Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

làn sóng đầu tư nước ngoài vào thị trường bán lẻ việt nam và giải pháp cho hệ thống bán lẻ nội địa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.95 MB, 106 trang )

TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ VÀ KINH
DOANH
QUỐC

CHUYÊN NGÀNH KINH TÉ ĐÓI
NGOẠI
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
Đẻ tài:
LÀN SÓNG ĐẦU Tư
NƯỚC
NGOÀI VÀO THỊ
TRƯỜNG
BÁN LẺ
VIỆT
NAM VÀ
GIẢI
PHÁP CHO HỆ
THỐNG
BÁN LẺ
NỘI
ĐỊA


Sinh
viên
thực
hiện
Lớp
Khóa
Giáo viên
hướng
dẫn
Bùi Th Mai
Hương
Nga
Ì
45C
PGS. TS
Phạm
Duy
Liên
-!Ư VIÊN

Nội,
tháng
5
năm
2010

mo
MỤC LỤC
LỜI
MỞ ĐÀU Ì

CHƯƠNG
ì:
TỎNG
QUAN
VẺ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ 4
Ì-
Những
khái niệm chung
4
1.1.
Khái
niệm
về
bán
lẻ
4
Ì .2.
Khái
niệm
về
thị
trường
bán
lẻ
6
Ì .3.
Cấu
trúc
kênh phân
phối

của
thị
trường bán
lẻ
7
1.4.
Các
loại
hình bán
lẻ
li
1.4.1.
Bán
lẻ tại
cửa
hàng:
12
1.4.2.
Bán
lẻ
không
qua cửa
hàng:
15
1.4.3.
Bán
lẻ
dịch
vụ:
16

1.5.
Tầm
quan
trọng
của
hoạt
động bán
lẻ
trong
nền
kinh tế
17
Ì .6.
Các
yếu
tố
ảnh
hưởng
đến sự
hình thành

phát
triển
thị
trường
bán
lẻ:
19
2.
Các

tiêu
thức
đánh giá sức thu
hút
của
thị
trường
bán
lẻ
đến
hoạt
động
đầu tư
nưc ngoài
21
2.
Ì.
Nhóm
rủi
ro
quốc
gia
22
2.2.
Nhóm
độ
hấp
dẫn
thị
trường

22
2.3.
Nhóm
độ
bão hòa cùa
thị
trường
23
2.4.
Nhóm
áp
lực
thời
gian
23
3-
Xu
hưng phát
triển
của
thị
trường
bán
lẻ
thế
gii
24
3.1.
Xu
hưổng

ứng
dụng
công
nghệ
thông
tin
trong
quản
trị
bán
lẻ
ngày
càng
phổ
biến.
24
3.2.
Sự
phát
triển
của
các
dịch
vụ chăm sóc khách hàng
25
3.3.
Sự
hình thành các
tập
đoàn bán

lẻ lổn
25
3.4.
Xuất
hiện
xu
hưổng
chuyển
dịch
quyền
lực
giữa
nhà bán
lẻ
và nhà
sản
xuất
trong
kênh phân
phối
26
3.5.
Xu
hướng
nhượng
quyền
thương
hiệu
26
4.

Kinh
nghiệm của các nhà phân
phối
bán
lẻ
trên
thế giới
27
4.
Ì.
Cần xây
dựng
một hệ
thống
luật
hoàn
chỉnh
và riêng
biệt
liên
quan
tới
thị
trường
bán
lẻ
27
4.2. Triển
khai
các mô hình bán

lẻ
phù hợp
với thu
nhập,
tập
quán tiêu
dùng
của
từng
khu vực
lãnh
thổ
28
4.3.
Cần phát
triển
thương
mẫi
điện
tử
29
4.4.
Tận
dụng
tối
đa ưu
thế của
mình so
với
các nhà phân

phối
bán
lẻ
nước
ngoài
vẫn
còn bỡ ngỡ
với thị
trường
nội địa
29
4.5.
Thực
hiện
các chính sách hỗ
trợ,
khuyến
khích các
doanh
nghiệp
bán
lẻ
trong
nước
31
CHƯƠNG li: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
TRONG
THỜI
GIAN
QUA 32

1.
Tình hình phát
triển
thị
trường bán
lẻ
Việt
Nam 32
2.
Sức hấp dn của
thị
trường bán
lẻ
Việt
Nam 35
2. Ì.
Thị
trường
Việt
Nam
liên
tục
được
đánh giá

hấp
dẫn với
các nhà
đâu tư
nước

ngoài 35
2.2.
Tốc độ tăng
trưởng
của
ngành
kinh
doanh
bán
lẻ
37
3.
Thực
trạng
thị
trường bán
lẻ
Việt
Nam 39
3.
Ì.
Sự xâm
nhập

chiếm
lĩnh
thị
trường
của
các DN bán

lẻ
nước
ngoài
39
3.1.1.
Các nhà bán
lẻ
nước
ngoài
vào thị
trường Việt
Nam 39
3.1.2.
Các doanh
nghiệp
bán
lẻ
Việt
Nam 41
3.1.3.
Tác động
của
DN
bán lẻ
nước
ngoài
đến
thị
trường
bán

lẻ
Việt
Nam 43
3.1.3.1.
Tác động
tới
doanh
nghiệp
bán
lẻ
trong
nước 43
3.1.3.2.
Tác động
tới các
doanh
nghiệp
sản
xuất
nội địa
44
li
3.1.3.3.
Tác động
tới
thị
trường
44
3.1.3.4.
Tác động

tới
người tiêu
dùng 45
3.2. Sự yếu kém của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước 45
3.3.
Hàng hóa lưu thông
trên
thị
trường và
sự
thay
đổi
thói
quen
trong
phong
cách
tiêu
dùng 47
3.4.
Phân
phối
bán
lẻ
từ
hình
thức
truyền
thống
chuyển

dàn
sang
hình
thức
hiện
đại
50
3.5.
Sự
biến
tướng
của
một
số
loại
hình
kinh
doanh
bán
lẻ hiện
đại
52
3.6.
Canh
tranh
bằng
giá đang
dần chuyển sang cạnh
tranh
bằng dịch v.

55
3.7.
Thương
mại
điện
tử
phát
triển
57
4.
Thực
trạng
đầu tư
trực
tiếp
nước ngoài vào
thị
trường bán
lẻ
Việt
Nam
trong
thòi
gian
qua 57
4.Ì.
Tác động
tích
cực
58

4.2.
Tác
động
tiêu
cực
59
5.
Ngành
kinh
doanh
bán
lẻ
Việt
Nam
khi
"mở cửa
thị
trường dịch vụ"
60
6.
Một
sổ
đánh giá về
thực trạng thị
trường bán
lẻ
Việt
Nam 66
6.
Ì.

Đánh
giá về
thành công 66
6.2.
Đánh
giá về hạn chế
68
CHƯƠNG IU: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỆ THÔNG
BÁN Lợ VIỆT NAM
TRONG
THỜI
GIAN
TỚI 72
1. Chiến
lược phát
triển
ngành dịch vụ phân
phối
bán
lẻ
72
2.
Dự báo tình hình phát
triến
của
thị
trường bán
lẻ
Việt
Nam 75

2. Ì.
Các
loại
hình
kinh
doanh
bán
lẻ
hiện đại
sẽ
được mờ
rộng
và ngày
càng
chiếm
ưu
thế
75
iii
2.2.
Hệ
thống
phân
phối
bán
lẻ
truyền
thống
sẽ bị thu
hẹp

lại
76
2.3.
Sẽ
xuất hiện
xu
hướng
kinh
doanh
chuyên
môn
hóa mặt hàng
76
2.4.
Sẽ
xuất hiện
xu
hướng
cạnh
tranh
toàn
cầu
hóa
76
2.5.
Dự
báo
tốc
độ phát
triển

của
ngành
kỉnh
doanh
phân
phối
bán
lẻ
77
2.6.
Dự
báo
vấn
đề mặt
bằng
bán
lẻ
78
2.7.
Một
số
dự báo khác
79
3.
Đề
xuất
một
số
giải
pháp

nhằm
phát
triển
hệ
thống
bán
lẻ Việt
Nam
trong
thời
gian
tói
80
3.1.
Sự
cần
thiết
phi giữ
vững
và phát
triển
thị
trường
đối với
các
doanh
nghiệp
bán
lẻ
Việt

Nam 80
3.2.
Đe
xuất
một
số
gii
pháp
81
3.2.1.
Giải pháp

phía
nhà nước
81
3.2.2. Giải
pháp
về
phía
doanh
nghiệp
bán
lẻ
86
3.2.3. Giải
pháp
về
phía
nhà
sản

xuất
89
KÉT
LUẬN
91
DANH
MỤC
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 92
PHỤ
LỤC
95
iv
DANH
MỤC
BẢNG
BIÊU
Bảng
1:
Tổng hợp xếp hạng
GRDI
của
Việt
Nam năm 2005- 2009 35
Bảng 2:
Nhóm
các thị trường bán lẻ hấp dẫn
nhất
thế

giới
năm 2009 36
Bảng 3: Tổng doanh thu bán lẻ và tóc độ
tăng
trưởng
giai
đoạn 2005-2009. 38
Bảng 4:
Tăng
trưởng GDP của
Việt
Nam
trong
những năm gần đây 48
Bảng 5:
Phân tích
SWOT
giữa
siêu
thị và chợ
truyền
thửng
52
Bảng 6: FDI vào
ngành
dịch vụ bán lẻ
Việt
Nam 58
DANH MỤC Sơ ĐÒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ Ì: Cấu trúc kênh phân phửi của thị trường bán lẻ 7

Sơ đồ 2: Minh hoa cho các cửa
hàng
làm
người
trung
gian
bán lẻ 8
Sơ đồ 3: Các kênh phân phửi từ người sản xuất đến người tiêu dùng 9
Biểu
đồ Ì: Bức
tranh
mạng
lưới
bán lẻ
Việt
Nam 49
V
DANH
MỤC TỪ VIẾT TẮT
AVR
:
Hiệp
hội
các Nhà bán
lẻ Việt
Nam
CH
:
Cửa hàng
DN

:
Doanh
nghiệp
ENT
:
Economic
Need
Test
-
kiểm
tra
nhu
cầu kinh tế
FDI
:
Vốn đầu tư
trực
tiếp
nước ngoài
GDP
:
Tổng
sản
phẩm
quốc
nội
GRDI
:
Chỉ
số

phát
triển
bán
lẻ
toàn cầu
HAPRO
:
Tổng
công
ty
thương
mại

Nội
NXB
:
Nhà
xuất
bản
TNHH
:
Công
ty
trách
nhiệm
hữu hạn
TTTM
:
Trung
tâm thương mại

TP. HCM
:
Thành phố H Chí
Minh
SATRA
:
Công
ty
Thương
mại
Sài Gòn
VDA
:
Công
ty cổ
phần
đầu tư

phát
triển
hệ
thống
phân
phối
Việt
Nam
VN
:
Việt
Nam

WTO
:
Tổ
chức
thương
mại
Thế
giới
vi
LỜI
MỞ ĐẦU
Ì-
Tính cấp
thiết
của đề tài
Trong
những
năm gần
đây, với
sự tăng trường ấn tượng
của
nên
kinh
tế
và sự
thay đổi
theo
hướng thân
thiện
của thế

chế chính
sách,
Việt
Nam đã
trờ
thành môi trường đầu tư hấp
dẫn, thu
hút sự chú ý
của
các nhà đầu tư
lớn
trong
và ngoài nước
trong
nhiều
lĩnh
vực.
Ngành
kinh
doanh
bán
lẻ Việt
Nam

một
trong rất
nhiều
ngành
nghề


triển
vọng
phát
triển
của đất
nước,
đang
đứng
trước
những

hội
phát
triển
chưa tùng
có.
Trong
những
năm gần đây,
xu
hướng đầu tư vào
lĩnh
vực phân
phậi
bán
lẻ
đang tăng
nhanh
với
sự

lớn
mạnh
của
các nhà phân
phậi nội địa
cũng
như sự
hiện diện
nhiều
hơn
của
các
nhà phân
phậi
bán
lẻ
nước
ngoài.
Chưa bao
giờ
làn sóng đầu tư nước ngoài
vào ngành
kinh
doanh
bán
lẻ Việt
Nam
lại
sôi động như
vậy.

Các
doanh
nghiệp
phân
phậi trong
nước đang đẩy
mạnh
quá trình mở
rộng
mạng
lưới
phân
phậi
và phát
triển
chất
lượng
dịch
vụ, trong khi
các
tập
đoàn phân
phậi
nước
ngoài đang
nhanh
chóng xúc
tiến
cũng
như hoàn thành các

thủ tục xin
được
đầu tư
tại
thị
trường
Việt
Nam,
thậm
chí các
tập
đoàn
lớn
đang
hoạt
động
tại
Việt
Nam
cũng
không
ngừng
mở
rộng
quy mô đầu tư
trong
lĩnh
vực
này.
Là thành viên của

tậ
chức
thương mại thê
giới
WTO, cánh cửa
thị
trường
Việt
Nam chính
thức
mở
rộng,
đầu tư nước ngoài vào
Việt
Nam ngày
càng
trở
nên thông thoáng và
minh
bạch
hơn.
Việc
mở
cửa thị
trường dẫn đến
ngày càng có
nhiều
đại gia
bán
lẻ

nước ngoài đổ vào
Việt
Nam,
trong khi
các
doanh
nghiệp
trong
nước còn
yếu
kém về
nhiều
mặt và
thị
trường chưa được
tổ
chức
tật.
Điều
này
mang
lại

những
tác
động
tích
cực lẫn
tiêu
cực

cho
thị
trường
phân
phậi nội địa.
Một câu
hỏi lớn đặt ra là:
cần có
những
giải
pháp
nào để cho hệ
thậng
bán
lẻ nội
địa có
thể
đứng
vững
trong
cuộc
cạnh
tranh
hiện nay; giữa
một bên

hệ
thậng
phân
phậi nội địa

non
trẻ,
còn một bên là
Ì
hệ
thống
các nhà phân
phối
nước ngoài có
tiềm lực
tài chính hùng
mạnh

giàu
kinh
nghiệm?
Đây
cũng
là một vấn đề khá cấp bách, một bài toán khó
đặt ra
cho các cơ
quan
hữu
quan.
Chính vì lý do
này,
em xỉn
chọn
đề tài
:

"
Làn sóng đầu tư nước ngoài vào
thị
trường bán
lẻ Việt
Nam và
giải
pháp cho
hệ
thống
bán
lẻ nội địa" là
đề
tài
nghiên cợu
cho bài
khóa
luận
này.
2-
Mục đích nghiên cợu
Đề tài
" Làn sóng đầu tư nước ngoài vào
thị
trường bán
lẻ Việt
Nam

giải
pháp cho hệ thông bán

lẻ nội địa"
được
chọn
với
mục đích đê nghiên
cợu
thực
trạng của thị
trường bán
lẻ Việt
Nam
trong
những
năm gần đây
cũng
nhu
thực
trạng
đầu tư nước ngoài vào
thị
trường
này.
Từ đó dự báo tình hình
phát
triển
thị
trường bán
lẻ Việt
Nam và đề
ra

một số
giải
pháp cho hệ
thống
phân
phối nội địa trong
cuộc
cạnh
tranh với
các
tập
đoàn bán
lẻ
khống
lồ
trên
thế
giới
trên
chính
thị
trường
Việt
Nam.
3- Đối
tượng và phạm
vi
nghiên cợu
Bài khóa
luận

chủ yếu
tập trung
nghiên cợu
thị
trường bán
lẻ Việt
Nam và đầu tư nước ngoài vào hệ
thống
bán
lẻ nội địa;
sợc hấp dẫn của
thị
trường
bán
lẻ Việt
Nam; các đánh
giá về
thành công và
hạn chế của thị
trường
bán
lẻ,
và một số dự báo và
giải
pháp để phát
triển
hệ
thống
bán
lẻ Việt

Nam
trong
thời
gian
tới.
4- Phương pháp nghiên cợu
Khóa
luận
sử
dụng
phương pháp duy
vật biện
chợng
và duy
vật lịch
sử của chủ
nghĩa
Mác-
Lênin,
tư tưởng Hồ Chí
Minh

quan
điểm
của
Đảng
Cộng Sản
Việt
Nam qua các
nghị

quyết
Đài
hội
Đảng
toàn
quốc
làm cơ sở và
phương pháp
luận
của đề tài này. Ngoài ra khóa
luận
còn sử
dụng
nhiều
phương pháp nghiên cợu
tổng
hợp khác như: phương pháp phân tích-
tổng
họp,
phương pháp
đối chiếu-
so
sánh,
phương pháp mô
tả
khái quát
đối
tượng
nghiên
cợu,

phương pháp
thống

2
5-
Bố
cục của
đề
tài
Ngoài
phần
mở
đầu,
phần
kết luận

danh
mục tài
liệu
tham
khảo,
khóa
luận
được
chia
làm 3 chương:
- Chương
ì:
Tổng
quan

về thị
trường bán
lẻ.
-
Chương
li:
Thực
trạng
thị
trường
bán
lẻ
Việt
Nam
trong
thời
gian qua.
- Chương
IU:
Các
giải
pháp nhằm tăng cường
thu
hút đầu tư nưẫc
ngoài vào hệ
thống
bán
lẻ
Việt
Nam

trong
thời
gian
tẫi.
Em
xin gửi
lời
cảm ơn chân thành
nhất
đến
thầy
giáo - Phó Giáo Sư,
Tiến

Phạm
Duy Liên đã
chi
dẫn
nhiệt
tình và đóng góp ý
kiến
để em hoàn
thành khóa
luận
này, đồng
thời
em
cũng
mong
nhận

được
lời
góp ý từ các
thầy
cô giáo đế bài khóa
luận
được hoàn
thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
CHƯƠNG
ì:
TỎNG
QUAN
VÈ THỊ
TRƯỜNG
BÁN LẺ
Ị-
Những
khái niệm chung
LI. Khái niệm
về
bán
lẻ
Hiện
nay có khá
nhiều
khái
niệm

về bán
lẻ,

thể
đưa
ra
một số khái
niệm
về bán
lẻ
như
sau:
Theo
Philip Kotler:
" Bán
lẻ
bao hàm mọi
hoạt
động nhằm bán hàng
hóa
hay dịch
vụ
trực
tiếp
cho
người
tiêu dùng
cuối
cùng để họ sử
dụng

cho cá
nhân,
chứ
không
mang
tính thương
mại".[8,
314]
Theo quan
điểm
của
Arpita
Mukerjee

Nitisha Patel:
" Bán
lẻ
bao
gồm mọi
hoạt
động liên
quan
tặi
việc
bán các hàng hóa và
dịch
vụ
trực
tiếp
cho người

tiêu dùng
cuối
cùng để họ tiêu dùng cá
nhân,
chứ không
phải
kinh
doanh,
thông qua các cửa
hàng,
siêu
thị,
phương
thức
bán hàng
tận
nhà,
đơn
đặt
hàng
bằng
thư
điện
tử
hoặc qua
Internet".[l,
23]
Còn
theo
quan

điểm
của
Hiệp
hội
Thương mại Mỹ
tại Việt
Nam
(AmCham): "Bán
lẻ

hoạt
động bán hàng hóa cho
người
tiêu dùng cá nhân
hay
hộ
gia
đình
bao gồm các
dịch
vụ kèm
theo
việc
bán các hàng hóa đó( các
dịch
vụ bán
lẻ)".[15]
Trong
khi
đó,

TS.
Phạm
Thị Thu Phương cho
rằng:
"Bán
lẻ

tất
cả
các
hoạt
động liên
quan
đến
việc
bán các sản phàm
vật chất

dịch
vụ
trực
tiếp
cho
người
sử
dụng
cuối
cùng,
đáp ứng nhu cầu
của


nhân,
gia
đình

các
tổ
chức".
[7]

thể
thấy
rằng,
các khái
niệm
mà các nhà nghiên cứu đưa
ra
ở trên
đều xoay quanh
ba khía
cạnh
chủ yểu
nhất
của
hoạt
động bán
lẻ,
đó
là: nội
dung,

đối
tượng
và mục đích
của
hoạt
động bán
lẻ.
Cụ
thể
là:
- Nội dung:
đó

tất
cả
các
hoạt
động liên
quan
đến
việc
bán
trực
tiếp
các
sản
phẩm
vật chất

dịch vụ.

-
Đối
tượng: là
người
tiêu
dùng
cuối
cùng.
4
-
Mục
đích:
để đáp ứng
nhu cầu

nhân,
không
phải
để
kinh
doanh.
Nhà bán
lẻ
hoặc
nhà
cung
ứng bán
lẻ
là một công
ty

thương mại mà
tổng
doanh
thu
của
nó có được chủ
yếu
mang
lại
từ
hoạt
động bán
lẻ.
Bất
kỳ
một
tổ
chức
nào (nhà
sản
xuất,
nhà bán buôn
hoặc
nhà bán
lẻ)
bán cho
người
tiêu dùng
cuịi
cùng để họ tiêu dùng cá nhân đều đang làm

chức
năng bán
lẻ;
không
cần quan
tâm
những
hàng hóa
dịch
vụ đó được bán
ra sao(

thể
bán
hàng qua
thư, điện
thoại,
máy bán hàng
tự
động,
bán qua
Internet )
và nơi
chúng được bán ở đâu (
trong
cửa
hàng,
trên
đường
phị hay

tại
nhà khách
hàng, ).
Xét về mặt
lịch
sử
thì
hoạt
động bán
lẻ
đã có
từ
lâu
đời,
dưới
tên
gọi
là tư bản thương
nghiệp,
mà hình
thức
đầu tiên của nó là thương
nghiệp
cị
xưa.
Thương
nghiệp
cổ xưa
xuất hiện
thậm

chí trước cả tư bản công
nghiệp.
Điều
kiện
để
tồn
tại

xuất hiện
của Tư bản thương
nghiệp
cổ xưa là
lun
thông hàng hóa và lưu thông
tiền tệ.
Còn đặc
điểm
hoạt
động của thương
nghiệp
cổ xưa

"mua
rẻ
bán
đắt",

"kết
quả của
việc

ăn
cắp

lừa
đào".
Thương
nghiệp
cổ xưa tách
rời
quá trình sản
xuất

chiếm
địa vị
thịng
trị
trao
đổi
hàng
hóa,
do đó nó

khâu
nịi liền
các
ngành,
các
vùng,
các
nước

với
nhau,
thúc đẩy
lực
lượng
sản
xuất
phát
triển,
đẩy
nhanh
quá
trình
tan

của

hội

lệ,
phong
kiến,
tập
trung
nhanh
tiền
tệ
vào một sị
ít người,
đấy nhanh

quá trình tích
lũy
nguyên
thủy
của
tư bản và sự
ra đời
của
phương
thức

bản chủ nghĩa.
Khi
thực hiện
chức
năng
chuyển
hóa H' - T
của

bản,
do sự phân
công
lao
động xã
hội,
được
chuyển
thành một
hoạt

động chuyên môn hóa do
một
nhóm tư bản nào
đó,
thì tư bản
kinh
doanh
hàng hóa
xuất
hiện.
Tư bản
thương
nghiệp dưới
chủ
nghĩa
tư bản

một bộ
phận của
tư bản công
nghiệp
tách
rời
ra
đế
phục
vụ quá
trình
lưu thông hàng hóa
của


bản
công
nghiệp.
Hàng hóa
sau
khi

tay
nhà tư
bản
công
nghiệp
dược
chuyển sang
tay
nhà tư bản thương
nghiệp

nghĩa
là nhà tư bản công
nghiệp
đã bán
xong
5
hàng
hóa.
Đứng
về mặt xã
hội


nhận
xét
thì
nhà tư bản công
nghiệp
phải
thực hiện việc
bán một làn nữa mới
xong
bởi
vì hàng hóa còn
phải
lưu thông
đến tay người
tiêu dùng. Nhưng trên
thực tế,
khâu này do tư bản thương
nghiệp
đảm
nhiệm.
Do
đó,
tư bản thương
nghiệp
chỉ là một khâu
trong
quá
trình tái sản
xuất,

không có khâu này thì quá trình sản
xuất
không
thế
tiến
hành bình thường
được".
[3]
Nen
kinh
tế
càng phát
triển,
hoạt
động bán
lố
càng
chứng minh
được
vai
trò
quan
trọng
không
thể
thiếu
của mình
đối với
nền
kinh

tế.


thế
được xem xét
dưới
nhiều
góc độ khác
nhau. Đối với người
sản
xuất
bán
lố

những
cách
thức
tổ
chức
giúp họ đưa sản phẩm
tới
người
tiêu
dùng
cuối
cùng.
Đối với người
tiêu dùng,
hoạt
động bán

lố
chủ yếu được
thế
hiện
tại
các cửa hàng bán
lố,

thế
hiện
quá trình vận động của hàng
hoa
bao gồm quá trình vận
chuyển,
dự
trữ biến
đổi
và đưa hàng hoa đến
phục
vụ nhằm
thoa
mãn nhu
cầu
của
họ.
Còn
đối với
bản thân các nhà bán
lố,
hoạt

động này

một
lĩnh
vực
kinh tế
riêng
biệt

chức
năng
trung gian
giữa
nhà
sản
xuất

người
tiêu dùng.
1.2.
Khái niệm về
thị
trường bán lẻ
Thị
trường bán
lố

nơi
diễn ra
hoạt

động bán
lố.
Mỗi hành
vi
trao
đổi
thông qua mua và bán bao
giờ cũng

người
mua và
người
bán. Những
người
bán
lố

người
tiêu dùng

hai
tác nhân chính
của
thị
trường.
Một bên
làm
nhiệm
vụ
cung cấp,

phân
phối,
còn một bên mua các sản phẩm
dịch
vụ
hoàn
chỉnh
đó để
thỏa
mãn nhu
cầu
tiêu
dùng cá nhân
của
mình.
Những
người
bán
lố
(cá
nhân,
tổ chức)

người
tiêu dùng
tiến
hành
hoạt
động mua bán
hàng hóa

trong
một khuôn
khổ khung
pháp lý
nhất
định.Có
thể
định
nghĩa
thị
trường
bán
lố
như
sau:
Thị
trường
bán
lố

thị
trường mà
người
mua và
người
bán tác động qua
lại
lẫn
nhau
trong

một khuôn khố
khung
phát lý
nhất
định,
để xác định giá cả và
khối
lượng
hàng hóa không còn cơ
hội
quay
trở
lại
thị
trường.
Hàng hóa không còn cơ
hội
quay
trở
lại
thị
trường ở đây được
hiểu

6
hàng hóa được bán cho
người
tiêu dùng
cuối
cùng để tiêu dùng cá nhân;

người
mua hàng hóa tiêu dùng
ngay
cho chính nhu cầu của bản thân
họ,
chứ
không
phải

mục đích
kinh
doanh.
1.3.
Cấu
trúc
kênh phân
phối
cửa
thị
trường
bán
lẻ
Sơ đồ
1.
Cấu
trúc kênh
phân
phối
của
thị

trường
bản
lẻ.
Người
sàn
xuất
Người
trung
gian
Người
tiêu
dùng
Người
sàn
xuất
Người
trung
gian
Người
tiêu
dùng
(Tham khảo
Phillip Kotler, 2003,
Sách Quản
trị
Marketing,
Nhà xuất bàn Thống
Kê,
trang
314,

Hà Nội)
Dù hàng hoa được phân
phối
theo
hình
thức
nào thì kênh phân
phối
của
thị
trường bán
lẻ
về cơ bản
cũng
bao gồm 3 thành
viên:
người
sản
xuất,
người
trung gian

người
tiêu
dùng
cuối
cùng.
-
Người
sản

xuất:

người
trực
tiếp
sản
xuất
ra
hàng hoa
đó.
Đôi
khi
người sản
xuất
cũng
là người
bán
thang
hàng hoa đó
tới
tay người
tiêu dùng
không
cần qua
trung gian.
-
Người
trung gian:

nhửng

người
tham
gia
vào
việc
phân
phối
hàng
hoa
tới
người
tiêu
dùng.
Người
trung gian

thể
gồm:
đại
lý môi
giới,
người
bán
buôn,
người
bán
lẻ
(cửa
hàng
tiện

dụng,
siêu
thị

đại
siêu
thị,
cửa hàng
bách
hoa,
cửa hàng
đại
hạ
giá,
cửa hàng chuyên
doanh,
trung
tâm thương
mại ).
7
Sơ đồ 2
:
Minh hoa cho
các
cửa hàng làm người
trung gian
bán
lẻ
Môi
giới

CH
nhượng
quyền
Người
sản
xuất
CH Bán và
giới
thiệu
sàn phẩm
CH
bán
lẻ
độc lập
Các
loại
hình
khác:
Siêu
thị,
trung
tâm thương
mại,
CH
tiện
lợi
Người
tiêu
dùng
(Tham

khảo:
"Phát
triển
hệ
thống
phân phối bán
lẻ
hàng hỏa ờ
Việt
Nam
trong
bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế", PGS. TS. Lê Trịnh Minh Châu, 2004)
- Người tiêu dùng: là người cuối cùng nhận được hàng hoa đó. Họ nhận
hàng hoa đó với mục đích để tiêu dùng cho cá nhân, không phải vì mục đích
kinh doanh.
Do sừ đa
dạng
của khâu
trung
gian
mà hàng hoa có thể đến tay của
người tiêu dùng theo nhiều con đường dài ngắn khác nhau. Có thể tìm hiểu
việc
thừc
hiện
phân
phối
từ nhà sản
xuất

đến
người
tiêu dùng qua mô hình
sau:
8
Sơ đồ
3:
Các kênh phân
phối
từ
người
sản
xuất đến người
tiêu
dùng
Nhà
sàn
xuất
Nhà bán

Nhà
bán
buôn
Nhà bán
lẻ
Người
môi
giới
Nhà
bán

buôn
Nhà bán
lẻ
Người
tiêu
dùng
(Nguồn:
Phillip Kotler, 2003,
Sách Quản
trị
Marketing,
Nhà
xuất
bản Thống Kê,
trang
ì
14,
Hà Nội)
Qua sơ đồ
trên,

thể
hình
dung
một cách
tổng
quát,
việc
phân
phối


bán
lẻ
để hàng hóa đến
với
tay người
tiêu dùng bao gồm bốn kênh chủ
yếu.

thể
là do
trực
tiếp
nhà sản
xuất
phân
phối
sản phẩm
tới
tay
người
tiêu
dùng;
từ
nhà
sản
xuất
đến nhà bán
lẻ
rồi

đến
tay người
tiêu
dùng;
từ
nhà sản
xuất
thông qua
người
bán buôn, đến nhà bán
lẻ
rồi
mới đến
tay
người
tiêu
dùng;

cũng

thế
có thêm sự
tham
gia
của
đại
lý môi
giới
giậa
nhà sản

xuất
và nhà bán
buôn,
sau
đó đến nhà bán
lẻ
rồi
mới đến
người
tiêu
dùng.
Mỗi
kênh phân
phối
đều có
nhậng
ưu và nhược
điếm
riêng:
- Thứ
nhất,
người
sản
xuất

thế
trực
tiếp
đưa hàng hoa
của

mình
tới
tận
tay
người
tiêu dùng mà không qua một khâu
trung
gian
nào khác. Hàng
hoa

thể
được bán
tại
các cửa hàng bán và
giới
thiệu
sàn phẩm của mình
hoặc
qua
điện
thoại,
qua
mạng,
qua đơn
đặt
hàng Ưu
điểm
của trường hợp
này là hàng hoa tiêu

thụ
nhanh
chóng.
Vì hàng hoa đến
thẳng
tay người
tiêu
9
dùng nên giá cả hợp lý hơn. Đồng
thời,
do không
phải
qua khâu
trung
gian
nên nhà
sản xuất

thể thu
được
nhiều
lợi
nhuận
hơn.
Đặc
biệt,
ưu
điểm
lớn
nhất

đó

nhà
sản xuất

thể
dễ dàng nắm
bắt,
nhận
biết
nhu cầu
của
khách
hàng.
Tuy nhiên để
thực hiện
đưa hàng hoa
theo
con đường này và đảm bảo
được
nguyên
tắc
lợi
nhuận
thì
người
tiêu dùng ở đây
phải là
người
có nhu cịu

tiêu
thụ lớn
và ổn
định.
Trên
thực
tế, rất
khó
doanh
nghiệp

thế
tìm
kiếm
được
những
người
tiêu dùng đáp ứng được yêu
cầu
trên.
Kênh phân
phối
này
thường
được áp
dụng
trong
trường hợp bán
những
hàng hoa có giá

trị
lớn,
những
hàng hoa có tính
chất
thương phịm đặc
biệt
(hàng tươi
sống,
hàng lâu
bền)

dụ:
bán ô

qua
cửa
hàng bán và
giới thiệu
sản
phàm
- Thứ
hai,
người
sản
xuất
đưa hàng hoa của mình
tới
tay
người

tiêu
dùng mà chỉ thông qua một khâu
trung
gian

những
nhà bán
lẻ.
Trong
trường
hợp này thì
người
sản
xuất

thể tận
dụng
được vị trí bán hàng, hệ
thống
phân
phối của
người
bán
lẻ.
Qua
đó,
nhà
sản xuất

thể

tăng được uy
tín của
hàng
hoa.
Ngoài
ra,
người
sản xuất
cũng
dễ dàng
điều
chỉnh
hoạt
động
bán hàng của
mình.
Tuy nhiên một
điều
dễ dàng
nhận
thấy,
lợi
nhuận
đã bị
phân
chia
một
phần
cho nhà bán
lẻ.

Người
sản xuất
cũng
khó
điều
phối
hàng
hoa của
mình do các
địa
điểm
bán hàng
thuộc
sở hữu
nhiều
người
bán
lẻ
khác
nhau.
Kênh phân
phối
này chủ
yếu
được áp
dụng
cho các
người
sản
xuất


quy
mô nhỏ thường kiêm luôn cả
hoạt
động bán
buôn.
Các
người
bán
lẻ
cần
phải
đáp ứng được yêu
cầu là phải

vốn lớn

mạng
lưới
rộng
rãi.
-Thứ
ba,
hàng hoa
theo
con đường
từ
nhà sản
xuất,
qua

người
bán
buôn đến
người
bán
lẻ rồi
đến
người
tiêu dùng. Đe mở
rộng
được thị
trường
của mình thì
người
sản
xuất
cần
phải
có vốn
lớn,
quan
hệ
rộng
rãi,
có bí
quyết
trong
sản
xuất,
phân

phối,
bảo
quản
hàng
hoa.
Không
phải
người
sản
xuất
nào
cũng

thể
đáp ứng được yêu cầu đó. Khi
đó,
để mở
rộng
thị
trường thì
những
người
sản
xuất
này sẽ nhờ đến
vai
trò của
người
bán
buôn.

Tuy nhiên
chi
phí
sản xuất
hàng hoa
chắc
chắn
sẽ
tăng
lên, từ

10
người sản
xuất
bị
chia
sẻ
lợi
nhuận
nhiều
hơn.
Người
sản
xuất
cũng
không
thể
tự mình điều
chỉnh
được

thị
trường phân
phối
của mình do còn
phải
phụ
thuộc
vào
người
bán buôn.
- Ngoài
ra,
hàng hoa có
thể
đến
tay người
tiêu dùng qua
những
con
đường
dài
hơn.
Hàng hoa
đi từ
nhà môi
giệi
đến
những
nhà bán buôn
rồi

đến
những
nhà bán
lẻ cuối
cùng mệi đến
người
tiêu dùng.
Trong
trường họp này
người
sản
xuất

thể
chuyên tâm vào sản
xuất,
khâu phân
phối
được
giao
phối
cho
người
môi
giệi.
Tuy nhiên
chi
phí tăng lên
rất
nhiều

do có quá
nhiều
khâu
trung gian.
Kênh phân
phối
này áp
dụng
khi
hàng hoa
phải
thâm
nhập
vào
những
thị
trường mà có
những
luật
lệ
quy
tắc
khó khăn
hoặc

những
thị
trường
đầu tiên mà
người

sản
xuất
bán hàng hoa của mình.
Tại
những
thị
trường
này,
để có
thể
bán được hàng hoa
thì cần
những
người
am
hiểu
sâu sắc
thị
trường,
có mối
quan
hệ
tốt
vệi
các
người
bán buôn.
Người
đó chính là
người

môi
giệi.
Người sản
xuất
cần
phải
căn cứ vào nhu
cầu của
thị
trường,
chiến
lược
phân
phối
hàng
hóa,
cũng
như điều
kiện
về
vốn,
mạng
lưệi
phân phôi của
mình để có
thể quyết
định
lựa
chọn
con

đường phân
phối
hợp
lý.
Việc kết
hợp
nhiều
con đường phân
phối
khác
nhau
giúp
người
sản
xuất
vừa am
hiểu
nhu
cầu của
thị
trường để
điều
chỉnh
sản
xuất
vừa
tiêu
thụ
sản
phẩm được

tốt
hơn.
1.4.
Các
loại hình
bản
lẻ
Hoạt
động bán
lẻ
vận động và
thay
đổi
cùng
vệi
sự phát
triển
của nền
kinh
tế.
Nếu trưệc
kia

Việt
Nam,
kinh tế
còn nghèo
nàn,
kém phát
triển,

thì
hoạt
động bán
lẻ
cũng
mệi
chỉ
dừng
lại
ở các hình
thức giản
đơn như
chợ
búa,
các
cửa
hàng
tạp
hóa
nhỏ
lẻ,
những
gánh hàng
rong,
những
quầy
hàng bên
vỉa
hè đường phố Nhưng
khi

nền
kinh
tế
phát
triển,
đời
sống
người
dân được
nâng
cao,
hệ
thống
phân
phối
bán
lẻ
ngày càng đa
dạng
hơn,
phong
phú hơn
vệi
sự
xuất hiện
của
những
siêu
thị,
đại

siêu
thị,
trung
tâm thương
mại,
Các
loại
hình bán
lẻ
vô cùng
phong
phú và đa
dạng.
Dựa trên các tiêu chí khác
li
nhau người
ta

thể
phân
loại
ra nhiều
loại
hình bán
lẻ
khác
nhau.
Ví dụ phân
loại
theo

quy mô
thì
các
loại
hình bán
lẻ
có các cơ sở bán
lẻ
lớn,
vừa và
nhỏ.
Hay phân
loại
theo
các
chủ
thể
tham
gia
bán
lẻ
thì
các
loại
hình bán
lẻ
gồm có
doanh
nghiệp
bán

lẻ,
hợp tác xã bán
lẻ,

thể
hộ
gia
đình
Tuy
nhiên,
phô
biến
và dễ
hiểu nhất
thì người
ta
thường phân
loại
thổ
trường bán
lẻ theo
tiêu
thức
cách
thức
bán hàng và hàng
hoa
kinh
doanh.
Theo

tiêu
thức
này
thì
trong
thổ
trường bán
lẻ
các
loại
hình bán
lẻ
gồm
có:
bán
lẻ tại
cửa
hàng,
bán
lẻ
không qua
cửa
hàng và bán
lẻ
dổch
vụ:
1.4.1.
Bán
lẻ
tại

cửa
hàng:
Đây là
loại
hình bán
lẻ
phổ
biến nhất hiện
nay.
Theo
loại
bán
lẻ
này,
các
tổ
chức
hay cá nhân bán
lẻ
có một
đổa
điểm
kinh
doanh
cố
đổnh.
Tại
đây,
người
ta tổ

chức
trưng bày hàng hoa và
người
tiêu dùng
tới
đây để mua và
thanh
toán
trực
tiếp.
Các
đổa
điểm
bán hàng này được phân
loại
ra
thành các
loại
cửa hàng khác
nhau
dựa
theo
quy mô, tính
chất
của
chúng.
Hiện
nay có
các
loại

cửa
hàng bán
lẻ
như
sau:
•S
Chợ: Chợ là một
loại
hình bán
lẻ truyền thống
lâu
đời
và phổ
biến
khắp
nơi trên
thế
giới.
Chợ có
thể hiểu

một nơi quy
tụ nhiều
người
bán
lẻ

người
tiêu dùng để tiêu
thụ

các
loại
hàng hoa khác
nhau. Hoạt
động buôn
bán
của chợ

thể diễn ra
hàng ngày
hoặc
đổnh kỳ
theo
một
khoảng
thời
gian
nhất
đổnh.
s Siêu
thổ:
Siêu
thổ
là một
loại
hình cửa hàng
hiện đại, kinh
doanh
tổng
hợp

hoặc
chuyên
doanh;
có cơ cấu
chủng
loại
hàng hóa
phong phú,
đa
dạng,
bảo đảm
chất
lượng;
đáp ứng các tiêu
chuẩn
về
diện
tích
kinh
doanh,
trang
bổ
kỹ
thuật

trình
độ
quản
lý, tổ
chức

kinh
doanh;
có các phương
thức
phục
vụ văn
minh,
thuận
tiện
nhằm
thỏa
mãn nhu
cầu
mua sắm hàng hóa của
khách
hàng.[14].
Tuy
chỉ
mới
xuất hiện trong
một
thời
gian
ngắn,
siêu
thổ
lại
tỏ
ra
có sức

thu
hút
lớn bởi
mặt hàng
thực
phẩm và tiêu dùng hàng ngày
phong phú, chủng
loại
đa
dạng,
mỗi mặt hàng có
thể
có đến hàng
chục
nhãn
12
hiệu
khác
nhau
giúp
việc
lựa
chọn
hàng dễ
dàng,
đảm bảo
chất
lượng
và giá
cả phải

chăng.
Trong
những
năm
qua,
hình
thức
kinh
doanh
siêu
thị
đã
thực
sự
khắng
định được vị
thế
kinh
doanh
của mình trên thương
trường.
Người
tiêu dùng ngày càng
nhận
thức
được
những
giá tăng mà siêu
thị
mang

lại
như
sự
tiện lợi,
chất
lượng
phục vụ,
sự uy tín sản phỹm
Thay
vì đến các cửa
hàng
nhỏ,

kỹ,
vàng
thau lẫn
lộn,
người
tiêu dùng đã đến siêu
thị
đế có cơ
hội
so sánh
từ
giá cà cho đến
kiểu
dáng, mẫu mã,
tinh
năng của
nhiều

sản
phỹm
mang
nhiều
thương
hiệu
khác
nhau.
s
Trung
tâm thương
mại:
Theo
quy
chế
siêu
thị,
trung
tâm thương mại
của
Bộ Công Thương
Việt
Nam:
"trung
tâm thương mại là
loại
hình
tổ
chức
kinh

doanh
thương
mại
hiện đại,
đa
chức
năng,
bao gồm
tổ
hợp các
loại
hình
cửa
hàng,
cơ sở
hoạt
động
dịch vụ,
hội
trường,
phòng
họp,
văn phòng cho
thuê
được bố
trí tập
trung,
liên hoàn
trong
một

hoặc
một số công trình
kiến
trúc
liền
kề;
đáp ứng các tiêu
chuỹn
về
diện
tích
kinh
doanh,
trang
bị
kỹ
thuật
và trình độ
quản lý, tổ chức
kinh
doanh;
có các phương
thức
phục
vụ văn
minh,
thuận
tiện
đáp ứng nhu cầu phát
triển

hoạt
động
kinh
doanh
thương
nhân và
thỏa
mãn nhu cầu về hàng
hóa, dịch
vụ
của
khách
hàng".
Trung
tâm
thương mại thì không phố
biến
bằng
siêu
thị,
thường bán các
loại
hàng tiêu
dùng
cao
cấp, nhất là
hàng
ngoại
nhập
có thương

hiệu
nổi
tiếng
trên
thế
giới.
•s
Cửa hàng bán
lẻ
độc
lập:
Loại
hình bán
lẻ
này
tồn
tại
rất
phổ
biến.
Các cửa hàng này thường
thuộc
sở hữu của cá nhân hay hộ
gia
đình.

tồn
tại
dưới
hình

thức
các cửa
hàng,
cửa
tiệm
nhỏ
tại
các mặt
phố,
khu dân cư.
Các
loại
hàng hoa
tại
các cửa hàng này thường là các hàng tiêu dùng, dân
dụng phục
vụ
cho
nhu
cầu
tiêu
dùng hàng ngày.
/ Cửa hàng bán
lẻ
dạng
họp tác
xã:
Hợp tác xã bán
lẻ
được hình thành

bởi
một nhóm
người
bán
lẻ
liên
kết với
nhau
để cùng buôn
bán,
phân
phối
hàng
hoa.
Sự liên
kết
này dựa trên sự
tự
nguyện,
đồng
thời
các thành viên có
13
quyền
tự
do
gia
nhập,
tách
khỏi

hợp tác xã và
tự cung
úng hàng hoa
từ
các
nguồn
ngoài hợp
tác
xã.
•S
Cửa hàng bách
hoa:
Đây là
loại
hình cửa hàng
lớn
cả về quy mô và
số
lượng hàng
hoa.
Các
cửa
hàng bách hoa thường được xây
dựng
tại
các khu
dân cư
tập trung
đông
đúc.

Hàng
hoa
tại
đây
phong
phú về
chủng
loại
và mẫu
mã nên thường được bày bán chuyên
biệt
tại
các
khu vực
riêng
của cửa
hàng
•S
Cửa hàng
đại lý:
Các
cửa
hàng này được
người sản
xuất
hoộc người
phân
phối
cho làm
trung gian trong việc

tiêu
thụ
hàng hoa trên cơ sở hợp
đồng
đại
lý. Hoạt
động của các cửa hàng này thường độc
lập
và hưởng một
khoản
hoa hồng
nhất
định.
•S
Cửa hàng nhượng
quyền
thương
mại:
Đây

một hình
thức
mới mẻ,

bắt
đầu
xuất hiện
tại
Mỹ
từ

đầu
thế
kỷ 20 và ngày càng phát
triển
mạnh
mẽ. Cửa hàng này thường được kí hợp đồng để được nhượng
quyền
kinh
doanh
một
loại
hàng hoa
dịch
vụ
nhất
định
từ
nhà sản
xuất.
Các cửa hàng
nhượng
quyền
là các cửa hàng có
sẵn
vốn và địa
điểm
kinh
doanh.
Các cửa
hàng này

kinh
doanh
dựa vào thương
hiệu
của
một hãng đã
nổi tiếng
trên
thị
trường.
Ngoài
ra,
các cửa hàng này
cũng nhận
được sự tư
vấn,
cung
cấp bí
quyết
về
marketing, tổ
chức quản
lý,
đào
tạo
nguồn
nhân
lực
từ
đơn

vị
trao
quyền
kinh
doanh.
Đe
đổi
được
điều
đó,
thì ngoài số
tiền
đóng lúc
đàu,
các
cửa
hàng còn
phải
đóng thêm một
khoản phí
nhất
định.
s Cửa hàng chuyên
doanh:
Đây là
loại
hình cửa hàng
kinh
doanh
chuyên

sâu.

chỉ cung
cấp một hay một nhóm hàng hoa
nhất
định hay chỉ
phục
vụ một nhóm
người
tiêu dùng
nhất
định.

dụ:
cửa
hàng chuyên
doanh

thể
là cửa
hàng
chỉ
bán một
loại
hàng hoa như
quần
áo,
giày
dép
hay một

nhóm sản phẩm như hàng tươi
sống,
hàng đông
lạnh;
cửa hàng chuyên bán
hàng
cho
trẻ
em,
người
già
14
s Cửa hàng
giảm
giá,
hạ
giá:
Cửa hàng này bán các
loại
hàng hoa
với
giá thấp
hơn
với giá
bán
lẻ
theo
yêu
cầu của
người

sản xuất
hoặc
tính
chất
của
sản
phẩm.
•s
Cửa hàng
kho:
Cửa hàng này
mang
tính
chất
như một kho
hàng.
Các
cửa
hàng này thường không trưng bày hàng
hoa,
không
quảng
cáo do
vậy tận
dụng
được
diện
tích

chi

phí.
s Cửa hàng bán và
giới
thiệu
sản phẩm: Cửa hàng này
thuộc
sờ hổu
của
người
sản
xuất.
Đây là kênh phân
phối của
trực
tiếp
của
người
sản
xuất
tới
người
tiêu
dùng.
ỉ.4.2.
Bán

không
qua cửa
hàng:
Theo

loại
hình bán
lẻ
này các
tổ
chức
và cá nhân bán
lẻ
không
cần
thiết
phải
có một địa
điểm
bán hàng cố
định.
Hiện
nay có các
dạng
bán
lẻ
ngoài
cửa
hàng
chủ yếu:
•S Bán
lẻ theo
đơn
đặt
hàng qua bưu

điện
hay
điện
thoại:
Mọi
hoạt
động
bán hàng đều có sử
dụng
các kênh bưu
điện
hay
đường
dây
điện
thoại
để
thu
nhận
đơn
đặt
hàng,
hỗ
trợ
đưa hàng đến
tận
nhà khách hàng.
Loại
hình
này có

thể
bao gồm: bán
theo
đơn
đặt
hàng căn cứ vào
catalog
(người
bán
gửi
cho
khách hàng
catalog
qua các
quầy
bán,
hàng được
đặt sẽ
được
giao từ
kho
trung
tâm cho các
quầy,
quầy
sẽ
thông báo qua
điện
thoại
cho khách hàng là

hàng đã về và có
thể
đến
nhận);
hoặc
marketing
trực
tiếp
(người
bán
sẽ
thông
báo trên báo
chí,
đài phát
thanh truyền
hình mô
tả
một mặt hàng nào đó và
người
tiêu dùng có
thể đặt
mua qua bưu
điện
hay
điện
thoại);
hoặc
gửi
thư

trực
tiếp.
•S
Các máy bán hàng
tự
động:
Các máy bán hàng này thường được
đặt
ở các nhà
máy,

quan,
cửa
hàng
lớn,
nơi có
nhiều
người
qua
lại.
Nó có
thể
nhận
tiền
xu
hoặc
tiền
giấy

trả

lại tiền
thừa.
Nó đảm bảo sự
thuận
tiện
cho
người
tiêu dùng nhờ bán
suốt
ngày đêm và
tự
phục
vụ.
Tuy
nhiên,
đây

một
15
kênh phân
phối
tương
đối
đắt đỏ,
thường cao hơn
15-20%
giá bán hàng hóa
thông
thường.
•S

Bán hàng lưu
động:
bán hàng
theo
nguyên
tắc
"đến
từng
nhà"
hoặc
sắp
xếp các
"cuộc
hẹn mua bán"
tại
nhà.
Bán hàng
theo
hình
thức
này có
the
mang
lại
cho khách hàng sự
tiện
lợi,
nhưng giá bán thường tương
đối
đắt


người
bán
phải
trà
thêm
khoản
hoa
hồng
cho nhân viên chào
hàng,
chi
phí
tổ
chức,
thuê nhân viên bán hàng.
ỉ.43.
Bán
lẻ
dịch
vụ:
Theo
loại
hình này, hàng hoa là
dởch
vụ chứ không
phải
là hàng hoa
đơn
thuân.

Các
loại
hình bán
lẻ
dởch
vụ như: cho thuê phòng ở,
giặt
là,
cho
thuê phương
tiện
Mặc dù, các cửa hàng bán
lẻ
vẫn còn phổ
biến
nhưng cùng
với
sự
phát
triển
của
đời
sống

hội
thì các
loại
hình bán
lẻ
không qua cửa hàng

và bán
lẻ
dởch
vụ
cũng
ngày càng phổ
biến
hơn.
Sự phát
triển
mạnh
mẽ của
công
nghệ,
viễn
thông đặc
biệt

thương mại
điện tử
(giới
thiệu,
bán hàng

thanh
toán qua
mạng)
cộng
với
nhu cầu ăn

uống, nghỉ
ngơi,
đi
lại
của
người
tiêu dùng ngày một tăng cao đã làm cho các
loại
hình
dởch
vụ tăng
lên không
ngừng.
Ngoài các
loại
hình bán
lẻ
kể
trên,
còn một
loại
hình bán
lẻ
cũng
đang
rất
phổ
biến
và gây
nhiều


luận trong thở
trường bán
lẻ Việt
Nam, đó

hệ
thống
bán hàng đa
cấp.
Đây là
hoạt
động
kinh
doanh
bán hàng
trực
tiếp
đến
tay
người
sử
dụng,

chỉ
dành riêng cho
hoạt
động
tiếp
thở

trên
thở
trường
hàng hoa
chứ
không dành cho
thở
trường
dởch
vụ.
Theo
đó,
người
bán hàng sẽ
bán
trực
tiếp tại
nơi ở
của
người
mua hàng
hoặc
một nơi khác mà không
phải

tại
công
ty
cũng
như

tại
các
cửa
hàng hay có một
đởa
điểm
cố đởnh để bán
hàng.

thể
xếp bán hàng đa cấp vào
loại
hình bán
lẻ
không qua cửa hàng.
Bán hàng đa cấp là một hình
thức kinh
doanh
tiến
bộ được
nhiều
nước tiên
tiến
trên
thế
giới
áp
dụng.
Tuy nhiên
hiện

nay
lại
xuất hiện
những
biến
tướng
16
của
loại
hình
kinh
doanh này,
trở
thành một hình
thức lừa
đảo;
có không ít
công
ty
đã làm
sai
quy chê
của
pháp
luật
gây
tai
tiếng

thiệt

hại
cho ngành
nghề
này.
1.5.
Tẩm quan
trọng
của
hoạt
động bán
lẻ
trong
nền
kinh
tế
Hoạt
động bán
lẻ
đang dần dần
khẳng
định ưu
thế
vượt
trội
của
mình
trong
việc
đáp ứng nhu
cầu

tiêu dùng
của
khách
hàng.
Bàn về tầm
quan
trọng
của hoạt
động bán
lẻ
trong
nền kỉnh
tế,
trưực
hết phải thấy rằng,
bán
lẻ

loại
hình
hoạt
động có tầm
quan
trọng
bậc
nhất
trong
nhiều lĩnh
vực bán hàng của
các ngành

kinh
tế.
Đây là
hoạt
động có liên
quan
trực
tiếp
đến nhu cầu tiêu
dùng
sản
phàm hữu hình và vô hình
của
tất
cả
các
tầng
lóp dân cư ở
mọi quốc
gia.
Điều
này được
minh chứng
qua
thực tế hoạt
động ở
trong
nưực
cũng
như

ở các nưực khác trên
thế
giựi
thông qua các
chỉ
số về số nơi bán
lẻ
hàng hóa,
doanh
số bán
lẻ
từng
thời
kỳ ở mỗi khu vực địa
lý,
số
người
thực hiện
công
việc
bán
lẻ
hàng hóa
trên
thị
trường

thể
kể
ra

một số
vai
trò
quan
trọng
của hoạt
động bán
lẻ
trong
nền
kinh
tế
như
sau:
- Thứ
nhất,
hoạt
động bán
lẻ
phục
vụ
rộng
rãi nhu cầu đa
dạng
của
người
tiêu dùng
trong

hội.

Vựi
việc
cung
cấp các sản phẩm
từ
hàng tiêu
dùng
thiết
yếu cho đến các
dịch
vụ giá
trị
gia
tăng và
giải
trí,
ngành phân
phối
bán
lẻ
đã đóng một
vai
trò chủ
chốt
trong
việc
đảm bảo và duy
trì cuộc
sống
bình

thường,
ổn
định,
đáp ứng
những
nhu
cầu
thiết
yếu
của người
tiêu
dùng.
Thậm
chí nó còn
thỏa
mãn
những
nhu cầu riêng
biệt,
phong
phú của
họ.
Để
thực hiện
được
chức
năng
này,
ngành phân
phối

bán
lẻ phải
có một
hệ thống,
mạng
lưựi
phân
phối rộng
khắp,
giúp cho hàng hóa đến được
tận
tay
người
tiêu
dùng.
- Thứ
hai,
hoạt
động bán
lẻ giải
quyết
công ăn
việc
làm cho đông đảo
người
lao
động ở mỗi
quốc
gia,
nhất


lao
động nữ
giựi.
Như đã phân tích ở
trên,
ngành phân
phối
bán
lẻ
phục
vụ,
đáp ứng nhu cầu
phong
phú của mọi
tầng
lựp
dân
cư,
mọi
người
tiêu dùng
vựi
một
mạng
lưựi rộng
khắp.
Do vậy
17
ly. Oịsoỹ

×