Tải bản đầy đủ (.doc) (80 trang)

Mở rộng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh Thăng Long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (388.93 KB, 80 trang )

Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

LI M ĐẦU
Thành công của một ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các
dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu và thực hiện các dịch vụ đó một cách
có hiệu quả. Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các
ngân hàng thương mại, phản ánh đặc trưng của ngân hàng thương mại. Với
tầm quan trọng và qui mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính
sách rõ ràng được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có một tầm quan trọng đặc biệt trong sự
nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố
đất nước. Với sự gia tăng liên tục về số lượng và hoạt động ngày càng hiệu
quả, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọng đối với sự tăng trưởng
của nền kinh tế và chương trình xố đói giảm nghèo cũng như giải quyết các
vấn đề xã hội khác. Nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất
lớn và khơng ngừng tăng lên do mỗi năm có hàng ngàn doanh nghiệp ra đời.
Tiềm năng của khối doanh nghiệp này đang là hướng đầu tư trọng điểm của
nhiều ngân hàng thương mại.
Được tìm hiểu những chủ trương chính sách của NHNo&PTNT Việt
Nam và trong thời gian thực tập tại chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long, đã
cho em hiểu rõ hơn tính đúng đắn của chính sách mở rộng tín dụng doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Thời gian vừa qua, chi nhánh Thăng Long đã có được
những bước tiến đáng kể trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng chưa
khai thác hết được những khả năng của chi nhánh. Vậy tại sao chi nhánh
Thăng Long không đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay tới đối tượng khách
hàng nhiều tiềm năng này? Với những trăn trở đó em đã chọn đề tài: "Mở
rộng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHNo&PTNT Việt Nam chi
nhánh Thăng Long" làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn có cơ hội tìm
hiểu nhiều hơn nữa về hoạt động tín dụng doanh nghiệp vừa và nh, úng gúp



Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

1


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

mt s ý kiến giúp mở rộng tín dụng tới đối tượng khách hàng này được tốt
hơn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu một số giải pháp
chính nhằm mở rộng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHNo&PTNT
Việt Nam chi nhánh Thăng Long.
Phạm vi nghiên cứu: Đó là các vấn đề tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Thăng Long trong những năm gần đây.
Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên các lý thuyết kinh tế kết hợp với thực tế, sử dụng phương
pháp phân tích, lựa chọn, so sánh,… để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
Kết cấu của luận văn:
Chương 1: Hoạt động tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHNo&PTNT
Việt Nam chi nhánh Thăng Long.
Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh Thăng Long.

CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP

VỪA V NH CA NHTM
Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng kho¸n 44

2


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

1.1. CC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NHTM
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của NHTM
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế. Ngân hàng gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng
các ngân hàng.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử hình
thành và phát triển của nền sản xuất hàng hố. Q trình phát triển kinh tế là
điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng. Đến lượt mình, sự phát triển
của hệ thống ngân hàng lại trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không
ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các cơng
ty chứng khốn và cơng ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các
dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đã và đang mở rộng phạm
vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và mơi giới chứng khốn, tham gia hoạt
động bảo hiểm, đầu tư vào các quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới
khác.

Cách tiếp cận thận trọng nhất là xem xét các tổ chức này trên phương
diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng thương mại là
các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh tốn - và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế. Tuy nhiên, các quốc gia khác nhau các đối tượng khác nhau có
thể đưa ra những định nghĩa khơng giống nhau về ngân hàng. Ví dụ, Luật Các
tổ chức tín dụng của nước Cộng hồ xã hi ch ngha Vit Nam nh ngha

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

3


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

NHTM da trên các hoạt động chủ yếu: "Hoạt động ngân hàng là hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận
tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh
toán ".
1.1.1.2. Các đặc điểm của ngân hàng thương mại
 Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính thực hiện kinh
doanh tiền tệ
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt
động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại
cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt
chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập vì thế họ là
những người cần bổ xung vốn; và (2) là các cá nhân và tổ chức thặng dư trong

chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu và do vậy
họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn
độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang
nhóm thứ (1) nếu cả hai thấy cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động
lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm. Nếu dịng tiền di chuyển với
điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian
nhất định thì đó là quan hệ tín dụng.
Quan hệ tín dụng trực tiếp đã có từ rất lâu và vẫn còn tồn tại cho đến
ngày nay. Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp
về quy mô, thời gian, không gian... Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát
triển và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính. Trung gian tài chính đã tập
hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của
tín dụng trực tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian tài chính sẽ hiệu quả khi
nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế rủi ro và
giảm chi phí giao dịch.
Là trung gian tài chính, ngân hàng thực hiện hai nghiệp vụ chính: nhận
tiền gửi và cho vay. Trong nghiệp vụ nhn gi, ngõn hng tr li tc cho

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

4


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

ngi gi tiền; trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi
vay. Lợi tức nhận gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay. Chênh lệch giữa lợi tức nhận
gửi trừ đi những khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng, cộng với các

khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân
hàng.
Đa số các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của ngân hàng
bằng cách chỉ ra sự không hồn hảo trong hệ thống tài chính. Chẳng hạn các
khoản tín dụng và chứng khốn khơng thể chia thành những khoản nhỏ mà
mọi người có thể mua. Ngân hàng cung cấp một dịch vụ có giá trị trong việc
chia chứng khốn đó thành các chứng khốn nhỏ hơn (dưới dạng tiền gửi)
phục vụ cho hàng triệu người.
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển thịnh vượng là khả năng
thẩm định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích
thơng tin được gọi là tình trạng " thơng tin khơng cân xứng", nó làm giảm tính
hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả
năng lựa chọn những cơng cụ với các yếu tố rủi ro và lợi nhuận hấp dẫn nhất.
Khả năng tập hợp và phân tích thơng tin tài chính của ngân hàng đã tạo
ra một cách nhìn khác về vấn đề tại sao ngân hàng tồn tại trong xã hội hiện
đại. Hầu hết người vay tiền và người gửi tiền đều muốn giữ bí mật tình trạng
tài chính của họ, đặc biệt là trước các đối thủ cạnh tranh. Nhu cầu này của
khách hàng gợi ý rằng các ngân hàng có thể thu hút người đi vay bởi vì họ
cam kết giữ bí mật. Hơn nữa, khi một khách hàng vay một cách dễ dàng và
tốn ít chi phí hơn việc huy động vốn ở bất kỳ nguồn nào khác. Điều này thông
báo cho thị trường rằng người vay tiền là hoàn toàn đáng tin cậy và chắc chắn
họ sẽ trả tồn bộ khoản vay. Tác dụng thơng báo này trong việc cho vay của
ngân hàng là rất quan trọng, không chỉ khi ngân hàng tiến hành cho vay đối
với một khách hàng mới mà cả khi ngân hng gia hn khon vay cho khỏch
hng.

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

5



Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

Hot động của ngân hàng thương mại tạo phương tiện thanh tốn
Một lý do quan trọng để giải thích tại sao ngân hàng thương mại là một
trong các tổ chức bị kiểm soát chặt chẽ nhất trong nền kinh tế là vì hoạt động
của ngân hàng tạo phương tiện thanh tốn. Theo quan điểm hiện đại, đại
lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận: Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông,
thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các
ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi
có kì hạn... Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh tốn
của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do
đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh tốn.
Tồn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở
cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả
thì sẽ tạo nên khoản thu mới (tức là làm tăng số dư tiền gửi) của một khách
hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong
khi khơng một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa
thì tồn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương
tiện thanh tốn) gấp bội thơng qua hoạt động cho vay.
 Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán
Hiện nay, ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị
hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh tốn nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm
chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh tốn như
bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ... cung cấp mạng lưới thanh toán
điện tử kết nối các quĩ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân

hàng còn thực hiện thanh tốn bù trừ với nhau thơng qua ngân hàng Trung
ương hoặc thông qua các trung tâm thanh tốn. Cơng nghệ thanh tốn hiện đại
qua ngân hàng được các nhà quản lí áp dụng rộng rãi vì ngân hàng càng đạt
hiệu qua cao khi qui mô sử dụng cụng ngh ú cng c m rng. Nhiu

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

6


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

hỡnh thc thanh tốn được chuẩn hố góp phần tạo tính thống nhất trong
thanh tốn khơng chỉ giữa ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các
ngân hàng trên thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã
làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành
trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh
tế toàn cầu.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp nhiều dịch vụ khác. Huy động vốn - hoạt động tạo nguồn vốn cho
ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt
động của ngân hàng.
Tiền gửi của khách hàng được xem là nguồn tài nguyên quan trọng nhất
của ngân hàng thương mại. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ
đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh tốn hộ cho khách,
bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của doanh nghiệp, các tổ chức và dân

cư. Tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng và
ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động khác. Vì vậy, để đảm bảo đủ nguồn tiền
cho kinh doanh và thu hút được nguồn tiền chất lượng ngày càng cao, các
ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động khác nhau và ln tăng cuờng
thêm những tiện ích mới.
- Tiền gửi thanh tốn (tiền gửi giao dịch)
Tiền gửi thanh toán là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân
hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép,
các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực
hiện. Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được
nhập vào tiền gửi thanh tốn theo u cầu. Tiền gửi thanh tốn là một nguồn
vốn có mức lãi suất huy động rất thấp (hoặc bằng không), nhưng chi phí đầy
đủ cho việc huy động vốn lại khá cao. Mt s ngõn hng ó s dng nhiu

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

7


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

hỡnh thc " biến tướng " của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất loại hình
tiền gửi này nhằm tăng sức cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.
- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã
hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất
thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại rất thấp. Để đáp ứng yêu
cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ

hạn là tiền gửi có thoả thuận về thời gian rút tiền. Người gửi tiền theo hình
thức này khơng được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh
toán. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy người
gửi tiền khơng được hưởng nhiều tiện ích bằng hình thức tiền gửi thanh tốn,
song tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ
hạn. Ngân hàng thương mại luôn lỗ lực cao nhất để gia tăng nguồn vốn này và
đây cũng là nguồn tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất của ngân hàng
thương mại.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Ngân hàng nhận thấy các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập
tạm thời chưa sử dụng. Loại hình tiền gửi tiết kiệm ra đời nhằm đáp ứng hai
nhu cầu của cá nhân đó là bảo tồn và tăng thu nhập cho số tiền chưa sử dụng
đó. Ngân hàng có thể mở cho mỗi người gửi tiền nhiều trương mục tiết kiệm
(hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kì hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm
này khơng được dùng để thanh tốn cho hàng hoá và dịch vụ song nhiều ngân
hàng cho phép khách hàng dùng nó để thế chấp vay vốn.
Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh tốn hộ
và một số mục đích khác ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân
hàng thương mại khác, nhưng qui mô nguồn này thường không lớn.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Tuy
nhiên, khi cần, ngân hàng có thể có được vốn bng cỏch vay mn thờm:

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chøng kho¸n 44

8


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính


- Vay Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương): Trong trường
hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), ngân hàng
thường vay ngân hàng Nhà nước. Hình thức cho vay chủ yếu của Ngân hàng
Nhà nước là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn).
- Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các ngân hàng vay
mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân
hàng.
-Vay trên thị trường vốn: Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân
hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu,
trái phiếu) trên thị trường vốn. Các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung
cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn.
- Vốn nợ khác: Loại này bao gồm nguồn tiền uỷ thác, tiền trong thanh
tốn và một số nguồn khác.
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hồn trả kèm theo
lợi tức. Tín dụng ngân hàng cũng là một hình thức của tín dụng, là hoạt động
tài trợ của ngân hàng cho khách hàng. Tín dụng của ngân hàng có thể bao
gồm cả cho vay, cho thuê, bảo lãnh, cả ngắn, trung và dài hạn.
Hoạt động cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các loại tài sản ở
ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của NHTM. Ngân hàng
thương mại luôn sử dụng mọi lỗ lực để tăng qui mơ tín dụng như mở rộng
mạng lưới, đa dạng hố các loại hình tín dụng, phát triển công nghệ mới nhằm
là gia tăng tiện ích cho khách hàng, giảm lãi suất hoặc cung cấp các điều kiện
ưu đãi…
+ Cho vay thương mại
Cho vay thương mại là hoạt động cho vay truyền thống của ngân hàng.
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là
cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho
ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trc tip i vi cỏc


Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

9


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

khỏch hng (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở
rộng sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng khơng tích cực cho vay đối
với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi
ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh
tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một
đối tượng khách hàng tiềm năng. Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng
nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa,
phương tiện vận chuyển… Sau chiến tranh Thế giới thứ hai, tín dụng tiêu
dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất
ở các nước có nền kinh tế phát triển.
+ Tài trợ cho dự án
Các ngân hàng thương mại ngày càng trở nên năng động trong việc cho
vay trung, dài hạn: Tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành công nghệ
cao, cho vay để đầu tư vào đất. Một trong những yêu cầu của ngân hàng là
người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như
quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Phân tích (và thẩm định) dự
án là cơ sở để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng
hoàn trả của doanh nghiệp.

Cho thuê thiết bị trung và dài hạn: Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền
mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Hiện
nay, rất nhiều ngân hàng đang tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn th
các thiết bị, máy móc cần thiết thơng qua hợp đồng thuê mua với điều kiện
khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị của tài sản thuê.
1.1.2.3. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh tốn khơng dùng tiền
mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ
cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giy n ngõn hng s nhn

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

10


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

c tin. Các tiện ích của thanh tốn khơng dùng tiền mặt (an tồn, nhanh
chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh
doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. Bên cạnh các thể thức thanh
toán như séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, sự phát triển của công nghệ thông
tin đã tạo điều kiện cho ngành ngân hàng phát triển thêm các hình thức thanh
toán mới bằng điện, thẻ,…
1.1.2.4. Các hoạt động khác
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dich vụ cho công chúng và
doanh nghiệp. Để đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng và
căn cứ vào các quy định và khả năng của ngân hàng mà ngân hàng đó triển
khai nhiều hay ít các dịch vụ.

+Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ: Do nhu cầu chi tiêu lớn và
thường là cấp bách trong khi thu khơng đủ, chính phủ các nước đều muốn tiếp
cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Các ngân hàng thường mua trái
phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân
hàng huy động được.
+ Bảo quản tài sản hộ: Ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy
tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két. Dich vụ này phát triển
cùng với nhiều dich vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách
hàng, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ…
+Quản lý ngân quĩ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần
lớn các doanh nghiệp và cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ
chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lí ngân quĩ và
khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dich vụ
quản lí ngân quĩ. Quản lý ngân quĩ là hoạt động ngân hàng đồng ý quản lý
việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư
tiền mặt tạm thời vào các chứng khốn sinh lợi hoặc tín dụng ngắn hạn cho
đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toỏn.

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

11


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

+ Cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn: Hoạt động trong lĩnh vực tài
chính, các ngân hàng có rất nhiều chun gia về quản lý tài chính. Vì vậy,
nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý

hoạt động tài chính hộ. Ngân hàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về
thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
+ Hoạt động bảo lãnh, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán,
cung cấp các dich vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lí… cũng đã được nhiều ngân
hàng triển khai và đã đem lại cho ngân hàng khoản thu phí đáng kể.
Để tồn tại và đứng vững được trong mơi trường mang tính cạnh tranh
cao các ngân hàng đang cố gắng phấn đấu cung cấp thêm nhiều dịch vụ tài
chính để thoả mãn các nhu cầu đa dạng của nhiều đối tượng khách hàng. Sự
đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng
được gọi là các "Bách hố tài chính".
1.1.3. Ý nghĩa của mở rộng tín dụng DNVVN trong hoạt động của ngân
hàng thương mại
Ngân hàng ngày nay đang phải đối phó với những áp lực thay đổi trong
quy định, sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng, sự
mở rộng trong xu thế quốc tế hoá thị trường ngân hàng và những đổi mới
không ngừng trong trong cơng nghệ và tự động hố. Tuy nhiên, các xu hướng
kinh tế xã hội mạnh mẽ cũng có vai trị quan trọng khơng kém đối với tương
lai của ngân hàng và nó ảnh hưởng trực tiếp tới cơ sở khách hàng của ngân
hàng. Ngày càng nhiều công ty lớn - những khách hàng vay vốn lớn nhất và
tốt nhất của ngân hàng - những năm gần đây đã từ bỏ hệ thống ngân hàng để
tự huy động vốn, hoặc trực tiếp từ thị trường mở, hoặc thông qua các tổ chức
phi ngân hàng (như các cơng ty chứng khốn và các cơng ty tài chính). Sự
thay đổi cơ cấu đó chẳng những làm giảm doanh thu của ngân hàng trong hoạt
động cho vay mà còn đưa tới sự chuyển dịch trong cơ cấu danh mục cho vay
trong đó các món vay lớn, chất lượng cao trên sổ sách giảm dn v cỏc khon

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng kho¸n 44

12



Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ, cho vay tiêu dùng, chất lượng thấp, rủi
ro cao lại tăng dần.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một lực lượng lớn của nền kinh tế, có
nhiều tiềm năng phát triển. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy
đây là khu vực phát triển năng động nhất, tạo ra nhiều việc làm nhất và có
những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Ở nước ta
mỗi năm có hàng nghìn doanh nghiệp được thành lập mới, trong đó đại bộ
phận là DNVVN. Theo số liệu thống kê năm 2005 tổng số doanh nghiệp vừa
và nhỏ hiện có ở nước ta là 160.000 doanh nghiệp chiếm khoảng 96% tổng
doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp 26% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng
công nghiệp và chiếm 26% lực lượng lao động trong cả nước. Nhu cầu vốn
của doanh nghiệp là rất lớn, nhưng khả năng huy động của doanh nghiệp lại
gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là do doanh nghiệp có qui mơ
vốn mơ nhỏ, cịn nhiều yếu kém trong quản lí và hoạt động, chưa xây dựng
được uy tín trên thị trường. Lý luận và thực tiễn cho thấy chỉ những công ty
lớn, thiết lập vững chắc mới với tới được thị trường chứng khoán để tài trợ
cho các hoạt động của họ. Các doanh nghiệp nhỏ chưa được thiết lập vững
chắc hầu như không bao giờ gom vốn bằng cách phát hành các chứng khốn
có thể bán được. Như vậy, kênh huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
bị thu hẹp và vì thế tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ chủ yếu cho các hoạt
động của doanh nghiệp.
Tiềm năng của loại khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thu
hút được sự quan tâm của các ngân hàng thương mại. Nhiều ngân hàng
thương mại hàng đầu đã coi doanh nghiệp vừa và nhỏ là khách hàng trọng
tâm của mình, và đó là một hướng đi đúng. Trong hai năm gần đây, số vốn

mà các ngân hàng thương mại cho các DNVVN vay chiếm bình quân 40%
tổng dư nợ, thậm chí có những trường hợp chiếm từ 50 - 60% tổng dư nợ như
ngân hàng Công thương Việt Nam. Mở rộng tín dụng doanh nghiệp vừa và
nhỏ là hướng đi tất yếu của các ngân hàng thương mại hiện nay. Tuy nhiờn,

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

13


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

ri ro cao hơn của loại khách hàng này là một thực tế. Để đáp lại, ngân hàng
phải cải tiến phương pháp trong việc thẩm định và đánh giá các khoản cho
vay nhỏ hơn, rủi ro hơn và cung cấp nhiều dịch vụ mới tạo ra các khoản phí
mới.
Chúng ta sẽ xem xét thêm một số lý do để tìm hiểu tại sao ngân hàng
thương mại coi DNVVN là khách hàng tiềm năng và đẩy mạnh mở rộng tín
dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Việc tiếp cận vốn ngân hàng của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp
nhiều khó khăn, nhưng không phải là hầu hết các doanh nghiệp đều như vậy.
Những khách hàng có nhiều tiềm năng, những dự án khả thi ln được những
ngân hàng tìm kiếm và sẵn sàng cấp vốn, vì chính họ là người đem lại thu
nhập cho ngân hàng không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai. Các doanh
nghiệp đó có nhiều sự lựa chọn ngân hàng để phụ vụ cho hoạt động của họ.
Tuy vậy, khách hàng thường có xu hướng tiếp tục quan hệ với những ngân
hàng mà trước đó họ đã thiết lập quan hệ để tiết kiệm thời gian làm thủ tục,
chi phí đi lại,… làm giảm thời giam, chi phí để có đựơc khoản vay. Do đó,

càng tiếp cận sớm với doanh nghiệp và xây dựng quan hệ với họ là càng tốt.
Hơn nữa, khi đã có một số lượng khách hàng là doanh nghiệp đủ lớn ngân
hàng triển khai thêm một số dịch vụ tiện ích phục vụ doanh nghiệp sẽ có khả
năng thành cơng lớn hơn. Vì chính những doanh nghiệp đã quan hệ với ngân
hàng sẽ là người sử dụng đầu tiên nếu họ thấy có lợi. Cách thức này rất phù
hợp với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam khi mà các dịch vụ ngân hàng
cịn rất đơn điệu và khơng ít doanh nghiệp còn chưa biết đến nhiều dịch vụ
ngân hàng. Chẳng hạn, như dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin cho doanh
nghiệp, dịch vụ mơi giới chứng khốn, quản lý tài sản, vốn đầu tư của doanh
nghiệp…
Các ngân hàng đang cố gắng khuyến khích khách hàng sử dụng nhiều
dich vụ của mình để tăng thu nhập. Các doanh nghiệp cũng biết rằng sử dụng
các dich vụ trọn gói của một ngân hàng sẽ có lợi hơn là sử dụng ở cỏc ngõn

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

14


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

hng khỏc nhau vì sự thuận tiện trong giao dịch và cịn được hưởng những ưu
đãi nhất định. Chính sách tín dụng hướng tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ thể
hiện thiện chí của ngân hàng trong việc tài trợ cho các hoạt động của doanh
nghiệp. Việc làm này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp mở tài khoản giao
dịch. Tuy dòng tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp không lớn, nhưng lại
khá thường xuyên và ngày càng gia tăng theo đà tăng trưởng của doanh
nghiệp. Khi trình độ quản lý của doanh nghiệp được nâng lên, doanh nghiệp

sẽ phải xây dựng kế hoạch hoạt động của họ một cách chặt chẽ. Lượng tiền
chưa đầu tư thường được gửi vào ngân hàng để hưởng lãi sẽ là một nguồn vốn
không nhỏ cho ngân hàng. Mặt khác, thông qua tài khoản giao dịch, tài khoản
tiền gửi của khách hàng, ngân hàng còn theo dõi được tình hình hoạt động của
doanh nghiệp.
Cho vay tiêu dùng cũng là một hướng đi tất yếu của NHTM, nếu ngân
hàng quan hệ tốt với các doanh nghiệp bán lẻ thì có thể thực hiện dịch vụ mua
bán trả góp trong cho vay tiêu dùng thơng qua trung gian là doanh nghiệp sẽ
có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp. Ngân hàng thường cho
vay trả góp đối với người tiêu dùng thơng qua hạn mức nhất định. Ngân hàng
sẽ thanh toán cho doanh nghiệp bán lẻ về số hàng hoá mà khách hàng đã mua
trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán hàng từ phía ngân
hàng và làm đại lí thu tiền cho ngân hàng.
1.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm DNVVN
1.2.1.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thông thường để xếp loại qui mô một doanh nghiệp, các quốc gia căn
cứ vào những tiêu chuẩn như: số lao động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh
thu, lợi nhuận, giá trị công ty,... Các quốc gia khác nhau, tiêu thức để xếp loại
DNVVN cũng khác nhau. Một doanh nghiệp đặt trong môi trường kinh tế của
nước mình được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng ở nước khác nó lại
được coi là doanh nghiệp lớn hoặc cực nhỏ. Trên thực tế các nc thng

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

15


Luận văn tốt nghiệp


Khoa Ngân hàng Tài chính

dựng hai chỉ tiêu là vốn sản xuất và số lượng lao động thường xuyên để phân
biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn.
Từ trước tới nay, nước ta vẫn sử dụng hai tiêu thức để xếp loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ là vốn sản xuất và số lao động thường xuyên. Để phù hợp
với tình hình phát triển, phản ánh đúng thực trạng của nền kinh tế thì các tiêu
chuẩn giới hạn của mỗi tiêu thức có sự thay đổi. Trước năm 2001, theo quy
định của Chính phủ tại cơng văn số 681/CP_KTN ngày 20/06/1998 thì
DNVVN được định nghĩa là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ
đồng và có số lao động hàng năm dưới 200 người, tuỳ theo từng lĩnh vực, từng
ngành mà có giới hạn riêng cho mỗi tiêu chí.
Kinh tế ngày càng phát triển, đồng nghĩa với nó là quy mơ các doanh
nghiệp cũng ngày càng được mở rộng, những quy định cũ khơng cịn phù hợp
nữa. Mở đầu cho chiến lược tổng thể hỗ trợ phát triển DNVVN, nhằm tháo gỡ
những rào cản, phát huy tiềm năng của loại hình doanh nghiệp này. Ngày
23/11/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ - CP quy định về
việc trợ giúp phát triển DNVVN. Theo điều 3 của Nghị định này thì "
DNVVN là cơ sở sản suất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có qui mô vốn đầu tư không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
động trung bình hàng năm khơng q 300 người".
Theo định nghĩa trên thì DNVVN ở nước ta bao gồm:
+ Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo theo Luật Doanh
nghiệp gồm có các loại hình doanh nghiệp sau: công ty cổ phần, công ty
TNHH, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh.
+ Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật Doanh nghiệp
Nhà nước.
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập và hoạt động theo
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
+ Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp

+ Hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị nh 02/2000/ N - CP

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chøng kho¸n 44

16


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

+ Cỏ nhân và nhóm sản xuất kinh doanh đăng ký theo Nghị định 66 HĐBT.
1.2.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thứ nhất, cũng là đặc điểm đặc trưng nhất của DNVVN là qui mô vốn
chủ sở hữu, qui mô sản suất kinh doanh nhỏ, số lượng lao động ít. Đặc điểm
này của doanh nghiệp vừa và nhỏ, ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn lĩnh vực
ngành nghề hoạt động kinh doanh, cơ cấu tổ chức, phương thức sản xuất kinh
doanh… của doanh nghiệp.
Thứ hai, các DNVVN có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Đa
số các DNVVN ở nước ta hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ (chiếm trên 50%) do đây là ngành có vịng quay vốn nhanh, khơng
cần số vốn đầu tư lớn, khơng cần lao động có trình độ cao, ra nhập và rút lui
dễ dàng. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ làm vệ tinh cho các doanh nghiệp
lớn, thực hiện gia công, lắp ráp… phụ thuộc vào các doanh nghiệp lớn. Các
doanh nghiệp thương mại chủ yếu tập trung ở thành phố lớn, có kết cấu hạ
tầng phát triển, điều kiện giao thông thuận lợi, người tiêu dùng có thu nhập
cao, sức cầu lớn. Do tập trung quá nhiều doanh nghiệp trên cùng một địa bàn
nên tính cạnh tranh thường rất gay gắt.
Thứ ba, để thích nghi với qui mô nhỏ, doanh lợi thấp, các DNVVN
thường tổ chức bộ máy gọn nhẹ, đơn giản, không quá cồng kềnh nhưng hiệu
quả. So với các doanh nghiệp lớn thì mối liên kết giữa chủ doanh nghiệp với

các nhân viên và giữa các nhân viên với nhau chặt chẽ hơn. Nhiều doanh
nghiệp khơng có sự phân chia phịng ban, bộ phận rõ ràng, thậm chí một
người có thể đảm nhiệm nhiều vị trí, nhiệm vụ. Điều kiện mặt bằng cho sản
suất kinh doanh của DNVVN thường chặt hẹp, nhiều doanh nghiệp còn dùng
nhà ở làm nơi sản xuất kinh doanh, giao dịch, giới thiệu, bán hàng...
Thứ tư, nguồn tài chính hạn chế, việc tiếp cận vốn trên thị trường vốn
của các DNVVN gp nhiu khú khn.

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chøng kho¸n 44

17


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

Ngun vn của doanh nghiệp chia là hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và
nợ. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể gồm: Vốn góp ban đầu, lợi
nhuận khơng chia, tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới (chỉ những
công ty cổ phần mới được huy động vốn bằng cách thức này). Nợ của doanh
nghiệp từ các nguồn: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, phát hành trái
phiếu.Vốn góp ban đầu thường chỉ đủ để hình thành nên tài sản cố định cho
doanh nghiệp. Tín dụng thương mại là hình thức mua bán trả chậm hay trả
góp. Hình thức vay mượn này chỉ mang tính bổ sung tạm thời, qui mơ khơng
lớn và chỉ có được từ các đối tác kinh doanh có quan hệ gắn bó tin tưởng lẫn
nhau.
Để mở rộng sản xuất kinh doanh hay sửa chữa, mua sắm mới trang
thiết bị… doanh nghiệp cần nguồn vốn có tính chất ổn định và mang tính dài
hạn. Huy động vốn bằng cách thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu là nguồn

vốn dài hạn cho doanh nghiệp, tuy nhiên chỉ một số loại hình doanh nghiệp
được phép phát hành trái phiếu công ty (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp
danh, hộ kinh doanh không được phép huy động vốn bằng hai hình thức trên).
Hơn nữa, các DNVVN chỉ mới được thành lập trong thời gian gần đây, chưa
xây dựng được hình ảnh riêng cho cơng chúng, thơng tin về doanh nghiệp còn
nhiều hạn chế. Chỉ những doanh nghiệp lớn có uy tín mới có thể huy động
vốn qua thị trường chứng khốn với mức chi phí thấp, cịn những doanh
nghiệp nhỏ chưa tạo dựng được uy tín thì rất khó huy động vốn trên thị
trường này, nếu huy động được đủ vốn thì chi phí bỏ ra sẽ rất cao. Khơng chỉ
có lý do trên hạn chế doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thị trường chứng
khoán, bảo vệ bí mật kinh doanh cũng là một yếu tố được cân nhắc để quyết
định có huy động vốn bằng cách phát hành chứng khốn hay khơng. Nhiều
doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong những lĩnh vực mang tính cạnh tranh cao,
chủ doanh nghiệp không muốn các đối thủ cạnh tranh biết được chiến lược,
kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, nờn h la chn kờnh ngõn hng

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

18


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

huy ng vốn. Từ những phân tích trên cho chúng ta thấy, vay vốn ngân hàng
là hình thức tài trợ chủ yếu cho các DNVVN.
1.2.2. Các nghiệp vụ cho vay DNVVN của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Phân loại theo thời hạn tín dụng
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại thường cao

hơn tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn do các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho
tài sản lưu động của khách hàng. Tín dụng trung và dài hạn có tỷ trọng thấp
hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn. Ở nước ta hiện nay,
tỷ trọng tín dụng ngắn hạn của DNVVN cũng thường cao hơn so các doanh
nghiệp lớn.
- Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu
động, hoặc nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
- Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản
cố định như phương tiện vận tải, trang thiết bị chóng hao mịn.
- Tín dụng trung hạn: Trên 5 năm chủ yếu tài trợ cho các cơng trình xây
dựng như nhà ở, cầu, đường , máy móc thiết bị có giá trị lớn, có thời gian sử
dụng lâu.
Việc xác định thời hạn như trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì
nhiều khoản cho vay khơng xác định trước được chính xác thời hạn. Phân
chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời
gian liên quan mật thiết đến tính an tồn và sinh lợi của tài sản.
1.2.2.2. Các phương thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trên cơ sơ nhu cầu sử dụng của từng khoản vay của khách hàng và khả
năng kiểm tra, giám sát của ngân hàng mà ngân hàng thoả thuận với khách
hàng vay về việc lựa chọn các phương thức cho vay phù hợp. So với doanh
nghiệp lớn các phương thức vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta
đơn điệu hơn. Phương thức cho vay chủ yếu là cho vay từng lần, cho vay theo
hạn mức và cho vay theo dự án. Các ngân hàng đang thực hiện cho vay đối
với DNVVN theo các phương thức sau:

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

19



Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

+ Chit khấu thương phiếu
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ q trình mua bán chịu hàng
hố và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người thụ hưởng)
có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả)
hoặc mang đến ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn. Số tiền ngân hàng ứng
trước phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu, thời hạn chiết khấu và tỉ lệ phí chiết
khấu.
Nghiệp vụ chiết khấu được dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân hàng và
những người ký tên trên thương phiếu. Do tối thiểu có hai người cam kết cho
ngân hàng nên độ an toàn của thương phiếu tương đối cao (trừ trường hợp
ngân hàng ký miễn truy đòi đối với khách hàng). Hơn nữa, ngân hàng thương
mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng
nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu cịn được coi là
loại tài sản có khả năng chuyển nhượng - có tính thanh khoản cao).
+ Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội trên số dư tiền gửi thanh tốn của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức
thấu chi.
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi
và thời gian thấu chi. Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể ký séc,
lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ,... vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song trong
hạn mức thấu chi). Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt
và bị đình chỉ sử dụng hình thức này. Khi khách hàng có tiền nhập về tài
khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi

Hình thức cho vay thấu chi dựa trên cơ sở các khoản thu chi của doanh
nghiệp không phù hợp về thời gian và qui mơ. Thời gian và số lượng thiếu có
thể dự đốn dựa vào ngân quĩ song khơng chính xác. Do vậy hỡnh thc cho

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

20


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

vay ny tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thanh tốn:
chủ động, nhanh, kịp thời. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt,
thủ tục đơn giản, phần lớn là khơng có đảm bảo, có thể cấp cho doanh nghiệp
vài ngày hoặc vài tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp,
mua hàng... Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có
độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
+ Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay phổ biến của ngân
hàng áp dụng cho các khách hàng khơng có nhu cầu vay thường xun, khơng
có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn
chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay
mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng.
Để được cấp tín dụng, khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng
phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp
đồng cho vay, xác định qui mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi
suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các
hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.

Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
sốt từng món vay tách biệt. Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân
hàng sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Tiền cho vay dựa vào giá
trị tài sản đảm bảo và các ngân hàng thường quy định giới hạn phần trăm cho
vay tối đa tính trên giá trị tài sản đảm bảo.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng
Phương thức cho vay này áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có nhu
cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định, vốn vay tham gia thường
xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó
ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín
dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Trong kỳ khách hàng có thể thực hin vay tr nhiu ln, song d n khụng

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

21


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

c vt vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng qui định
hạn mức tín dụng cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên
đến cuối kỳ, khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho cuối kỳ không
được vượt quá hạn mức.
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay,
nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay.
Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát
tiền cho khách hàng.

Trong nghiệp vụ cho vay này ngân hàng không ấn định trước ngày trả
nợ. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động
quản lí ngân quĩ cho khách hàng. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt
thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm sốt hiệu quả sử dụng
từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo
cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
+Cho vay theo dự án
Các ngân hàng ngày càng tăng cường tài trợ cho hoạt động đầu tư của
doanh nghiệp như: cho vay theo dự án đầu tư phát triển sản xuất , kinh doanh
dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống. Thời gian thực hiện dự án thường dài
và cần nhiều vốn nên có rủi ro cao. Những dự án lớn có thể có nhiều ngân
hàng cùng đứng ra cho vay.
Số tiền cho vay được xác định như sau:
Số tiền vay = Tổng mức đầu tư của dự án - Vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự
có tham gia - Nguồn vốn huy động khác
Căn cứ để phát tiền vay dựa vào:
- Hợp đồng tín dụng
- Hợp đồng và chứng từ cung ứng vật tư, thiết bị, công nghệ, dịch vụ,...
- Biên bản xác nhận giá trị khối lượng cơng trình hồn thành (đã được
nghiệm thu từng hạng mục hoặc toàn bộ cơng trình) hoặc các văn bản xác
nhận tiến độ thực hin d ỏn.

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

22


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính


Mi ln vay khách hàng phải ký giấy nhận nợ. Trong trường hợp thời
gian chưa vay được vốn ngân hàng, khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động
tạm thời khác để chi phí theo dự án được duyệt thì ngân hàng có thể xem xét
cho vay bù đắp nguồn vốn đó trên cơ sở phải có chứng từ pháp lý minh chứng
rõ ràng nguồn vốn đã sử dụng trước.
+ Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng tài trợ cho
doanh nghiệp để mua hàng và sẽ thu nợ khi họ bán hàng. Đầu năm hoặc quý
doanh nghiệp phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và doanh nghiệp
sẽ thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn
cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Doanh nghiệp cũng phải cam kết các
khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thu bán hàng đều dùng để
trả vào tài khoản tiền vay trước khi được trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh
tốn của khách hàng. Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm
hặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng
xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định có cho vay nữa hay
khơng dựa trên những đánh giá của ngân hàng về tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
Hình thức cho vay luân chuyển dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên
cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển
hàng hoá để dự đốn dịng ngân quĩ trong thời gian tới. Khi vay, khách hàng
chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số tiền cần
vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình thức này, giá trị
hàng hố mua vào (có hố đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối
tượng được ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho
ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng
hàng hố và chất lượng quan hệ tín dụng của người vay. Các khoản phải thu
và cả hàng hoá trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản vay. Cho vay luõn


Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chứng khoán 44

23


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

chuyn thng áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh
nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường
xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyển đem lại nhiều thuận tiện cho khách hàng. Thủ tục
cho vay chỉ cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng
nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh tốn cho người cung cấp sẽ nhanh
gọn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ thì ngân hàng
sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay khơng được
quy định rõ ràng.
1.2.2.3. Các hình thức đảm bảo trong cho vay
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.
Những biến cố không mong đợi có thể gây cho ngân hàng những tổn thất lớn,
có thể dẫn tới phá sản. Chính vì vậy, trừ những khách hàng có uy tín cao,
nhiều khách hàng phải có tài sản đảm bảo mới được ngân hàng cấp tín dụng.
Phân loại theo tính chất an tồn, ngân hàng có thể chia tài sản đảm bảo
thành hai loại:
+ Loại 1 là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách
hàng, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba cho khách hàng của ngân hàng. Các
khoản tín dụng dựa trên đảm bảo loại 1 thường có mức độ rủi ro thấp, song
gây khó khăn cho cả ngân hàng lẫn khách hàng trong việc định giá, bảo quản,

làm cho thời gian phân tích tín dụng bị kéo dài.
+ Loại 2 là những tài sản được hình thành từ vốn vay. Đây là biện pháp
cuối cùng để ngân hàng có thể hạn chế người vay bán tài sản được hình thành
từ vốn vay. Hình thức đảm bảo này có mức độ rủi ro cao hơn vì khi người vay
khơng có khả năng trả nợ thì phần lớn các tài sản này cũng đều bị giảm giá,
khó bán.
Ngân hàng cũng phân loại tài sản đảm bảo theo hình thức vật chất:
+ Đảm bảo bằng hàng hoá trong kho của doanh nghip nh nguyờn vt
liu, sn phm,

Hoàng Thị Thu - Thị trêng Chøng kho¸n 44

24


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Ngân hàng Tài chính

+ m bảo bằng tài sản cố định gồm: nhà máy, trang thiết bị sản xuất,
phương tiện vận chuyển, quyền sử dụng đất,…
+ Đảm bảo bằng các hợp đồng chi trả của người thức ba
+ Đảm bảo bằng chứng khoán
+ Đảm bảo bằng bảo lãnh của người thứ ba
+ Đảm bảo bằng số dư bù
Tuỳ thuộc vào tính chất loại tài sản đảm bảo của khách hàng mà ngân
hàng sử dụng phương pháp cầm cố hay thế chấp. Cầm cố là hình thức theo đó
người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm
bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (ngân hàng áp dụng hình thức
này cho các tài sản mà khách hàng dễ bán, dễ chuyển nhượng). Thế chấp là

hình thức người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở
hữu (hoặc sử dụng) tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm gữi trong thời
gian cam kết. Đảm bảo bằng thế chấp rất phổ biến đối với doanh nghiệp, tuy
nhiên trở ngại lớn nhất cho ngân hàng là ở khâu xác định giá trị tài sản và
giám sát tài sản trong thời gian cho vay.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
DNVVN
1.3.1. Các nhân tố thuộc về NHTM
Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (cịn gọi là
tín dụng ngân hàng). Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song cũng có rủi
ro cao nhất cho NHTM. Rủi ro này, có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây
ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng. Quan hệ tín dụng phần lớn
được xác lập thơng qua phân tích tín dụng với trọng tâm là xác định khả năng
và ý muốn của người vay trong việc hoàn trả đúng hạn. Do đó mục tiêu của
phân tích tín dụng là xác định rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro. Nội dung
phân tích tín dụng là thu thập và phân tích thơng tin nhằm xác định tư cách
pháp lý, uy tín, sức mạnh tài chính và khả năng thanh toỏn ca ngi vay,...

Hoàng Thị Thu - Thị trờng Chøng kho¸n 44

25


×