Tải bản đầy đủ (.doc) (94 trang)

nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng phát triển nông thôn campuchia

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.36 MB, 94 trang )

Luận văn
Nâng cao chất lượng tín dụng
tại Ngân hàng Phát triển Nông
thôn Campuchia
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng phát triển nông thôn Campuchia là một trong những Ngân
hàng thương mại nhà nước của nước Campuchia. Hiện nay, các hoạt động
kinh doanh chính của ngân hàng phát triển nông thôn Campuchia là: Hoạt
động huy động vốn; hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động dịch vụ khác.
Trong số các hoạt động đó, hoạt động tín dụng là một hoạt động cơ bản và
đóng vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động này mang lại nguồn thu chủ yếu
cho ngân hàng, nhờ hoạt động này mà Ngân hàng phát triển Nông thôn có thể
bán chéo sản phẩm, tạo nền tảng thu hút hỗ trợ cho các hoạt động khác như:
Bảo lãnh, thanh toán quốc tế, chuyển tiền… Tuy nhiên, chất lượng tín dụng
của ngân hàng phát triển nông thôn Campuchia vẫn đang được đánh giá là
thấp so với yêu cầu. Điều này sẽ gây ra nhiều rủi ro (như: Rủi ro tín dụng, rủi
ro thanh khoản…) và tổn thất cho ngân hàng.
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự cạnh tranh gay gắt
giữa các ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng khác, nâng cao
chất lượng tín dụng sẽ là một trong những điều kiện để phát triển bền vững
ngân hàng phát triển nông thôn Campuchia.
Bởi vậy, nâng cao chất lượng tín dụng đang là một yêu cầu cấp bách được
đặt ra hiện nay đối với ngân hàng phát triển nông thôn Campuchia. Xuất phát từ
những yêu cầu trên, đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Phát
triển Nông thôn Campuchia”được chọn làm đề tài thạc sỹ kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích những lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng của Ngân hàng
thương mại.
- Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Phát triển


Nông thôn Campuchia.
2
- Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Phát triển
Nông thôn Campuchia trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu: Chất lượng cho vay của Ngân hàng Phát triển
Nông thôn Campuchia.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: là phương pháp khoa học dùng đề thu thập,
tóm tắt, trình bày và phân tích số liệu.
- Số liệu thứ cấp: là dữ liệu do người khác thu thập, sử dụng cho các
mục đích có thể là khác với mục đích nghiên cứu của ngưởi nghiên cứu.
5. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng của
Ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Phát triển
Nông thôn Campuchia. Phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự thấp kém về
chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng
Phát triển Nông thôn Campuchia trong thời gian tới.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luân, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Nông
thôn Campuchia.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Phát triển
Nông thôn Campuchia.
3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nói
riêng. Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm như thế nào về một
Ngân hàng, và sự phân biệt nó với các tổ chức phi Ngân hàng không phải là
điều đơn giản. Rõ ràng, có thể định nghĩa Ngân hàng thông qua chức năng mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ không chỉ chức
năng của các Ngân hàng thay đổi, mà có sự “thâm nhập” vào chức năng hoạt
động Ngân hàng của các đối thủ cạnh tranh. Do đó tuỳ theo điều kiện của mỗi
nước và sự phát triển của hệ thống tài chính nước đó mà có những định nghĩa
khác nhau về Ngân hàng.
Theo luật Ngân hàng của Pháp thì Ngân hàng được định nghĩa:”Ngân
hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của
công chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng
cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.”
Còn luật pháp ấn độ lại có cái nhìn về Ngân hàng như sau, họ định
nghĩa:” Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay
hay tài trợ và đầu tư.”
Đó là các quan niệm về Ngân hàng đứng trên giác độ luật pháp. Còn
đứng trên giác độ tài chính Ngân hàng thì sao? Một định nghĩa khác về Ngân
hàng được Giáo sư Peter Rose đưa ra như sau: ”Ngân hàng là loại hình tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất -
4
đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức
năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh
tế.”

Ở Việt Nam, theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng
được định nghĩa như sau: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với
trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.”
Như vậy thông qua một số khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta có
thể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh
doanh trên lĩnh vực tín dụng với mục đích thu lợi nhuận, và nó có những đặc
trưng như sau:
-Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép nhận ký thác của
công chúng với trách nhiệm hoàn trả.
-Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của
công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác.
Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động, ở nước Việtnam các loại
hình Ngân hàng thương mại được phép hoạt động theo luật tổ chức tín dụng
bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư,
Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác.
Tại nước Campuchia, hệ thống ngân hàng trước đây là hệ thống ngân
hàng một cấp, vừa làm nhiệm vụ của ngân hàng phát hành, vừa thực hiện
chức năng kinh doanh tiền tệ. Trước yêu cầu đổi mới nền kinh tế, hệ thống
ngân hàng Campuchia đó được chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp. Các
ngân hàng thương mại được thành lập và hoạt động dưới sự điều chỉnh của
pháp lệnh ngân hàng Nhà nước Campuchia, và theo quan điểm các tổ chức tín
dụng Campuchia thì : 
5
 !
" # $%&&'" ()*!.
1.1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương Mại
Hoạt động của các ngân hàng thương mại là một loại hoạt động đặc
biệt, đó là kinh doanh tiền tệ, với hai chức năng chủ yếu là tạo tiền và kinh

doanh tiền tệ nhằm mục tiêu sinh lợi cho ngân hàng và góp phần chung vào
sự phát triển của xã hội. Các hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thương
mại bao gồm:
• Hoạt động huy động vốn
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là hoạt động trên
lĩnh vực tiền tệ. Với mục đích đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, ngoài
nguồn vốn tự có của ngân hàng, các ngân hàng thương mại tiến hành huy
động các nguồn vốn trong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau. Việc huy
động vốn có thể thực hiện dưới các hình thức chủ yếu như:
- Vốn chủ sở hữu (vốn tự có): Thông thường các ngân hàng thương
mại, khi thành lập đều có một mức vốn nhất định, vốn này gọi là vốn điều
lệ. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động các ngân hàng cảm thấy cần thiết
mở rộng hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại có thể huy động
thêm nguồn vốn bổ sung vào vốn điều lệ để tăng cường vốn kinh doanh của
ngân hàng.
- Nhận tiền gửi: Đây là nguồn tiền chủ yếu để bổ sung vào nguồn vốn
kinh doanh của ngân hàng, vì hoạt động của ngân hàng về bản chất là trung
gian, cầu lối giữa những người dư thừa tiền và người thiếu tiền để sản xuất,
kinh doanh và tiêu dùng, và nó là cơ sở của các khoản cho vay để đem lại lợi
nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với
rất nhiều mục đích khác nhau hoặc để tiết kiệm hoặc để thanh toán, tuỳ theo
mục đích của khách hàng ngân hàng có các hình thức huy động như: Tiền gửi
6
giao dịch, tiền gửi phi giao dịch.
+ Tiền gửi giao dịch: Đây là một trong những nguồn vốn biến động nhất,
kỳ hạn của tiền gửi giao dịch là rất ngắn và bởi vì nó có thể được rút ra bất kỳ
lúc nào mà không cần phải báo trước. Tiền gửi giao dịch gồm tiền gửi có thể
phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi
+ Tiền gửi phi giao dịch: Đây là loại tiền gửi mang tính tiết kiệm của
người gửi tiền, khoản tiền này thông thường có kỳ hạn gửi dài hơn và mang

tính ổn định hơn, đây là nguồn tiền quan trọng để các ngân hàng thương mại
thực hiện kinh doanh của mình. Tuy nhiên lãi suất của loại tiền gửi này cao
hơn so với tiền gửi giao dịch.
- Vay từ Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng khác
Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là người cho
vay cuối cùng của các tổ chức tín dụng trong trường hợp họ không có đủ khả
năng thanh toán. Trong trường hợp này các ngân hàng thương mại vay tiền để
bù đắp thiếu hụt, đảm bảo khả năng thanh khoản trong trường hợp cần thiết.
Việc huy động vốn một cách hợp lý, với chi phí và cơ cấu phù hợp sẽ góp phần
không nhỏ vào hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng. Ngoài ra khi cần thiết
để thanh khoản tức thời, các ngân hàng thương mại có thể vay vốn từ các ngân
hàng thương mại khác để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời của mình.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn có thể huy động vốn thông qua
việc phát hành kỳ phiếu, tiết kiệm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi đây cũng là
nguồn tiền quan trọng bổ sung cho nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
• Hoạt động sử dụng vốn
Sau khi thành lập ngân hàng, với số vốn huy động được, ngân hàng thực
hiện kinh doanh. Khi đó ngân hàng sẽ lập kế hoạch sử dụng nguồn vốn đó sao
cho hợp lý và có hiệu quả nhất, các hoạt động sử dụng vốn chủ yếu của ngân
hàng thương mại là: Hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư, hoạt động bảo
7
lãnh khi đó ngân hàng thương mại sẽ thu được một lượng lãi nhất định để
bù đắp các chi phí của ngân hàng như: Trả lãi tiền gửi, chi phí kinh doanh, chi
phí quản lý phần dư thừa gọi là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng vốn tăng lên, các doanh
nghiệp, cá nhân phải tìm đến với ngân hàng như một chỗ dựa về tài chính, để
họ có thêm vốn bổ sung vào vốn kinh doanh nhằm nâng cao lợi nhuận và
ngược lại.
• Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động cho vay và đầu tư đã được kể trên thì trong hoạt

động kinh doanh của ngân hàng còn có các hoạt động khác như: Hoạt động
thanh toán trong và ngoài nước, chuyển tiền, thu hộ, bảo lãnh, cung cấp thông
tin về kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp, quản lý ngân quỹ, tư vấn
tài chính, dự án, quản lý tài sản, kinh doanh ngoại tệ… các nghiệp vụ này
được thực hiện theo sự uỷ nhiệm của khách hàng trên cơ sở khách hàng có tài
khoản thanh toán tại ngân hàng. Trong những nước có thị trường tài chính,
ngân hàng phát triển thì đây là mảng hoạt động dịch vụ mang lại nguồn thu
lớn cho các ngân hàng thương mại. Mặt khác, khi các hoạt động dịch vụ này
phát triển sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng và nhu cầu phát
triển của nền kinh tế.
1.1.2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại
Tín dụng hiểu theo nghĩa rộng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả đi vay
và cho vay. Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định là ngân hàng
(hoặc các trung gian tài chính khác) thì tín dụng chỉ bao hàm nghĩa là ngân
hang cho vay. Việc xác định như thế này là rất quan trọng để định lượng tín
dụng trong các công tác nghiên cứu cũng như các hoạt động kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
8
Nam, điều 49 ghi: "Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân
dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác,
bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân
hàng nhà nước".
Khi các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, huy động được nhiều
vốn, các ngân hàng luôn tìm kiếm cơ hội để đầu tư, cho khách hàng vay,
nhằm sử dụng tối đa nguồn vốn mà ngân hàng có để có thể thu được lợi
nhuận lớn nhất. Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động
ngắn hạn cho các tổ chức kinh tế, cá nhân mà tín dụng ngân hàng cũng đáp
ứng cả các nhu cầu về vốn dài hạn của khách hàng, thập chí các ngân hàng
cũng đáp ứng các yêu cầu của chính ngân hàng. Vì vậy, tín dụng ngân hàng

ngày càng trở thành một hoạt động quan trọng nhất và không thể thiếu được
trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt đối với các nước kém và đang phát triển
trong đó có nước Campuchia.
1.1.2.2. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại
Căn cứ vào mục đích
+,-./0: Bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn
và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho việc
mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại và mua các tài sản nước ngoài.
Đối với loại hình cho vay này, ngân hàng được bảo đảm bằng chính tài sản
thực: đất đai, toà nhà và các công trình khác.
+,-1!: bao gồm các khoản tín dụng
dành cho ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài
chính khác.
+,-2&*3": giúp doanh nghiệp trang trải các
chi phí như mua hàng, nhập kho, trả thuế, trả lương cho cán bộ công nhân
viên.
9
+,-2&4 nhằm hỗ trợ nông dân trong hoạt động gieo
trồng, thu hoạch và bảo quản sản phẩm.
+,-1!: giúp tài trợ cho việc mua ô tô, nhà ở,
trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà cửa
hay trang trải các khoản viện phí và các chi phí cá nhân khác.
+,-: gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên và các
khoản cho vay kinh doanh chứng khoán.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- ,-5: những khoản cho vay có kỳ hạn tối đa đến 12 tháng,
được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ
của khách hàng.
- ,-6 %4 những khoản cho vay được xác định chủ yếu
để đầu tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng

sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô thu hồi vốn lớn. Loại cho
vay này đang ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển, một mặt
chúng đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, mặt khác chúng cũng phù
hợp với khả năng vốn của các ngân hàng thương mại. Thời hạn cho vay trung
hạn là từ 12 tháng đến 60 tháng, thời hạn cho vay dài hạn từ 60 tháng trở lên
nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc
giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay
các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
Căn cứ vào phương thức cho vay
+,-7': mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành
thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không
thường xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thương vụ.
+,-8#&94 ngân hàng và khách hàng xác định,
10
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc
theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh.
+,-8' *4 ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục
vụ đời sống.
+,-#&1: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ
chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Ngoài ra cho vay hợp vốn còn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của
các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. Cho vay
hợp vốn có ưu điểm là san sẻ được rủi ro song nhược điểm là nới lỏng việc
kiểm soát tiền vay khách hàng.
- ,-60&: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và
thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa được chia ra để trả
nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.

+,-2 &&/:;: Tổ
chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong
phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức
tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và
khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà
nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
+,-8": khách hàng và ngân hàng xác định và
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định. Việc cho vay và thu nợ đan xen nhau, không phân định ranh giới, thời
điểm cụ thể lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ. Phương thức này áp dụng đối với
các khách hàng có nhu cầu vay trả thường xuyên, tình hình kinh doanh ổn
11
định, vòng quay vốn nhanh và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng.
+,-8". 4 Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng
thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên
tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ
và Ngân hàng Nhà nước về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán.
+,-8"&<: Tổ chức tín dụng cam kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của
hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
+=200": là loại tín dụng không có tài sản thế chấp,
cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
bản thân khách hàng. Ngân hàng không nắm giữ một loại tài sản nào của
người vay để thanh lý nhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà
thay vào đó là những điều kiện: phương án kinh doanh được ngân hàng đánh
giá có tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao; doanh nghiệp phải

kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn. Khách hàng là
những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành
mạnh, quản trị có hiệu quả, khi đó ngân hàng dựa vào uy tín của khách hàng
mà không cần nguồn thu nợ bổ sung.
+=00": là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng
nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu
của người bảo lãnh. Các hình thức bảo đảm thường gặp là: thế chấp, cầm cố,
hoặc bảo lãnh. Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng
ngân hàng có quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay. Sự bảo đảm
này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho
12
nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Các tài sản bảo đảm ở đây thường là
các bất động sản, động sản thuộc quyền sở hữu của bên đi vay, được phép
giao dịch, không có tranh chấp, tài sản được bảo hiểm theo quy định của pháp
luật.
Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng
+,-6(&4 ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những khách hàng
có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
+,-(&4 là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ được phát sinh và còn trong thời hạn
thanh toán. Các hình thức này gồm có: chiết khấu, mua lại các phiếu bán
hàng, nghiệp vụ thanh lý.
1.2. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
Để hiểu chất lượng tín dụng, ta đi từ chất lượng của hàng hoá và dịch
vụ thông thường. Vậy, chất lượng của hàng hoá dịch vụ nói chung được đánh
giá bởi sự tín nhiệm của khách hàng, nó là một trong những yếu tố để thu hút
khách hàng. Như vậy, cũng giống như chất lượng hàng hoá dịch vụ thông
thường, chất lượng tín dụng là yếu tố sống còn đối với hoạt động của một
ngân hàng thương mại bởi chất lượng tín dụng thể hiện ở khả năng hoàn trả

nợ đúng hạn của người đi vay cho ngân hàng.
Các khoản tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng được coi là có
chất lượng khi ngân hàng có thể thu hồi được khoản nợ, khoản vay đó phù
hợp với khả năng đáp ứng của ngân hàng và mang lại lợi nhuận cho ngân
hàng. Chính vì vậy, trước khi cấp tín dụng ngân hàng phải thẩm định kĩ khách
hàng trên các lĩnh vực vay vốn đồng thời tính toán một mức lãi suất cho vay
hợp lý để có thể mang lại nguồn thu cho ngân hàng.
Như vậy, Chất lượng tín dụng quyết định khả năng thu hồi gốc và lãi cho
13
ngân hàng, hạn chế các rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng. Do đó, chất
lượng tín dụng có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Chất lượng tín dụng tốt không chỉ nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động
của mỗi ngân hàng riêng lẻ mà còn cho cả hệ thống ngân hàng nói chung. Ở
mỗi một góc độ khác nhau ta có thể những quan điểm khác nhau về chất
lượng tín dụng thì: “,.*#)*3"/
&>&?%#&@A- ' B1)&C#&!
 ->)&& $%!""&#&@%0"0
/&6D%# $6)
EF-/&6D)B(GHIJKL=K -MN=(HOPPQ%
J6*3"RS1%TUL
Chất lượng tín dụng tốt sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tăng thu nhập,
sự an toàn trong hoạt động tín dụng và là cơ sở để ngân hàng mở rộng quy mô
tín dụng. Sự mở rộng một cách bền vững sẽ tạo đà cho sự tăng trưởng ổn định
của ngân hàng. Đặc biệt như hiện nay, khi mà cuộc khủng hoảng kinh tế đang
diễn ra toàn cầu và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường tài chính,
bất kỳ một ngân hàng nào cũng phải chú trọng đến vấn đề chất lượng tín dụng
song song với việc quy mô tín dụng không ngừng tăng trưởng.
Việc nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng có điều kiện
mở rộng quy mô tín dụng, tăng thị phần. Mặt khác, khi chất lượng tín dụng
được nâng cao sẽ góp phần giúp cho ngân hàng tăng khả năng cung cấp dịch

vụ. Tín dụng có hiệu quả cao sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng có thể mở rộng
huy động vốn, đồng thời tăng cường giới thiệu với khách hàng những dịch vụ
mới, hiện đại mà ngân hàng cung cấp. Mặt khác, sẽ giải quyết tốt mối quan hệ
giữa an toàn và sinh lợi. Do ngân hàng có thể giảm bớt những thiệt hại có thể
xảy ra, giảm bớt những chi phí nghiệp vụ và chi phí quản lý. Bên cạnh đó,
nguy cơ về rủi ro tín dụng cũng được giảm thiểu đến mức chấp nhận được.
14
Mặt khác, việc nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giúp giảm thiểu những phiền
hà mà khách hàng phải gánh chịu khi muốn vay ngân hàng. Điều này sẽ góp
phần thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng.
Thêm vào đó việc nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng
thực hiện và duy trì tình hình tài chính lành mạnh. Đây là cơ sở quan trọng
giúp cho ngân hàng có thể tăng khả năng cạnh tranh của mình. Hoạt động
trong lĩnh vực ngân hàng chủ yếu dựa vào uy tín, vì thế một ngân hàng…
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
(1). Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của một ngân
hàng.
- Nếu tỷ lệ này > 0: dư nợ tín dụng của ngân hàng có sự tăng trưởng.
Điều này đồng nghĩa với việc qui mô tín dụng của ngân hàng được mở rộng.
- Nếu tỷ lệ này < 0: Quy mô tín dụng của năm sau thu hẹp so với năm
trước, điều này chứng tỏ ngân hàng đó có sự lựa chọn và sàng lọc khách hàng
hoặc vì một lý do nào đó mà quy mô tín dụng của ngân hàng bị thu hẹp lại,
hoặc chất lượng tín dụng của ngân hàng đang cung cấp không đáp ứng được
yêu cầu của khách hàng, khi đó khách hàng không đến quan hệ.
- Nếu tỷ lệ = 0: Quy mô tín dụng của năm sau như năm trước đó.
(2). Tỷ lệ nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
Đây là tỷ lệ phản ánh sự an toàn trong hoạt động của các ngân hàng nên
theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ này ở mức 5% sẽ đảm bảo cho mức độ lành mạnh
của hoạt động tín dụng. Nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn quá cao thì

15
thu nhập ròng của ngân hàng sẽ được tăng lên nếu như khách hàng có khá
năng trả nợ gốc, lãi và mức phí phạt quá hạn, tuy nhiên ngân hàng sẽ tiềm ẩn
nhiều rủi ro về khả năng thu hồi vốn vay. Mặt khác, ngân hàng sẽ gặp khó
khăn trong việc mở rộng hoạt động tín dụng vì làm vỡ kế hoạch sử dụng vốn
của ngân hàng, thêm vào đó khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ gặp khó
khăn khi khách hàng nhận thấy uy tín của ngân hàng đã sụt giảm trầm trọng.
(3). Chỉ tiêu nợ quá hạn phân theo nhóm nợ
Như vậy, khi nợ quá hạn càng ở nhóm nợ phải trích lập ít thì chất lượng
cho vay càng cao và ngược lại.
(4). Tỷ lệ nợ xấu ngoại bảng/ Tổng dư nợ
Nợ xấu ngoại bảng bao gồm các khoản nợ đã xử lý rủi ro theo dõi
ngoại bảng, nợ khoanh chờ xử lý, nợ tồn đọng theo chương trình cho vay chỉ
định của Chính Phủ.v.v Các ngân hàng thường cố gắng hạn chế chỉ tiêu này
ở mức thấp nhất. Khi xem xét chỉ tiêu này cần phân biệt rõ những khoản nợ
này thuộc đối tượng khách hàng nào, thời điểm xử lý theo dõi ngoại bảng là
khi nào. Tỷ lệ này cho biết nợ xấu ngoại bảng chiếm bao nhiêu phần trăm so
với tổng dư nợ. Do các ngân hàng thường tìm cách ngăn ngừa nợ xấu ngoại
bảng. Do đó, chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt.
(5). Tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo/ Tổng dư nợ
Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản dùng để hạn chế rủi ro cho các khoản
vay của doanh nghiệp. Khi khách hàng mất hoàn toàn khả năng thanh toán thì
khi đó ngân hàng sẽ tiến hành phát mại tài sản bảo đảm để có thể thu hồi được
16
vốn cho ngân hàng. Như vậy, chỉ tiêu này cho chúng ta biết được bao nhiêu
phần trăm cho vay có tài sản bảo đảm và khi khách hàng không có khả năng
trả nợ thì ngân hàng có thể thu được bao nhiêu phần trăm tổng dư nọ cho vay
đối với các DNVVN.
(6). Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu từ hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tăng trưởng doanh thu từ hoạt động tín

dụng của ngân hàng.
Nếu tỷ lệ này > 0: Doanh thu từ hoạt động tín dụng có sự tăng trưởng.
Nếu tỷ lệ này < 0: Doanh thu từ hoạt động tín dụng giảm so với năm trước
Nếu tỷ lệ = 0: Doanh thu từ hoạt động tín dụng của năm sau bằng năm trước
đó.
1.2.3. Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại
Chất lượng tín dụng theo đúng nghĩa của nó chính là vốn vay của Ngân
hàng được khách hàng sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ
để có thể tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả Ngân hàng cả gốc lẫn lãi,
trang trải các chi phí khác và lợi nhuận. Trong một quá trình luân chuyển vốn
như vậy ngân hàng nhận được vốn và một phần lợi nhuận từ vốn đó còn
khách hàng thì đạt hiệu quả trong kinh doanh. Như vậy, có thể nói chất lượng
tín dụng phải được đảm bảo từ hai phía ngân hàng và khách hàng trong hoạt
động của mình ngân hàng cũng như khách hàng luôn phải chịu tác động trực
tiếp của rất nhiều nhân tố cả trực tiếp lẫn gián tiếp mà chỉ một trong số đó có
thể ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan:
Các yếu tố bên trong thường liên quan đến sự phấn đấu của bản thân
17
ngân hàng trên tất cả các mặt của hoạt động tín dụng như việc xây dựng chiến
lược, sách lược trong quá trình phát triển, các chính sách tín dụng , xây dựng
cơ cấu tổ chức ngân hàng nói chung và quản lý hoạt động tín dụng nói riêng,
công tác kiểm tra, kiểm soát và thiết lập hệ thống thông tin Vì vậy, các yếu
tố bên trong thường có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng ngắn
hạn. Ta có thể nghiên cứu sự ảnh hưởng của chúng qua một số yếu tố sau:
- Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng là quỹ đạo quyết định đến hoạt động tín dụng của
các ngân hàng thương mại, nó quyết định thành công hay thất bại của một
ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách

hàng đến với ngân hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng
trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, theo các đường lối, chính sách
của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là chất
lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách của ngân hàng thương
mại có đúng đắn hay không. Bất cứ một ngân hàng thương mại nào muốn có
chất lượng tín dụng đều phải có một chính sách tín dụng rõ ràng, phù hợp với
bản thân ngân hàng mình.
- Công tác tổ chức của ngân hàng:
Tổ chức ngân hàng được sắp xếp một cách có khoa học, bảo đảm sự
phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng, ban trong từng ngân hàng,
trong toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như giữa ngân hàng với các cơ quan
khác như tài chính, pháp lý sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của
khách hàng, quản lý sát sao các khoản huy động vốn cũng như các khoản vốn
cho vay. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và quản
lý có hiệu quả nguồn vốn tín dụng. Tổ chức ngân hàng theo nguyên tắc tập
trung có phân cấp là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý chất lượng
tín dụng đồng bộ, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia trong từng
18
thời kỳ.
- Chất lượng nhân sự ngân hàng:
Con người là một yếu tố hết sức quan trọng quyết định đến sự thành bại
trong quản lý vốn tín dụng cũng như trong hoạt động của ngân hàng, xã hội
ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để đối phó kịp
thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt động tín dụng. Việc
tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và chuyên môn giỏi sẽ giúp
cho ngân hàng ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện
một chu trình khép kín của một khoản tín dụng .
- Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng bao gồm những quy định cần phải thực hiện trong
quá trình cho vay, thu nợ nhằm bảo đảm an toàn nguồn vốn tín dụng. Nó được

bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình cho vay cho
đến khi thu hồi được nợ. Chất lượng tín dụng có bảo đảm hay không tuỳ
thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước và sự phối hợp chặt
chẽ, nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng.
Trong quy trình tín dụng, Bước chuẩn bị cho vay là hết sức quan trọng,
là cơ sở để định lượng rủi ro trong quá trình cho vay. Trong bước này,chất
lượng tín dụng tuỳ thuộc vào chất lượng công tác thẩm định đối tượng được
vay vốn cũng như quy định điều kiện và thủ tục vay ở từng ngân hàng thương
mại.
Kiểm tra quá trình cho vay giúp ngân hàng nắm được diễn biến của
khoản vay đã cung cấp để có thể điều chỉnh hoặc can thiệp khi cần thiết, sớm
thấy được nguyên nhân và ngăn ngừa rủi ro có thể xẩy ra. Việc lựa chọn và áp
dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng
ngừa hữu hiệu cho chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Thu nợ và thanh lý là khâu có ý nghĩa quyết định sự tồn tại của ngân
19
hàng thương mại. Sự nhạy bén của ngân hàng thương mại trong việc phát hiện
kịp thời những bất lợi xảy ra đối với khách hàng cùng các biện pháp xử lý
chính xác, đúng lúc sẽ giảm thiểu các khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác
động tích cực đối với chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng sẽ tạo
điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế
hoạch đã định mà nhờ đó bảo đảm được chất lượng tín dụng ngắn hạn.
- Thông tin tín dụng :
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín
dụng. Nhờ có thông tin tín dụng , người quản lý có thể đưa ra các quyết định
cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay.
Thông tin tín dụng có thể lấy được từ các nguồn sẵn có từ ngân hàng (hồ sơ
vay vốn, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của các can bộ tín
dụng ), từ các nguồn của khách hàng (theo chế độ báo cáo định kỳ, các dự

án sản xuất kinh doanh), từ các cơ quan chuyên thông tin tín dụng trong và
ngoài nước, từ các bộ, các ngành chủ quản Số lượng và chất lượng thông tin
thu nhận được có liên quan đến việc cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản
cho vay. Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở Ngân hàng
(hồ sơ xin vay, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của cán bộ tín
dụng ); từ khách hàng( theo chế độ báo cáo định kỳ hoặc phản ánh trực
tiếp); từ các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng ở trong và ngoài nước; từ
các nguồn thông tin khác. Số lượng, chất lượng của thông tin thu nhận được
có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích, nhận định tình hình
thị trường, khách hàng để đưa ra những quyết định phù hợp. Vì vậy, thông
tin càng đầy đủ, nhanh nhậy, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa
rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngày càng lớn, chất lượng tín dụng ngày
càng cao.
20
- Kiểm soát nội bộ:
Đây là biện pháp giúp cho ban lãnh đạo Ngân hàng có được các thông
tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh
doanh đang xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng các mục tiêu đã
định.
Trong lĩnh vực tín dụng, hoạt động kiểm soát bao gồm:
+ Kiểm soát chính sách tín dụng và các thủ tục có liên quan đến các
khoản vay( thẩm quyền về điều hành, quản lý, giám sát các khoản tiền cho
vay, hồ sơ, thủ tục cho vay )
+ Kiểm tra định kỳ do kiểm soát viên nội bộ thực hiện, báo cáo các
trường hợp ngoại lệ, những vi phạm chính sách, thủ tục, kiểm soát kế toán cả
các nghiệp vụ cho vay.
Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên
nhân các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng của
công tác nội bộ để có các biện pháp khắc phục kịp thời.
Để kiểm soát nội bộ có hiệu quả, Ngân hàng cần phải có cơ cấu tổ chức

hợp lý, cán bộ kiểm tra phải giỏi nghiệp vụ, trung thực và có chính sách
thưởng phạt nghiêm minh.
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng .
Để có thể quản lý và theo dõi có hiệu quả hoạt động tín dụng, sông
sông với việc nâng cao chất lượng công tác hoạch định chính sách, công tác tổ
chức quản lý Ngân hàng, công tác nhân sự, quản lý quá tình cho vay, công tác
thông tin, kiểm soát nội bộ, cần chú ý tới các phương tiện cần thiết phục vụ
cho quá trình quản lý hoạt động tín dụng. Trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên
tiến phù hợp với khả năng tài chính và phạm vi, quy mô hoạt động của ngân
hàng sẽ giúp cho Ngân hàng:
+ Phục vụ kịp thời yêu cầu của khách hàng về tất cả các mặt dịch vụ
21
phục vụ( nhận tiền gửi, cho vay, thu nợ )với chi phí mà cả hai bên cùng
chấp nhận được.
+ Giúp cho các cấp quản lý của ngân hàng thương mại kịp thời nắm bắt
tình hình hoạt động tín dụng để điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình
thực tế nhằm thoả mãn ngày càng cao yêu cầu của khách hàng.
Như vậy, trang thiết bị cũng là một trong các nhân tố không thể thiếu
được để không ngừng cải thiện chất lượng tín dụng .
Trên đây là một số nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
và biết vận dụng sáng tạo sự ảnh hưởng của các nhân tố này trong hoàn cảnh
thức tế sẽ tạo điều kiện cho sự thành công của toàn hệ thống ngân hàng nói
chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
Để quản lý có hiệu quả chất lượng tín dụng cần có các tiêu chuẩn quản
lý để làm thước đo đánh giá mức độ chất lượng đạt được. Chất lượng tín dụng
phải là kết quả của công tác quản lý của Ngân hàng đối với tình hình khách
hàng và hoạt động tín dụng của bản thân Ngân hàng. Do vậy, tiêu chuẩn quản
lý tín dụng cần được xây dựng cụ thể đối với khách hàng và Ngân hàng.
Đối với khách hàng: tiêu chuẩn quản lý tập trung vào việc đánh giá khả
năng hoàn trả của khách hàng. Vì vậy, quản lý tín dụng tập trung vào 5 tiêu

chuẩn sau: tư cách, khả năng sản xuất kinh doanh, vốn, thế chấp, môi trường
hoạt động.
Đối với Ngân hàng: tiêu chuẩn quản lý là tình hình chấp hành các điều
luật và nguyên tắc tín dụng đã quy định, vòng quay vốn tín dụng, kết quả kinh
doanh, khả năng sẵn sàng thanh toán, mức độ phân tán rủi ro, nợ quá hạn, tình
hình chấp hành hạn mức tín dụng đã quy định.
Từ những tiêu chuẩn hiệu quả chất lượng tín dụng nêu trên, cụ thể hơn
trong phân tích các nhân tố thì yêu cầu đặt ra đối với Ngân hàng thương mại
là phải đảm bảo quản lý tốt rủi ro tín dụng trong ngân hàng.
22
- Quản lý rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra khi một khách hàng không
đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ theo những điều khoản đã thoả thuận và rủi ro
là chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong thực tế, rủi ro tín
dụng biểu hiện dưới các dạng như:
Cho vay có tài sản thế chấp nhưng khi thanh toán nợ giá trị tài sản
không đủ trả nợ tiền vay,
Do khách hàng làm ăn thua lỗ, khó khăn về tài chính và khả năng thanh
toán.
Do ngân hàng cho vay tập trung vào một hay một nhóm khách hàng
cùng ngành kinh doanh hay một lĩnh vực kinh tế mà những biến động bất lợi
đối với ngành, lĩnh vực kinh tế này làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh,
gây khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng, do sự biến động về lãi suất hoặc do
ngân hàng không thực hiện đúng các quy định về giới hạn an toàn trong hoạt
động tín dụng
Rủi ro tín dụng do nhiều nguyên nhân,nhưng khái quát lại, nguyên nhân
chính là việc thực hiện quy trình quản lý tín dụng của ngân hàng thương mại.
Rủi ro tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng tín dụng và tỷ
lệ nghịch với chất lượng tín dụng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình chu
chuyển của vốn tín dụng, những vấn đề an toàn trong kinh doanh và từ đó ảnh

hưởng tới khả năng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng.
Quản lý rủi ro tín dụng được thực hiện dựa trên cơ sở chính sách, thể
lệch cho vay và chế độ thông tin quản lý theo các tiêu chuẩn quản lý tín dụng.
1.2.3.2. Các nhân tố khách quan
Như chúng ta đều biết, tín dụng Ngân hàng là một trong những yếu tố
hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương
mại và đối với toàn bộ nền kinh tế. Để quản lý chất lượng tín dụng có hiệu
23
quả và đồng bộ đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải hiểu rất rõ các tác
nhân bên ngoài gây nên các ảnh hưởng. Có thể chia các ảnh hưởng thành
nhóm các yếu tố: kinh tế, xã hội, pháp lý.
*Nhóm các nhân tố kinh tế:
Khái quát chung nhất thì nếu một nền kinh tế ổn định thì sẽ tạo điều kiện
lưu thông hàng hoá và các vòng quay tiền tệ cũng trôi chảy và làm cho hoạt
động tín dụng thuận lợi. Nền kinh tế ổn định là một nền kinh tế tạo được mọi
điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh mà không bị ảnh hưởng
của các yếu tố lạm phát, khủng hoảng làm cho quá trình thực hiện tín dụng của
các ngân hàng thương mại và các kế hoạch trả nợ vay ngắn hạn của các doanh
nghiệp bị xáo trộn. Trong trường hợp này chất lượng tín dụng chỉ còn chủ yếu
phụ thuộc vào khả năng quản lý của bản thân các ngân hàng thương mại.
Thế nhưng, một xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nền kinh tế dứt
khoát phải có tăng trưởng. Với mục tiêu là tăng trưởng thì đi đôi với nó phải
là một mức lạm phát vừa phải để có thể kích thích đầu tư và các nhu cầu tín
dụng . Nếu xem xét về quy mô thì việc đáp ứng các nhu cầu tín dụng ở một
mức độ nào đó có tác dụng đến tăng trưởng kinh tế, song nếu mở rộng ra vượt
mức giới hạn cần thiết sẽ có tác động ngược lại khi mà giá cả sẽ tăng lên, xảy
ra lạm phát có thể không kiểm soát nổi. Lúc này chắc chắn không chỉ nền
kinh tế bị ảnh hưởng mà trước mắt các ngân hàng thương mại bị thiệt thòi khi
thu về các đồng tiền không còn nguyên "giá trị" ban đầu, chất lượng tín dụng
bị suy giảm. Thêm vào đó bất kỳ một sự ưu tiên trong chính sách về một

ngành, một lĩnh vực nào đó như bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền
vững trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cho vay với mọi nhu cầu vốn.Như
vậy, chất lượng tín dụng còn phụ thuộc quan trọng nhất là yếu tố chất lượng
khách hàng. Tín dụng là chiếc cầu nối giữa các ngành sản xuất và kinh doanh
24
dịch vụ với nhau nhưng đặc biệt nó lại là hoạt động "sản xuất kinh doanh" của
các ngân hàng thương mại. Do vậy, mọi dấu hiệu tốt hay xấu trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đều có ảnh hưởng tương ứng tới
hoạt động tín dụng thông qua việc tác động dây chuyền theo các mối quan hệ
tín dụng . Với các doanh nghiệp làm ăn có lãi, có xu thế phát triển, có khả
năng chiếm lĩnh thị trường và quan hệ tín dụng tốt (vay và trả sòng phẳng)thì
mọi hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ thông suốt, nguồn vốn được quay
vòng thường xuyên. Ngược lại, các ngân hàng thương mại với các chính sách
tín dụng phù hợp, phương pháp phân tích kinh tế doanh nghiệp được xây
dựng trên cơ sở tương thích với đặc điểm hoạt động tín dụng sẽ tìm được
khách hàng tốt để huy động và cho vay, thấy được sự hợp lý giữa nguồn vốn
huy động được với việc đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng.
Chu kỳ kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tín dụng.
Trong thời kỳ nền kinh tế đình trệ, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động
tín dụng sẽ gặp nhiều khó khăn trên tất cả các mặt. Nhu cầu vốn tín dụng sẽ
giảm trong thời kỳ này, nếu tín dụng đã được thực hiện thì cũng khó có thể sử
dụng hiệu quả hoặc trả nợ ngân hàng. Tuy nhiên, trong thời kỳ hưng thịnh của
nền kinh tế, nhu cầu vốn tín dụng tăng lên, rủi ro tín dụng giảm, thì hoạt động
tín dụng của các ngân hàng thương mại sẽ thuận lợi hơn. Nhưng cũng không
loại trừ trừng hợp do chạy đua trong sản xuất kinh doanh, nạn đầu cơ tích trữ,
làm nhu cầu vốn tín dụng lên quá cao và quá nhiều khoản tín dụng được thực
hiện mà rất ít có khả năng hoàn trả khi các phương án sản xuất kinh doanh
không có kế hoạch dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận đạt được

của doanh nghiệp sản suất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng ngắn hạn. Như Mác nói: "
lợi tức chỉ là một phần lợi nhuận mà nhà tư bản công nghiệp trả cho nhà tư
25

×