Tải bản đầy đủ (.doc) (149 trang)

Kế toán thành phẩm, TTTP và xác định kết quả kinh doanh tại Cty TNHH sản xuất TM và XNK Minh Ngọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (581.05 KB, 149 trang )

Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài : Kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh
doanh tại công ty TNHH sản xuất thương mại và xuất nhập khẩu Minh Ngọc.
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN THÀNH PHẨM,
TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
TIÊU THỤ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I. Ý NGHĨA VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN THÀNH PHẨM, TIÊU
THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TRONG
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
1. Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm.
Theo quy luật tái sản xuất quá trình hoạt động trong doanh nghiệp sản
xuất bao gồm: cung ứng, sản xuất, tiêu thụ, các giai đoạn này diễn ra một cách
thường xuyên liên tục. Sản phẩm của giai đoạn sản xuất đó chính là thành phẩm
và nửa thành phẩm, trong đó thành phẩm chiếm đại bộ phận. Thành phẩm trong
doanh nghiệp là những sản phẩm được gia công chế biến xong ở bước công nghệ
cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm được kiểm tra kỹ thuật
đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, được nhập kho hoặc tiêu thụ ngay.
Còn nửa thành phẩm là những sản phẩm mới kết thúc một hoặc một số công
đoạn trong quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) được nhập
kho hoặc chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Khi đó nó
cũng có ý nghĩa như thành phẩm. Vì vậy khái niệm giữa nửa thành phẩm và
thành phẩm là những khái niệm chỉ xét trong phạm vi một doanh nghiệp bởi
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII


Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
thành phẩm của doanh nghiệp này có thể là nửa thành phẩm của doanh nghiệp
khác và ngược lại. Do đó việc xác định đúng đắn thành phẩm trong từng doanh
nghiệp là vấn đề hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp về quy mô, trình độ tổ
chức sản xuất và tổ chức quản lý.
Bất kỳ loại thành phẩm nào cũng biểu hiện trên hai mặt: số lượng và chất
lựơng. Mặt số lượng phản ánh quy mô, thành phần mà đơn vị tạo ra nó và được
đo bằng đơn vị kg, mét...Chất lượng của thành phẩm phản ánh giá trị sử dụng
của thành phẩm và được xác định bằng tỷ lệ tốt, xấu hoặc phẩm cấp của sản
phẩm. Đây là hai mặt độc lập của một thể thống nhất và có quan hệ biện chứng
với nhau. Đó là nguyên nhân giải thích tại sao khi nghiên cứu, quản lý và hạch
toán thành phẩm ta luôn phải đề cập tới hai mặt này.
Quản lý chặt chẽ thành phẩm là việc làm cần thiết bởi ý nghĩa quan trọng
của thành phẩm đối với nền kinh tế nói chung và bản thân doanh nghiệp nói
riêng. Thành phẩm là thành quả lao động sáng tạo của toàn bộ công nhân viên
trong doanh nghiệp, mọi tổn thất của thành phẩm đều ảnh hưởng đến thu nhập
của đơn vị nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Hơn nữa khi sự phân công
lao động ngày càng phát triển thì các ngành sản xuất, các đơn vị có liên quan
chặt chẽ, bổ xung hỗ trợ cho nhau, thành phẩm của đơn vị này, ngành này lại là
điều kiện sản xuất, là nguyên liệu cho đơn vị khác. Việc hoàn thành và hoàn
thành vượt mức kế hoạch sản xuất thành phẩm của đơn vị cả về số lượng, chất
lượng, thời gian sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
đơn vị khác, đến việc đảm bảo đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày
càng tăng của xã hội.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Để quản lý về số lượng thành phẩm đòi hỏi phải thường xuyên phản ánh,
giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình nhập, xuất, tồn kho

thành phẩm. Về mặt chất lượng phải làm tốt công tác kiểm tra, phân cấp và có
chế độ bảo quản riêng đối với từng loại quý hiếm, dễ hỏng hóc, kịp thời phát
hiện các mặt hàng kém phẩm chất để có biện pháp xử lý thích hợp. Phải thường
xuyên cải tiến mẫu mã sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng kích thích
nhu cầu tiêu dùng của xã hội tránh tình trạng ứ đọng sản phẩm vì hàng kém
phẩm chất, lỗi thời, lạc mốt.
2. Tiêu thụ và yêu cầu của việc tiêu thụ thành phẩm.
Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra muốn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của xã hội phải thông qua khâu tiêu thụ. Do đó các doanh nghiệp không những
có nhiệm vụ sản xuất sản phẩm mà còn có nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ sản phẩm
đó.
Trong nền kinh tế thị trường, công tác tiêu thụ thành phẩm và tổ chức tiêu
thụ thành phẩm đã được nâng lên thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Cơ
chế thị trường đã tạo ra một nền kinh tế tự do cạnh tranh, giá cả do quan hệ cung
cầu quyết định nên mỗi doanh nghiệp phải tự chủ trong việc tổ chức tiêu thụ
thành phẩm bao gồm các khâu từ nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược, kế
hoạch tiêu thụ, thực hiện nguyên tắc tự chịu trách nhiệm nhằm mục tiêu hoạt
động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất và là giai
đoạn cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp. Đây chính là quá
trình thực hiện quan hệ trao đổi thông qua các phương tiện thanh toán để thực
hiện giá trị của sản phẩm, hàng hoá trong đó doanh nghiệp chuyển giao sản
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, được khách hàng trả tiền hoặc chấp
nhận trả. Quá trình tiêu thụ kết thúc khi cả hai điều kiện sau được bảo đảm:
- Doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm cho người mua.
- Đơn vị mua trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Điều đó có nghĩa là trong quá trình tiêu thụ phải có sự thoả thuận giữa hai

người mua và bán, phải có sự thay đổi quyền sở hữu về sản phẩm và cả hai bên
đều thực hiện quá trình chuyển đổi giữa hàng và tiền.
Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ được sản phẩm mới có vốn để
tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, điều quan trọng và là sự quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp là làm thế nào để sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình
tiêu thụ trên thị trường, được thị trường chấp nhận về các phương diện chất
lượng, giá cả, mẫu mã... Đó là vấn đề sống còn quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp. Sau quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp không những bù
đắp được chi phí liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mà còn thực hiện
được giá trị thặng dư. Đây là tiền đề quan trọng mở rộng quy mô sản xuất, tăng
thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên và
tăng ngân sách nhà nước.
Với các doanh nghiệp bạn có quan hệ sản xuất trực tiếp với doanh nghiệp,
việc cung cấp sản phẩm kịp thời, đúng hạn, đúng quy cách phẩm chất, đúng yêu
cầu số lượng sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đề ra trên cơ
sở đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Như vậy, xét trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thực hiện tốt khâu tiêu thụ
thành phẩm là cơ sở cho sự cân đối giữa sản phẩm và tiêu dùng, tiền và hàng
đồng thời cũng đảm bảo sự cân đối sản xuất trong từng ngành. Mặt khác, trong
điều kiện hiện nay khi quan hệ kinh tế đối ngoại đang phát triển mạnh mẽ thì
việc tiêu thụ thành phẩm của mỗi doanh nghiệp có thể tạo nên uy tín của đất
nước trên thị trường quốc tế, góp phần tạo nên sự cân đối của cán cân thanh toán
quốc tế.
Chính vì tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng như vậy nên đòi hỏi doanh nghiệp

phải quản lý chặt chẽ quá trình này, cụ thể:
-Quản lý quá trình tiêu thụ là quản lý về kế hoạch và mức độ hoàn thành
kế hoạch tiêu thụ cả về số lượng, chất lượng, giá trị sản phẩm... trong quá trình
vận động từ khâu xuất bán cho đến khi thu được tiền bán hàng. Công tác quản lý
đòi hỏi phải thường xuyên theo dõi, chỉ đạo quá trình bán hàng theo kế hoạch đã
định, kịp thời phát hiện những biến động của thị trường để điều chỉnh kinh
doanh sao cho mang lại hiệu quả cao nhất.
- Quản lý về giá cả từ khâu xây dựng giá đến khâu thực hiện giá, doanh
nghiệp phải xây dựng một biểu giá hợp lý cho từng mặt hàng, từng phương thức
bán hàng, từng địa điểm kinh doanh.
-Theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thức thanh toán,
từng khách hàng, đôn đốc thanh toán, thu hồi đầy đủ và kịp thời tiền vốn, tính
toán xác định đúng kết quả tiêu thụ của từng loại thành phẩm.
Thực tế ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp không những phải cạnh
tranh với các sản phẩm trong nước mà cả với những sản phẩm, hàng hoá của
nước ngoài nhập về. Thị trường Việt Nam đã được các hãng sản xuất trên thế
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
giới tìm đến và xâm nhập một cách mạnh mẽ. Do vậy, các doanh nghiệp để tồn
tại và phát triển trong nền kinh tế mở này thì đều phải tìm hiểu khách hàng và
nhu cầu của họ, có biện pháp kích thích họ mua hàng đồng thời phải tìm kiếm
những thị trường có tiềm năng lớn để tiêu thụ thành phẩm của mình, có khả năng
dự báo tình hình thị trường trong tương lai. Có như vậy các doanh nghiệp mới có
thể chiếm lĩnh được thị trường cũ và xâm nhập, mở rộng thị trường mới ở trong
nước và nước ngoài.
3. Xác định kết quả tiêu thụ.
Các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh đều nhằm đạt được mục
tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Quá trình tiêu thụ là một quá trình kinh doanh chủ
yếu của doanh nghiệp, nó trực tiếp mang lại thu nhập cho doanh nghiệp và thoả

mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Thu nhập từ tiêu thụ thành phẩm trang trải
các chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện tái sản xuất giản
đơn và tái sản xuất mở rộng. Một doanh nghiệp có các kênh tiêu thụ phong phú
với các chính sách khuyến khích việc tiêu thụ thành phẩm, hàng hoá tốt sẽ giúp
doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều, thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh tốc độ vòng
quay của vốn, tiết kiệm vốn lưu động, hiện đại hoá sản xuất cả về tốc độ lẫn trình
độ kỹ thuật... từ đó giúp doanh nghiệp dễ dàng thực hiện được các mục tiêu tối
thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.
Để biết được trong kỳ kinh doanh của mình có đạt được các mục tiêu đó
không doanh nghiệp cần phải có những thống kê về các khoản doanh thu, các
khoản chi phí và tính toán kết quả của các hoạt động kinh doanh trong kỳ. Kết
quả của quá trình tiêu thụ đánh giá một cách chính xác hiệu quả của toàn bộ quá
trình sản xuất kinh doanh, có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay suy
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
thoái của đơn vị. Dựa vào kết quả tiêu thụ doanh nghiệp có thể phân tích được
mặt hàng nào, sản phẩm nào có kết quả cao và xu hướng như thế nào để từ đó có
thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh chúng hoặc chuyển hướng sang sản xuất
kinh doanh mặt hàng khác.
Như vậy xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Nó giúp cho chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, các
cơ quan chủ quản, quản lý tài chính, thuế... nắm bắt được tình hình sản xuất kinh
doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó lựa chọn phương án kinh
doanh có hiệu quả, giám sát việc chấp hành chính sách, chế độ kinh tế tài
chính.Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa của nó, việc xác định kết quả tiêu thụ phải
thực hiện yêu cầu sau:
- Thường xuyên kiểm tra công việc và tình hình thực hiện hợp đồng bán
hàng, tính toán xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích những nguyên nhân, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố đến tình hình biến động lợi nhuận.
-Tổ chức phân tích báo cáo kết quả kinh doanh, tư vấn cho chủ doanh
nghiệp và giám đốc lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả.
4. Sự cần thiết phải hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ thành phẩm,
tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp sản
xuất.
Đối với doanh nghiệp, tổ chức tốt công tác kế toán thành phẩm sẽ tạo điều
kiện để sản xuất phát triển, từng bước hạn chế sự thất thoát của thành phẩm,
phát hiện ra những thành phẩm chậm luân chuyển để có biện pháp xử lý thích
hợp, thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Từ số liệu của kế toán thành phẩm và tiêu thụ cung cấp, chủ doanh nghiệp
có thể đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch về sản xuất, giá tiêu thụ và lợi
nhuận. Dựa vào đó, chủ doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp tối ưu đảm
bảo duy trì sự cân đối thường xuyên giữa các yếu tố đầu vào-sản xuất- đầu ra.
Cũng dựa vào đó nhà nước có thể nắm bắt được tình hình tài chính, kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó thực hiện chức năng quản lý và kiểm
soát vĩ mô nền kinh tế, đồng thời nhà nước có thể kiểm soát việc chấp hành luật
pháp về kinh tế tài chính nói chung và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với ngân sách
nhà nước, nghĩa vụ tài chính với các bên có quan hệ kinh tế nói riêng.
Trong nền kinh tế mở, các doanh nghiệp ngoài mối quan hệ với nhà nước
còn có thể liên doanh liên kết với đơn vị bạn hoặc các công ty nước ngoài để thu
hút vốn đầu tư, cải tiến quy trình công nghệ... Khi đó kế toán không chỉ là công
cụ điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh mà còn là phương tiện để kiểm tra,
giám sát những người chủ sở hữu doanh nghiệp, những người có quan hệ kinh tế
và lợi ích với doanh nghiệp như các nhà đầu tư, những người cho vay, các bạn
hàng... Với những số liệu của kế toán thành phẩm và tiêu thụ, họ có thể biết
được khả năng sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng của doanh nghiệp để từ đó ra

các quyết định đầu tư, cho vay hoặc có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp.
Vì sản xuất là cơ sở của tiêu thụ nên có thể nói rằng kế toán thành phẩm
và tiêu thụ có mối quan hệ mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau. Kế toán
thành phẩm có chính xác, đầy đủ và kịp thời, phản ánh rõ tình hình nhập, xuất thì
kế toán tiêu thụ mới phản ánh và giám đốc kịp thời kế hoạch, thực hiện tiêu thụ
về số lượng, doanh thu tiêu thụ, tình hình thanh toán tiền hàng, thanh toán với
ngân sách nhà nước và xác định được chính xác kết quả tiêu thụ. Ngược lại tổ
chức tốt kế toán tiêu thụ sẽ tạo điều kiện cho kế toán thành phẩm thực hiện tốt
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
nhiệm vụ của mình. Do vậy hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ thành
phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ là một vấn đề rất cần
thiết và có ý nghĩa quan trọng. Để làm tốt nghiệp vụ này, kế toán thành phẩm và
tiêu thụ thành phẩm cần thực hịên các yêu cầu sau:
-Tổ chức theo dõi, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời, giám sát chặt chẽ
về tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm trên cả hai mặt số
lượng và giá trị.
-Theo dõi, phản ánh và giám đốc chặt chẽ quá trình tiêu thụ, ghi chép kịp
thời, đầy đủ chi phí liên quan đến việc bán hàng, thu nhập bán hàng.
- Xác định chính xác kết quả của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp,
phản ánh và giám đốc tình hình phân phối kết quả, đôn đốc thực hiện nghĩa vụ
với nhà nước.
Thực hiện tốt các yêu cầu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quản
lý chặt chẽ thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ. Tuy
nhiên để phát huy được vai trò và thực hiện tốt các yêu cầu đó đòi hỏi phải tổ
chức kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ thật
khoa học hợp lý, đồng thời cán bộ kế toán phải nắm vững nội dung của việc tổ
chức công tác kế toán đó.
II.NỘI DUNG KẾ TOÁN THÀNH PHẨM.

1. Yêu cầu của công tác kế toán thành phẩm:
Thành phẩm của các doanh nghiệp thường rất đa dạng và phong phú về
chủng loại, mẫu mã, việc tổ chức một cách khoa học công tác kế toán thành
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
phẩm là việc làm rất cần thiết và không thể thiếu được đối với một doanh nghiệp
sản xuất. Để đảm bảo được điều đó kế toán cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Tổ chức kế toán thành phẩm theo từng loại, từng thứ thành phẩm, theo
từng đơn vị sản xuất theo đúng số lượng và chất lượng thành phẩm.Từ đó làm cơ
sở để xác định kết quả kinh doanh của từng đơn vị, từng phân xưởng...và có số
liệu để so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch.
- Phải có sự phân công và kết hợp trong việc ghi chép thành phẩm giữa
phòng kế toán và nhân viên hạch toán phân xưởng, giữa kế toán với thủ kho
thành phẩm đảm bảo cho số liệu kế toán thành phẩm được chính xác kịp thời.
- Kế toán nhập, xuất, tồn kho thành phẩm có thể được đánh giá tuỳ theo
đặc điểm của từng doanh nghiệp. Thành phẩm trong kho thường luôn biến động,
do đó cần tổ chức công tác ghi chép ban đầu thật khoa học hợp lý.
2. Tính giá thành phẩm:
Tính giá thành phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị thành phẩm theo
nguyên tắc nhất định.Trong kế toán có thể sử dụng một trong hai cách đánh giá
thành phẩm:
2.1. Giá thực tế
• Thành phẩm nhập kho:
Đối với thành phẩm do các bộ phận sản xuất kinh doanh chính và phụ
hoàn thành nhập kho, giá thành thực tế chính là giá thành công xưởng thực tế
(bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí
sản xuất chung).
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII

Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Trường hợp thành phẩm thuê ngoài gia công, giá thành thực tế bao gồm
toàn bộ các chi phí liên quan đến việc gia công (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí thuê gia công và các chi phí khác: vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt...)
• Thành phẩm xuất kho:
Đối với thành phẩm xuất kho tuỳ từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có
thể sử dụng một trong các phương pháp sau:
2.1.1. Giá đơn vị bình quân
Theo phương pháp này giá thực tế thành phẩm xuất kho được tính theo giá trị
bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trước hoặc bình quân sau
mỗi lần nhập).
Trị giá thực tế thành Số lượng thành phẩm Giá đơn vị
phẩm xuất kho xuất kho bình quân
Trong đó:
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
quân cả kỳ dự trữ Số lượng thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm
nhưng độ chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng
gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn kho đầu kỳ ( hoặc cuối kỳ trước)
quân cuối kỳ trước Số lượng thực tế TP tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
= x
=
=
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Phương pháp này mặc dầu khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình
biến động thành phẩm trong kỳ nhưng không chính xác vì không tính đến sự
biến động của giá thành thành phẩm nhập kho.


Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập khắc phục được nhược
điểm của cả hai phương pháp trên: vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhưng nó có
nhược điểm là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần thường chỉ áp dụng ở
doanh nghiệp số lần nhập kho trong tháng ít, số lượng nhập lớn.
2.1.2. Giá thực tế nhập trước xuất trước (FIFO).
Theo phương pháp này doanh nghiệp giả định rằng số thành phẩm nào
nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá
thành thực tế của từng số hàng xuất. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này
là giá thực tế của thành phẩm nhập trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực
tế thành phẩm xuất trước và do vậy giá trị thành phẩm tồn kho sẽ là giá thực tế
của số thành phẩm nhập vào sau cùng. Phương pháp này thích hợp trong trường
hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.
2.1.3. Giá thực tế nhập sau xuất trước (LIFO)
Phương pháp này giả định những thành phẩm nào nhập kho sau cùng sẽ
được xuất trước tiên, ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước ở trên.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Giá đơn
vị bình
quân sau
mỗi lần
nhập
=
Trị giá thực tế
TP nhập
Số lượng
nhập
Trị giá thực tế TP
tồn trước khi nhập

Số lượng TP tồn
trước khi nhập
+
+
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Giả thuyết nhập sau xuất trước là tính tới thời điểm xuất kho thành phẩm chứ
không phải cuối kỳ hạch toán mới xác định. Phương pháp nhập sau xuất trước
thích hợp trong trường hợp lạm phát.
2.1.4. Giá thực tế đích danh:
Theo phương pháp này thành phẩm nhập kho theo giá nào thì xuất kho
theo giá đó và không quan tâm đến thời gian nhập xuất. Phương pháp này
thường sử dụng đối với những thành phẩm có giá trị cao và có tính tách biệt.
2.1.5.Xác định trị giá thành phẩm tồn cuối kỳ để tính trị giá thành phẩm xuất
trong kỳ.
Ở những doanh nghiệp có thành phẩm cồng kềnh, điều kiện cân, đong, đo,
đếm, nhập, xuất không chính xác, hạch toán thành phẩm theo phương pháp kiểm
kê định kỳ thì cuối mỗi kỳ hạch toán tiến hành kiểm kê để xác định trị giá thực tế
thành phẩm tồn kho. Căn cứ vào trị giá thành phẩm tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ và
trị giá thành phẩm nhập trong kỳ để xác định trị giá thành phẩm xuất trong kỳ:
Phương pháp này có ưu điểm là tính toán nhanh chóng, đơn giản nhưng lại
không chính xác vì khó phát hiện phần mất mát thiếu hụt.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Giá trị
thành
phẩm
xuất kho
Giá trị
thành
phẩm tồn

đầu kỳ
Giá trị
thành
phẩm nhập
trong kỳ
Giá trị
thành
phẩm tồn
cuối kỳ
= + -
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
2.2. Giá hạch toán:
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp quy định, nó có tính chất ổn định và
lâu dài. Giá hạch toán chỉ dùng để ghi sổ kế toán thành phẩm hàng ngày chứ
không có tác dụng giao dịch với bên ngoài, có thể lấy giá kế hoạch hoặc một loại
giá ổn định trong kỳ và nó quy định cụ thể cho từng loại thành phẩm. Mục đích
của việc sử dụng giá hạch toán là nhằm làm đơn giản cho công tác kế toán trong
doanh nghiệp có các nghiệp vụ nhập, xuất kho thành phẩm nhiều, thường xuyên,
giá thành thực tế biến động lớn.
Theo phương pháp này thành phẩm nhập kho được ghi theo giá hạch toán
và thực tế, thành phẩm xuất kho trong kỳ ghi theo giá hạch toán cuối kỳ tiến
hành điều chỉnh từ giá hạch toán về giá thực tế thông qua hệ số giá thành phẩm.
Hệ số này được tính cho từng loại hoặc từng nhóm TP.
Trị giá hạch toán Số lượng thành phẩm Đơn giá
thành phẩm xuất kho xuất kho hạch toán
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Hệ số giá
=
Trị giá thực

tế TP tồn đầu
kỳ
Trị giá thực
tế TP nhập
trong kỳ
Trị giá hạch
toán TP nhập
trong kỳ
Trị giá hạch
toán TP tồn
đầu kỳ
+
+
Trị giá thực
tế thành
phẩm xuất
trong kỳ
Trị giá hạch
toán thành
phẩm xuất
kho
Hệ số
giá
= x
= x
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Khi dùng phương pháp giá hạch toán việc hạch toán chi tiết thành phẩm
trên các chứng từ nhập, xuất, các sổ (thẻ) kế toán chi tiết thành phẩm được ghi
theo giá hạch toán, còn việc hạch toán tổng hợp thành phẩm nhất thiết phải ghi
theo giá thực tế.

3. Chứng từ kế toán sử dụng:
Việc nhập và xuất kho thành phẩm diễn ra thường xuyên liên tục do vậy
mà thành phẩm trong doanh nghiệp luôn luôn biến động. Để quản lý chặt chẽ
thành phẩm, các nghiệp vụ nhập, xuất kho thành phẩm phải được lập chứng từ
kế toán một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác theo quy định cụ thể trong chế độ
ghi chép ban đầu. Bởi vì những chứng từ kế toán này là cơ sở pháp lý để tiến
hành hạch toán nhập - xuất kho thành phẩm, là căn cứ để kiểm tra tính chính xác
trong quá trình ghi sổ, đảm bảo ghi chép các nội dung cần thiết. Căn cứ vào nội
dung các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến thành phẩm để xác định các chứng từ
kế toán cần sử dụng ở các doanh nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp vận dụng
chế độ chứng từ kế toán theo quyết định 1141 -TC- QĐ- CĐKT ngày 1/11/1995
phải sử dụng các chứng từ bắt buộc sau:
Phiếu nhập kho: Mẫu số 01 -VT
Phiếu xuất kho: Mẫu số 02-VT
Thẻ kho: Mẫu số 06- VT
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá: Mẫu số 08-VT
Ngoài ra tuỳ từng doanh nghiệp có thể có các nghiệp vụ phát sinh riêng
như điều chuyển thành phẩm nội bộ thì sử dụng thêm" Phiếu xuất kho kiêm vận
chuyển nội bộ: Mẫu số 03- VT". Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng thêm một số
chứng từ có tính hướng dẫn như "Biên bản kiểm nghiệm": Mẫu số 05- VT
4. Hạch toán chi tiết thành phẩm.
Hạch toán chi tiết thành phẩm là việc ghi chép kịp thời chính xác tình
hình biến động nhập, xuất, tồn cả về hiện vật và giá trị cho từng loại thành phẩm
Hạch toán chi tiết thành phẩm được thực hiện ở cả kho và ở phòng kế
toán, thường là công việc ghi chép tốn nhiều thời gian và công sức. Trong thực
tế hiện nay có ba phương pháp hạch toán chi tiết thành phẩm sau:
4.1.Phương pháp thẻ song song:

+ Nguyên tắc:
-Ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của thành phẩm về
hiện vật trên thẻ kho.
-Ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập, xuất,
tồn của thành phẩm cả về hiện vật và giá trị trên sổ chi tiết thành phẩm.
+ Trình tự ghi sổ (Sơ đồ số 1)
SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI TIẾT THÀNH PHẨM
THEO PHƯƠNG PHÁP THẺ SONG SONG
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Thẻ kho

Sổ
(thẻ)
chi
tiết
thành
phẩm
Bảng
tổng
hợp
NXT
kho
Kế
toán
tổng
hợp
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán

Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
* Ưu, nhược điểm của phương pháp ghi thẻ song song.
+ Ưu điểm:
- Đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, dễ đối chiếu.
- Cung cấp thông tin thường xuyên, kịp thời cho người quản lý
- Dễ dàng vận dụng máy vi tính vào việc hạch toán chi tiết thành phẩm.
+ Nhược điểm:
-Ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán.
-Không thích hợp với doanh nghiệp có quá nhiều thành phẩm.
-Không nên ghi chép bằng tay mà ghi bằng máy.
4.2. Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển:
+ Nguyên tắc hạch toán:
- Ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động Nhập- Xuất- Tồn của thành phẩm
về hiện vật trên thẻ kho (giống phương pháp thẻ song song).
- Ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập -xuất -
tồn cả về hiện vật và giá trị trên sổ đối chiếu luân chuyển. Sổ này sử dụng cho cả
năm, mỗi loại thành phẩm ghi một dòng.
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 2).
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
SƠ ĐỒ 2: SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI TIẾT THÀNH PHẨM THEO
PHƯƠNG PHÁP GHI SỔ ĐỐI CHIẾU LUÂN CHUYỂN
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
* Ưu, nhược điểm của phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
+ Ưu điểm:

-Tránh được việc ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán
-Cung cấp được thông tin cả về hiện vật và giá trị cho người quản lý.
+ Nhược điểm:
-Công việc kế toán dồn vào cuối tháng do đó thường lập báo cáo kế toán
chậm.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Phiếu nhập
kho
Bảng kê
nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Kế toán
tổng hợp
Bảng kê
xuất
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
4.3. Phương pháp sổ số dư.
+ Nguyên tắc hạch toán.
- Ở kho: Thủ kho chỉ theo dõi biến động Nhập - Xuất - Tồn của thành
phẩm về hiện vật. Cuối tháng trên cơ sở số liệu tồn kho của thẻ kho vào " Sổ số
dư" ở cột số lượng.
- Ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm chỉ theo dõi sự biến động Nhập -
Xuất - Tồn về giá trị trên bảng kê luỹ kế Nhập - Xuất - Tồn
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 3).
SƠ ĐỒ 3:SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI TIẾT THÀNH PHẨM

THEO PHƯƠNG PHÁP SỔ SỐ DƯ
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Phiếu nhập
kho
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Phiếu giao nhận
chứng từ xuất
Bảng kê luỹ kế
NXT kho TP
Kế toán
tổng hợp
Sổ số

Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
* Ưu, nhược điểm của phương pháp:
+ Ưu điểm:
-Tránh được việc ghi trùng lặp giữa kho và phòng kế toán.
-Cung cấp thông tin tổng giá trị nhập - xuất - tồn theo định kỳ.
+ Nhược điểm:
- Nếu có nhầm lẫm sai sót thì khó phát hiện, khó kiểm tra do đó chỉ thích
hợp ở doanh nghiệp nhân viên kế toán và thủ kho có trình độ và tay nghề thành
thạo.

5. Hạch toán tổng hợp thành phẩm:
5.1. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phương pháp kê khai thường xuyên:
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi tình hình
hiện có,biến động tăng, giảm thành phẩm một cách thường xuyên liên tục. Giá trị
thành phẩm tồn kho có thể xác định ở bất cứ thời điểm nào.
 Tài khoản sử dụng:
- TK 155- Thành phẩm: TK này phản ánh sự biến động nhập - xuất -tồn kho
thành phẩm theo giá thực tế.
Bên nợ: Giá thực tế thành phẩm nhập kho.
Bên có: Giá thực tế thành phẩm xuất kho.
Dư nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý TK 155 có thể được mở chi tiết theo từng kho,
từng loại thành phẩm. TK này chỉ sử dụng ở những doanh nghiệp thành phẩm có
thể nhập kho được.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
- Các tài khoản khác có liên quan như TK 154, TK 157...
 Trình tự hạch toán nhập- xuất thành phẩm (Sơ đồ số 4).
5.2. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách
thường xuyên liên tục tình hình biến động của các loại thành phẩm mà chỉ phản
ánh trị giá tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác
định lượng thành phẩm tồn kho thực tế từ đó tính ra giá trị thành phẩm xuất
trong kỳ.
 Tài khoản sử dụng:
- TK 155 "Thành phẩm": TK này chỉ phản ánh giá thực tế thành phẩm tồn kho.
Bên nợ: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho đầu kỳ.
Dư nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.

Tài khoản này mở chi tiết cho từng loại thành phẩm.
- TK 157 " Hàng gửi bán": TK này chỉ phản ánh giá thực tế hàng gửi bán tồn
cuối kỳ.
Bên nợ: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn cuối kỳ.
Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn đầu kỳ.
Dư nợ: Giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn cuối kỳ.
- TK 632 " Giá vốn hàng bán": TK này phản ánh giá thực tế thành phẩm nhập
- xuất kho trong kỳ.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Bên nợ: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho và gửi bán tồn đầu
kỳ.
Giá thực tế thành phẩm hoàn thành trong kỳ.
Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Kết chuyển giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn cuối kỳ.
Giá thực tế thành phẩm xuất tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
 Trình tự hạch toán(Sơ đồ số 5)
III. NỘI DUNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM.
1. Các khái niệm liên quan đến tiêu thụ thành phẩm:
Tuỳ thuộc vào phương pháp tính thuế GTGT, nội dung của các chỉ tiêu
liên quan đến chi phí, doanh thu và kết quả có sự khác nhau. Đối với các doanh
nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ trong chi phí không bao gồm
số thuế GTGT đầu vào. Tương tự chỉ tiêu doanh thu bán hàng, chiết khấu, giảm
giá, doanh thu hàng bán bị trả lại là giá bán hoặc thu nhập chưa có thuế
GTGT(kể cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán- nếu có). Ngược
lại đối với các cơ sở tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc đối với
các đối tượng không chịu thuế GTGT, trong chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu
vào và trong doanh thu bao gồm cả thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc

biệt đầu ra (kể cả các khoản phụ thu, phí thu thêm- nếu có). Vì thế các chỉ tiêu về
doanh thu bán hàng, chiết khấu, giảm giá, doanh thu hàng bán bị trả lại... đều bao
gồm cả thuế GTGT đầu ra.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
Nội dung các chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ thành phẩm được xác định
như sau:
- Doanh thu bán hàng: là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hoá,
sản phẩm, cung cấp lao vụ dịch vụ cho khách hàng. Tổng số doanh thu là số tiền
ghi trên hoá đơn bán hàng, trên hợp đồng cung cấp lao vụ, dịch vụ. Doanh thu
bán hàng sẽ được ghi tại thời điểm sản phẩm, hàng hoá được xác định là đã tiêu
thụ, tức là tại thời điểm chuyển quyền sở hữu về sản phẩm, hàng hoá. Hay nói
cách khác thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm người mua trả tiền hay chấp
nhận trả tiền về lượng hàng hoá, sản phẩm đã được người bán chuyển giao. Theo
chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS18) doanh thu bán hàng được công nhận khi:
+ Rủi ro và lợi ích quan trọng của việc sở hữu hàng hóa được chuyển sang cho
người mua.
+ Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng không giám
sát hiệu quả hàng đã bán ra.
+ Số doanh thu có thể tính toán một cách chắc chắn.
+ Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.
+ Chi phí giao dịch có thể được tính toán một cách chắc chắn.
- Chiết khấu bán hàng: là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho khách
hàng do đã thanh toán tiền hàng trước thời hạn qui định (chiết khấu thanh toán).
- Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn
hay hợp đồng cung cấp lao vụ dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng
kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời hạn, địa điểm
trong hợp đồng...(do chủ quan của doanh nghiệp). Ngoài ra, tính vào các khoản
giảm giá hàng bán còn bao gồm khoản thưởng cho khách hàng do trong một

Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII
Trường Đại học kinh tế quốc dân Khoa kế toán
khoảng thời gian nhất định đã tiến hành mua một khối lượng lớn hàng hoá (hồi
khấu) và khoản giảm trừ trên giá bán thông thường vì mua khối lượng lớn hàng
hoá trong một đợt (bớt giá)- chiết khấu thương mại.
- Hàng bán bị trả lại: số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển giao
quyền sở hữu, đã thu tiền hay được người mua chấp nhận) nhưng bị người mua
từ chối trả lại do người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết như
không phù hợp yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật, hàng kém phẩm chất,
không đúng chủng loại... Tương ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn của hàng
bán bị trả lại, doanh thu của hàng bán bị trả lại và thuế GTGT đầu ra phải nộp
của hàng bán bị trả lại (nếu có) và đều được tính theo giá vốn, doanh thu, thuế
khi bán.
- Doanh thu thuần: là khoản doanh thu còn lại của doanh thu bán hàng sau
khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu (giảm giá hàng bán, doanh thu hàng
bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu).
- Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ
đã tiêu thụ trong kỳ. Đối với thành phẩm đó là giá thành sản xuất (giá thành công
xưởng) hay chi phí sản xuất thực tế.
- Lợi nhuân gộp: là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng
bán. Lợi nhuận gộp còn gọi là lãi thương mại hay lợi tức gộp hoặc lãi gộp.
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ bao gồm chi phí nhân viên bán hàng (lương và các khoản trích
theo lương của nhân viên bán hàng) chi phí vận chuyển, bao bì đóng gói, chi phí
quảng cáo, bảo hành sản phẩm, chi phí khấu hao nhà cửa máy móc thiết bị và
các chi phí bằng tiền khác.
Lưu Lan Hương Chuyên đề tốt nghiệp
Lớp KT17D - VBII

×