Tải bản đầy đủ (.pdf) (35 trang)

đánh giá ảnh hưởng của sự kết hợp các loại hormon trong sản xuất giống cá rô đồng (anabas testudineus)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (791.21 KB, 35 trang )

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ KẾT HỢP
CÁC LOẠI HORMON TRONG SẢN XUẤT
GIỐNG CÁ RÔ ĐỒNG
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS. NGUYỄN VĂN KIỂM TRẦN VĂN HÒA
Ks. NGUYỄN THÀNH TÂM MSSV 06803013
LỚP NTTS_K1
Cần Thơ, 2010
2
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT
NGHIỆP ĐẠI HỌC
Luận văn: Đánh giá ảnh hưởng của sự kết hợp các loại hormon trong sản xuất giống
cá rô đồng (Anabas testudineus)
Sinh viên thực hiện: TRẦN VĂN HÒA
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K1
Đề tài được hoàn thành theo yêu cầu cuả cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo vệ luận văn
đại học Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Đại Học Tây Đô.
Cần Thơ, ngày 28 tháng 7 năm 2010
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS. NGUYỄN VĂN KIỂM TRẦN VĂN HÒA
KS. NGUYỄN THÀNH TÂM
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS. NGUYỄN VĂN BÁ
3
LỜI CẢM TẠ


Sau 3 tháng thực tập từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010 tại trại cá Danh Lợi –
Ô Môn-Thành Phố Cần Thơ, áp dụng những kiến thức đã học kết hợp với kinh
nghiệm thực tế, luận văn đã được chỉnh sữa và hoàn thành.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Kiểm – Khoa thủy sản Trường Đại Học
Cần Thơ và thầy Nguyễn Thành Tâm - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học
Tây Đô đã tận tình giúp đỡ cho em suốt thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học
Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong những
năm học vừa qua, tạo dựng hành trang để em bước vào cuộc sống sau này.
Xin cám ơn tất các Cô Chú, anh chị trại cá Danh Lợi đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và
đóng góp ý kiến bổ ích để hoàn thành thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học
Tây Đô vui, khỏe, công tác tốt và không ngừng con đường cống hiến cho sự nghiệp
giáo dục.
Với sự hiểu biết còn hạn hẹp và thu thập tài liệu còn hạn chế nên báo cáo tốt nghiệp
không tránh khỏi sự sai sót. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và
các bạn.
Em xin chân thành cám ơn!
TRẦN VĂN HÒA
4
TÓM TẮT
Cá rô đồng (Anabas testudineus) là loài cá nước ngọt địa phương, cũng là loài cá kinh
tế của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nghiên cứu nhằm xác định sự ảnh hưởng
của việc kết hợp các loại hormon lên các chỉ tiêu sinh sản cá rô đồng. Đề tài được thực
hiện với 3 thí nghiệm, mỗi thí nghiệm có 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp
lại 3 lần. Để đạt được mục tiêu đề tài đặt ra thì các loại hormon: HCG (UI) + Não thùy
(mg) với 3 liều lượng (2000 UI + 12 mg, 2500 UI + 12 mg, 3000 UI + 12 mg); LRH-a
(µg)+ Motilium (mg) với các liều lượng (50 µg + 10 mg, 100 µg + 10 mg, 150 µg +
10 mg) và Não thùy (mg) + Motilium (mg) với các liều lượng (4 mg + 5 mg, 6 mg + 5
mg, 8 mg + 5 mg) được sử dụng kết hợp . Kết quả nghiên cứu cho thấy trong các yếu

tố môi trường như nhiệt độ (25-26
0
C), pH (7,4-7,5), Oxy hòa tan (4,2±0,2 mg/l),
Nitrite (0,2±0,2 mg/l), NH
3
(0,4-0,6 mg/l) phù hợp với điều kiện sinh sản cá rô đồng.
Kết quả sử dụng các loại hormon khích thích cá rô đồng sinh sản thì kích thích tố
LRH-a (µg)+ Motilium (mg) với liều lượng (100 µg + 10 mg) là hiệu quả nhất với
thời gian hiệu ứng thuốc 8h40, tỉ lệ đẻ của cá là 100%, sức sinh sản của cá tương đối
cao đạt 795.148±3.837 trứng/kg cá, tỉ lệ thụ tinh của trứng cá là 94±1%, tỉ lệ nở đạt
86,6±3%.
Từ khóa: Anabas testudineus, cá rô đồng, sinh sản nhân tạo.
5
CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi
và kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất kỳ luận văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày 28 tháng 7 năm 2010.
TRẦN VĂN HÒA
6
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
CHƯƠNG I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.2 Nội dung nghiên cứu 1

CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc điểm sinh học của cá rô đồng 2
2.1.1 Hình thái phân loại 2
2.1.2 Hình thái cấu tạo 2
2.1.3 Đặc điểm phân bố 3
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 3
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 3
2.2 Các loại kích tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo 5
2.2.1
HCG (Human Chorionic Gonadotrpine) 5
2.2.2 Não thùy cá chép 5
2.2.3 LHRH_a 6
2.2.4 Dom (Domperidone) 6
2.3 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng 6
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng trên
thế giới 6
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng ở
Việt Nam 7
CHƯƠNG III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 9
3.2 Vật liệu nghiên cứu 9
3.3 Phương pháp nghiên cứu 9
3.3.1 Tiêu chuẩn chọn cá bố mẹ 9
3.3.2 Pha thuốc và cách tiêm 10
3.3.3 Ấp trứng 10
3.3.4 Bố trí thí nghiệm 10
3.3.5 Tiến hành thí nghiệm 11
7
3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 12

3.4.1 Các chỉ tiêu môi trường 12
3.4.2 Các chỉ tiêu sinh sản 12
3.5 Xử lý số liệu 12
CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Kết quả yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 13
4.1.1 Nhiệt độ 13
4.1.2 pH 13
4.1.3 Oxy hòa tan (DO) 14
4.1.4 Nitrite (NO
2
) 14
4.1.5 NH
3
14
4.1.6 Kiềm tổng 14
4.2 Kết quả kích thích cá sinh sản15
4.2.1 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng
(HCG + Não thùy) 15
4.2.2 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng
(LRH_a + Motilium) 18
4.2.3 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng
(Não thùy + Motilium) 20
4.2.4 So sánh tác dụng của 3 loại kích dục tố: HCG + não thùy,
LRHa + Motilium, Não thùy + Motilium liều lượng cho
kết quả tốt nhất 23
CHƯƠNG V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 24
5.1 Kết luận 24
5.2 Đề xuất 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC

8
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 : Bố trí thí nghiệm 11
Bảng 4.1 : Sự dao động của nhiệt độ (
0
C) ở các nghiệm thức. 13
Bảng 4.2 : Sự dao động của pH ở các nghiệm thức. 15
Bảng 4.3 : Sự dao động của oxy hòa tan (mg/l) ở các nghiệm thức. 20
Bảng 4.4 : Sự dao động của Nitrite (mg/l) ở các nghiệm thức 20
Bảng 4.5 : Sự dao động của NH
3
(mg/l) ở các nghiệm thức. 23
9
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình dạng ngoại cá rô đồng (Anabas testudineu, Bloch, 1792) 2
Hình 2.2: Cá rô đồng cái và đực thành thục tốt 4
Hình 3.1 : Bố trí cá rô đồng trong thùng mớp 11
Hình 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (HCG + Não thùy) lên các chỉ tiêu
sinh sản của cá rô đồng 15
Hình 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (HCG + Não thùy) lên sức sinh sản
tương đối của cá rô đồng 16
Hình 4.3: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (LRH_a + Motilium) lên các chỉ
tiêu sinh sản của cá rô đồng 18
Hình 4.4: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (LRH_a + Motilium) lên sức sinh
sản tương đối của cá rô đồng 19
Hình 4.5: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (Não thùy + Motilium) lên các chỉ
tiêu sinh sản của cá rô đồng 21
Hình 4.6: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (Não thùy + Motilium) lên sức sinh
sản tương đối của cá rô đồng 22
10

CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành thủy sản nước ta nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng là một
trong những ngành kinh tế đem lại kim ngạch xuất khẩu cao, góp phần trong việc cải
thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân. Sau khi Việt Nam là thành viên
của tổ chức thương mại thế giới (WTO) mặt hàng thủy sản càng có điều kiện phát
triển thuận lợi hơn. Với điều kiện này thì sản phẩm thủy sản của ta đòi hỏi đạt số
lượng và chất lượng. Tuy nhiên nguồn giống thả trước đây hoàn toàn dựa vào tự nhiên
do đó việc cung cấp không đủ đáp ứng cho người dân. Những năm gần đây việc sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến nguồn giống tự nhiên gần như cạn kiệt. Vì
vậy hiện nay nguồn giống chủ yếu từ nhân tạo.
Cá rô đồng là loài cá bản địa và được ưa chuộng trên thị trường do chất lượng thịt cá
ngon. Kể từ khi kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá rô đồng được phát triển thì cá
được nuôi phổ biến ở nhiều loại hình thủy vực như ruộng lúa, ao nhỏ, sông (nuôi
trong lồng). Trong nuôi cá rô đồng thường bắt gặp sự chênh lệch về sinh trưởng nên
kích cỡ cá cái thường lớn hơn cá đực khi thu hoạch. Cá cái có thể đạt khối lượng từ
60-100 g/con trong khi cá đực chỉ đạt từ 30-50% khối lượng cá cái.
Hiện nay giống cá rô đồng đã cung cấp đủ cho người nuôi ở các tỉnh như: Đồng Tháp,
An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Kiên Giang. Tuy nhiên, tùy theo kinh
nghiệm và cũng tùy theo điều kiện cụ thể mà các cở sở sản xuất giống cá sử dụng
nhiều loại hormon khác nhau, liều lượng hormon cũng biến đổi rất lớn. Có một vấn đề
mà phần lớn các cơ sở sản xuất giống ít quan tâm đến đó là việc sử dụng kết hợp các
loại hormon khi kích thích cá sinh sản, nếu sử dụng hợp lý thì sẽ nâng cao được hiệu
quả khi kích thích cá đẻ. Từ những nguyên nhân trên, đề tài “Đánh giá ảnh hưởng
của sự kết hợp các loại hormon trong sản xuất giống cá rô đồng (Anabas
testudineus)” đã được thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu trên.
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm xác định sự phối hợp các loại kích thích tố trong sản xuất giống cá rô đồng để
đem lại hiệu quả cao.
1.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc kết hợp các loại hormon lên các chỉ tiêu sinh sản.
Đồng thời theo dõi một số chỉ tiêu thủy - lý - hóa trong sản xuất giống cá rô đồng.
11
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá rô đồng
2.1.1 Hình thái phân loại
Theo Mai Đình Yên và csv,1992 thì cá rô đồng được phân loại như sau:
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Percifomes
Phân bộ: Anabantoidei
Họ: Anabantidae
Giống: Anabas
Loài: Anabas testudineus, Bloch, 1792
Hình 2.1: Hình dạng ngoài cá rô đồng (Anabas testudineus, Bloch, 1792)
(Nguồn: Dương Nhựt Long, 2003)
2.1.2 Hình thái cấu tạo
Rất dễ nhận dạng có vây lưng XVI-XVIII/ 8-11. Vây hậu môn VIII-X-19-22. Vẩy trên
đường bên 15-19/ 10-14. Thân cá kéo dài dẹp bên về phía sau. Chiều dài cá rô không
kể đuôi gấp 3-4 lần chiều cao thân. Đầu rộng, chiều dài đầu bằng chiều cao thân.
Mõm ngắn, đầu mõm tròn. Miệng ở tận cùng, nghiêng chẻ sâu. Răng hàm xếp thành
hàm rộng, ngắn và nhọn. Có 2 mắt lớn. Đỉnh và hai bên đầu có vảy. Cạnh của nắp
mang khía răng cưa. Đường bên thành hai hàng. Vây lưng và vây hậu môn dài, có
những gai khỏe. Vây đuôi tương đối tròn. Cá có màu nâu, mặt bụng sáng hơn. Hai bên
thân có các chấm đen xếp thành hàng ngang đều hoặc không đều. Có một chấm đen
12
lớn, tròn ở góc vây đuôi. Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi màu nâu, các vây khác
màu nhạt (Mai Đình Yên và csv, 1979).

Ngoài ra cá rô đồng còn có cơ quan hô hấp phụ ở cung mang thứ nhất còn gọi là mê lộ
(Cơ quan này giúp cho cá hô hấp được trực tiếp khí trời).
2.1.3 Đặc điểm phân bố
Cá rô đồng là loài cá sống trong môi trường nước ngọt ở vùng nhiệt đới. Cá hiện diện
trong các thủy vực như ao đìa, đầm lầy, mương vườn và ruộng lúa ở Thái Lan,
Campuchia, Lào và Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Thành phần thức ăn của cá rô đồng khá phong phú
và đa dạng, gồm 37 loại đại diện cho 10 ngành động - thực vật khác nhau, chủ yếu là
các ngành động vật không xương sống và tảo phù du. Phổ thức ăn được mở rộng từ
nhóm cá có kích thước nhỏ đến nhóm cá có kích thước lớn (Trần Thị Thanh Hiền,
1999).
Phạm vi hoạt động của cá rô đồng rộng, trong thủy vực cá ăn tầng đáy cho đến tầng
mặt. Khi phân tích trong dạ dày cá rô đồng, người ta thấy 19% giáp xác, 3,5% côn
trùng, 6% nhuyễn thể, 9,5% cá con, 47% thực vật, 16% vật chất tiêu hóa (Nargis và
Hossain, 1987), pH trong dạ dày là 5,9-6,5 (Pendey, 1992). Theo Fulton (1902) và
Clark (1928) hệ số béo không có sự sai khác nhiều, chứng tỏ sức chứa nội quan không
lớn, nên là loài có độ béo cao, khá giàu dinh dưỡng và có giá trị thương phẩm
(Nguyễn Ngọc Phúc, 2000). Ở giai đoạn còn nhỏ cá ăn chủ yếu là động thực vật phù
du, mùn bả hữu cơ. Cá rô đồng có phạm vi hoạt động mạnh, ăn từ tầng đáy cho đến
mặt nước. (Dương Nhựt Long, 2003).
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sau khi ương 45 ngày, trọng lượng cá giống đạt cao nhất dao động từ 2,04-3,05 g/con.
Sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60-100 g/con (Dương Nhựt Long, 2003).
Khối lượng trung bình của cá khai thác ở ĐBSCL dao động từ 60-120 g/con (Nguyễn
Văn Kiểm, 2004). Cá tự nhiên 1 năm đạt 50-80 g ở cá cái và 50-60g ở cá đực (Phạm
Văn Khánh, 1999).
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Cá rô đồng thành thục lần đầu sau 10 tháng tuổi (cỡ trung bình 50-60 g trở lên). Khi
cá phát dục có thể phân biệt cá đực, cá cái. Cá đực có gai sinh dục nhỏ và nhọn, cá cái

gai sinh dục lớn hơn, không nhọn đầu và hơi lồi, đỏ mọng. Mùa vụ sinh sản của cá rô
đồng trong tự nhiên tập trung vào các tháng đầu và giữa mùa mưa, cao nhất là tháng
13
6-7 dương lịch. Các tháng 11-1 là thời kỳ tuyến sinh dục đã đẻ xong hoặc trứng thoái
hóa trở về giai đoạn II, chuẩn bị cho mùa sinh sản mới (Nguyễn Tường Anh, 2005).
Hình 2.2: Cá rô đồng cái và đực thành thục tốt
(Nguồn: Dương Nhựt Long, 2003)
Cá sinh sản tự nhiên vào đầu mùa mưa (từ tháng 4-7) nhưng còn tùy thuộc vào điều
kiện sinh thái của từng nơi mà có sự biến động về thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa
vụ sinh sản. Cá di chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những
đám mưa lớn đầu mùa như ruộng, ao, đìa, nơi có chiều cao cột nước 30-40 cm để sinh
sản. Cá không có tập tính giữ con. Sức sinh sản của cá rô đồng dao động từ 300.000-
700.000 trứng/kg cá cái. Cá có khả năng tái thành thục sau thời gian ngắn (1 tháng).
Trứng cá rô đồng thành thục có màu trắng ngà hoặc hơi vàng, đường kính trứng sau
khi trương nước là 1,2-1,3 mm. Trứng cá thuộc loại trứng nổi (Nguyễn Văn Kiểm,
2004). Nguyễn Thành Trung (2001), mùa vụ sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên từ
tháng 5-7 và theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, (1993) thì mùa vụ sinh
sản của cá rô đồng từ tháng 5-6.
Còn trong sinh sản nhân tạo cá hầu như đẻ quanh năm. Theo Pravdin (1973) thì điều
kiện khí tượng thủy văn không những chỉ làm thay đổi mùa vụ đẻ trứng mà còn làm
thay đổi cả khả năng thành thục của cá (trích dẫn bởi Mai Viết Văn, 2002).
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy sức sinh sản của cá rô đồng có sự khác biệt nhau
do sống trong những điều kiện khác nhau. Sức sinh sản của cá tăng theo kích cỡ và
trọng lượng cá. Ở điều kiện nuôi vỗ đầy đủ thức ăn, cá sẽ có sức sinh sản cao hơn cá
ngoài tự nhiên (Nguyễn Thành Trung, 1998).
14
2.2 Các loại kích tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo
2.2.1 HCG (Human Chorionic Gonadotropine)
HCG có tên bằng tiếng việt nhưng ít được dùng là kích dục tố màng đệm hoặc kích
dục tố nhau thai, được Zondec và Aschheim phát hiện từ năm 1927 trong nước tiểu

phụ nữ có thai. HCG có tác dụng duy trì thể vàng sau khi rụng trứng do LH. (Nguyễn
Tường Anh, 1999). Cũng như các kích dục tố khác, HCG là một glycoprotein tan
trong nước.
Có thể nói HCG là loài kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loại cá
nhất. Ngoài các loài cá mè, các loài cá trê, HCG có tác dụng gây rụng trứng cho các
loài cá khác cá trôi, cá bống…. Ở nước ngoài, HCG còn được dùng cho cá chình
(Yamamoto, Nagahama, 1973), cá nheo mang túi Ấn Độ (Sundararaj, Goswami,
1966), cá vượt vằn (Stevens, 1967), cá sóc (Hyrose, 1972), cá bơn
(Zenzerov,1982)…(Nguyễn Tường Anh, 1999).
Nước ta đã nghiên cứu ứng dụng HCG kích thích thích sinh sản thành công trên nhiều
đối tượng. Cá Mè Trắng là 1500-2000 UI (chế phẩm HCG của Trung Quốc) theo quy
trình kĩ thuật nuôi cá nước ngọt (Vụ khoa học kỹ thuật, 1976), (trích, Nguyễn Tường
Anh. 1999). Cá Lóc (Ophicephalus striatus), liều sơ bộ 500 UI/kg, liều quyết định
1200 – 1500 UI/kg, tiêm cách liều sơ bộ từ 12-24h (Phạm Văn Khánh, 2005). Cá rô
đồng (Anabas testudineus) liều tiêm 1500-2000 UI/kg cá cái, cá đực bằng 50% liều
dùng cho cá cái, chỉ tiêm một lần.
Trong những năm gần đây HCG được nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số đối tượng
có giá trị kinh tế cao. Kích thích cá lóc bông (Channa micropeltes) sinh sản, kích dục
tố HCG được tiêm 2000-3000 UI/kg cá đực và 500 UI cho cá cái, tiêm cá đực trước
khi tiêm cá cái (Bùi Minh Tâm, Nguyễn Thanh Phương và Dương Nhựt Long, 2008).
Lươn Đồng (monopterus albus) lươn bố mẹ được tiêm HCG liều 2000 UI/kg, tỷ lệ thụ
tinh cao 86%. Kết quả nghiên cứu ở cá vồ đém, kích dục tố HCG được sử dụng kích
thích sự rụng trứng ở cá, kích thích đường kính trứng phát triển bằng liều lượng thấp
500 UI/kg/ngày. Sau đó kích thích sự rụng trứng của cá với liều lượng cao 1500 và
2500 UI/kg cá. Sức sinh sản giao động 9.870-74.050 trứng/kg cá cái. Tỷ lệ thụ tinh
20,2-87,7% và tỷ lệ nở từ 50,6-63,7% (Đỗ Thị Thanh Hương và csv, 2008).
2.2.2 Não thùy cá chép
Não thùy thể (Cá chép) được lấy từ những cá chép thành thục còn tươi sống, càng gần
thời điểm sinh sản thì hoạt tính kích dục của não thùy càng cao.
Cá đẻ nhờ kích thích bằng GnRH hoặc các loại antiestrogen như clomiphen citrate,

tamoxifen thì não thùy hình như không còn hoạt tính kích dục. Kích dục tố nội tiết từ
tuyến yên chủ yếu đã tiết ra đẻ gây chín, rụng trứng hoặc tiết tinh cho chính nó.
15
Ngược lại cá đã sinh sản bằng kích dục tố ngoại sinh hoặc cá loại hormon steroid thì
não thùy vẫn còn hoạt tính kích dục. Việc định lượng não thùy cho cá bố mẹ tùy thuộc
vào nhiều yếu tố chất lượng hoạt tính của não thùy, mức độ thành thục của cá được
tiêm, nhiệt độ nước (Nguyễn Tường Anh, 1999).
2.2.3 LHRH_a
Ngoài ra còn có GnRH-A là những chất tổng hợp tương tự hormone phóng thích kích
dục tố từ tuyến yên. Trong nghề nuôi cá, người ta thường dùng mGnRH-A (hay còn
gọi là LHRH_a là chất tương tự GnRH-A của động vật có vú) sGnRH-A (chất tương
tự GnRH của cá hồi) và một chất kháng dopamin (Nguyễn Tường Anh, 1999). Có thể
nói tất cả các GnRH_a đều có tác dụng kích thích cá sinh sản cho tất cả các loài. Tính
đặc hiệu theo loài chỉ thể hiện ở mức hoạt tính, không có loại GnRH-A nào lại không
có hoạt tính trên cá. Ở cá bố mẹ, sau khi tiêm GnRH-A và đẻ xong thì tuyến yên
không còn kích dục tố. Não thùy cá bố mẹ sau khi đẻ nhờ được kích thích bằng
GnRH-A không còn hoạt tính kích dục và không thể làm chế phẩm kích dục cho cá
(Nguyễn Thành Trung, 1999).
2.2.4 Dom (Domperidone)
Là chất kết hợp với LHRH_a để ức chế sự tiết Dopamine. Motilium là một trong
những sản phẩm thương mại của Doperidone được sản xuất trong nước (Nguyễn Văn
Kiểm, 2004).
2.3 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng
2.3.1 Những nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng trên thế giới
Cá rô đồng (Anabas testudineus) là loài cá rất quan trong trong trong khu vực Đông
Nam Châu Á. Vì vậy việc nghiên cứu sản xuất giống trên đối tượng này đã và đang
được quốc gia trong khu vực này rất quan tâm.
Nghiên cứu đặc điểm cá rô đồng cho thấy cá rô đồng là loài cá thích ứng rộng với
điều kiện khí hậu nhiệt đới vào mùa khô thậm chí lúc thời tiết khô hạn cá cũng có thể
sống được (Potongkam, 1971).

Doolgindachabaporn (1994) đã nghiên cứu cho đẻ thành công cá rô đồng (Anabas
testudineus) và khuyến cáo rằng thức ăn có hàm lượng đạm 30,6% là thức ăn tốt nhất
cho sinh trưởng và tỉ lệ sống cá rô đồng giai đoạn cá giống. Yakupitiyage et al (1998)
nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản giống cá rô đồng và từ đó hoàn toàn chủ động về
con giống cá rô đồng cho nhu cầu của người nuôi.
Doolgindachabaporn (1994) đã thử nghiệm nuôi cá rô đồng trong ao, sử dụng phụ
phẩm nông nghiệp và đạt năng suất và đạt năng suất khoảng 10 kg/100m
2
sau 3 tháng
nuôi. Theo Ray và Patra (1989) đánh giá ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng đạm
16
35% phối hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau lên sinh trưởng cá rô đồng. Về
dinh dưỡng và thức ăn, Sangrattanakhul (1989) đánh giá ảnh hưởng của thức ăn có
hàm lượng đạm khác nhau lên sinh trưởng của cá rô đồng giai đoạn cá hương.
Potongkam (1972) và Mangklamance (1986) cho rằng thức ăn (cá tạp và thức ăn viên)
ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng cá rô đồng 0,5-0,9 g/ngày trong nuôi ao đất.
2.3.2 Những nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng ở Việt Nam
Để nâng cao hiệu quả sản xuất giống bằng cách sinh sản nhân tạo, đáp ứng nhu cầu
nuôi thì việc kích thích cá đẻ bằng các chế phẩm sinh học ngày càng được mở rộng,
trên thị trường hiện nay có nhiều loại hormon kích thích cá đẻ nhưng có một số loại
mang lại hiệu quả cao như não thùy, HCG (Human Chorionic Gonadotropin). Ngoài
ra còn có một số loại chế phẩm có tên thương mại như: Ovaprim (hỗn hợp của
LHRH_a hoặc sGnRH với Domperidone).
Nguyễn Thành Trung (1999) đã nghiên cứu cho đẻ thành công cá rô đồng và có thể
cung cấp khá chủ động nguồn cá giống cho nhu cầu nuôi thương phẩm cá rô đồng ở
nước ta. Hormon sử dụng kích thích cá rô sinh sản là gồm LRH_a + DOM với các liều
lượng tùy thuộc vào mức độ thành thục sinh dục của cá bố mẹ nuôi vỗ dao động từ
60-100 μg/kg cá cái và liều lượng hormon kích thích sinh sản dùng cho cá đực thường
bằng 1/3 liều dùng cho cá cái (Phạm Văn Khánh, 1999).
Theo Nguyễn Văn Triều (1999), nghiên cứu qui trình sản xuất giống cá rô đồng, kết

quả cho thấy để kích thích cá sinh sản đạt sức sinh sản cao, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở
cao với liều lượng hormon như: Não thùy cá chép (8 mg/kg), HCG (3000 UI/kg),
LHRH_a (50

g/kg).
Theo Đàm Bá Long (2005) nghiên cứu đặc điểm sinh học và thử nghiệm đẻ nhân tạo
cá rô đồng tại Khánh Hòa đã kết luận: cá rô đồng thành thục ngoài tự nhiên có khối
lượng trung bình 26,89 g ở cá cái và 16,16 g ở cá đực. Mùa sinh sản của cá rô đồng
ngoài tự nhiên kéo dài quanh năm, hệ số thành thục sinh dục của cá cái đạt 6,27±2,34
% và ở cá đực là 1,09±0,24 %, sức sinh sản tuyệt đối là 16.016±3.767 trứng/cá cái. Cá
nuôi vỗ trong giai với mật độ 0,5-1 kg/m
3
thành thục sau 20-25 ngày nuôi, thời gian
nuôi tái phát dục là từ 12-15 ngày, tỉ lệ thành thục đạt 95,24 % ở cá đực và 76,50 % ở
cái. Với liều lượng 50 μg LRH_a + 5 mg DOM/kg cá cái, những cá cái đẻ trong bể xi
măng có thời gian hiệu ứng kích dục tố dao động từ 7h-7h30. Sức sinh sản thực tế của
cá rô đồng thành thục ngoài tự nhiên là 935 trứng/g cá cái sai khác có ý nghĩa (P <
0,05) sức sinh sản thực tế của cá rô đồng thành thục trong điều kiện nhân tạo (đạt 807
trứng/g cá cái). Cá rô đồng thành thục ngoài tự nhiên cũng cho các chỉ tiêu: tỉ lệ thụ
tinh, tỉ lệ nở của trứng cao hơn cá rô đồng thành thục trong điều kiện nhân tạo.
Hiện nay nhiều người đã sử dụng nhiều loại hormon để kích thích cá rô sinh sản và
đạt hiệu tương đối tốt như dùng HCG với liều 3000 UI/kg, nhiệt độ 25
0
C cá đẻ 100%
17
thời gian hiệu ứng thuốc là 7-13 giờ, tỉ lệ thụ tinh 97,2%, tỉ lệ nở 98,56% hoặc khi sử
dụng LHRH_ a liều 70 µg ở nhiệt độ 25,5
0
C cá đẻ 100%, thời gian hiệu ứng thuốc
6,15 giờ, tỉ lệ thụ tinh 96,7%, tỉ lệ nở 99,32% (Nguyễn Văn Triều, 2001).

Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phúc (2000) dùng HCG ở liều lượng 2500 UI/kg,
thời gian hiệu ứng thuốc 22,5 giờ, sức sinh sản đạt 458,982 trứng/kg cá cái, tỉ lệ thụ
tinh 83%, tỉ lệ nở 94,3%. Khi sử dụng LHRH_ a ở liều 40 µg ở nhiệt độ 21-22
0
C thời
gian hiệu ứng thuốc 23,55 giờ, tỉ lệ thụ tinh 52,5%, tỉ lệ nở 85%.
Nghiên cứu của Trần Thị Trang (2001) khi cho cá sinh sản nhân tạo bằng HCG với
liều 3000 UI/kg cá cái thì cá có sức sinh sản 658.864 trứng/kg cá cái, tỉ lệ thụ tinh
97,16%, tỉ lệ nở là 99,87%. Khi sử dụng não thùy ở liều 8 mg/kg cho tỉ lệ đẻ 100%,
sức sinh sản 822,416 trứng/kg cá, tỉ lệ thụ tinh 89,96%, tỉ lệ cá bột 96,9%.
Từ những nghiên cứu của các giả trên cho thấy hiệu quả của các loại kích thích tố cho
cá sinh sản nhân tạo rất hiệu quả và để ngày càng hoàn thiện hơn trong sinh sản nhân
tạo cá rô bằng kích thích tố nghiên cứu này nhằm mở rộng ứng dụng sự kết hợp của
các loại kích thích kích tố ở liều lượng khác nhau nhằm xác định được ảnh hưởng của
các loại hormon ở các liều lượng khác nhau lên các chỉ tiêu sinh sản và tìm ra được
loại kích thích tố có liều lượng thích hợp ứng dụng trong sinh sản nhân tạo cá rô đồng.
18
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện
Đề tài được thực hiện từ 8/3/2010 đến 30/6/2010
Địa điểm thực hiện
Tại trại cá Danh Lợi - Ô Môn - Thành phố Cần Thơ
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Kích dục tố kích thích sinh sản
Thùng mớp
Lưới, vợt vớt cá
Ống và kim tiêm
Cối, chày dùng để nghiền thuốc

Nước muối sinh lý
Máy sục khí
Khay ấp trứng
Ống đong trứng
Dụng cụ đo nhiệt độ, pH…và các trang thiết bị khác cần thiết cho nghiên cứu
sinh sản.
Kích thích tố sử dụng là: não thuỳ, LHRH_a, HCG và Motilium
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Tiêu chuẩn chọn cá bố mẹ
Chọn cá rô có cơ thể khỏe mạnh, không dị tật, dị hình, không xây xát, kích thước
đồng đều đạt trọng lượng 10-15 con/kg. (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Chọn cá đực: Cá đực thon dài, cá đực có kích thước nhỏ hơn cá cái cùng lứa tuổi, khi
phát dục cá rô đực có gai hậu môn dài hơn gai hậu môn của cá cái và màu sắc sặc sở
hơn, khi vuốt nhẹ gờ bụng thấy có tinh dịch màu trắng đục chảy ra.
Chọn cá cái: Cá cái thành thục tốt là cá có bụng to, mềm đều, lổ sinh dục hơi lồi có
màu hồng. Đồng thời có thể kết hợp với vuốt trứng để kiểm tra, trứng phải tròn đều,
kích thước từ 0,7-1 mm.
Nguồn cá bố mẹ được nuôi vỗ trong ao.
19
3.3.2 Pha thuốc và cách tiêm
Não thùy được lấy từ lọ đặt vào trong tờ giấy sạch, chờ cho bốc hơi hết acetone thì
cho vào trong cối sứ, dùng chày chà nhuyễn não thùy bột nhão dùng kim tiêm bơm
nước lọc vào pha trộn cho đều với thể tích cần dùng.
Khi dùng các loại kích tố như HCG, LHRH_a thì dùng bơm tiêm bơm nước lọc với
thể tích cần dùng vào lọ rồi lắc nhẹ. Đối với lọ chứa HCG ta dùng thêm một kim tiêm
xuyên qua nút đậy để thông hơi, thuận lợi cho quá trình pha và lấy thuốc ra.
Khi kết hợp HCG với não thùy thì pha HCG trước, sau đó dùng dung dịch HCG để
hoà tan và trộn với não thùy đã được ngà nhuyễn.
Vị trí tiêm cá: dùng khăn sạch và khô để bắt cá, để cá nằm ngửa trong lòng bàn tay và
tiêm ở dưới gốc vi ngực. Mũi kim tiêm hướng về phía đầu cá và tiêm sâu chừng 0,5-1

cm. Tiêm xong cho cá vào bể đẻ hoặc thau có chứa nước sạch.
Mực nước trong các dụng cụ cho đẻ trung bình 20-30 cm. Sau khi thả cá vào những
dụng cụ cho đẻ cần phải dùng lưới phủ lên trên tránh khi cá đẻ nhảy ra ngoài. Sau khi
tiêm thuốc khoảng 7-10 giờ cá sẽ đẻ trứng. Chờ cá đẻ xong, vớt trứng sang bể ấp ở
nơi khác.
3.3.3 Ấp trứng
Nguồn nước ấp trứng trong và mát, không bị ô nhiễm, và phải lọc qua vải mịn để loại
trừ sinh vật hại trứng.
Có thể dùng bồn composite, bể xi-măng để ấp trúng cá rô đồng. Mực nước ấp trứng
trung bình 40-60 cm. Do trứng cá rô đồng nổi trên mặt nước, do đó diện tích ấp trứng
chiếm 2/3 diện tích mặt nước. Trong quá trình ấp trứng cần bảo đảm oxy cho trứng,
lượng oxy hoà tan trung bình 3-4 mg/l.
3.3.4 Bố trí thí nghiệm
Đề tài gồm 3 thí nghiệm, mỗi thí nghiệm có 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp
lại 3 lần với tỷ lệ đực cái 1:1. Liều lượng hormon dùng cho cá đực bằng 1/3 liều tiêm
cá cái (Nguyễn Văn Kiểm, 1999; Phạm Văn Khánh, 1999). Thí nghiệm được bố trí
trong thùng mớp, không sục khí và kích dục tố thực hiện được mô tả (Bảng 3.1).
20
Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm
Thí
Nghiệm
Hormon kết hợp
Nghiệm
thức
Liều lượng
I HCG (UI) + Não thùy (mg)
1 2000 UI + 12 mg
2 2500 UI + 12 mg
3 3000 UI + 12 mg
II LRH-a (µg) + Motilium (mg)

1 50 µg + 10 mg
2 100 µg + 10 mg
3 150 µg + 10 mg
III Não thùy (mg) + Motilium (mg)
1 4 mg + 5 mg
2 6 mg + 5 mg
3 8 mg + 5 mg
3.3.5 Tiến hành thí nghiệm
Sau khi tiêm kích dục tố xong, cá được cho vào thùng, với tỉ lệ đực cái là 1:1, mỗi
thùng gồm 2 cặp cá, dùng lưới đậy cận thận.
Theo dõi khi nào cá đẻ xong, vớt trứng đem ra bể ấp, trong quá trình ấp có sục khí.
Hình 3.1: Bố trí cá rô đồng sinh sản trong thùng mớp
21
3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Các chỉ tiêu môi trường
Các chỉ tiêu môi trường như: Nhiệt độ, pH, Oxy hòa tan, NH
3
, NO
2
, kiềm tổng được
kiểm tra bằng bộ test (Sera của Đức) thu thập lúc 8 giờ sáng và 14 giờ chiều trong
suốt thời gian thí nghiệm.
3.4.2 Các chỉ tiêu sinh sản
- Thời gian hiệu ứng thuốc: là thời gian tính từ lúc tiêm cá xong đến lúc phát hiện cá
đầu tiên rụng trứng, tại một nhiệt độ nước trung bình nào đó.
Số cá đẻ
- Tỉ lệ cá đẻ (%) = x 100 (3.1)
Tổng số cá cho tham gia sinh sản
Số trứng cá đẻ ra
- Sức sinh sản tương đối = (Số trứng/kg cá cái) (3.2)

Trọng lượng cá đẻ
Tổng số trứng thụ tinh
- Tỉ lệ thụ tinh (%) = x 100 (3.3)
Tổng số trứng quan sát
Tổng số trứng nở
- Tỉ lệ nở (%) = x 100 (3.4)
Tổng số trứng thụ tinh
Tổng số cá bột sau 3 ngày
- Cá bột thu được (%) = x 100 (3.5)
Tổng số cá nở
3.5 Xử lý số liệu
Các phép tính trung bình độ lệch chuẩn của các số liệu được xử lý trên Excel.
22
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
4.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao cũng làm ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi dẫn đến
chất dự trữ mỡ cạn kiệt mà tuyến sinh dục là nguồn dự trữ để duy trì sự sống của cá.
Trong trường hợp này, tuyến sinh dục ngưng phát triển và tiêu biến, sự sinh sản bị ảnh
hưởng xấu, đối với mỗi loài cá có khoảng nhiệt độ phù hợp cho tuyến sinh dục phát
triển và sinh sản. Ngoài ra nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới thời gian hiệu ứng thuốc của
cá. (Nguyễn Tường Anh, 1985).
Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ trong các bể cá không biến động lớn, trại có
mái che và mực nước giữ ổn định. Nhiệt độ biến động giữa các nghiệm thức không
đáng kể, trung bình thấp nhất là 25±1,3
0
C đến trung bình cao nhất là 26±1,5
0
C (Bảng

4.1). Sự thay đổi này không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Theo Trương Quốc
Phú (2006) thì nhiệt độ thích hợp cho các loài cá nhiệt đới là 25 – 30
0
C.
Bảng 4.1: Các chỉ tiêu môi trường trong thời gian thí nghiệm
Chỉ tiêu Nhiệt độ
(
0
C)
pH Oxy
(mg/l)
Nitrite
(mg/l)
NH
3
(mg/l)
Kiềm
tổng
Sáng 25± 1,3 7,4 ± 0,4 4,2 ± 0,2 0,2 ± 0,3 0,6 ± 0,3 66,3 ± 4,1
Chiều 26 ± 1,5 7,5 ± 0,4 4,2 ± 0,2 0,2 ± 0,2 0,4 ± 0,3 67,2 ± 3,8
4.1.2 pH
pH là một trong những nhân tố môi trường ảnh hưởng lớn trực tiếp và gián tiếp đối
với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản, dinh dưỡng. pH thích
hợp cho cá có thể thành thục và sinh sản dao động từ (6,8-8,5). Hầu hết trứng các loại
cá đều không có khả năng tồn tại trong môi trường pH quá cao hay quá thấp, quan
trọng nhất là pH phải ổn định, bất kỳ sự thay đổi nhỏ nào của pH cũng làm cho trứng
ngừng phát triển (theo Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Theo Đặng Ngọc Thanh (1974), pH có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của động
vật thủy sản. Trong thời gian thí nghiệm pH không thay đổi đáng kể, pH giữa sáng và
chiều chỉ nằm trong khoảng 7,6±0,5 (Bảng 4.1). Kết quả này thích hợp cho sự sinh

sản của cá rô đồng.
23
4.1.3 Oxy hòa tan (DO)
Cá rô là loài cá có cơ quan hô hấp phụ nằm trong khoang mang nên có thể sống được
ở những nơi có hàm lượng O
2
thấp (Dương Nhựt Long, 2003). Tuy nhiên nếu hàm
lượng oxy hòa tan thấp sẽ ảnh hưởng xấu tới sự thành thục và phẩm chất sinh dục.
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004), hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu trong nước để đảm
bảo cho hoạt động bình thường cá phải từ 3-4 mg/l. Trong thời gian thí nghiệm khi cá
bắt đầu nở luôn được sục khí nên đảm bảo hàm lượng O
2
tốt cho cá bột, hàm lượng
oxy hòa tan biến động giữa các nghiệm thức từ 4,3±0,3 mg/l. (Bảng 4.1 xem chi tiết ở
phụ lục B)
4.1.4 Nitrite (NO
2
)
Là dạng rất độc cho cá tôm nói chung. Độc tính của NO
2
là do khả năng làm giảm
hoạt tính của hemoglobin trong máu cá gây bệnh thiếu máu cá. Theo Trương Quốc
Phú (2006), giá trị LC
50
- 6h của nitrite đối với các loài cá nước ngọt là từ 0,66-200
mg/l. Theo kết quả phân tích, hàm lượng NO
2
ở các bể thí nghiệm biến động cao nhất
từ 0,4±0,2 mg/l, thấp nhất 0,2±0,2 mg/l. (Bảng 4.1 xem chi tiết ở phụ lục B). Kết quả
kiểm tra NO

2
tương đối tốt, không ảnh hưởng đến thí nghiệm.
4.1.5 NH
3
Cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, sinh trưởng đối với thủy sinh vật.
NH
3
rất độc với thủy sinh vật (Downing và Markin, 1975 trích bởi Trương Quốc Phú,
2006). Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) NH
3
thích hợp cho sinh sản cá nước ngọt là
0,1–0,5 mg/l.
Qua bảng 4.5 ta thấy hàm lượng NH
3
trong suốt quá trình thí nghiệm dao động trong
khoảng cao nhất từ 0,6±0,3 mg/l. Tuy có phần hơi cao hơn so với nồng độ cho phép
nhưng tồn tại trong thời gian ngắn do các bể được sục khí thường xuyên nên ít ảnh
hưởng đến tỉ lệ sống của cá.
4.1.6 Kiềm tổng
Theo Lý Vĩnh Phước (2005) kiềm tổng thích hợp cho sinh sản và ấp trứng cá rô đồng
là 68-102. Theo kết quả bảng 4.6 ta thấy kiềm tổng trong thí nghiệm dao động các thí
nghiệm thấp nhất (63±3,6) và cao nhất (68±4,6). Tuy kết quả phân tích trong các thí
nghiệm có độ kiềm thấp hơn nhưng không đáng kể nên ít ảnh hưởng đến các chỉ tiêu
sinh sản. Theo Lê Văn Cát (2006), độ kiềm trong nước ít có tác động trực tiếp đến đời
sống của các loài thủy động vật mà tác động lên các yếu tố có liên quan và ảnh hưởng
trực tiếp hơn cũng như ảnh hưởng đến sinh thái của ao hồ.
24
4.2 Kết quả kích thích cá sinh sản
4.2.1 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng (HCG + Não thùy)
Qua Bảng 4.2, Hình 4.1 và Hình 4.2 cho thấy, khi cho cá sinh sản bằng kích thích tố

(HCG + Não thùy) với 3 liều lượng khác nhau đều có tác dụng kích thích cho cá rô
sinh sản.
Bảng 4.2: các chỉ tiêu sinh sản của thí nghiệm HCG + Não thùy
Chỉ tiêu quan sát Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3
2000 UI + 12 mg 2500 UI + 12 mg 3000 UI + 12 mg
Thời gian hiệu ứng thuốc (h) 15,5 15,30 15,25
Tỉ lệ cá đẻ (%) 100±0 100±0 100±0
Sức sinh sản (%) 338.834±683 414.220±1.334 717.148±2.189
Tỉ lệ thụ tinh (%) 95±1 94±0,6 86±1,5
Tỉ lệ nở (%) 95±1,5 92±1,5 90±0,6
Tỉ lệ sống (%) 99±1 99±1,5 98±1
HCG + Não thùy
95.0
94.3
86.3
95.3
92.3
89.7
99
98.7
98
100 100 100
75.0
80.0
85.0
90.0
95.0
100.0
105.0
2000 UI + 12 mg 2500 UI + 12 mg 3000 UI + 12 mg

Liều lượng
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ thụ tinh
Tỷ lệ nở
Tỷ lệ sống
Tỷ lệ cá đẻ
Hình 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố lên một số chỉ tiêu sinh sản của cá
rô đồng
Thời gian hiệu ứng thuốc của cá trong thí nghiệm dùng kích thích tố (HCG + Não
thùy) dao động từ 15h5-15h30. Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc
25
Phúc (2000), dùng ở liều lượng 2500 UI/kg, thời gian hiệu ứng thuốc 22h5, trong khi
kết quả nghiên cứu được tiến hành dùng HCG kết hợp với não thùy có thời gian hiệu
ứng thuốc ngắn hơn nhiều, nguyên nhân dẫn đến sự sai khác là do thí nghiệm của
Nguyễn Ngọc Phúc thực hiện vào cuối mùa sinh sản (tháng 10) còn thí nghiệm trên
được thực hiện đầu mùa sinh sản (tháng 4) cá thành thục tốt. Đồng thời do Nguyễn
Ngọc Phúc thực hiện thí nghiệm nhiệt độ (21-22
0
C) và không kết hợp với não thùy
còn thí nghiệm trên được tiến hành lúc nhiệt độ dao động trong khoảng 25-26
0
C nhiệt
độ này cũng tương đối thích hợp cho sinh sản cá rô đồng và có kết hợp với não thùy
nên kích thích quá trình chín và rụng trứng nhanh hơn.
Sau khi tiêm HCG + Não thùy, tỉ lệ đẻ cá rô đồng ở 3 liều (Bảng 4.2) rất cao đều đạt
100% là do nguồn cá bố mẹ được nuôi vỗ thành thục khá tốt, ngoài ra thí nghiệm còn
được tiến hành vào đầu mùa sinh sản. Theo Nguyễn Thành Trung (1999) HCG có tác
dụng gây rụng trứng ở nhiều loài cá và các yếu tố môi trường (Bảng 4.1) cũng tương
đối ổn định cho quá trình chín và rụng trứng vì theo Nguyễn Thành Trung (1999) yếu
tố môi trường ảnh hưởng đáng kể đến quá trình chín, rụng trứng và tiết tinh ở cá và

thời gian cho cá đẻ đầu mùa sinh sản (tháng 4).
HCG + Não thùy
338834.0
414220.3
717148.3
0.0
100000.0
200000.0
300000.0
400000.0
500000.0
600000.0
700000.0
800000.0
2000 UI + 12 mg 2500 UI + 12 mg 3000 UI + 12 mg
Liều lượng
số lượng trứng
Sức sinh sản tuơng đối
Hình 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (HCG + Não thùy) lên sức sinh sản
tương đối của cá rô đồng.

×