Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

Tình hình tiêu thụ hàng hóa tại Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thực Phẩm Rau Quả Cần Thơ: Thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (975.75 KB, 65 trang )

TÓM TẮT
Trong sự nghiệp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế
nước ta liên tục tăng trưởng và ổn định, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch ngày càng hợp lý,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thì hoạt động của thị trường chứng khoán ngày càng
phát triển và vai trò của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ngày càng quan
trọng. Tại vì thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế.
Do đó việc phân tích và đánh giá cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán là
điều cần thiết đối với nhà đầu tư, cổ đông. Mặc khác Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông
nghiệp Cần Thơ (TSC) là thành viên niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh
(HOSE). Vì vậy, trong quá trình thực tập tại công ty này tôi quyết đinh chọn đề tài nghiên
cứu là “Phân tích và đánh giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông
nghiệp Cần Thơ (mã cổ phiếu: TSC)”. Đề tài bao gồm 6 chương, nội dung chính của mỗi
chương như sau:
- Chương 1 giới thiệu về đề tài.
- Chương 2 viết về cơ sơ lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
- Chương 3 phân tích tình hình tài chính của TSC.
- Chương 4 phân tích tình hình giao dịch cổ phiếu TSC trên HOSE.
- Chương 5 đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty.
- Chương 6 kết luận và kiến nghị.
- 1 -
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam có hàng trăm cổ phiếu niêm yết nên nhiều nhà
đầu tư đôi khi sẽ rất lúng túng trong việc lựa chọn đối tượng để đầu tư. Vấn đề quan trọng
đối với họ là “chọn mặt gửi vàng”, nghĩa là phải tìm ra một số loại cổ phiếu thực sự có khả
năng sinh lời để đầu tư.
Một thực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty được niêm yết cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán đang hoạt động như thế nào và đầu tư vào cổ phiếu của
các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng


đổ xô đi mua những cổ phiếu đang tăng giá. Nhiều người mua cổ phiếu rồi mà không hề có
trong tay những tài liệu và phương pháp cần thiết để tìm hiểu về mức độ sinh lời của cổ
phiếu đó. Do đó việc phân tích và đánh giá cổ phiếu của một công ty niêm trước khi đưa ra
quyết định đầu tư là việc vô cùng quan trọng.
Trong thời gian qua (từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2007) trên thị trường chứng khoán
Việt Nam đã xuất hiện một số cổ phiếu mới lên sàn ở Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh (HoSE) tạo được sự quan tâm đặc biệt đối nhà đầu tư như cổ phiếu Công ty Cổ
phần Dệt may Thành Công (TCM), Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (DPM)
và đặc biệt là Công ty Cổ phần Vật tư và Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ (TSC) chính thức
niêm yết trên HoSE vào ngày 04/10/2007. Khi mới niêm yết thì cổ phiếu của Công ty Cổ
phần Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ được xem là “hiện tượng TSC”, với sự săn lùn
của nhà đầu tư để mua. Từ khi lên sàn HoSE đến nay TSC luôn có sự tăng giảm cùng với thị
trường, luôn thể hiện sự quan tâm của nhà đầu tư đối với mã cổ phiếu này. Nó có gì hấp dẫn,
tỷ suất lợi nhuận khi đầu tư vào cổ phiếu này như thế nào, tiềm năng ở đâu,…Đó chính là sự
cần thiết của việc phân tích và đánh giá cổ phiếu TSC.
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
- Từ vai trò của các công ty đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
- Hoạt động của một công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.
- Tình hình giao dịch cổ phiếu TSC trên HoSE.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm.
- 2 -
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích và đánh giá cổ phiếu Công ty Cổ phần Vật tư và Kỹ thuật Nông nghiệp Cần
Thơ (TSC).
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích tình hình tài chính của TSC.
+ Tình hình hoạt động kinh doanh.
+ Các chỉ số tài chính.

- Phân tích tình hình giao dịch của cổ phiếu TSC trên Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE).
- Đánh giá cổ phiếu TSC dựa vào việc phân tích.
- Phân tích cổ phiếu TSC trên thị trường với mục tiêu là đưa ra dự báo về giá cổ phiếu
và xu hướng giá cổ phiếu trong tương lai, tìm khả năng sinh lời.
- Kiến nghị khi đầu tư vào cổ phiếu TSC.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian (địa bàn nghiên cứu)
Luận văn được thực hiện tại Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần
Thơ. Nguồn thông tin được sử dụng cho đề tài này được tổng hợp từ Phòng Kinh doanh và
Phòng Kế toán của công ty.
1.3.2 Thời gian (giai đoạn hoặc thời điểm thực hiện nghiên cứu)
- Thời gian thực hiện luận văn này bắt đầu từ ngày 31.01.2008 – 25.04.2008.
- Số liệu chỉ sử dụng trong luận văn này là số liệu từ năm 2005 đến 2007.
1.3.3 Phạm vi về nội dung
- Cơ sở lý luận, kiến thức cơ bản về phân tích cổ phỉếu
- Phân tích một số tình hình cơ bản của Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông
nghiệp Cần Thơ.
- Phân tích thực trạng cổ phiếu TSC khi niêm yết trên HoSE.
- Nhận xét và đanh giá cổ phiếu TSC.
- Kết luận và kiến nghị khi đầu tư vào cổ phiếu TSC.

- 3 -
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Công ty cổ phần
2.1.1.1 Khái niệm
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
tytrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật Doanh nghiệp.
2.1.1.2 Các loại cổ phần
- Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ
đông phổ thông.
- Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ
đông ưu đãi.
- Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:
+ Cổ phần ưu đãi biểu quyết;
+ Cổ phần ưu đãi cổ tức;
+ Cổ phần ưu đãi hoàn lại;
+ Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
- Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ
cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba
năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ
phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
- Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần
ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định.
- Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và
lợi ích ngang nhau.
- 4 -
- Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi có
thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
2.1.2 Cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không

ghi tên. Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
b) Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
c) Số lượng cổ phần và loại cổ phần;
d) Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu;
đ) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu
hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc
tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của cổ đông là tổ chức đối với cổ
phiếu có ghi tên;
e) Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phần;
g) Chữ ký mẫu của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty;
2.1.3 Chứng khoán
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình
thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
- Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng
tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Mệnh giá chứng khoán: Mệnh giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ chào bán lần đầu ra công
chúng là mười nghìn đồng Việt Nam. Mệnh giá của trái phiếu chào bán ra công chúng là một
trăm nghìn đồng Việt Nam và bội số của một trăm nghìn đồng Việt Nam.
2.1.4 Niêm yết chứng khoán
- Tổ chức phát hành khi niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung
tâm giao dịch chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả
năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán.
- Tổ chức phát hành nộp hồ sơ niêm yết phải chịu trách nhiệm về tính chính xác,
trung thực và đầy đủ của hồ sơ niêm yết. Tổ chức tư vấn niêm yết, tổ chức kiểm toán được
- 5 -
chấp thuận, người ký báo cáo kiểm toán và bất cứ tổ chức, cá nhân nào xác nhận hồ sơ niêm
yết phải chịu trách nhiệm trong phạm vi liên quan đến hồ sơ niêm yết.

- Chính phủ quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục niêm yết chứng khoán tại Sở giao
dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán và việc niêm yết chứng khoán tại Sở
giao dịch chứng khoán nước ngoài.
2.1.5 Giao dịch chứng khoán
2.1.5.1 Giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán
- Sở giao dịch chứng khoán tổ chức giao dịch chứng khoán niêm yết theo phương
thức khớp lệnh tập trung và phương thức giao dịch khác quy định tại Quy chế giao dịch
chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán.
- Chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán không được giao dịch bên
ngoài Sở giao dịch chứng khoán, trừ trường hợp quy định tại Quy chế giao dịch chứng khoán
của Sở giao dịch chứng khoán.
2.1.5.2 Giao dịch chứng khoán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
- Trung tâm giao dịch chứng khoán tổ chức giao dịch chứng khoán niêm yết theo
phương thức thoả thuận và các phương thức giao dịch khác quy định tại Quy chế giao dịch
chứng khoán của Trung tâm giao dịch chứng khoán.
- Chứng khoán niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán được giao dịch tại
công ty chứng khoán là thành viên giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán theo Quy
chế giao dịch chứng khoán của Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán tổ chức giao dịch loại
chứng khoán mới, thay đổi và áp dụng phương thức giao dịch mới, đưa vào vận hành hệ
thống giao dịch mới phải được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.
2.1.6 Các chỉ số tài chính dùng để phân tích và định giá cổ phiếu
Cùng với quá trình phân tích các báo cáo tài chính, việc phân tích và sử dụng các hệ
số tài chính là những nội dung quan trọng để định giá cổ phiếu vào đầu tư chứng khoán. Quá
trình phân tích sẽ giúp cho nhà đầu tư thấy được điều kiện tài chính chung của doanh nghiệp,
đó là công tyhiện đang ở trong tình trạng rủi ro mất khả năng thanh toán, hay đang làm ăn tốt
và có lợi thế trong kinh doanh khi so sánh với các công tycùng ngành hoặc đối thủ cạnh
tranh.
Việc sử dụng hệ số tài chính trong phân tích đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán
sẽ tạo ra chi phí thấp mà hiệu quả lại cao hơn, và việc này cũng đúng ngay cả trên thị trường

- 6 -
tiền tệ khi các ngân hàng tài trợ vốn cho công tythông qua cấp tín dụng. Đối với những nhà
quản lý, việc sử dụng hệ số tài chính để giám sát quá trình kinh doanh, nhằm đảm bảo công
ty sử dụng hiệu quả các nguồn vốn sẵn có và tránh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh
toán.
Thông qua các hệ số tài chính, nhà quản lý thấy được tình trạng tài chính và hoạt động
của công ty có được củng cố không và liệu các hệ số nói chung của nó tốt hơn hay tồi tệ hơn
so với hệ số của các đối thủ cạnh tranh. Khi các hệ số này thấp hơn các chuẩn mực nhất định,
thì có giải pháp kiểm soát, khắc phục trước khi phát sinh các vấn đề nghiêm trọng. Ngoài ra,
việc phân tích các hệ số tài chính cũng cho phép nhà đầu tư hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa
bảng cân đối tài sản và các báo cáo tài chính (ví dụ như để tính toán thu nhập trên đầu tư của
một công ty cần phải lấy số liệu tổng tài sản từ bảng cân đối kế toán và số liệu lợi nhuận ròng
từ báo cáo thu nhập).
Hệ số tài chính được phân chia thành các nhóm dựa trên các tiêu chí về hoạt động,
khả năng thanh toán, nghĩa vụ nợ và khả năng sinh lời của công ty.
2.1.6.1 Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán
Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền
mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn. Việc quản lý khả năng thanh toán bao gồm việc khớp
các yêu cầu trả nợ với thời hạn của tài sản và các nguồn tiền mặt khác nhằm tránh mất khả
năng thanh toán mang tính chất kỹ thuật. Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng,
nó quyết định đến nghĩa vụ nợ của công ty, do vậy sử dụng hệ số thanh toán được xem là
cách thử nghiệm tính thanh khoản của công ty. Trong thực tế hệ số thanh toán được sử dụng
nhiều nhất là hệ số khả năng thanh toán hiện tại và hệ số khả năng thanh toán nhanh (hay còn
gọi là hệ số thử axít).
- Hệ số thanh toán ngắn hạn là mối tương quan giữa tài sản lưu động và các khoản nợ
ngắn hạn, hệ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong việc đáp ứng nhu cầu thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn.
Tài sản lưu động
Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn.

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh là mối tương quan giữa các tài sản lưu hoạt và các
khoản nợ ngắn hạn, đảm bảo khả năng thanh toán nhanh sau khi tài sản đã được loại bỏ bởi
các hàng tồn kho và tài sản kém tính thanh khoản.
- 7 -
(Tài sản lưu động- Hàng dự trữ)
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn.
2.1.6.2 Nhóm hệ số hoạt động
Các hệ số hoạt động xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền mặt nếu
có nhu cầu phát sinh. Bao gồm các hệ số thu hồi nợ trung bình, hệ số thanh toán trung bình,
hệ số hàng lưu kho.
- Hệ số thu hồi nợ trung bình biểu thị thông qua kỳ thu hồi nợ trung bình của một
công ty sẽ cho biết công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt.
Các khoản phải thu
Kỳ thu hồi nợ trung bình =
(Doanh số bán chịu hàng năm /360 ngày).
- Hệ số thanh toán trung bình biểu thị thông qua thời hạn thanh toán trung bình, phản
ánh mối tương quan giữa các khoản phải trả đối với tiền mua hàng chịu mỗi năm.
Các khoản phải trả
Thời hạn thanh toán trung bình =
(Tiền mua chịu hàng năm/360 ngày).
- Hệ số hàng lưu kho biểu thị số lượng hàng đã bán trên số hàng còn lưu kho, hệ số
này cho thấy khả năng dùng vốn vào các hàng hoá luân chuyển cao, tránh được lưu kho bởi
các mặt hàng kém tính lưu hoạt.
Giá trị hàng đã bán tính theo giá mua
Hệ số hàng lưu kho =
Giá trị hàng lưu kho trung bình.
2.1.6.3 Nhóm hệ số nợ của công ty
Phản ánh tình trạng nợ hiện thời của công ty, có tác động đến nguồn vốn hoạt động và
luồng thu nhập thông qua chi trả vốn vay và lãi suất khi đáo hạn. Tình trạng nợ của công ty

được thể hiện qua các hệ số: hệ số nợ; hệ số thu nhập trả lãi định kỳ; hệ số trang trải chung.
- Hệ số nợ hay tỷ lệ nợ trên tài sản cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợ bằng
nợ. Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít và ngược lại hệ số nợ càng cao
thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng cao.
Tổng số nợ
Hệ số nợ =
- 8 -
Tổng tài sản
- Hệ số nợ được phản ánh thông qua hệ số nợ trên vốn cổ phần (D/E) và hệ số nợ dài
hạn trên tổng tài sản (LD/TA). Hệ số nợ trên vốn cổ phần biểu thị tương quan giữa nợ dài
hạn và vốn cổ phần. Mức cao thấp của hệ số này phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh tế khác
nhau.
(Nợ dài hạn + Giá trị tài sản đi thuê)
Hệ số nợ trên vốn cổ phần (D/E)=
Vốn cổ phần.
- Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản (LD/TA) so sánh tương quan nợ với tổng tài sản
của một công ty, và có thể cho biết những thông tin hữu ích về mức độ tài trợ cho tài sản
bằng nợ dài hạn của một công ty, hệ số này có thể dùng để đánh giá hiệu ứng đòn bẩy tài
chính của một công ty.
- Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. Việc tìm xem một công ty có thể thực hiện trả lãi đến
mức độ nào cũng rất quan trọng, và người ta đã sử dụng hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. Hệ số
này đánh giá khả năng sử dụng thu nhập hoạt động (thu nhập trước thuế và lãi- EBIT) để trả
lãi của một công ty, hệ số này cho biết công ty có khả năng đáp ứng được các nghĩa vụ trả nợ
lãi đến mức nào, thông thường hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh
toán lãi của công ty cho các chủ nợ càng lớn.
EBIT
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ=
Chi phí trả lãi hàng năm.
2.6.1.4 Nhóm chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty
Trên thực tế người ta thường sử dụng một số hệ số sau để đánh giá hiệu quả sinh lợi

của doanh nghiệp: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ số lợi nhuận ròng; hệ
số thu nhập trên vốn cổ phần; và hệ số thu nhập trên đầu tư.
- Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật
tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.
(Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua)
Hệ số tổng lợi nhuận =
Doanh số bán
Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ
số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng
- 9 -
lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn
trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.
Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản
xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu
Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt
được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động
cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận
hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh
hơn chi phí hoạt động.
Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công
ty so với doanh thu của nó.
- Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu.
Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một
ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..) tốt hơn thì sẽ
có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn.
- Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ
phần của cổ đông.
ROE = Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.
Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác

nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ
phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi
nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.
- Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong
quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết
định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường
(Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính
như sau:
P/E = PM/EPS
Trong đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua
bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà
công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu
- 10 -
hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một
đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả
các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao
trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị
trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E
rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao
dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần
nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ,
sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ.
2.1.7 Các chỉ báo kỹ thuật dung để phân tích và đánh giá cổ phiếu
Phân tích kỹ thuật cổ phiếu nhằm nghiên cứu những diễn biến hay hành vi thị trường -
thông qua việc nghiên cứu các mô hình giao dịch và các hành vi hiện tại của thị trường, vốn
đã phức tạp - để có thể biết được một cách sâu sắc các hành vi có thể xảy ra trong tương lai
của thị trường. Những thông tin về một cổ phiếu, hoặc một ngành, hoặc một thị trường đều
có thể được các nhà đầu tư nghiên cứu, xem xét, và do đó, nó phản ánh vào trong giá, cổ tức,
lợi nhuận và mô hình giao dịch. Thông thường các chỉ báo kỹ thuậy sau được nhà đầu tư sử

dụng:
2.1.7.1 Bollinger Band
Ông John Bollinger đã sáng chế ra chỉ báo này, nó thường được sử dụng chung với
đường giá nhưng chúng chỉ được xem là một indicator (dụng cụ chỉ báo), nó rất giống đường
bao của giá. Đây là chỉ báo độc nhất vì nó có tác dụng là thể hiện chính xác những thay đổi
hay giao động của thị trường. Nó là 1 phép toán cộng trừ của 2 lân sự chênh lệch của đường
trung bình giá MA. Khi thị trường rung động mạnh nó sẽ phản ánh giao động bằng cách mở
rộng các dải (bands). Ngược lại khi sự giao động suy yếu nó phản ánh thị trường trầm lắng
thì các dải có khuynh hướng co hẹp lại. Bollinger Band gồm có 3 dải (bands) nằm phủ lên
đường giá hoặc những chỉ báo trên đồ thị kỹ thuật.
Cách sử dụng
Sử dụng Bollinger Band rất hiệu quả vì nó phản ánh đúng các diễn biến của thị trường,
điều này đã được các chuyên gia thống kê thẩm định mức độ tin cậy của chỉ số Bollinger
Band là rất cao.
- 11 -
• Bollinger Band giao động ở mức nhỏ nó xác nhận giá ít biến đổi hơn.
• Khi đường giá thóat ra khỏi cái dải (band) thì nó có khuynh hướng sẽ tiếp tục.
• Khi thị trường ở đỉnh hay đáy, đầu tiên đường giá thóat ra khỏi dải và sau đó nó sẽ
trở lại vào trong dải. Thị trường lúc đó sẽ đi ngược lại với xu hướng đang tồn tại.
• Sự di chuyển của đường giá nếu bắt đầu từ 1 dải thấp hoặc cao nó sẽ tiếp tục đi đến
dải đối diện.
Sau đây là ví dụ minh họa:
Đồ thị 1: Ví dụ minh họa sử dụng dãy Bollinger Bands
Mũi tên thứ 1 trrn đò thị 1 là thị trường đang tiến đến dải trên và tín hiệu mua được phát
ra trong giai đọan này. Tín hiệu bán trong được phát ra cho đến khi ở vị trí mũi tên số 3, một
cái đỉnh thóat ra khỏi dải ở mũi tên số 2 nhưng sau đó là sự trở vào dải của đường giá. tại
mũi tên số 3 là sự di chuyển của giá đến dải thấp ở vị trí mũi tên số 4.
2.1.7.2 Moving Average Convergence Divergence (MACD)
MACD là một trong những chỉ số được sử dụng nhiều nhất trong phân tích kĩ thuật.
Được tạo ra bởi Gerald Appel, MACD đo sự chênh lệch giữa 2 chỉ số trung bình trượt hàm

mũ trong 12 và 26 ngày. Bên cạnh MACD, một chỉ số khác là MACDA được phát triển bằng
cách tính trung bình trượt trong 9 ngày của MACD. Chỉ số này được xem như là chỉ số “dấu
hiệu”.
Đường 1 - MACD, được tính như sau:
MACD = EMA(12) – EMA(26)
- 12 -
Đường thứ 2 - MACDA, là đường trung bình trượt hàm mũ của đường 1, được tính như
sau:
MACDA(n) = MACD(n-1)+[k*(MACD(n)-MACD(n-1)
Với n là khoảng thời gian hiện tại, k là hằng số làm trơn, và 9 là số điểm mẫu MACD
được sử dụng để tính MACDA.
Cách sử dụng
Cách sử dụng MACD khá đơn giản, tín hiệu giao dịch chủ yếu dựa trên sự giao nhau của
đường MACD và MACDA. Trong ví dụ trên, màu xanh là đường MACD và màu đỏ là
đường MACDA. Mua vào khi đường xanh cắt và vượt lên trên đường đỏ và bán ra khi
đường xanh cắt và ở phía dưới đường đỏ.
Đồ thị 2: Ví dụ minh họa sử dụng đường MACD
Từ đồ thị trên có thể thấy tín hiệu mua đầu tiên vào đầu tháng 11, sau đó là tín hiệu mua
vào tiếp tục xuất hiện vào đầu năm 2007 và tiếp theo là một tín hiệu bán khác vào khoảng
giữa tháng tháng 3. Mỗi tín hiệu này được xem như một dấu hiệu cho phép ta chuyển sang
một vị thế mới mà không nhất thiết phải dừng hoặc thoát ra khỏi thị trường.
MACD là chỉ số xu hướng, nó không có các giới hạn trên và dưới. Nó cũng có thể sẽ
tăng mãi chứ không dừng lại như các chỉ số giao động, vì thế chúng ta không nên áp dụng
các nguyên tắc của đường bán quá nhiều/mua quá nhiều cho MACD. Thay vì thế, chúng ta
nên dùng đường 0 như một đường tham chiếu: khi đường MACD vượt lên trên hoặc xuống
dưới đường 0, đó là báo hiệu cho một sự thay đổi xu thế dài hạn. Nếu MACD vượt lên trên
đường 0, xu thế thị trường bò tót xuất hiện và nếu dưới 0, đó là xu thế thị trường gấu. Trong
- 13 -
ví dụ trên, tất cả các giao điểm đều nằm phía trên đường 0, vì thế rõ ràng chúng đang ở thị
trường bò tót.

Mặc dù MACD là chỉ số không có giới hạn, nó vẫn có những nét đặc thù riêng của
mình. Thường thì các đỉnh của đường MACD xảy ra ở cùng một mức. Vì thế khi chỉ số
MACD đạt tới giá trị của đỉnh trước đó, chúng ta có thể xem đó là một sự thay đổi vị thế
ngắn hạn. Ngoài ra, cũng rất có thể xảy ra trường hợp nó sẽ tiếp tục tăng trong dài hạn. Đặc
tính này của MACD giúp ích rất nhiều cho nhà phân tích vì họ không còn phải quan sát 2
đường trung bình trượt một cách riêng biệt.
2.1.7.3 RSI (Relative Strength Index)
Chỉ số RSI giải quyết vấn đề của những dịch chuyển bất thường và giải quyết nhu cầu
về một biên độ giới hạn trên và dưới không đổi. Chỉ số RSI được xác định theo công thức
sau:
RSI = 100 - 100/(1+RS)
RS = Trung bình giá đóng cửa tăng của x ngày/Trung bình giá đóng cửa giảm của x
ngày
Số ngày được sử dụng trong tính toán là 14 ngày theo đồ thị hàng ngày; sử dụng đồ thị
tuần số ngày sẽ là 14 tuần. Để xác định được các giá trị trung bình đi lên, chúng ta cộng tổng
số điểm đạt được trong các ngày giá tăng trong 14 ngày và chia tổng số đó cho 14. Để xác
định giá trị trung bình đi xuống, chúng ta cộng tổng số điểm bị mất trong 14 ngày giá giảm
và chia lại cho 14. Sau đó “cường độ tương đối - RS” được xác định bằng cách chia trung
bình giá tăng cho trung bình giá giảm. Giá trị RS này sau đó được đưa vào trong công thức
tính RSI.
Đồ thị 3: Ví dụ minh họa cách sử dung đường RSI
Đường RSI (sử dụng RSI 14 ngày) trong trường hợp này chúng ta có thể lấy 2 mức biên
là 80 (overbought) và 20 (eoversold), biểu đồ đã cho thấy RSI đang đi xuống khi gặp mức 80
như vậy giá sẽ không thể vượt hơn mức trước đó và bạn nên mua khi giá rớt xuống tới lúc
- 14 -
mà đường RSI chạm mức 30 ( chúng ta nên chọn 30 thay cho 20 trong trường hợp này). Tuy
nhiên để rõ hơn thì cần kết hợp với đường Stochastic Oscillator hay ADX.
Sử dụng RSI trong hệ thống mua bán (trading system)
• Các mức của RSI: 70% (thường dùng là 80%) là mức mà nhà đầu tư bán quá nhiều
(overbought), 30% (thường dùng là 20%) là mức mà nhà đầu tư mua quá nhiều (oversold).

Mua khi thị trường ở mức oversold và bán khi thị trường ở overbought lưu ý chỉ áp dụng
điều này cho 1 thời kỳ biến động còn khi đang hình thành 1 xu hướng thì sẽ không đúng.
• EMA như là vai trò của đường hỗ trợ hay kháng cự (support or resistance). Mua khi
RSI tăng lên trên EMA và bán khi RSI rơi xuống dưới EMA. EMA là 1 tính hiệu trễ và
thường đưa ra tín hiệu mua khi vượt qua thời kỳ uptrend.
• Bullish divergence (tín hiệu phân kỳ mua): tín hiệu mua khi đường giá đang đi xuống
trong khi RSI thì đang tăng, tương tự bearish divergence (tín hiệu phân kỳ bán): tín hiệu bán
khi đường giá tăng trong khi đường RSi thì lại giảm. Mặt hạn chế của sự phân kỳ
(divergence) là chúng cố gắng báo trước 1 xu hướng đảo chiều thay vì xác định theo 1 xu
hướng.
• Dạng đồ thị: xu hướng, kháng cự/hỗ trợ, tam giác (triangles), đầu-vai (head and
shoulders) khi áp dụng RSI nó giống như đường dẫn cho giá. Cái dở là dạng đồ thị: xu
hướng, tam giá... là quan điểm cá nhân phụ thuộc vào chủ quan của từng traders nên không
thể sử dụng trong trading system.
2.1.7.4 Chỉ báo về xung lượng Momentum
Chỉ số xung lượng đo tốc độ thay đổi của giá đóng cửa. Nó được sử dụng để nhận diện
mức suy yếu của xu thế và các điểm đảo chiều. Chỉ số này thường bị đánh giá thấp do sự đơn
giản của nó.
Không có nhiều tài liệu nói về chỉ số xung lượng vì các nhà phân tích cho rằng nó không
đủ mạnh và hiệu quả để sử dụng cho việc nghiên cứu và đánh giá.
Tôi thì cho rằng có một điều gì đó đằng sau mà chúng ta không nhìn ra. Và cuối cùng tôi
cũng đã tìm thấy một điểm khá thú vị, điểm mà tôi rất tâm đắc về chỉ số này. Đây cũng
chính là ý tưởng mấu chốt của chỉ số này.
Quá trình cung và cầu của thị trường thường sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lí của
người giao dịch: lòng tham và nỗi sợ hãi. Điều đó có thể tạo ra cơn sốt khủng khiếp và
những động thái đó sẽ chi phối đến giá cả hiện tại của thị trường.
- 15 -
Thường thì việc phân tích xung lượng không được gắn liền với các chiến lược và
phương pháp trong giao dịch. Trước nay, các nhà phân tích chỉ sử dụng nó một cách đơn lẻ
mà không quan tâm nhiều đến mối quan hệ với khối lượng và động thái của thị trường. Đó

có thể là lí do tại sao chỉ số này không thật sự được sử dụng hiệu quả và thường bị coi nhẹ.
Tuy nhiên, các đồ thị lại chỉ ra rằng xung lượng của giá khi được sử dụng kết hợp với các chỉ
số đủ nhạy sẽ cho ra một kết quả rất quả quan, ngoài sức tưởng tượng.
Cách tính chỉ số xung lượng
Mỗi đơn vị xung lượng là sự chênh lệch về giá giữa đơn vị đó và các đơn vị trước đó
trong một số giai đoạn nhất định. Thường thì chúng ta dựa vào giá đóng cửa, tuy nhiên cũng
có một số công cụ vẽ đồ thị cho phép ta có những lựa chọn khác. Xung lượng được định
nghĩa bằng tỉ số giữa giá hiện tại với giá trước đó N giai đoạn.
Momentum = Close(i)/Close(i-N)*100
Với: Close(i) là giá cuối ngày của thanh hiện thời
Close(i-N) là giá cuối ngày của thanh trước đó N thời kì.
Cách sử dụng
Đường xung lượng đi lên báo hiệu xu thế tăng giá đang mạnh dần và ngược lại đường đi
xuống báo hiệu xu thế giảm giá đang yếu dần. Khi chỉ số xung lượng hướng lên, đó là tín
hiệu mua vào và khi hướng xuống thì đó là tín hiệu bán ra.
Chỉ số này hướng lên hay xuống giúp ích cho việc phát hiện xu hướng, các tín hiệu phân
kì và bán quá nhiều/mua quá nhiều.
Dưới đây là một trong những cách giao dịch sử dụng kỹ thuật này để bán cổ
phiếu:
• Cho dù cả chỉ số xung lượng và RSI đều chỉ ra thời điểm mua quá nhiều trùng nhau,
chúng ta vẫn không chắc chắn liệu có thể đó chỉ là một sự dịch chuyển mạnh để sau đó dẫn
đến một sự phá vỡ (breakout) trong dài hạn hay không. Vì thế, chúng ta phải đợi cho đến khi
2 chỉ số này bắt đầu giảm. Khi đường giá tiến đến giữa Bollinger band (điểm M), chúng ta
bắt đầu đặt lệnh bán trong ngắn hạn.
• Đặt mức dừng thua lỗ (stop loss) ngay sau đỉnh vừa được thiết lập (điểm P), nơi mà
RSI cũng chạm đỉnh (điểm R) và sau đó bắt đầu giảm.
• Khi giá chạm đường dưới của Bollinger Band (điểm T1) chúng ta đã có thể thoát khỏi
thị trường.
- 16 -
Bạn có thể sử dụng chiến thuật riêng của bạn. Đây chỉ là một phương pháp mà tôi thấy

hiệu quả.
Dưới đây là một trong những cách giao dịch sử dụng kỹ thuật này để mua cổ phiếu:
• Cho dù cả chỉ số xung lượng và RSI đều chỉ ra thời điểm bán quá nhiều trùng nhau,
chúng ta vẫn không chắc chắn liệu có thể đó chỉ là một sự dịch chuyển mạnh để sau đó dẫn
đến một sự phá vỡ (breakout) trong ngắn hạn hay không. Vì thế, chúng ta phải đợi cho đến
khi 2 chỉ số này bắt đầu tăng. Khi giá tiến đến giữa Bollinger band (điểm M), chúng ta bắt
đầu đặt lệnh mua với mục đích dài hạn. Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là khi
RSI đi qua đường 30 lần đầu tiên (điểm X) trong khi chỉ số xung lượng đang đi xuống, liệu
đây có phải thời điểm bạn nên mua vào hay không? Tất nhiên là không. Đây chính là điểm
cốt lõi mà tôi muốn chỉ ra về hiệu quả của việc sử dụng chỉ số xung lượng trong việc dự đoán
xu hướng khi mà những chỉ số khác không chỉ ra được.
• Đặt mức dừng thua lỗ (stop loss) ngay dưới điểm đáy vừa được thiết lập (điểm P), nơi
mà RSI cũng chạm đáy (điểm R) và bắt đầu có xu hướng đi lên.
• Khi giá chạm đường trên của BollingerBand (điểm T1) chúng ta có thể thoát khỏi thị
trường.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp thu thập, xử lý số liệu.
Trực tiếp thu thập số liệu thực tế được cung cấp từ Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật
Nông nghiệp Cần Thơ về Báo cáo tài chính qua các năm 2005, 2006, 2007 và Bảng cáo bạch.
Đồng thời, em còn tham khảo thu thập số liệu, thông tin từ một số Website và một số sách
báo, tạp chí chuyên ngành.
Phương pháp xử lý số liệu: phương pháp mô tả thông qua bảng biểu thống kê, kết hợp
phân tích, so sánh và đưa ra nhận xét, đánh giá kết quả để làm nổi rõ vấn đề nghiên cứu. Áp
dụng phương pháp tỷ số, phương pháp số tuyệt đối, số tương đối qua các năm.
2.2.2. Phương pháp phân tích tình hình chung của công ty
2.2.2.1. Phương pháp so sánh
- Bằng số tuyệt dối
Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế.
Trong đó:
y

o
: chỉ tiêu năm trước; y
1
: chỉ tiêu năm sau
- 17 -
∆y = y
1
- y
o
∆y: là phần chệnh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước của các chỉ
tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu kinh tế, từ đó
đề ra biện pháp khắc phục.
- Bằng số tương đối
Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu
kinh tế.
y
1
∆y = *100 - 100%
y
o
Trong đó:
y
o
: chỉ tiêu năm trước; y
1
: chỉ tiêu năm sau.
∆y : biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp dùng để làm rõ tình hình biến động của mức độ của các chỉ tiêu kinh tế
trong thời gian nào đó. So sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm và so sánh tốc

độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu. Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục.
2.2.2.2 Phương pháp sơ đồ Dupont và một số phương pháp khác
Phương trình Dupont phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận trên vốn đầu tư, sự luân
chuyển của tài sản có, mức lợi nhuận trên doanh thu và mức nợ.
ROA = Mức lợi nhuận trên doanh thu x Tỷ số luân chuyển tài sản có
Lợi nhuận ròng Doanh thu
 ROA = x (1)
Doanh thu Tổng tài sản có
Phía bên trái của sơ đồ (1) triển khai mức lợi nhuận ròng trên doanh thu nhân với doanh
thu trên tổng tài sản có. Nếu mức lợi nhuận thấp hoặc có xu hướng giảm, ta có thể phân tích
từng khoản mục chi phí để tìm ra những chi phí bất hợp lý từ đó có những giải pháp xử lý
thích hợp. Doanh thu trên tổng tài sản có tìm ra tỷ số luân chuyển tài sản có của một công ty.
ROE = ROA x Hệ số vốn tự có
Lợi nhuận ròng Tổng tài sản có
 ROE = x (2)
Tổng tài sản có Vốn tự có
- 18 -
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có (ROE) được tính bằng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài
sản có (ROA) nhân với hệ số vốn tự có, tức là nhân với tỷ số tài sản trên vốn tự có.
Ta kết hợp phương trình (1) và (2) để hình thành phương trình Dupont mở rộng:
ROE = (Mức lợi nhuận trên doanh thu) x (Tỷ số luân chuyển TSC) x (Hệ số vốn tự có)
Lợi nhuận ròng Doanh thu Tổng tài sản có
 ROE = x x
(3)
Doanh thu Tổng tài sản có Vốn tự có
2.2.2.3 Phương pháp sử dụng biểu đồ
Sử dụng phần mềm phân tích kỹ thuật là Metastock để phân tích chứng khoán, sử dụng
các đồ thị, hình vẽ kết hợp với công cụ phân tích kỹ thuật để đưa ra nhận định, đánh giá
chứng khoán cần đầu tư.
Để có thể vẽ biểu đồ và thiết lập các chỉ báo phân tích, dự đoán cho chứng khoán ta

phải có dữ liệu. MetaStock có thể sử dụng nguồn dữ liệu được lưu trữ trong máy tính cá nhân
(Local Data) hoặc dữ liệu RealTime Online được cung cấp qua Internet. Cách thông thường
có thể áp dụng được ở Việt Nam là dùng Local Data. Để có dữ liệu, ta sẽ phải tự cập nhật -
convert thông tin theo kết quả giao dịch hàng ngày của các trung tâm giao dịch chứng khoán
hoặc DownLoad dữ liệu đã được convert sẵn từ các website: www.bsc.com.vn,
phantichcophieu.com, …
Dữ liệu cho MetaStock thường được cập nhật vào file dạng ASCII Text hoặc Excel. Sau đó sẽ
được cập nhật - convert vào MetaStock bằng The DownLoader. Về cơ bản, Dữ liệu cho
MetaStock được lưu trữ theo từng ngày và từng loại chứng khoán bao gồm các thông tin sau:
Ticker, Date, Open, High, Low, Close, Volume, … (Mã chứng khoán, Ngày, Giá mở cửa,
Giá khớp lệnh cao nhất , Giá khớp lệnh thấp nhất, Giá đóng cửa, Khối lượng giao dịch,…)
Chương 3
PHÂN TÍCH MỘT SỐ TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN VẬT TƯ KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP CẦN THƠ
- 19 -
3.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ KỸ THUẬT NÔNG
NGHIỆP CẦN THƠ
3.1.1 Giới thiệu chung
3.1.1.1 Việc thành lập
Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ có lịch sử hình thành và phát
triển đến nay đã được trên 30 năm:
- Sau giải phóng miền Nam, cuối năm 1976, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hậu Giang quyết
định thành lập Công ty Vật tư nông nghiệp Hậu Giang.
- Trên cơ sở Công ty Vật tư nông nghiệp Hậu Giang, năm 1986 Ủy Ban Nhân Dân tỉnh
sát nhập Công ty giống cây trồng, xí nghiệp giống và đến ngày 23/04/1986 Uỷ Ban Nhân
Dân tỉnh Hậu Giang có quyết định số 12 về việc thành lập Công ty Vật tư kỹ thuật nông
nghiệp Hậu Giang.
- Khi đăng ký thành lập lại công ty Nhà nước theo nghị định số 388 ngày 20/11/1991
của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ), Công ty Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ
được thành lập theo thông báo số 177/HĐBT/TB ngày 10 tháng 10 năm 1992 của Bộ Trưởng

Bộ nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn) và quyết định số 1105/QĐ-UBT92 ngày 31/10/1992 của Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân
tỉnh Cần Thơ.
3.1.1.2 Chuyển đổi sở hữu thành Công ty Cổ phần và niêm yết cổ phiếu tại Sở giao
dịch chứng khoán
 Chuyển đổi sở hữu
Tích cực hưởng ứng chủ trương Cổ phần hoá Công tyNhà nước, tháng 10 năm 2002
Công ty Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ đã có công văn đến Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh
Cần Thơ (nay là Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố Cần Thơ) xin được cổ phần hoá. Sau một thời
gian chuẩn bị, Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ được thành lập theo
quyết định số 2500/QĐ-CT.UB ngày 25 tháng 07 năm 2003 của Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân
tỉnh Cần Thơ về việc chuyển Công tyNhà nước Công ty Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần
Thơ thành Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ (hình thức cổ phần hoá:
giữ nguyên vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn)
và chính thức hoạt động theo hình thức Công ty Cổ phần từ ngày 01 tháng 08 năm 2003.
 Thời điểm trở thành công ty cổ phần đại chúng
- 20 -
Theo quy định của Bộ tài chính và Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước, đến ngày 11 tháng
06 năm 2007, Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ đủ điều kiện của một
Công ty Đại chúng và chính thức gởi hồ sơ đăng ký Công ty Đại chúng với Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước vào ngày 21 tháng 06 năm 2007.
 Niêm yết
Thực hiện đúng định hướng phát triển ngay từ khi chuyển thành Công ty Cổ phần,
ngày 09 tháng 04 năm 2007 Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ ký hợp
đồng tư vấn số 01 với đơn vị tư vấn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam để thực hiện niêm yết cổ phiếu Công ty tại sàn giao dịch chứng
khoán của Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngày 24 tháng 09 năm 2007,
Tổng giám đốc Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh có quyết định số
113/QĐ-SGDCK chấp thuận niêm yết cổ phiếu của TSC; Ngày 04 tháng 10 năm 2007, Cổ
phiếu của Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ với mã chứng khoán TSC

chính thức được niêm yết và giao dịch tại sàn giao dịch của HoSE.
3.1.2. Quá trình phát triển
3.1.2.1 Từ 1976 đến tháng 04 năm 1986
Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty Vật tư Nông nghiệp Hậu Giang là tiếp nhận Vật tư
nông nghiệp (phân bón các loại) theo chỉ tiêu được Uỷ Ban kế hoạch Nhà nước cấp cho tỉnh
để cung cấp cho các Công ty Vật tư Nông nghiệp các huyện theo kế hoạch phân bổ của tỉnh,
sau đó các Công ty Vật tư Nông nghiệp cấp huyện sẽ cung ứng cho các Tập đoàn sản xuất và
các hợp tác xã, các nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Hậu Giang (bao gồm diện
tích của Thành Phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng ngày nay).
3.1.2.2 Từ tháng 04 năm 1986 đến tháng 10 năm 1992
Đây là giai đoạn từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý, từ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa. Trong quyết định số 12 ngày 23 tháng 04 năm 1986 của Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân
tỉnh Hậu Giang về việc thành lập Công ty Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Hậu Giang có ghi rõ
nhiệm vụ của Công ty là: cung ứng vật tư, giống cho huyện theo hợp đồng kinh tế giữa tỉnh
và huyện; thường xuyên theo dõi nắm bắt tình hình sâu bệnh, kịp thời có kế hoạch và hướng
phòng trừ phổ biến cho huyện, nghiên cứu và giúp đỡ huyện ứng dụng thành tựu khoa học kỹ
thuật trong nông nghiệp, tổ chức chỉ đạo kinh doanh các đơn vị trực thuộc, tổ chức thực hiện
chỉ tiêu kế hoạch cấp trên giao.
- 21 -
3.1.2.3 Từ tháng 10 năm 1992 đến tháng 07 năm 2003
Trong quyết định số 1105/QĐ-UBT 92 ngày 31 tháng 10 năm 1992 của Chủ tịch Uỷ
Ban Nhân Dân tỉnh Cần Thơ về việc thành lập Công ty Vật tư nông nghiệp Cần Thơ, ghi rõ
ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty là: kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu, nhập
khẩu phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản xuất khẩu.
Sau khi đăng ký thành lập lại công tytheo Nghị định 388/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng,
Công ty Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ tổ chức gia công kinh doanh thuốc bảo vệ thực
vật, xuất khẩu gạo, nhập khẩu, kinh doanh phân bón và thí điểm chế biến nông sản xuất
khẩu. Công ty có xí nghiệp thuốc sát trùng Cần Thơ là đơn vị hạch toán báo sổ. Tháng 05
năm 2002, thực hiện chủ trương cổ phần hoá Công tyNhà nước, Công ty đã xin cổ phần hoá

Xí nghiệp thuốc sát trùng Cần Thơ và TSC giữ 30% vốn điều lệ tại Xí nghiệp này. Đến cuối
tháng 07 năm 2003, Công ty hoàn tất việc cổ phần hoá, chính thức chuyển sang hoạt động
dưới hình thức Công ty Cổ phần. Lúc này, nguồn vốn Công ty tham gia góp vốn tại Xí
nghiệp thuốc sát trùng Cần Thơ được chuyển về cho Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Cần Thơ (nay là
Uỷ Ban Nhân dân TP. Cần Thơ) quản lý.
3.1.2.4 Từ tháng 08 năm 2003 đến nay
Chuyển hoạt động dưới hình thức Công ty Cổ phần từ ngày 01 tháng 08 năm 2003 theo
quyết định số 2500/QĐ-UBT ngày 25 tháng 07 năm 2007 của Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân
Thành Phố Cần Thơ với vốn điều lệ 60 tỷ đồng. Trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Công ty Cổ phần số: 5703000049 đăng ký lần đầu ngày 25 tháng 07 năm 2003 ngành nghề
kinh doanh của TSC là: Nhập khẩu kinh doanh phân bón các loại. Thu mua, gia công,
chế biến, cung ứng xuất khẩu gạo và các loại nông sản. Nhập khẩu kinh doanh máy
móc thiết bị và tư liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp. Đại lý cung ứng các loại tư liệu
sản xuất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Để thực hiện định hướng phát triển, Công ty đã tiến hành tăng vốn điều lệ từ 60 tỷ
đồng lên 83,12915 tỷ đồng vào tháng 04 năm 2007. Ngày 13 tháng 09 năm 2007 Công ty tiến
hành đăng ký kinh doanh bổ sung lần thứ 03; Ngoài các ngành nghề đã đăng ký lần 1, trong
lần đăng ký này Công ty bổ sung các ngành, lĩnh vực sau: nhập khẩu, kinh doanh nguyên
liệu sản xuất thức ăn gia súc, thức ăn thuỷ sản; Sản xuất thức ăn gia súc, thức ăn thuỷ
sản. Nhập khẩu, kinh doanh nguyên liệu, phụ liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật và
các chế phẩm phân bón. Nhập khẩu, kinh doanh hạt giống phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp. Kinh doanh địa ốc, bất động sản và văn phòng cho thuê. Các ngành nghề đăng
- 22 -
ký kinh doanh bổ sung nằm trong định hướng mở rộng hoạt động của Công ty; tuy nhiên việc
triển khai các ngành nghề lĩnh vực mới được cân nhắc 1 cách thận trọng sau khi phân tích tất
cả các yếu tố có liên quan, chỉ triển khai khi thời cơ thuận lợi trên cơ sở đảm bảo hiệu quả
kinh tế.
3.1.3 Phân tich điểm mạnh, yếu, cơ hội, đe dọa của TSC
3.1.3.1 Điểm mạnh của TSC
Trong


suốt

thời

gian

qua,

Công

ty

Cổ

phần

Vật



kỹ

thuật

nông

nghiệp

Cần


Thơ
luôn



đơn

vị

kinh

doanh



hiệu

quả,

dẫn

đầu

về

hiệu

quả


sản

xuất

kinh

doanh



luôn
nằm 1

trong

5

vị

trí

các

công

ty



doanh


số

nhập

khẩu

phân

bón

lớn

nhất

Việt

Nam. Như
vậy,

với

vị

thế



01


trong

05

công ty

nhập

khẩu

kinh

doanh

phân

bón hàng

đầu

Việt
Nam

lại



hiệu

quả


sản

xuất

kinh

doanh

cao



ổn

định

trong

nhiều

năm

liền, rõ

ràng
Công

ty


Cổ

phần

Vật



kỹ

thuật

nông

nghiệp

Cần

Thơ



ưu

thế

vượt

trội


so

với

các
công ty khác

trong

ngành.
Doanh

thu

hàng

nhập

khẩu

của

Công

ty

(kể

cả


trực

tiếp

nhập

khẩu



mua

lại
hàng nhập

khẩu

của

các

đơn

vị

khác

để

tiêu


thụ)

hiện

chiếm

khoảng

10%

thị

phần

tiêu

thụ
phân

bón nhập

khẩu

trong

cả

nước. Hệ


thống

phân

phối

của

Công

ty



những

đại



lớn,


quan

hệ

với

Công


ty

từ

hơn 15

năm

nay,



kinh

nghiệm

trong

kinh

doanh

phân

bón,
vật




nông

nghiệp



đặc

biệt

đa

số các

đại



này



cổ

đông

tương

đối


lớn

của

Công

ty
ngay

từ

khi

Công

ty

thực

hiện

cổ

phần hóa.

Hệ

thống

đại




này

nằm

rải

rác



khắp

các
tỉnh

Đồng

bằng

Sông

Cửu

Long,

miền


Đông Nam

Bộ



Tây

Nguyên.

Đây



điểm

mạnh
nổi

trội

của

Công

ty

Cổ

phần


Vật



kỹ

thuật nông

nghiệp

Cần

Thơ

so

với

các

công
tykhác

trong

cùng

ngành.
Với


phương

châm

giao

dịch


C
h+
í
nh

x
á
c



T
r
un
g

t
h

c




U
y


n



K
ịp

t
h

i


Đ
ún
g t
h
ô
n
g

lệ


q
u
ốc

tế

,

Công

ty



uy

tín

rất

cao

với

các

nhà

cung


cấp,

tạo

thuận

lợi
cho

Công

ty trong



kết



thực

hiện

các

hợp

đồng

nhập


khẩu.
Trụ

sở

chính

của

Công

ty

đặt

tại

thành

phố

Cần

Thơ



trung


tâm

của

vùng
Đồng bằng

Sông

Cửu

Long



vùng



tỷ

trọng

gạo

xuất

khẩu

chiếm


95%

lượng

gạo

xuất
khẩu

của cả

nước



tiêu

thụ

trên

60%

lượng

phân

bón




vật



nông

nghiệp.
Từ

hơn

10

năm

nay,

thương

hiệu

của

Công

ty

Cổ


phần

Vật



kỹ

thuật

nông
nghiệp Cần

Thơ

đã

trở

nên

quen

thuộc,

thân

thiết






uy

tín

với

nông

dân

cả

nước,

đặc
biệt



bà con

nông

dân




khu

vực

Đồng

bằng

Sông

Cửu

Long.

Trong

lĩnh

vực

vật


nông

nghiệp, thương

hiệu


TSC



một

trong

số

ít

thương

hiệu

03

năm

liền

được


- 23 -
con

nông


dân,

các

nhà khoa

học



các



quan

quản



bình

chọn



“Bạn

nhà


nông

Việt
Nam”.

Trong

suốt

thời

gian qua,

thương

hiệu

TSC

trên

tất

cả

các

sản

phẩm


(nông

sản
chế

biến,

thuốc

bảo

vệ

thực

vât, phân

bón

v.v…)

được

người

tiêu

dùng


biết

đến





uy
tín

với

người

tiêu

dùng

trên

các

tiêu chí


C
h

t


l
ư

n
g

s

n

p
h

m

tốt



Gi
á

c


c

nh
t

r
a
nh



Dịc
h

v


c
hu

đ
á
o

.

Chính

điều

này

tạo tiền

đề


cho

Công

ty

không

chỉ

tiếp

tục
phát

triển

kinh

doanh

các

mặt

hàng

đã






còn

giúp Công

ty

nhanh

chóng

mở

rộng

kinh
doanh

sang

những

lĩnh

vực

mới.

Trong

kinh

doanh,

chất

lượng

sản

phẩm

luôn

luôn

được

Công

ty

đặt

lên

hàng


đầu,
vì thế

trong

suốt

thời

gian

qua

không



bất

kỳ

một

sự

khiếu

nại

nào


từ

khách

hàng

về
các

sản phẩm



TSC

hoặc

WFC

cung

cấp:
+ Đối

với

phân

bón:


các

loại

phân

bón

Công

ty

nhập

khẩu

đều



xuất

xứ

từ

các
tập đoàn,


nhà

máy

nổi

tiếng

trên

thế

giới.
+ Đối

với

gạo

xuất

khẩu:

cho



lượng

gạo


xuất

khẩu

của

Công

ty

chưa

nhiều
nhưng hơn

15

năm

qua

gạo

xuất

khẩu

của


Công

ty

luôn

đảm

bảo

chất

lượng



hiện

tại
được

khách hàng

đánh

giá



đơn


vị



chất

lượng

gạo

xuất

khẩu

tốt



ổn

định

nhất



khu
vực


Đồng

bằng Sông

Cửu

Long.
+ Đối

với

nông

sản

xuất

khẩu:

điều

đặc

biệt



Công

ty


Cổ

phần

Chế

biến

thực
phẩm xuất

khẩu

miền

Tây

không

xuất

khẩu

bán

thành

phẩm




xuất

khẩu

sản

phẩm

tinh
chế

(đóng lon)

với

các

tiêu

chuẩn

đã

đạt

được

(ISO


9001-2000,

HACCP,

được

FDA

cho
phép

xuất

khẩu sản

phẩm

trực

tiếp

vào

thị

trường

Hoa


Kỳ).
Qua

hơn

10

năm

giữ

được

uy

tín

tuyệt

đối

trong

các

hợp

đồng

tín


dụng,

Công

ty
Cổ phần

Vật



kỹ

thuật

nông

nghiệp

Cần

Thơ

giành

được

sự


tín

nhiệm

rất

cao

từ

các
ngân

hàng thương

mại.
Công

ty

Cổ

phần

Vật



kỹ


thuật

nông

nghiệp

Cần

Thơ

xây

dựng

được

nếp

văn
hóa trong

môi

trường

làm

việc,

tạo


được

sự

đoàn

kết,

tương

thân

tương

ái,

phát

huy
tính

năng động,

sáng

tạo

trong


công

việc,

từ

đó

giáo

dục

cho

cán

bộ

nhân

viên

trong
Công

ty

về

phong cách


sống

làm

việc



quan

hệ

cộng

đồng.

Nhiều

năm

liền

Công

ty

được
công


nhận





quan có

đời

sống

văn

hóa

tốt.
3.1.3.2 Cơ hội của TSC
Theo

tính

toán

của

Bộ

Nông


nghiệp



Phát

triển

Nông

thôn,

đến

năm

2010

diện
tích gieo

trồng

của

cả

nước




12.285.000

ha,

trong

đó

cây

lâu

năm



2.431.000

ha,

cây
hàng

năm là

9.854.000

ha.


Với

diện

tích

gieo

trồng

này,

nhu

cầu

phân

bón

của

Việt

Nam
- 24 -
cho

năm


2010 sẽ

là:

2,1

triệu

tấn

Urê,

từ

550



650.000

tấn

DAP,

từ

600




650.000

tấn
Kali và

khoảng

2,2



2,5

triệu

tấn

NPK

(tính

đến

31/05/2007,

công

suất

phối


trộn NPK
của

các

nhà

máy

trong

nước



trên

3

triệu

tấn).
Vấn đề đặt ra đối với các đơn vị nhập khẩu phân bón là phải tận dụng tốt các cơ hội
nhập khẩu khi còn có thể kết hợp với kinh doanh phân bón nội địa và phải mở rộng kinh
doanh sang các lĩnh vực ngành nghề khác.
Đối

với


gạo

xuất

khẩu,

trong

nhiều

năm

tới

xuất

khẩu

gạo

vẫn



một

trong

những
thế mạnh


của

Việt

Nam,

tuy

nhiên

trong

quá

trình

hội

nhập

WTO

tính

chất

cạnh

tranh

ngày

càng gay

gắt



hy

vọng

tìm

kiếm

lợi

nhuận

cao

từ

hoạt

động

thu


mua,

chế

biến


xuất

khẩu

gạo

là rất

khó

khăn.
3.1.3.3 Điểm yếu của TSC
Tỷ

trọng

vốn

của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) trong
vốn

chủ


sở

hữu

Công

ty

quá

cao

(cuối

năm

2006 là

67,3%,

đến

ngày

16/07/2007


56,88%




sẽ

tiếp

tục

giảm

khi

Công

ty

thực

hiện thủ

tục

chào

bán

chứng

khoán

ra


công
chúng

để

tăng

vốn

bởi



Công

ty

không

thuộc đối

tượng

Nhà

Nước

giữ


cổ

phần

chi
phối),

điều

này

chỉ

thuận

lợi

cho

hoạt

động

của Công

ty

trong

thời


gian

đầu

thành

lập.
Qua

02

năm

trở

lại

đây,

thị

trường

ngành

hàng kinh

doanh


của

Công

ty

ngày

càng

biến
động,

muốn

hoạt

động

kinh

doanh



hiệu

quả cao

thì


tính

chủ

động

nhạy

bén

hết

sức

cần
thiết,

nhưng

bị

hạn

chế

bởi

Công


ty

còn phải

thường

xuyên

tiếp

xúc

với



chế


xi
n

c
h
o

.
3.1.3.4 Đe dọa của TSC
Đối
v


i ph
â
n bón
:

trong

kinh

doanh

phân

bón,

mặt

hàng



khả

năng

đem

lại


lợi
nhuận

cao



Urê.

Nhưng

kể

từ

năm

2005

trở

lại

đây,

tập

quán

sử


dụng

phân

bón của


con

nông

dân,

nhất



nông

dân

vùng

Đồng

bằng

Sông


Cửu

Long,

đã

thay đổi,

lượng

Urê
sử

dụng

càng

ít

đi

(qua

theo

dõi

Công

ty


nhận

thấy

nhu

cầu

Urê năm

2006

giảm

khoảng
trên

30%),



thay

vào

đó

nông


dân

sử

dụng

phân

hỗn

hợp và

phân

vi

sinh.
Đạm

Phú

Mỹ

với

lợi

thế

được


Nhà

Nước



lỗ

khi đồng

hành

đầu

vào

gần

như
chiếm

lĩnh

thị

trường

làm


cho

Công

ty

gặp

rất

nhiều khó

khăn

trong

kinh

doanh

mặt

hàng
này.
Một
yếu tố
nữa

trong


kinh

doanh

phân

bón là từ

năm

2006

giá

cả

trên

thị

trường
thế

giới

biến

động

liên


tục,

khoảng

cách

giữa

giá

thế

giới



giá

tiêu

thụ

nội

địa không
theo

quy


luật

thuận

chiều.
- 25 -

×