Tải bản đầy đủ (.doc) (69 trang)

Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) Chi Nhánh Cầu Giấy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (476.91 KB, 69 trang )

Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
LỜI MỞ ĐẦU :
Trong những năm trở lại đây, cho vay tiêu dùng đã và đang là những dịch vụ
tài chính phổ biến nhất của NHTM. Những hình thức tín dụng này giúp cho ngân
hàng đa dạng hóa cơ sở khách hàng, tạo ra một nguồn tiền gửi từ người tiêu dùng và
những nguồn thu để bổ sung, bù đắp rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Thực tế là
trong những năm gân đây, nhiều ngân hàng đã tăng cường sử dụng hình thức cho vay
tiêu dùng để hạn chế hoặc loại bỏ anh hưởng của chu kỳ kinh doanh và tránh sự canh
tranh gay gắt từ các tổ chức ngân hàng nước ngoài.
Thực tế đã cho thấy tín dụng tiêu dùng tiêu dùng đã đóng một vai trò chủ đạo
trong dịch vụ ngân hàng cũng như trong quản lý ngân hàng, Cùng với quá trình toàn
câu hóa ngày càng tăng dần với mức độ hội nhập và mở cửa nền kinh tế theo một
trình tự nhất định đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải thay đổi quy mô và loại hình
dịch vụ nhất là đối với dịch vụ cho vay tiêu dùng
Sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
(Maritime Bank) Chi Nhánh Cầu Giấy em nhận thấy cho vay tiêu dùng vẫn tạo ra
một thách thức lớn với chi nhánh chính vì lý do đó em nghiêm túc chọn Đề Tài : “
Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải
Việt Nam (Maritime Bank) Chi Nhánh Cầu Giấy” làm đề tài nghiên cứu, nội dung
đề tài gồm có 3 chương
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI (MARITIME BANK) CHI NHÁNH CẦU GIẤY
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẤY MẠNH VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHANH MARITIME CẦU GIẤY
Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan mà chuyên đề không thể
tránh được những thiếu sót và sai sót nhất định kính mong cô giáo Th. Phạm Hông
Vân xem và giúp đỡ em để em có thể hoàn thành tốt chuyên để của mình!
Em xin chân thành cảm ơn !
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
1


Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
1. NHTM và Hoạt động cho vay tại ngân hàng NHTM
1.1. Khái niệm về NHTM
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân, hộ
gia đình) và với hầu hết các cơ quan Chính quyền địa phương (thành phố, tỉnh...).
Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người bán rau quả cho tới
người kinh doanh ôtô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ cho
việc mua hàng hoá dự trữ hoặc mua ôtô trưng bày. Khi doanh nghiệp và người tiêu
dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụng
séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử. Và khi cần thông tin tài chính hay cần lập
kếhoạch tài chính, họ thường tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn.
Cách tiếp cận thân trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện
những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.luận các tổ chức tín dụng của nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ghi “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
1.2. Các hoạt động chủ yếu của NHTM
1.2.1. Hoạt động huy động vốn:
Đây là hoạt động tạo điều kiện và tiền đề cho các hoạt động khác của NHTM.
Các NHTM thực hiện huy động vốn nhà dỗi trong nền kinh tế dưới mọi hình thức để
thực hiện nghiệm vụ đầu tư, cho vay đối vói các thành phần kinh tế, giúp họ phát
triện kinh doanh, trang thiết bị….
1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn :
Đây là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho NHTM.Ngân
hàng thương mại dùng vốn huy động để cho vay từ đó thu lợi nhuân trên cơ sở chênh

lệch lãi suất giữ vốn huy động và vốn cho vay, đồng thời cũng góp phần phát triển xã
hội như mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩn xã hội, cải thiện đời sống cho nhân
dân… Hoạt động sử dụng vốn của NHTM có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế
thông qua hoạt cho các nghành, các lĩnh vực trong nền kinh tế như công nghiệp, nông
nghiệp xây dưng…
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
2
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
1.2.3. Các dịch vụ trung gian:
Ngoài hoạt động huy động vốn và hoạt động sự dụng vốn thì NHTM cũng
thực hiện dịch vụ trung gian cho khách hàng. Các hoạt động này Ngân hàng không
đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian nhằm thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng về dịch vụ mà khách hàng cần. Ngày nay, các dịch vụ của Ngân
hàng thương mại không ngừng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng, các
dịch vụ ngày càng đa dạng. Hoạt động trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ khác
nhau: như dịch vụ thu hộ, chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng
thương mại, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một
Ngân hàng thương mại hay ở hai Ngân hàng thương mại khác nhau; dịch vụ tư vấn
cho khách hàng các vấn đề tài chính, dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch
vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu, dịch vụ khấu trừ tự động. Đây là
những khoản chi thường xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ
tốn nhiều thời gian và phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp các phương
tiện thanh toán không dùng tiền mặt…
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ NHTM theo đó cũng phát triển theo
để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng thực hiện nghiệp vụ trung
gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho NHTM những khoản thu nhập khá quan trọng.
Điều cần lưu ý là dịch vụ NHTM sẽ giúp Ngân hàng thương mại phát triển toàn
diện.Tại các nước phát triển, các Ngân hàng cạnh tranh với nhau bằng con đường
“phi giá”, tức là luôn luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng,
không ngừng tìm tòi những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng. Dịch vụ

Ngân hàng càng phát triển, thể hiện một xã hội càng văn minh, có nền công nghiệp
càng phát triển. Lợi nhuận các Ngân hàng không chỉ ở nghiệp vụ cho vay, mà còn
phân nửa từ các hoạt động dịch vụ mang lại, nhưng nó lại là lĩnh vực ít rủi ro.
1.3. Khái niệm cho vay:
Cho vay là hoạt động chủ yếu của NHTM. Khi định nghĩa về hoạt động cho
vay, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nói tóm lại, có thể định nghĩa hoạt động
cho vay của Ngân hàng là hoạt động cung ứng tiền cho tất cả các khách hàng có nhu
cầu về tiền để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng.
1.4. Đặc điểm chức năng:
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
3
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Ngân hàng thương mại đáp ứng cho tất cả các khách hàng sử dụng vốn nhưng
khách hàng phải đáp ứng được các điều kiện của Ngân hàng đặt ra. Qui mô của các
hợp đồng cho vay từ nhỏ đến lớn, với nhu cầu vay nhỏ đến các dự án lớn mức rủi ro
cao hay thấp, mức thu hồi vốn như thế nào, tài sản thế chấp và uy tín của khách hàng
ra sao sẽ ảnh hưởng đến mức lãi suất mà ngân hàng qui định cụ thể. Ngoài ra với thời
gian sử dụng vốn khác nhau lãi suất cũng sẽ khác nhau.
1. 5. Vai trò hoạt động cho vay của NHTM
1.5.1. Hoạt động cho vay là hoạt đông mang lại lợi nhuận lớn cho NHTM và
thúc đẩy các hoạt động khác của NHTM:
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động lớn của NHTM doanh thu từ
hoạt động này có thể chiếm 70% doanh thu ở các nước phát triển, và nên đến 90%
doanh thu của NHTM ở các nước đang phát triển. Ngày nay 80% doanh thu của các
NHTM là từ hoạt động tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn. Nhờ có
hoạt động cho vay, các đơn vị kinh tế, hộ gia đình có thể vay của Ngân hàng để đầu
tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mà lợi nhuận thu được không những doanh
nghiệp, hộ gia đình đủ tiền trả cho Ngân hàng mà còn có tiền gửi vào NHTM, nghĩa
là làm tăng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng. Khi các hoạt động sản xuất kinh
doanh phát triển, xã hội càng phát triển thì các hoạt động dịch vụ của NHTM cũng

phát triển theo.
1.5.2. Hoạt động cho vay cũng góp phần điều hoà cung- cầu dịch vụ hàng hoá:
Một doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất kinh doanh
thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của Ngân hàng. Nhưng doanh nghiệp chỉ thu
được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ, khi doanh nghiệp tiêu thụ được hết số
sản phẩm hàng hoá sản xuất ra, đồng nghĩa phải có một bộ phận những người tiêu
dùng có khả năng mua sản phẩm đó. Về phía người tiêu dùng, có một mức thu nhập
nhất định, họ không thể có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn. Mà họ chỉ có đủ
khả năng mua sau một thời gian tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần
hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngưng trệ. Khi đó doanh nghiệp sẽ
không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất. Do đó NHTM cho vay là giải
pháp có lợi cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. NHTM cho doanh nghiệp vay sẽ thúc
đẩy sản xuất kinh doanh, sẽ có nhiều hàng hoá. NHTM cho người tiêu dùng vay sẽ
thoả mãn nhu cầu về hàng hoá. vậy hoạt động cho vay của Ngân hàng đã góp một
phần điều hoà cung cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế.
1.5.3. Hoạt động cho vay góp phần điều tiết, phân phối các nguồn vốn:
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
4
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong một nền kinh tế vận động liên
tục, biểu hiện qua các hình thức khác nhau và qua mỗi giai đoạn của quá trình sản
xuất đã tạo thành chu kì tuần hoàn, luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của
một vòng tuần hoàn này thể hiện dưới dạng tiền tệ. Trong quá trình sản xuât kinh
doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi nguồn vốn của doanh nghiệp luôn đồng
thời tồn tại ở ba giai đoạn đólà : dự trữ- sản xuất- lưu thông và Từ đó xảy ra hiện
tượng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại thời điểm nhất định có đơn vị kinh tế có vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi, có những đơn vị tạm thời thiếu vốn. Đó là hiện tượng mang tính
chất tạm thời nhưng lại xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kỳ nền kinh tế
nào, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết vấn đề điều hoà vốn.
NHTM với vai trò là trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ, điều

hoà cung và cầu vốn cho các doanh nghiệp, đã góp phần điều tiết lại nguồn vốn, tạo điều
kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không gián đoạn.
1.5.4. Hoạt động cho vay đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước:
Bằng những công cụ tín dụng Ngân hàng, Ngân hàng có thể cho vay ưu đãi
những nghành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Đảng
và nhà nước ta trong từng giai đoạn cụ thể.
1.5.5. Hoạt động cho vay góp phần giúp các thành phần kinh tế mở rộng ứng
dụng công nghệ mới:
Với những doanh nghiệp trình độ trang bị kĩ thuật còn thấp kém. Thông qua
vốn vay của NHTM, doanh nghiệp dùng vốn này để đầu tư, tìm kiếm những công
nghệ hiện đại, đổi mới dây truyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra
nhiều sản phẩm, mẫu mã thoả mãn nhu cầu trong và ngoài nước. Như vậy hoạt động
cho vay mở rộng ứng dụng công nghệ mới vào các doanh nghiệp, thông qua đó giúp
doanh nghiệp sản xuất ngày càng có hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh, đồng
thời cho vay cũng làm nâng cao đời sống của nhân dân nhất là cho vay tiêu dùng
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
5
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
1.6. Các hình thức cho vay tại NHTM:
1.6.1. Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay
Dựa theo hình thức mục đích sử dụng tiện vay tại chi nhanh hiện nay có hai
hình thức đó là : cho vay tiêu dùng và cho vay để kinh doanh
1.6.1.1. Cho vay tiêu dùng:
Mục đích của loại cho vay này là người đi vay phải sử dụng khoản tiền vay
vào việc tiêu dùng, mua sắm tài sản cố định với mục đích phục vụ lợi ích cá nhân.
Khi thực hiện hình thức cho vay này, cán bộ tín dụng đã tính đến nguồn tiền được
dùng để trả nợ Ngân hàng chính là thu nhập cá nhân của người đi vay tiền. Hình thức
này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển và
những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, khiến giới tư bản sản xuất đã phải bỏ đi rất

nhiều hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu dùng có nhưng lại không có cầu thực sự. Hình
thức phổ biến nhất của loại hình này là hình thức cho vay trả góp, một loại hình đã
được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển. Ngân hàng có thể cho các cán bộ
công chức vay để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp nhà… ở các nước phương Tây và
Mỹ thì một người có thể mua ô tô để đi lại trở lên rất dễ dàng trong khi tài khoản của
anh ta lại không cần phải có 100% hay 50% giá trị của chiếc xe đó. Điều này đã giúp
cho việc tiêu thụ hàng hoá trở lên dễ dàng hơn, do vậy nó đã thúc đẩy sản xuất phát
triển hơn.
1.6.1.2. Cho vay để kinh doanh:
Mục đích của hình thức cho vay này là Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay
nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, mở rộng sản xuất hay đáp ứng một
nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà
Ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ
dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình này
theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay cho vay
theo các ngành nghề kinh tế: Cho vay ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, cho
vay ngành dịch vụ.
1.6.2. Dựa theo thời hạn cho vay:
Dựa theo thời hạn cho vay được chia làm hai loại cơ bản : cho vay ngắn hạn
và cho vay trung, dai hạn.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
6
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
1.6.2.1. Cho vay ngắn hạn:
Hình thức cho vay nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng
vốn ngắn hạn của nhà nước hay doanh nghiệp, hộ sản xuất. Cho vay ngắn hạn trong
những trường hợp sau:
Ngân hàng cho nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Hình thức phổ biến hiện nay là Ngân hang đi mua trái phiếu do kho bạc phát hành.
Khả năng hoàn trả của nhà nước rất cao (gân như không có rủi ro ), song cũng không

loại trừ có những trường hợp Nhà nước mất khả năng chi trả khi đáo hạn.
Ngân hàng cho vay đối với các tổ chức tài chính như các Ngân hàng, các công
ty tài chính, quỹ tín dụng nhằm đáp ứng cầu thanh khoản. Một số công ty chứng
khoán vay vốn ngắn hạn của NHTM trong quá trình bảo lãnh và phân phối chứng
khoán cho công ty phát hành. Phần lớn các khoản cho vay này đều được dựa trên uy
tín của người vay là chủ yếu.
Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu của vốn tăng
thêm cho sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông
nhất của các NHTM. Phần lớn các khoản cho vay này có thế chấp hay cầm cố tài sản.
Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm, bán lẻ, sản xuất hàng theo thời vụ là
khách hàng chính của Ngân hàng.
Các doanh nghiệp cần vay Ngân hàng để xây dựng và mở rộng cải tiến sửa
chữa tài sản cố định. Các khoản vay này thường có thời hạn dưới một năm.
Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Ngân hàng cho vay để phát triển đất đối với các công trình xây dựng và phát
triển đô thị.
Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng.
1.6.2.2. Cho vay trung và dài hạn:
Các doanh nghiệp có nhu cầu vay trung và dài hạn để mua trang thiết bị, xây
dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của
khoa học công nghệ, để tồn tại và phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng
cao.
Nhà nước vay trung và dài hạn để đầu tư phát triển.
Ngân hàng mua các trái phiếu trung, dài hạn doanh nghiệp nhằm tài trợ cho
các quá trình hình thành tài sản cố định. Kì hạn và khả năng chuyển đổi của trái
phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp , các kế hoạch tương lai
đều được Ngân hàng tính toán khi mua trái phiếu.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
7
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính

Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực
hiện dự án nhất định, có thể xin vay Ngân hàng. Một trong những yêu cầu cho vay
của Ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu
tư, cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là
điều kiện để Ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoà trả
của doanh nghiệp
1.6.3. Dựa theo hình thức bảo đảm của các khoản vay:
Được chia làm hai loại cơ bản là cho vay có đảm bảo và cho vay không có
đảm bảo
1.6.3.1. Cho vay có đảm bảo :
Là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, Ngân
hàng còn nắm giữ tài sản của người đi vay với mục đích xử lý tài sản để thu hồi vốn
vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Quá trình cung ứng vốn của Ngân
hàng thương mại, không kể dưới hình thức nào đều làm tăng khối lượng tiền vào nền
kinh tế, làm tăng khối lượng hàng hoá trên thị trường. Ngoài ra khi cho vay Ngân
hàng không trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình vì thế sẽ có rất nhiều rủi ro xảy ra,
nguy cơ không thu hồi đủ vốn vay là rất cao chính vì thế các Ngân hàng khi cho vay
thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay của họ.
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu lợi thứ nhất là doanh thu đối với vay vốn
lưu động, hoặc là khấu hao, lợi nhuận đối với những khoản vay trung và dài hạn. Cho
vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của Ngân hàng là thu nhập cá nhân cụ thể là tiền
lương, các khoản thu nhập tài chính và các khoản thu nhập khác. Khi đánh giá các
hoạt động của khách hàng, nếu Ngân hàng nhận thấy là nguồn thu nhập thứ nhất
không có cơ sở chắc chắn thì Ngân hàng phải yêu cầu thiết lập thêm chính sách pháp
lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai, đó chính là tài sản đảm bảo cho khoản vay .
1.6.3.2. Các khoản cho vay không có đảm bảo :
Là những khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm giữ tài sản của người vay
để xử lý nhằm thu hồi nợ nhưng thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp
đồng tín dụng. Những điều kiện này thường là: người đi vay không được giao dịch
với Ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được Ngân

hàng quản lý. Có như vậy Ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người
đi vay.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
8
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Thông thường chỉ có những khách hàng có quan hệ tốt và lâu năm với Ngân
hàng hay nói cách khác là những khách hàng có uy tín, những khách hàng mà Ngân
hàng có tham gia góp vốn vào thì mới được cho vay mà không có đảm bảo.
1.6.4. Dựa theo hình thức hình thành khoản vay:
được phân ra làm hai hình thức là cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp
1.6.4.1. Cho vay trực tiếp:
Phần lớn cho vay của Ngân hàng cho vay trực tiếp. Đây là các khoản cho vay
khi khách hàng trực tiếp đến Ngân hàng và trực tiếp xin vay vốn. Ngân hàng trực tiếp
chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng trên cơ sở những điều kiện mà hai bên thoả
thuận.
Khi khách hàng có tài sản thế chấp, có uy tín cao mà không cần phải thông
qua trung gian nào thì họ thường vay trực tiếp Ngân hàng.
1.6.4.2. Cho vay gián tiếp
Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng thông qua các tổ chức trung gian.
Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm, như nhóm sản xuất hội nông dân, hội
phụ nữ, hội cựu chiến binh...Các tổ chức này thường xuyên liên kết các thành viên
theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau và bảo vệ quyền lợi cho
mỗi thành viên. Vì vậy việc phát triển kinh tế, làm giầu, xoá đói giản nghèo luôn
được các trung gian rất quan tâm.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào
của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền
sai mục đích khoản vay.
Cho vay gián tiếp chủ yếu được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay
nhỏ, người vay phân tán, cách xa các Ngân hàng. Trong trường hợp như vậy cho vay
trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay ( phân tích, giám sát, thu nợ ...)

Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro cũng như chi phí của Ngân
hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ khá nhiều khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi
dụng vị thế của mình và nếu Ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho
vay lại hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ
có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cho người đi vay vốn.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
9
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
2. Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM
2. 1. Quán trình hình thành và phát triển cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay tiêu dùng đã có một lịch sử phát triển lâu dài, nó xuất hiện
từ thời phong kiến, ở nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự có những
bước tiến đáng kể và mạnh mẽ trong khoảng thời gian lại đây. Vào những năm 80
của thế kỷ 20, hệ thống ngân hàng thương mại của Mỹ phải tiến hành cải cách trước
sự cạnh tranh gay gắt ảnh hưởng đến việc thực hiện nghiệp vụ của các ngân hàng
thương mại. Thực tế, sự cạnh tranh mạnh mẽ đã tạo nên những thay đổi to lớn trong
lĩnh vực công nghệ và luật pháp..., và chính sự thay đổi đó đã tạo đà cho sự thay đổi
về các dịch vụ mà NHTM cung ứng, đồng thời vai trò của ngân hàng thương mại
trong hệ thống tài chính cũng không còn duy trì được như trước, Đã dẫn đến sự thay
đổi cơ cấu trong các ngân hàng thương mại. Môi trường cạnh tranh thay đổi nhanh
chóng và mạnh mẽ khiến các NHTM nếu không tiến hành đổi mới thì không thể tham
gia cạnh tranh trong hệ thống tài chính được. Các ngân hàng thương mại không chỉ
phải cạnh tranh với chính các NHTM trong cùng hệ thống, mà còn phải đối đầu với
các tổ chức tài chính như: Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính, Công ty thuê mua...
đã ra đời và đang cùng tham gia chia sẻ thị trường với nó. Cuộc cạnh tranh giữa các
tổ chức tài chính diễn ra mạnh mẽ khi vào những năm 1970, các nhà môi giới đã tạo
dựng lên “thị trường tiền tệ bán lẻ”. Do đó, đến đầu những năm 1980, trước đòi hỏi
của các ngân hàng về một “lĩnh vực tham gia ở mức độ cao hơn”, Quốc hội Mỹ đã
cho phép các NHTM cung ứng “tài khoản thị trường tiền tệ” và dịch vụ môi giới.
Cũng trong thời điểm này, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều

phương tiện máy móc hiện đại như: Máy rút tiền tự động, máy tính nối mạng v.v...,
đã góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các NHTM mà còn với các
tổ chức tài chính khác. Cùng với các tiến bộ đó, hoạt động tín dụng của hệ thống
NHTM đã có sự thay đổi. Như trước đây, nếu các ngân hàng chỉ giới hạn trong phạm
vi hoạt động cho vay thương mại, thì đến giai đoạn này các NHTM đã mở rộng lĩnh
vực hoạt động bằng việc triển khai hoạt động cho vay tiêu dùng, đặc biệt là sau cuộc
khủng hoảng vào những năm 1980. Một trong những yếu tố khách quan thúc đẩy
hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh đó là xuất phát từ mối quan hệ giữa
ngân hàng với khách hàng. Thông qua mối quan hệ này, ngân hàng đã thấy được nhu
cầu tín dụng theo hình thức này từ cả phía doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Các
doanh nghiệp có sự hỗ trợ để gia tăng tiêu thụ hàng hoá, còn về phía người tiêu dùng
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
10
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
cần tìm nguồn tài trợ cho các nhu cầu mà hiện tại sự tích luỹ của họ chưa thể đáp ứng
được. Ngày nay, hoạt động cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều công
ty chuyên môn hoá đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện đang mở rộng
dần ra, phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ. Lĩnh vực này cũng
không còn chỉ do các ngân hàng và công ty tài chính thực hiện nữa mà các công ty
bảo hiểm, công ty chứng khoán, ngân hàng tiết kiệm bưu điện... cùng cung cấp dịch
vụ này. Tại Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hang đã phát triển vào
những năm 1993 – 1994, trong thời gian đầu này tập trung nhiều vào cho vay trả góp,
các sản phẩm cung ứng còn rất đơn điệu. Tuy nhiên, do chưa có hành lang pháp lý rõ
ràng dẫn đến hoạt động được một thời gian các ngân hàng tỏ ra rất lúng túng trong
việc cấp tín dụng theo hình thức này. Hiện nay, khi mà một số văn bản pháp luật
hướng dẫn đã ra đời thì lĩnh vực cho vay tiêu dùng ở nước ta lại đang trong xu thế rộ
lên, nó đang được xem là thị trường tiềm năng lớn và có điều kiện phát triển mạnh
cho các ngân hang thương mại tại Việt Nam.
2.2. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Hiện nay Có rất nhiều khái niệm về cho vay tiêu dung. Nhưng có lẽ, một khái

niệm mang tính đầy đủ về cho vay tiêu dùng tại NHTM là: “cho vay tiêu dùng là một
hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền
sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định, với những
thoả thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả...)
nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ
có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn.”
2.3. Đặc điểm, chức năng của cho vay tiêu dùng:
Quy mô của hợp đồng cho vay thường nhỏ, do đó chi phí tổ chức cho vay cao,
bởi vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay
trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế.
Khi nền kinh tế tăng chưởng, đời sống của người dân nâng cao thì nhu cầu vay tiêu
dùng lại càng cao. Nhất là vào các dịp lễ tết, cầu mua sắm tăng thì các số lượng các
khoản vay cũng tăng lên.
Nhu cầu vay tiêu dùng phụ thuộc chặt chẽ vào mức thu nhập và trình độ học
vấn. Những người có thu nhân ổn định và tương đối sẽ tìm tới cho vay tiêu dùng vì
họ có khả năng trả được nợ. Các khách hàng vay tiêu dùng thường là các cá nhân nên
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
11
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
việc chứng minh tài chính thường gặp nhiều khó. Nếu như các doanh nghiệp có bảng
cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh để chứng minh nguồn thu nhập và chi
tiêu thì các cá nhân vay tiêu dùng muốn chứng minh tài chính cùa mình họ thường
phải dựa vào tiền lương, sự suy đoán chứ không có bằng chứng rõ ràng. Cho vay tiêu
dùng có thường có độ rủi ro cao bởi nguồn trả nợ của người vay có thể biến động
lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm, khả năng và sức khỏe của
người vay… Nếu người vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm ngân hàng sẽ rất khó có
thể thu lại được nợ. Do đó, các ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, yêu cầu người
vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hóa đã
mua… Tư cách, phẩm chất của khách hàng vay thường rất khó xác định, chủ yếu dựa

vào cách đánh giá chủ quan và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng. Đây là điểu rất quan
trọng quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
2.4. Phân loại cho vay tiêu dùng:
Cho vay tiêu dùng được phân thành các loại khác nhau, tuỳ theo tiêu thức mà
chúng ta lựa chọn, cho vay tiêu dung có thể được phân chia như sau:
2.4.1. Căn cứ vào mục đích vay:
2.4.1.1. Cho vay tiêu dùng bất động sản.
Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ nhu cầu mua, xây dựng và cải tạo
nhà cho khách hàng cụ thể là cá nhân hay hộ gia đình. Đặc điểm của những món vay
này là quy mô thường lớn, thời gian dài. Việc đánh giá giá trị tài sản tài trợ đóng vai
trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Nếu như trong cho vay tiêu dùng thông
thường thì thu nhập tương lai của người vay là một yếu tố quan trọng để ngân hang ra
quyết định có cho vay hay không thì trong cho vay nhà ở, giá trị và tình hình biến
động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân hàng rất quan tâm. Bởi vì khoản
tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá trị lớn, nên sự biến động theo hướng không
có lợi của nó sẽ dẫn tới những thiệt hại lớn cho ngân hàng.
4.1.2. Cho vay tiêu dùng thông thường.
Là những khoản cho vay phục vụ cho nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm
đồ dung, phương tiện, du lịch, y tế, học hành, hoặc giải trí ... Đặc điểm của những
khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn. Do đó mà mức độ
rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản.
Đối với loại cho vay này, yếu tố quyết định cho vay hay không là khả năng trả nợ của
người đi vay, sau đó mới xem xét tới giá trị tài sản đảm bảo.
2.4.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả:
2.4.2.1. Cho vay tiêu dùng trả góp:
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
12
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Nếu theo hình thức tài trợ này, thì người đi vay trả nợ cho ngân hàng (gồm cả
gốc và lãi) theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định

(tháng, quý...). Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc với
những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ mà không đủ để thanh toán hết một
lần số nợ vay. Đối với loại cho vay này ngân hàng cần chú ý đến những vấn đề sau:
Loại tài sản được tài trợ: thiện chí trả nợ của người vay sẽ tốt hơn khi tài sản
hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu lâu bền của họ trong tương lai. Với ngân
hàng, họ rất quan tâm đến việc lựa chọn tài sản để tài trợ và thường họ chỉ muốn tài
trợ cho những loại tài sản có thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn; với những loại tài
sản này, người vay có thể hưởng tiện ích của nó trong một khoảng thời gian dài.
Số tiền phải trả trước: Đối với hình thức này, ngân hàng yêu cầu người đi vay
phải có vốn tự có trên tổng phương án xin vay, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay,
thường chỉ cho vay từ 45% - 65% tổng giá trị tài sản tùy theo các yếu tố như: loại tài
sản, thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng, thực lực tài chính, trình độ và nhân
thân, lai lịch của người vay. Quy định này của ngân hàng nhằm tránh trường hợp
khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản thế chấp, khi phải phát mại
tài sản không gây nhiều rủi ro cho ngân hàng.
Điều khoản thanh toán.
+ Số tiền thanh toán mỗi kì hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhập sau
khi đã trừ đi các khoản chi tiêu khác.
+ Giá trị tài sản không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được thu hồi.
+ Thời hạn cho vay không nên quá dài nhằm tránh cho việc tài sản tài trợ bị
giảm giá trị theo thời gian đi kèm với rủi ro tín dụng tăng lên.
+ Số tiền mà khách hàng phải thanh toán mỗi kì hạn trả nợ có thể được tính
bằng các phương pháp như sau:
Phương pháp lãi đơn: theo đó, vốn gốc người đi vay phải trả từng kì hạn trả
nợ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kì hạn thanh toán
hoặc có thể được thực hiện theo quý hay theo năm tài chính.
Phương pháp lãi gộp: Là phương pháp thường được áp dụng trong cho vay
tiêu dùng trả góp. Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốn
gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp với vốn gốc rồi chia cho số kì
hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kì hạn trả nợ.

Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
13
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Khi sử dụng phương pháp lãi gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiến hành
phân bổ phần lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định
kì gắn liền với các kì hạn thanh toán hoặc có thể được thực hiện theo quý hoặc theo
năm tài chính.
Vấn đề trả nợ trước hạn:
Khi người đi vay trả nợ trước hạn xảy ra trường hợp: nếu tiền trả góp theo
phương pháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản, người đi vay chỉ phải thanh toán toàn bộ
gốc còn thiếu và lãi vay của kì hạn hiện tại cho ngân hàng. Nhưng nếu tiền lãi được
tính bằng phương pháp lãi gộp thì vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn vì theo phương
pháp này, lãi được giả định rằng tiền vay sẽ được khách hàng sử dụng cho đến lúc kết
thúc hợp đồng, nếu khách hàng trả nợ trước hạn thì thời hạn nợ thực tế sẽ khác đi với
thời hạn nợ ban đầu và như vậy số tiền lãi phải trả cũng thay đổi. Khi đó, người ta sẽ
sử dụng phương pháp phân bổ lãi cho vay theo thời gian để tính số lãi thực tế phải
thu, dựa trên thời hạn nợ thực tế.
4.2.2. Cho vay tiêu dùng trả một lần.
Đây là hình thức tài trợ theo đó số tiền vay của khách hàng sẽ được thanh toán
một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Đặc điểm của các khoản tín dụng này thường
có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay ngắn. Ngân hàng áp dụng hình thức này vì đây là
biện pháp sẽ giúp ngân hàng không mất nhiều thời gian như khi thu nợ làm nhiều kỳ.
Trong thực tế, khoản cho vay tiêu dùng cấp theo hình thức này là không nhiều.
2.4.3. Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ:
2.4.3.1. Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua
những khoản nợ phát sinh do các Công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa, dịch vụ cho
người tiêu dùng. Trong trường hợp này Công ty bán lẻ và Ngân hàng ký kết hợp đồng
mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng kỹ

thuật được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. Sau đó Công ty
bán lẻ và người diêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa. Thông thường
người tiêu dùng sẽ phải trả trước một phần giá trị tài sản. Công ty bán lẻ sẽ giao tài
sản cho người tiêu dùng và bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng. Ngân
hàng dựa trên bộ chứng từ đó sẽ thanh toán tiền cho vay công ty bán lẻ. Cuối cùng
người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng.
- Giảm được chi phí trong cho vay
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
14
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
- Mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác
- Vay vốn đúng mục đích
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau:
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu,
dẫn đến thông tin về khách hàng đôi khi là không chính xác, không tìm
hiểu kỹ được khách hàng do đó rủi ro cho ngân hàng sẽ tăng lên.
- Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hóa.
- Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
2.4.3.2. Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho
khách hàng vay cũng như trực tiếp thu hồi nợ từ người này.
So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có những ưu
điểm sau:
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn
vì nó được quyết định bởi đội ngũ nhân viên tín dụng giàu kinh nghiệm
được đào tạo chuyên môn tốt của ngân hàng chứ không phải là những nhân
viên của công ty bán lẻ. Nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú

trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi đó
nhân viên của công ty bán lẻ lại chú trọng đến việc bán cho được nhiều
hàng nên dễ dẫn tới các quyết định tín dụng vội vàng và có thể có nhiều
khoản tín dụng được cấp ra không chính đáng.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp thường linh hoạt hơn so với cho vay tiêu dùng
gián tiếp, ngân hàng tiếp được xúc trực tiếp với khách hàng nên hiểu rõ
khách hàng.
- Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với nâng hàng, có rất nhiều lợi thế có
thể phát sinh, có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho cả hai phía khách
hàng và ngân hàng.
2.5. Lợi ích của cho vay tiêu dùng:
2.5.1. Đối với Ngân hàng thương mại.
Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi (huy động
vốn) và sử dụng khoản tiền (sử dụng vốn) đó trong kinh doanh nhằm mang lại lợi
nhuận, ngân hàng nhận tiền gửi từ rất nhiều nguồn khác nhau (cá nhân, tổ chức...vv),
theo nhiều hình thức khác nhau. Việc sử dụng cũng theo các hình thức khác nhau: tín
dụng, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán, mua trái phiếu...vv. Dù vậy, trên tổng thể thì
hoạt động tín dụng của NHTM là hoạt động chiếm thị phần cao nhất, mang lại cho
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
15
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
ngân hàng nhiều lợi nhuận nhất. Cùng với quá trình phát triển thì lĩnh vực tài trợ của
NHTM cũng có nhiều thay đổi, nhằm giúp cho các ngân hàng có thể thích ứng được
trước những biến động của thực tế. Lúc đầu, các ngân hàng thương mại cũng chưa
quan tâm nhiều đến thị trường cho vay tiêu dùng, vì đây là thị trường mà các khoản
tài trợ có quy mô nhỏ, chi phí tài trợ lại lớn, rủi ro cao. Nhưng khi mà cuộc cạnh
tranh để giành thị phần thị trường đã trở lên khốc liệt, các NHTM không chỉ phải
cạnh tranh với chính các ngân hàng trong hệ thống, mà còn phải cạnh tranh với các tổ
chức tài chính phi ngân hàng đã khiến thị phần trên một số thị trường của các ngân
hàng ngày càng bị thu hẹp, trong khi thị trường cho vay tiêu dùng đang có xu thế lên

cao. Do vậy, các ngân hàng đã phải hướng mục tiêu của mình vào lĩnh vực này, và
cho vay tiêu dùng đã và đang trở thành một loại hình sản phẩm phổ biến trong các
NHTM, một loại sản phẩm mang lại thu nhập tương đối cao trong tổng doanh thu của
các ngân hang. Nói các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ, nhưng
với một số lượng các khoản này lại rất lớn (đối tượng có nhu cầu vay tiêu dùng bao
gồm tất cả các thành phần trong xã hội), vì thế tổng quy mô tài trợ là không nhỏ. Bên
cạnh đó, lãi suất các khoản tài trợ theo hình thức này là rất cao (bởi người nhận tài trợ
họ chỉ quan tâm đến thoả mãn nhu cầu trước mắt mà họ được hưởng, họ thường
không mấy quan tâm đến lãi suất phải trả) nên đã mang lại cho ngân hàng một tỷ suất
lợi nhuận tương đối lớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Đặc biệt, với ngân hàng
có quy mô nhỏ, uy tín chưa cao..., khó có mà thể cạnh tranh được với các ngân hàng
có quy mô lớn, uy tín cao trong việc giành những khách hàng lớn (thường là các tổ
chức mà nhu cầu vay vốn đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh), hoặc có
những khi nhờ những mối quan hệ tốt có thể giành được khách hàng, nhưng ngân
hàng lại khó có thể đáp ứng được quy mô khoản vay của họ thì thị trường cho vay
tiêu dùng là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng này.
2.5.2. Đối với người tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng lại có tác dụng đặc biệt với những người có thu nhập thấp
và trung bình. Thông qua nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, họ sẽ được hưởng các dịch
vụ, tiện ích trước khi có đủ khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hoá thiết
yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi… hay trong trường hợp cần chi tiêu cấp bách
như nhu cầu về y tế… Có thể nói bất cứ một người nào đều mong muốn được thoả
mãn những nhu cầu của riêng mình bắt đầu từ những hàng hoá tất yếu đến những
hàng hoá xa xỉ hơn. Nhưng thực tế là một người trẻ lại chưa có đủ khả năng chi trả
cho những nhu cầu đó của mình do đó họ cần thời gian tích luỹ tiền, người tiêu dùng
sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn ở hiện tại với khẳ năng thanh toán ở hiện tại và
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
16
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
tương lai. Có thể nói người tiêu dùng là người được hưởng lợi trực tiếp và nhiều nhất

lợi ích mà hình thức cho vay này mang lại trong điều kiện họ sẽ không lạm dụng chi
tiêu vào những việc không chính đáng vì khi đó sẽ làm giảm khả năng tiết kiệm và
chi tiêu trong tương lai.
2.5.3.Đối với nền kinh tế -xã hội.
Sự sung túc của một nền kinh tế được thể hiện rõ qua mức cầu về hàng hoá
tiêu dùng của người dân. Mức cầu đó chính là số lượng và mức độ của các nhu cầu
có khả năng thanh toán. Việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM
sẽ làm tăng đáng kể những nhu cầu có khả năng thanh toán đó hay nói khác đi đây
chính là một giải pháp hữu hiệu để kích cầu và qua đó làm cho nền kinh tế năng động
hơn. Khi sức mua của người tiêu dùng tăng lên thì thị trường hàng hoá tiêu dùng
cũng theo đó mà trở nên sôi động hơn, góp phần quan trọng trong việc nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bên cạnh
đó, Nhà nước cũng sẽ đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội khác như giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, giảm bớt tệ nạn xã hội, cải
thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
2.6. Các yếu tố tác động tới hoạt động cho vay tiêu dùng của
NHTM:
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là mà khả năng doanh nghiệp đó đáp
ứng và chống lại các đối thủ trong việc cung cấp các sản phẩm cùng loại một cách lâu
dài và có lợi nhuận. Trong lĩnh vực ngân hàng cũng vậy, khả năng cạnh tranh của
Ngân hàng Thương mại được hiểu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng tự duy
trì một cách có ý chí trên thị trường, trên cơ sở thiết lập mối quan hệ bền vững với
khách hàng để đạt được một số lượng lợi nhuận nhất định của mình.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Có
nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng, trong đánh giá cho
vay tiêu dùng người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân
hàng thương mại.
Tỷ trọng thu lãi từ
cho vay tiêu dùng

=
Thu lãi từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Tổng thu lãi từ hoạt động cho vay
Cho biết hoạt động cho vay tiêu dùng đóng góp bao nhiêu vào tổng lãi từ hoạt
động cho vay. Tỷ trọng này còn giúp ngân hang việc định hướng phát triển hoạt động
cho vay tiêu dùng.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
17
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Mức độ sử dụng vốn để cho vay =
Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay
Tổng huy động vốn
Để đảm bảo hoạt động cho vay tiêu dùng được thuận lợi ngân hàng phải tính
đến khả năng huy động vốn trên thị trường. Chỉ tiêu này giúp ngân hàng xác định
được khả năng cho vay nói chung và khả năng cho vay tiêu dùng nói riêng trong
tương lai của ngân hàng từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động này.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng.
Trong xu thế cạnh tranh hiện nay, chất lượng hoạt động luôn là một vấn đề
quan tâm của mọi ngân hàng. Nhưng nó là một khái niệm trừu tượng khiến chúng ta
không thể cân, đong, đo, đếm được mà phải đánh giá nó qua quan điểm chủ quan của
khách hàng, những tín hiệu mà Cán bộ tín dụng nhận biết được qua quá trình giao
dịch: sự tin cậy, cảm tình, thông cảm của khách hàng trong hoạt động này. Có thể
đánh giá qua các chỉ tiêu:
- Độ an toàn, chính xác trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay tiêu dùng.
- Thủ tục giao dịch khi khách hàng đến vay nhằm mục đích tiêu dùng.
- Tốc độ xử lý các giao dịch là nhanh hay chậm: thủ tục thẩm định tài chính,
mục đích sử dụng vốn, thủ tục thẩm định tài sản đảm bảo.
Chất lượng cho vay tiêu dùng được chấm điểm qua bảng sau:
STT Chỉ tiêu Điểm số
I Hướng dẫn thủ tục cho khách hàng vay

1 CBTD hướng dẫn tận nơi cho khách hàng có nhu cầu vay 10
2 Gửi email cho khách hàng (về thủ tục điều kiện vay) 8
3 Khách hàng chỉ được hướng dẫn khi đến tận trụ sở ngân hàng 6
II Điền thông tin trong tờ khai về nhân thân lai lịch khách
hàng, về mục đích sử dụng tiền vay
1 CBTD đặt câu hỏi cho khách hàng rồi tự tay điền vào tờ đơn 10
2 Để khách hàng tự điền vào đơn 4
III Thời gian thẩm định khách hàng, thẩm định TSĐB và ra
quyết định tín dụng.
1 Từ 4 – 5 ngày 10
2 Từ 6 – 8 ngày 6
Kết quả xếp hạng chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng
Điểm số Xếp hạng chất lượng
30 – 28 Tốt
27 – 22 Khá
21 – 16 Trung bình
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
18
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Nhóm chỉ tiêu phản ánh tính đổi mới trong hoạt động cho vay tiêu dùng.
Với tốc độ phát triển kinh tế cũng như thu nhập bình quân đầu người tăng lên
dẫn đến nhu cầu về các sản phẩm cho vay tiêu dùng cũng không ngừng phát triển.
Một ngân hàng khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác nếu không biết đổi mới,
phát triển, đa dạng các sản phẩm cho vay tiêu dùng của mình. Sự đổi mới có thể đo
lường qua các con số sau:
- Số lượng các sản phẩm cho vay tiêu dùng cung cấp mới.
- Số lượng các phòng giao dịch, chi nhánh mới.
Các điều kiện mở rộng về: đối tượng cho vay, tỷ trọng số tiền vay trên giá trị
tài sản đảm bảo, các phương thức cho vay mới.
2.6.1. Các yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng:

- Quy mô vốn và khả năng phát triển của ngân hàng: đối tượng kinh doanh
của ngân hàng là tiền vì thế quy mô vốn và tình hình tài chính của một
ngân hàng đóng một vai trò quan trọng. Quy mô vốn càng lớn, thì các chỉ
tiêu tài chính trên các báo cáo càng lành mạnh thì càng tạo tâm lý tốt cho
khách hàng. Hơn nữa, việc phát triển các sản phẩm dịch vụ cho vay tiêu
dùng mới, ứng dụng công nghệ vào hoạt động cho vay tiêu dùng… luôn
gắn liền với đầu tư mua sắm thiết bị mới, phần mềm mới…Giá trị các
khoản đầu tư này thường khá lớn nên với các ngân hàng có quy mô nhỏ thì
khó có thể thực hiện được. Vậy, với quy mô vốn lớn ngân hàng không
những tạo cho mình thế chủ động trước mọi hoạt động mà còn tạo cho
mình khả năng đứng vững trước đối thủ cạnh tranh.
- Hệ thống thông tin, mạng lưới phân phối: hệ thống thông tin gồm hệ thống
báo cáo nội bộ, hệ thống thu thập thông tin bên ngoài, hệ thống phân tích
thông tin.
- Với hệ thống báo cáo nội bộ: ngân hàng sẽ tạo được khả năng tích luỹ và
tìm kiếm các thông tin cần thiết trong quá trình hoạt động của mình như:
chất lượng phục vụ khách hàng, chiến lược của ban giám đốc, mong muốn
của các cổ đông…
- Hệ thống thu thập thông tin bên ngoài: đòi hỏi tích luỹ các số liệu khác
nhau về tình hình tất cả các thị trường, đặc biệt là thị trường ngân hàng
đang hoạt động, về tất cả các lực lượng tham gia thị trường, đối thủ cạnh
tranh, về cơ chế điều hành quản lý của Nhà nước, về biểu lãi suất của ngân
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
19
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
hang nhà nước, chính sách hối đoái, về nhu cầu thị hiếu của người dân. Hệ
thống thông tin tốt sẽ là cơ sở để ngân hàng lựa chọn thị trường mục tiêu
trong hoạt động cho vay tiêu dùng.
- Bộ phận marketing ngân hàng: với các thông tin thu thập được, bộ phận
này sẽ tổng hợp, phân tích và đưa ra kết luận về vấn đề nghiên cứu, tìm

hướng giải quyết nhằm đạt được mục tiêu: thu hút ngày càng nhiều khách
hàng, chiếm lĩnh được thị phần cao trên thị trường, đạt được lợi nhuận cao,
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, hoàn thành tốt kế hoạch của ban
giám đốc, mục tiêu hội đồng cổ đông đề ra…
- Trình độ đội ngũ cán bộ: trước hết, với cán bộ quản lý phải là người có
chuyên môn giỏi, có khả năng phân tích, phán đoán, là người chịu trách
nhiệm đầu tiên về khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Bên cạnh đó, do đặc
thù riêng của việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng lại phụ thuộc lớn
vào trình độ của cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp
xúc với khách hàng qua quá trình giao dịch, đề xuất các ý tưởng cải tiến
sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. Vì thế, ban lãnh đạo cần có chính sách
khơi dậy năng lực lao động, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ tín dụng, đặc biệt
phát huy hiệu quả của chính sách khen thưởng, động viên thỏa đáng đối
với nhân viên có thái độ phục vụ tốt và thu hút nhiều khách hàng cho ngân
hàng
2.6.2. Đối thủ cạch tranh:
Mức độ cạnh tranh cao vốn là đặc trưng trong hoạt động ngân hàng. Ngày nay
nó không nhưng là sự phát triển nhanh của bản thân các ngân hàng mà còn là sự phát
triển mạnh mẽ của các dịch vụ phi ngân hàng. Vì vậy, để hoạt động thắng lợi thì ngân
hàng không chỉ phân tích thận trọng thị trường và khách hàng mà nhất thiết phải
nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh chủ yếu của mình. Hoạt động này là để xác định
xem cần tấn công đối thủ nào, hay cần bảo vệ mình khỏi đối thủ nào (ở đâu? bao giờ?
tiến hành thế nào?), các chiến thuật quan trọng trong chiến lược cạnh tranh. Việc
phân tích đối thủ cạnh tranh nhằm: xây dựng được một chiến lược trung lập hóa tới
mức tối đa có thể các mặt mạnh của đối thủ cạnh tranh, tập trung sức lực vào các dịch
vụ mà ngân hàng có vị trí tương đối mạnh . Hơn hết là hiểu được tại sao khách hàng
chọn ngân hàng mình mà không chọn ngân hàng cạnh tranh.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
20
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính

Nhất là, với hoạt động trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, ngoài việc luôn chú ý
tới những “đòn” tấn công của đối thủ cạnh tranh, ngân hàng còn phải quan tâm tới
những khách hàng có mức thu nhập cao ở tại khu vực mà mình hoạt động nhằm đưa
ra các dịch phù hợp và ưu việt hơn đối thủ cạnh tranh.
2.6.3. Sự phát triển kinh tế:
Các biến số kinh tế như: tốc độ tăng trưởng, phát triển kinh tế, sự ổn định về
kinh tế, chính sách đầu tư, tiết kiệm của Chính phủ, thu nhập bình quân đầu người, tỷ
lệ xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, lãi suất... có tác động mạnh mẽ đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Môi trường kinh tế có tác động lớn đến nhu
cầu và cách thức sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng. Vì vậy, nó chi phối đến
hoạt động của ngân hàng. Nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái, thu nhập giảm, tỉ lệ
thất nghiệp tăng, cá nhân có xu hướng giảm tiêu dùng, gia tăng tích lũy để phòng bị
khi mà có sự bất chắc về kinh tế xảy ra, nhu cầu vay tiêu dùng trong giai đoạn này
cũng hạn chế. Ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng nó sẽ thúc đẩy người dân tiêu
dùng hạn chế tiết kiệm vì họ kỳ vọng thu nhập tương lai có thể đáp ứng nhu cầu chi
tiêu cho hiện tại của họ, do đó gia tăng các hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân
hàng. Lãi suất sẽ quyết định mức cầu trong hoạt động cho vay. Các ngân hang
thương mại thường đưa ra mức lãi suất hấp dẫn để thu hút vay tiêu dùng. Tất nhiên
phải trên cơ sở mức lãi suất cơ bản của NHNN nhằm kiểm soát thị trường. Lạm phát
cao gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng vì khi đó khó kiểm soát mức giá cả và
lượng tiền. Doanh nghiệp và cá nhân sẽ dè dặt gửi tiền vào ngân hàng, lãi suất huy
động sẽ tăng. Các doanh nghiệp hạn chế đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh do
bởi độ rủi ro trong thời điểm này là rất cao. Do đó, để khuyến khích việc vay tiền,
ngân hàng phải hạ lãi suất cho vay
2.6.4. Hệ thống pháp luật:
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ
của pháp luật, các quy định của NHNN. Trước hết, có thể kể đến các chính sách của
Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực cho vay tiêu dùng, đặc biệt là các
chính sách và các chương trình liên quan tới kinh tế. Ví dụ như khi Nhà nước tăng
mức đầu tư cho nền kinh tế cũng như tăng thu hút đầu tư nước ngoài bằng các chính

sách khuyến khích đầu tư (sự đơn giản về thủ tục giấy tờ, ưu đãi thuế…) tất cả những
điều này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, xã hội,
GDP sẽ tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, mức thu nhập cho người lao động tăng, qua đó
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
21
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng. Hay có thể kể đến tác động của các quy định của ngân
hang nhà nước, chẳng hạn các quy định về lãi suất chiết khấu. Đó là mức lãi suất
NHNN cho vay với các ngân hàng thương mại. Việc giảm mức lãi suất này tạo điều
kiện tăng cho vay của các ngân hàng thương mại. Ngược lại nâng mức lãi suất chiết
khấu sẽ diễn ra theo một quá trình ngược lại: giảm khối lượng cho vay của các ngân
hàng thương mại. Hay quy định về mức dự trữ bắt buộc, chẳng hạn việc thay đổi mức
dự trữ bắt buộc sẽ làm thay đổi tài sản có của các ngân hàng thương mại và làm tăng
hoặc giảm doanh số cho vay tiêu dùng. Hay như chính sách của NHNN trong việc
cấp tín dụng cho vay đối với các ngân hàng thương mại dưới 15% vốn tự có sẽ làm
hạn chế khả năng cho vay của ngân hàng song mặt khác tạo sự an toàn cho ngân hàng
cũng như khách hàng trước những khó khăn về thanh khoản trong tương lai.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
22
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI (MARITIME
BANK) CHI NHÁNH CẦU GIẤY
1. Tổng quan về Ngân Hàng TMCP Hàng Hải (Maritime bank) Chi
Nhánh Cầu Giấy.
1.1. Lịch sự hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) một ngân hàng
thương mại cổ phần phát triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin đối với khách
hàng. Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) chính thức thành lập
theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam, hội sở chính tại 519 Kim Mã, Ba Ðình, Hà Nội. ngày 12/07/1991
Maritime Bank chính thức khai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố Hải Phòng,
ngay sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng Thương mại, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty
Tài chính có hiệu lực. Đó là thành quả có được từ sức mạnh tập thể và ý thức đổi mới
của các cổ đông sáng lập như : Cục Hàng Hải Việt Nam, Tổng Công ty Bưu chính
Viễn thông Việt Nam, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam…
Những ngày đầu Maritime Bank chỉ có 24 cổ đông với vốn điều lệ 40 tỷ đồng
và một số chi nhánh tại các tỉnh thành lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, TP
HCM giai đoạn năm 1997 - 2000 là giai đoạn thử thách, cam go nhất của Maritime
Bank. Do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, Ngân hàng
Maritime Bank đã gặp nhiều khó khăn. Nhưng bằng nội lực và bản lĩnh của mình,
Maritime Bank đã lấy lại được trạng thái cân bằng và phát triển mạnh mẽ từ năm
2005 đến nay từ 483 nhân viên năm 2005 lên 2.000 nhân viên năm 2009. Số lượng
các điểm giao dịch tăng mạnh từ 16 điểm giao dịch năm 2005 lên 120 điểm giao dịch
vào cuối năm 2009. Vốn điều lệ hiện tại ở mức 3.000 tỷ đồng và tổng tài sản đạt
65.000 tỷ đồng trong năm 2009. Hòa với sự lớn mạnh của đất nước Maritime Bank
phấn đấu trở thành Ngân hàng TMCP dẫn đầu thị trường về cung ứng các dịch vụ tài
chính chuyên nghiệp đa năng, trọn gói theo tiêu chuẩn quốc tế. Cam kết vì sự phát
triển bền vững, Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân hàng TMCP hàng đầu cả
nước về hiện đại hóa, năng động, chuyên nghiệp và lấy chữ Tín trong mọi hoạt động
kinh doanh với tôn chỉ “Tạo lập giá trị bền vững”. Chính vì lẽ đó chi nhánh cầu giấy
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
23
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) được thành lập căn cứ vào
Quyết Định số 1832/QĐ-NHNN ngày 06/08/2007 của thống đốc NHNN Việt Nam,
trụ sợ tại 253 đường Cầu Giấy, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nộị
Từ ngày đầu thàng lập chi nhánh đã được trang bị đội ngũ nhân viên trẻ, chất
lượng cao, gắt kết và tấm huyến đã tạo lên thế mạnh của chi nhánh nói riêng và của
ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) nói chung. Với tống số cán

bộ đã lên tới … tính đến …. Nhất là thường xuyên được bồi dưỡng về cả chất lượng
cũng như số lượng. Công tác cán bộ luôn được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của chi nhánh. Xây dựng môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp & thân
thiện. Đánh giá đúng năng lực của nhân viên, bố trí đúng người, đúng việc, có chế độ
đãi ngộ thoả đáng
Bên cạnh về các nguồn lực về vốn và nhân lực, chi nhánh còn có được thế
mạnh về hệ thống công nghệ tin học hiện đại, đảm bảo liên tục và tức thời
Với áp lực cạnh tranh từ các định chế tài chính nước ngoài, sự mở rộng về
lượng và phát triển về chất của các ngân hàng Việt Nam đã đặt cho chi nhánh nhiều
thách thức cũng như cơ hội phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự mở rộng thị trường trong
nước và khả năng vươn ra thị trường khu vực và thế giới.
Ngay từ ngày đầu thành lập chi nhánh đã chuyển mình nhanh chóng, triển khai
một loạt các giải pháp kinh doanh tích cực, tham gia sâu rộng trên thị trường liên
ngân hàng, đẩy mạnh hoạt động tín dụng an toàn và ổn định, tăng cường công tác
quản lý rủi ro tập trung tại trung tâm điều hành, công tác huy động vốn dân cư đều
tăng qua các quý
Thực hiện đưa Maritime Bank trở thành một trong năm ngân hàng thương mai
hàng đầu tại Việt Nam trong năm tới, chi nhánh đã định hướng phát triển trong năm
2010 như sau :
- Tiếp tục nâng cao năng lực tài chính, đẩy mạnh phát triển mạng lưới khách
hàng
- Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng trên cơ sở cung cấp các đa
dạng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
- Đẩy mạnh tiến độ triển khai các năng lực quản lý rủi ro, xây dựng hệ thống
kiểm soát chặt chẽ nhằm đẩy mạnh kinh doanh trên cơ sở kiểm soát được
rủi ro.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
24
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
- Chú trọng công tác phát triển nguồn nhân lực, tăng cường cơ chế đãi ngộ

thích hợp nhằm thu hút, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho
nhưng người có năng lực, có nhiệt thuyến tại chi nhánh
- Tăng cường hoạt động quản cáo, tuyên truyền rông rãi hình ảnh của chi
nhánh nói riêng của Maritime Bank nói chung
- Nâng cao vị thế thương hiệu Maritime Bank và từng bước tăng thu nhập
cho các cán bộ nhân viên trong chi nhánh.
Năm 2010 tới đây là năm nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi, ban
lãnh đạo chi nhánh đã nhận định rằng đây là một năm có nhiều cơ hội và thách thức,
vì thế chinh nhành không những phát triển sâu và rông hơn nữa, tiếp tục tổ chức củng
cố khắc phục và sử lý những tồn tại yếu kém trước đây, đồng thời phải tạo đà tăng
trưởng, mở rông quy mô hoạt động kinh doanh cả về vốn và chất lượng phục vụ, đảm
bảo sự bền vững của ngân hàng
1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức
1.2.1. Mô hình tổ chức:
1.2.2. Các hoạt động kinh doanh
1.2.2.1. Huy động vốn:
- Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các tổ
chức kinh tế và dân cư
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
25
Các phòng
giao dịch
Các quỹ tiết
kiệm

×