không có

23
sự phê duyệt sẽ dễ dàng xảy ra tình trạng chiếm dụng quỹ công ty hoặc biển thủ.
Hay việc đóng dấu đã thanh toán khi chưa nhận được giấy báo nợ của ngân hàng
trường hợp ngân hàng quên chuyển tiền thì sẽ dẫn đến việc thanh toán quá hạn cho
nhà cũng cấp, hoặc là ta không còn theo dõi nợ phải trả cho nhà cung cấp đó nữa.
Vì vậy cần phải thiết kế lại hệ thống kiểm soát nội bộ trong chu trình này như chỉ
chấp nhận thanh toán khi có đầy đủ chứng từ, không để thủ quỹ trực tiếp đi mua
hàng, rút tiền nhập quỹ cần phải có sự xét duyệt của cấp trên, chỉ ghi nhận giảm nợ
phải trả khi nhận được giấy báo nợ của ngân hàng.
Sự yếu kém này đặc biệt nghiêm trọng vì lĩnh vực hoạt động của công ty là
thương mại, việc mua đi bán lại hàng hóa, thanh toán và thu tiền, ghi nhận các
khoản nợ phải trả, phải thu, ghi nhận doanh thu, giá vốn là rất quan trọng.
Chúng tôi đã xem xét tình trạng trên khi xác định nội dung, thời gian và
phạm vi của các thử nghiệm kiểm toán áp dụng cho việc kiểm tra của mình, và báo
cáo về tình trạng này sẽ không làm thay đổi báo cáo kiểm toán ngày 10/02/2005 về
báo cáo tài chính của đơn vị.
Công ty Kiểm toán Student Accountant Ltd
PHẦN III: KẾT LUẬN
Hoạt động kiểm toán độc lập vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ đối với nền kinh tế
nước ta . Kiểm toán tài chính ở Việt Nam tuy đã xuất hiện từ lâu nhưng chỉ mới thực
sự đi vào hoạt động đúng nghĩa của nó trong những năm gần đây. So với kiểm toán tài
chính trên thế giới thì kiểm toán Việt Nam còn rất non trẻ. Hơn nữa, nó ra đời phát
triển cùng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần . Chính vì vậy, kiểm toán Việt nam
phải đối mặt với không ít khó khăn để phát triển và hoàn thiện mình trước yêu cầu hội
nhập quốc tế.
24
Tuy còn non trẻ nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng kiểm toán tài chính Việt Nam
đã và đang phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, dần dần chiếm chỗ đứng vững chắc,
vị trí quan trọng trong xã hội, là công cụ đắt lực tạo niềm tin cho người quan tâm và sử
dụng thông tin tài chính. Nó góp phần không nhỏ vào việc quản lý tài chính, ngăn

ngừa hiện tượng vi phạm pháp luật, chế độ tài chính kế toán… góp phần thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Điều đó sẽ đảm bảo cho Việt Nam đứng vững trong quá trình hội
nhập hiện nay.
Qua quá trình lập kế hoạch kiểm toán và nhận diện các điểm trọng yếu trong kiểm
soát nội bộ của công ty BTL Việt Nam, chúng tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức
thực tiễn, đồng thời nắm vững thêm lý luận kiểm toán, các chuẩn mực kiểm toán hiện
hành, đặc biệt là công tác lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính cho một công ty cụ
thể. Những sinh viên như chúng tôi cần phải không ngừng trau dồi kiến thức và học
hỏi kỹ năng làm việc để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Do còn hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm
toán nên bài tiểu luận còn có nhiều sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của cô cũng như tất cả bạn đọc.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

25

×