Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam với các nước Nam Á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.01 MB, 91 trang )

p

TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
HÀ NỘI
KHOA
KINH

NGOẠI
THƯƠNG
FOREIGN
TRADE
UNIVERSiry
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
mề
tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
QUAN
HỆ
KINH TẾ
THƯƠNG
MẠI
GIỮA
VIỆT
NAM
VỚI


CÁC
NƯỚC
NAM Á
Sinh viên thực hiện
Lớp
Giáo viên hướng dẫn
Đinh Thị
Thu
Hiển
A4
-
K40A
-
KTNT
GV.

Đức
Cưng
ntírviittli Ị

(.•êMSO'À'1
lÀLùáấẻ
IM1
HẢ
NỘI
-
2005
Đinh
Thị
Thu Hiền-LớpA4-K40A- KTNT

Khoa
luận
tốt
nghiệp
mạc Lạc
Trang
LỜI
NÓI ĐẦU Ì
CHƯƠNG
ì:
Tổng
quan
về
thị
trường Nam Á 3
ì.
Điều
kiện tự
nhiên và xã
hội
3
1.
Vịtríđịa

3
2.
Lịch
sử,
tôn giáo và văn hoa 5
li.

Tinh
hình
kinh
tế-
thương
mại của
các nước
khu vực
Nam Á 6
1.
Tổng quan chung 6
1.1. Kinh
tế.
6
1.2.
Thương
mại
8
2.
Tình hình kinh tế- thương mại của một số nước khu vực Nam Á 10
2.1.
Ấn Độ 10
2.2.
Pakistan
13
2.3. Bangladesh
15
2.4.
Srilanka
17

in.
Sự
cần
thiết
phát
triển
quan
hệ
kinh tế
-
thương mại
gia
Việt
Nam vói
các nước
khu vực
Nam Á 19
CHƯƠNG
li:
Quan hệ
kinh tế
thương mại
gia
Việt
Nam vói một số nước
khu vực
Nam Á 22
ì.
Quá trình phát
triển

quan
hệ
kỉnh
tế
thương mại
gia
Việt
Nam
với
một
số
nước
khu vực
Nam Á 22
1.
Quan hệ
Việt
Nam -Ân Độ 22
2. Quan hệ
Việt
Nam -
Pakistan
26
Đinh
Thị
Thu Hiên-LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
3.

Quan hệ
Việt
Nam —
Bangladesh
28
4.
Quan hệ
Việt
Nam
- Sri
Lanka 30
li.
Thực
trạng
quan
hệ
kinh tế
thương mại
giữa Việt
Nam
với
một
số
nước
khu
vực
Nam Á
trong
những
năm

gần
đây 32
1.
Ấn Độ 32
2.
Pakistan
37
3.
Bangladesh
40
4.Srilanka 43
IU.
Đánh giá khả năng phát
triển
quan
hệ
kinh tế
thương mại
giữa Việt
Nam
vói
các nước
khu vực
Nam Á 46
1.
Thuận
lợi
46
2.
Khó khăn 48

CHƯƠNG
ni:
Giải
pháp nhằm phát
triển
quan
hệ
kinh

thương mại
giữa
Việt
Nam
với
các nước khu
vực
Nam Á 51
ì. Triển
vọng
phát
triển
quan
hệ
kinh tế
thương mại
giữa Việt
Nam
với
các
nước

khu vực
Nam Á 51
li.
Giải
pháp nhằm phát
triển
quan
hệ
kinh tế
thương mại
Việt
Nam
với
các
nước
khu vực
Nam Á 53
1.

cấp
độ
vĩ mô 53
1.1.
Tăng
cường
quan hệ
ngoại
giao
với
các nước

thuộc
khu vực
Nam Á 53
Ì .2.
Củng
cố khung
pháp
lý cho quan hệ
thương
mại
54
Ì .3.
Tăng
cường,
nâng
cao
chất
lưng
hoạt
động
của
các
tham tán

đại
diện
thương
mại
Việt
Nam ở

thị
trường
Nam Á 55
Ì .4.
Tăng cuông công
tác
thông
túi
56
1.5.
Hỗ
tr
tài
chính 57
Đinh
Thị
Thu Hiền-LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
1.6.
Nâng cao
quyền
kinh
doanh

vai
trò cho các
doanh

nghiệp
trong
hoạt
động mở
rộng thị
trường
xuất
nhập
khẩu
mới Nam Á 5!
Ì
.7.
Phát
triển
nguồn
nhân
lực
6(
1.8.
Cần đẩy
mạnh
hoạt
động xúc
tiến
thương mại (XTTM) ở
cấp
Chính
phủ
6]
2.

Ớ cấp độ
vi
mô 6 í
2.1. Tiếp cận,
phân tích thông
tin
để thâm
nhập
thị
trường các nước
thuộc
khu vực
Nam Á 62
2.2.
Tăng cường
tiếp
xúc
với thị
trường
xuất
nhập
khẩu
mới 64
2.3.
Chủ động xây
dựng
chiến
lưỗc
kinh
doanh


chiến
lưỗc
thị
trường 64
2.4.
Sử
dụng
các
dịch
vụ hỗ
trỗ
xuất
khẩu
65
2.5.
Nâng cao
vai
trò của
Hiệp hội
ngành hàng 66
IU.
Một số
kiến
nghị về phát
triển
quan hệ
kinh
tế
- thương mại

giữa
Việt
Nam
với
các nước khu vực Nam Á 67
KẾT
LUẬN
69
Đinh
Thị
Thu Hiền-LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Lời
nùi
mu.
Phát
triển thị
trường
xuất
khẩu

một
trong
những
nội
dung
quan

trọng
của chiến
lược
xuất
khẩu,
một
yếu tố
góp
phần
nâng
cao khả
năng
cạnh
tranh
của nền kinh
tế,
của
ngành,
doanh
nghiệp, của
các
sản
phẩm hàng
hoa

dịch
vụ trong
tiến
trình
hội

nhớp.
Đồng
then
phát
triển
thị
trường
xuất
khẩu
còn là
một vấn
đẻ
quan
trọng trong
đưòng
lối
phát
triển
kinh
tế
theo
định
hướng
xuất
khẩu
đối với
Việt
Nam
hiện nay.
Để

phát
triển
thị
trường
xuất
khẩu
một mặt cần
phải từng
bước nâng
cao
khả năng
chiếm
lĩnh
các
thị
trường
truyền
thống,
mặt khác
cần phải
tìm
cách thâm
nhớp
vào các
thị
trường
mới, thị
trường
tiềm
năng.

Nam Á

một
khu vực
thị
trường
còn khá mới và đầy
tiềm
năng
đối với
Việt
Nam.
Trong
thời
gian qua,
quan
hệ thương mại
giữa
Việt
Nam
với
các
nước
thuộc
khu vực
thị
trường này còn hạn
chế,
kim
ngạch

buôn bán còn ở
mức nhỏ
bé,
chưa tương
xứng
với tiềm
năng
vốn

của
các
bên.
Một
số
mặt
hàng nông
sản của
Việt
Nam như
gạo, hạt
tiêu,
chè,
cà phê và một
số
các mặt
hàng
tiêu
dùng khác như
da
giày,

hàng may
mặc,
hàng
điện
tử
đã có mặt
tại
một số
nước
của thị
trường
này.
Nhìn
chung,
các mặt hàng trên đã
phần
nào
thỏa
mãn được các yêu
cầu về chất
lượng

thị
hiếu
tiêu
dùng
của
người
dân
nước

sở
tại,
song
số
lượng
không đáng kể
lại
chưa đáp ứng được một cách ổn
định
thường xuyên nên chưa
tạo ra chỗ
đứng ưên
thị
trường.
Để
tăng cường
quan
hệ kinh
tế
thương
mại giữa
Việt
Nam
vói
các nước
khu vực
Nam
Á,
trước
hết cần phải

tiến
hành tìm
hiểu,
nghiên
cứu
thị
trường,
phân tích
những
đặc
điểm,
chỉ
ra
nguyên nhân làm cản
trở
sự phát
triển
thương mại
giữa
Việt
Nam
với
các nước này. Trên cơ sở đó dề
ra
các
giải
pháp
thiết
thực
nhằm phát huy

những
ưu
thế sẵn có,
thâm
nhớp
thành công
vào
thị
trường
Nam Á.
Xuất
phát
từ
nhớn
thức
trên,
sau
khi
tìm
hiểu
và nghiên
cứu,
em
xin lựa
chọn
đề
tài:
"Một số
giải
pháp nhằm

phát triển
quan hệ
kinh
tế
thương
mại
Ì
Đinh
Thị
Thu Hiền-LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt nghiệp
giữa Việt
Nam
với
các
nước Nam Á
"
để hoàn thành
khoa
luận
tốt
nghiệp
của
mình.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nêu lên
những
nét
tổng

quan
về khu vực
thị
trường Nam Á, đánh giá
thực trạng
quan
hệ
kinh
tế
thương mại
của
một số nước tiêu
biểu trong
khu vực
với
Việt
Nam
thời
gian
gản đây,
từ
đó đề
xuất
một
số
giải
pháp và
kiến
nghị
nhằm thúc đẩy

quan
hệ
kinh
tế
thương
mại
giữa
Việt
Nam và các nước
thuộc thị
trường này.
Đối
tượng
nghiên
cứu của
đề
tài

thực trạng
về quan hệ
kinh
tế
thương
mại,
hơn nữa chủ yếu
lại

thương mại hàng
hoa,
tình hình

xuất
nhập khẩu
hàng
hoa,

cấu
mặt hàng
xuất
nhập
khẩu,
các bạn hàng
chủ yếu của
một số
nước
thuộc thị
trường Nam Á.
Trong
quan
hệ
kinh tế
thương mại
giữa
khu
vực thị
trường
này
với
Việt
Nam
thì

đề
tài
cũng
chỉ tập trung
nghiên
cứu quan
hệ
thương
mại
hàng
hoa,
còn thương mại
dịch
vụ,
đảu
tư,
sở hữu
trí
tuệ
thì
chưa có
điều
kiện
đề
cập đến.
Phạm
vi
nghiên
cứu của
để

tài

các nước
thuộc thị
trường
Nam
Á,
tuy
nhiên đề tài chỉ tập
trung
vào bốn nước chủ yếu là Ấn Độ,
Pakistan,
Bangladesh

Sri
Lanka.
Dựa
trên

sở đó,
dề
tài của
em
bao
gồm
những
nội
dung chủ yếu
như
sau:

Chương
ĩ;
Tổng quan
về
thị
trường
Nam Á
Chương
lĩ;
Quan hệ
kinh
tế
thương
mại
giữa Việt
Nam
với
một số
nước khu
vực
Nam Á
Chương ni: Một số
giải
pháp nhằm phát
triển
quan hệ kinh tế
thương
mại
giữa Việt
Nam

với
các
nước khu
vực
Nam Á
Trong
quá trình
triển
khai thực hiện
đề
tài,
em đã
nhận
được
rất
nhiều
sự
giúp đỡ
từ
phía Vụ Châu
Phi
-Tây Nam Á
(Bộ
Thương
mại), Viện Kinh
tế
thế
giói,
thư
viện

Quốc
gia,
thư
viện
trường
Đại
học
Ngoại
Thương và
thảy
giáo
Vũ Đức
Cường
-
giảng
viên
khoa
KTNT
-
trường
Đại
học
Ngoại
Thương.
Em
xin
chân thành cảm ơn
vì những sự
giúp đỡ quý báu
trên

đây đã dành cho
em
suốt
thời
gian
qua.
2
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
ClịươRS
3
TONG QUAN VE THỊ TRƯỜNG NAM Á
Để có thể thâm nhập thành công vào bất kỳ thị trường nào điều trước
tiên
là cần
phải
có những
hiểu biết nhất định
về
thị
trường
đó.
Trong
chương
này

tác giả xin
đưa
ra
những
nét
khái quát
về
điều kiện
tự
nhiên

hội và
tình
hình kinh
tế
- thương
mại của khu vực Nam Á và của một số
nước tiêu biểu
trong
khu
vực,
đng
thời
cũng
chỉ ra
sự
cần
thiết phát triển
quan hệ
kinh

tế
thương
mại
giữa Việt
Nam
với các
nước
Nam Á.
ì.
ĐIỂU KIỆN Tự NHIÊN VÀ XÃ HỘI
Ị. Vi trí
đìa lý:
Nam Á nằm ở phía Tây Nam các
nước
ASEAN,
phía Bắc gắn
liền
với
lục
địa
Châu Á
(Trung
Á),
phía Tây nhìn
ra
các
nước
Trung
Đông,
còn phía

Nam
được
bao
quanh
bởi
biển
Ả Rập và giáp
với
vịnh
Bengal.
Nhìn
tổng
thể khu vực
này
được
chia
làm
hai
phần:
Các
nước bao
gồm
Bangladesh,
Ấn
Độ,
Pakistan,
Nepal

Bhutan
thuộc

bán đảo phía nam dãy
Himalaya,
tương ỷng
với
vùng
tiểu
lục địa
Ấn
Độ,
và các
quần
đảo:
Sri
Lanka,
Maldives.,
ở ngoài khơi mũi
Comorin.
Đây

khu vực
có mật độ dân cư
cao.
Diện
tích vào
khoảng
4.936.889
km
2
,
bằng

10%
lục
địa
Châu Á
với
tổng
số
dân
lên
tói
1,6
tỷ
người,
bằng
Ì/
4 dân
số thế
giới'.
Địa
hình khu vực Nam Á
rất
phong
phú và đa
dạng,
kết
hợp
giữa
các
vùng
núi

cao,
các
cao
nguyên đồ
sộ với
các
dải
đồng
bằng
và vùng
hoang
mạc
khô
cằn.
Độ
cao
thoải
dẩn
từ
Tây Bắc
xuống
Đông Nam
tại
các
nước
Ấn Độ,
1
en.wikipedia.org
3
Đinh

Thị
Thu Hiền - Lớp A4 -K 40A - KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Pakistan

Bangladesh.
Đặc
biệt

nhiều
nơi
trong
khu vực như
Bangladesh,
Sri
Lanka
hay
Maldives,
phần
lớn
vùng đổng
bằng
thấp
hơn mực nước
biển
nên thường xuyên
trong

tình
trạng
ngập
lụt,
do đó ảnh
hưởng
nhiều
đến sản
xuất
nông
nghiệp.
Nam Á có khá
nhiều
núi
cao, nổi
tiếng
là dãy
Hymalaya
với
đẤnh Chômôlungma cao 8.882 mét so
với
mặt nước
biển
và được
mệnh
danh
là nóc nhà của
thế
giới.
Ngoài ra còn có

nhiều
núi cao khác như
Kanchenjunga
ỏ Ấn Độ
(8.598
m, cao
thứ
ba
thế
giới),
Godwin-Austen

Pakistan (8.611
m,
cao thứ nhì
thế giới).
Hệ
thống
sông ngòi ở đây
rất
phong
phú, trong
đó
phải
kể đến
hai
con
sông
lớn
là sông

Indus
(sông Ân) và sông Ganga (sông
Hằng).
Sông
Indus
gồm có năm nhánh, nên đồng
bằng
lưu vực sông
Indus
được
gọi
là vùng
Punjab
nghĩa

"vùng năm
sông".
Còn sông Ganga ỏ phía Đông được
coi

dòng sông
thiêng.
Từ
xưa, nhiều
người
dân
trong
khu vực đã đến khúc sông
này để cử hành
lễ

tắm mang
tính
tôn
giáo.
Với chiều dài
2.880
km (sông
Indus)
và 2.510 km (sông
Ganga),
hai
con sông này đã đóng
vai
trò
quan
trọng trong
giao
thương
bằng
đường
thủy giữa các
nước
An
Độ, Pakistan

Bangladesh
2
.
Nam Á không
phải

là khu vực có tài nguyên thiên nhiên giàu có.
Khoáng sản ưong vùng chủ yếu là
than
đá, khí đốt (Ân Độ,
Pakistan,
Bangladesh),
quặng
sắt (Ấn Độ,
Pakistan),
đá
vôi.
Riêng ở
Maldives, đất
nước
với
hơn 1000 hòn đảo nhỏ hầu như không có mấy khoáng
sản,
tài nguyên
thiên
nhiên nơi đây
chủ yếu là cá.
Do các nước Nam Á có
vị trí địa lý
gần xích đạo nên khí
hậu
phẫn
lớn
mang
tính
nhiệt

đới
gió
mùa.
Vào mùa hè
nhiệt
độ ở một
số nơi
khá
cao,
như
vùng
miền
Trung

miền
Nam
Pakistan

thể lên
tới
45°
c,
ở Ấn Độ
khoảng
gần
50°c.
Tuy
nhiên,
mức chênh
lệch

nhiệt
độ
giữa
các mùa
trong
một vùng

giữa
các vùng
trong khu vực
không
lớn lắm.
2
217 quốc
gia
vá vùng
lãnh
thổ
trên
thí gia - NXB Thông kê 2003
4
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
2.
Lích
sử,

tôn giáo và văn hoá:
Thòi kỳ
tiền
sử
của
khu vực Nam Á được đánh dấu
bởi
nền vãn
minh
đô
thị,
gọi
là nền văn
minh
sông
Ấn, ra đời
vào
khoảng
2500-1500
tr
C.N.
Tiếp theo
đó là nền văn
minh Aryan
cổ xưa
(khoảng
2000-1200
tr
C.N) vói
kinh

VeDan - một tác phẩm văn chương và tôn giáo
nổi
tiếng
bằng
tiếng
Phớn.
Trải
qua
nhiều
thời
đới,
khu vực
này ngày càng phát
triển

rực rỡ
nhất
dưới
thời
đế
chế
Mughal.
Từ
thế
kỷ
XVI,
hầu
hết
các
noi

ở Nam Á
trở
thành
thuộc
địa của
thực
dân phương Tây: Bồ Đào Nha, Hà
Lan,
Anh, Pháp và
giành
lới
độc
lập
vào
cuối
những
năm 1950.
Một
điểm
đáng chú ý
trong lịch
sử
hình thành các
quốc
gia thuộc
khu
vực
Nam Á

hầu

hết
các
quốc
gia
này đều được tách
ra từ
An Độ
(Pakistan,
Bangladesh,
Nepal ).
Chính vì
lẽ
đó văn hoa Ấn có ảnh
hưởng
rất
lớn
đến
các nước này. Trừ Ân
Độ,
các nước khác nhìn
chung
mới được hình thành
trong
vòng
100
năm
trở
lới
đây.
Quá trình hình thành và phát

triển
của
khu vục đã kéo
theo
sự
ra
đời
của
một
loớt
các tôn
giáo,
từ

la
môn giáo vào
thế
kỷ
vn
trước
C.N,
đến

na
giáo và
Phật
giáo vào
thế
kỷ VI
trước

C.N. Sự
dung
hợp
giữa
Phật
giáo,

na
giáo và Bà
la
môn giáo đã hình thành một tôn giáo
mới,
Ân Độ
giáo,
lưu
hành ở Ấn Độ
từ thế
kỷ vn và được
truyền
bá đến
nhiều
miền
thuộc
Châu Á
và Châu
Phi
vào
thế
kỷ XIX.
Cho đến

nay,
cùng
với
sự
du
nhập
của
nhiều
tôn
giáo
khác,
khiến
Nam Á
trỏ
thành
khu vực
da
dớng
về sắc
tộc
và tôn
giáo:
Ấn
Độ
giáo,
Islam
giáo,
Kho
giáo,
Thiên chúa giáo và đớo

Phật.
Nhưng chính sự
đa
dớng
này
lới
là nguồn gốc
và nguyên nhân gây nên
sự
bất
ổn
định
về
chính
trị
trong
khu
vực.
Suốt
từ thập
niên
50,
các
vấn
để
nổi bật trong
vùng
vẫn

Ị *

xung
đột
tôn
giáo,
tranh
chấp
vùng lãnh
thố
Kashmừ
giữa
An độ và
Pakistan,
vấn
đề
li
khai
của
phiến
quân Hổ
Tamil

Sri
Lanka.
5
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt nghiệp
Nam Á đã

từng

thuộc
địa của Anh
trong
một
khoảng
thời
gian
khá
dài.
Do vậy
tiếng
Anh ở đây
rất
phát
triển.
Bên
cạnh
các ngôn ngữ chính
thống
của các
quốc
gia, tiếng
Anh vẫn được sử
dớng
trong
giao
tiếp
thông

thường,
trong
ngoại giao,
thương mại và
trở
thành
tiếng
nói
chung
cho toàn
khu vực.
Hiện
nay
các nước Nam Á
đều
xây
dựng
nhà nước
theo
chế
độ dân chủ
với
chính
thể
cộng
hòa.
Trong
một
quốc
gia

cùng
tồn
tại
nhiều
đảng phái
khác
nhau,
đặc
biệt

Pakistan
có đến hàng trăm đảng phái chính
trị.
Các
đảng
phái luôn phân
tách,
Hèn
kết
để thành
lập
chính phủ
trung
ương và địa
phương,
gây nên
nhiều
màu
thuẫn


xung
đột
trong
nội
bộ
mỗi quốc
gia.

thể
nói Nam Á

một
khu vực
thị
trường

nền
văn
minh
phát
triển
sớm, phức
tạp
về
mặt chính
trị
và tôn
giáo,
tuy
nhiên,

trên
thực
tế
người
dân ở
các nước khác
nhau của
thị
trường này
lại

những
thói
quen
giống
nhau
về
văn hoa và tiêu
dùng.
Đó là một đặc
điểm
đáng chú ý
trong
quan
hệ thương
mại với
các nước này.
n. TÌNH HÌNH
KINH
TẾ

-
THƯƠNG MẠI CỦA CÁC
NƯỚC
KHU
Vực NAM Á
Ị.
Tổng
quan
chung
Kinh tế
Cho đến
nay,
nhiều
quốc
gia
ở khu vực Nam Á vẫn đang
trong
tình
trạng
nghèo đói và kém phát
triển.
Dân
số
đông
với tốc
độ tăng dân
số nhanh
cùng
những
bất

ổn về chính
trị

một
trong
những
nguyên nhân kìm hãm sự
phát
triển
của khu vực này.
Để
thoát
ra
khỏi
tình
trạng
đó,
các
quốc
gia
Nam
Á đã không
ngừng
nỗ
lực
trong việc cải
cách nền
kinh
tế,
minh bạch

hóa hệ
thống
tài
chính,
ngân
hàng,
xóa bỏ bao
cấp,
thúc đẩy quá trình tư nhân hóa,
nới
lỏng
các quy định
kiểm
soát.,
đồng
thời
tìm cách
giải
quyết
các
xung đột
trong
và ngoài nước
theo
đường hướng
hòa
bình.
Những nỗ
lực
đó đã

khiến
cho
khu
vực
Nam Á
trong
mấy năm gần đây có
nhiều
chuyển
biến
tích
cực.
6
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
Từ năm
2003
cho đến
nay,
tốc
độ tăng trưởng GDP
trung
bình
của
toàn khu
vực

đều
trên
6%
3
.
Tuy
vậy,
sự
chuyển dịch

cấu
kinh
tế
ở các nước còn
diễn
ra
chậm
chạp.
Hiện nay,
nông
nghiệp
vẫn là
ngành
giữ
vai
trò chủ đạo,
chiếm
tằ
trọng
tương

đối
cao
trong
GDP của các
nước.
Đặc
biệt

Nepal

Buhtan
-
hai
quốc
gia
nghèo
nhất
khu vực và kém phát
triển
nhất thế
giới,
tằ
trọng
nông
nghiệp
chiếm
tới
40% GDP và hơn 80% dân số
sống
bằng

nghề
này
4
.
Ngay
đến
hai
quốc
gia
phát
triển
nhất
khu
vực

Ân Độ và
Pakistan,
nông
nghiệp,
nhất

ngành
trồng
cây lương
thực
vẫn
chiếm
gần 1/4 và 1/3 GDP. Dù đã có
nhiều
cố

gắng
cải
tiến
trong
lĩnh
vực này, song
nhìn
chung
phương
thức
canh
tác và
dịch
vụ
phục
vụ nông
nghiệp
còn
lạc
hậu,
sản
lượng
do đó phụ
thuộc
nhiều
vào
điều
kiện
tự
nhiên.

Ví dụ ở
Pakistan,
trong
hai
năm liên
tiếp
2001

2002, sản
lượng
nông
nghiệp
chỉ đạt
mức tăng trưởng âm do hạn hán kéo
dài trên
diện
rộng,
hệ
thống tưới
tiêu không đủ
cung cấp
nước cho các vùng
khô
hạn.
Đến năm
2003,
nhờ
diều kiện
thời
tiết

trở
nên
thuận
lợi
hơn,
sản
lượng
mới có
xu
hướng
phục
hồi
trỏ
lại
với
mức tăng bình quân
4,1%
5
.
Xét trên toàn khu vực
thì
công
nghiệp
vẫn
chưa
thực
sự phát
triển.
Tằ
trọng

công
nghiệp
trong
GDP của
nhiều
nước như
Nepal,
Buhtan
hay
Maldives
đều
dưới
20%
6
.
Các ngành công
nghiệp
truyền
thống
như
khai
khoáng, chế
tạo,
luyện
kim, dệt
vẫn là
những
ngành
then
chốt,

đóng góp
nhiều
nhất
vào
sự
tăng
trưởng
chung của
toàn ngành ở
các
nước
này.
Tuy
vậy,
trong
những
năm
qua,
nhờ hàng
loạt
các
biện
pháp
cải
cách,
đầu tư sâu
rộng
hơn vào
lĩnh
vực

công
nghiệp
của
chính
phủ,
nên ngành công
nghiệp

nhiều
nước
đã có
những
bước
chuyển
biến
đáng
kể.
Đặc
biệt
ở Ân
Độ, quốc
gia
phát
triển
nhất
Nam Á luôn duy trì được
tốc
độ tăng trưởng
trong
ngành công

nghiệp

7%,
chiếm
28,4%
GDP năm
2004
7
.
3
Kinh
tế thế
giới

Việt
Nam
2004
vò dụ
đoán 2005
- Bộ
thương
mại
*•
7
.intracen.org
1
Kinh
tế thí
giới 2003
-

2004:
đặc
điềm

triển vọng
- NXB
Chính
trị
Quác
gia
- Hà Nội
^Vty.
cia.gov
Ì
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
Dịch
vụ
tuy
không
phải

lĩnh
vực
then chốt
song

lại
chiếm
tỷ
trọng
cao
nhất
trong
GDP của các nước
thuộc
khu vực Nam Á. Năm
2004
doanh
thu
trong lĩnh
vực
dịch
vụ
của
Pakistan
là 53,3%
GDP và
của Bangladesh

51,7%
GDP
8
.
Các
loại
hình

dịch
vụ tương
đối
phát
triển
trong
khu vực là
ngân
hàng,
vận
tải
và thương
mại.
Bên
cạnh
đó,
du
lịch
cũng là
một ngành
dịch
vụ
mà các nước Nam Á
rất
chú
trọng.
Như
Maldives, từ
lâu
du

lịch
đã
trở
thành
ngành mũi
nhọn
trong
nền
kinh
tế,
chiếm
20% GDP và hơn 60%
ngoại
hối
của
quốc
gia
này.
Trên 90%
nguần
thu thuế
của
chính phủ là
từ
thuế
nhập
khẩu

thuế
liên

quan
đến du
lịch
9
.
Riêng ở Ân
Độ, dịch
vụ công
nghệ
thông
tin
như
phần
mềm máy tính
rất
phát
triển,
với tốc
độ tăng trưởng luôn duy
trì
ở mức
cao 18%-19%
trong nhiều
năm
nay
10
.
1.2.
Thương mại
Trước

xu
thế
toàn
cầu
hóa và
tự
do hóa thương
mại,
các
quốc
gia
Nam
Á đã
tiến
hành mò
cửa nền
kinh
tế,
dỡ bỏ dần hàng rào
thuế
quan

phi thuế
quan,
đơn
giản
hóa các
thủ tục

qui

trình về
xuất,
nhập
khẩu.
Song,
nhìn
chung
quá
trình
này được
tiến
hành
muộn
hơn và
diễn ra với
một
tốc
độ chậm
hơn
so
với
các khu
vực
thị
trường
khác.
Nguyên nhân
chủ yếu là
do
nền

kinh
tế
chưa phát
triển,
khả
năng
cạnh
tranh
thấp,
nên
buộc
các nước
phải
thi
hành
mọi
chính sách để bảo hộ
sản
xuất trong
nước,
mở
cửa
từ từ
để duy
trì
chính
sách
bảo
hộ
của

mình.
Trong
mấy năm
gần đây,
tổng
kim ngạch
ngoại
thương
của khu vực

xu
hướng
tăng
lên.
Năm
2000,
tổng
kim ngạch
đạt
160
tỷ
USD,
ữong

xuất
khẩu
đạt
70
tỷ
USD và

nhập khẩu đạt
90
tỷ
USD. Đến năm
2003,
tổng
kim
ngạch
ngoại
thương của toàn khu vực vào
khoảng
189
tỷ
USD, tăng
48,3%,
trong
đó
xuất
khẩu khoảng
85
tỷ
USD và
nhập khẩu khoảng
104
tỷ
USD".
Riêng các nước Ấn
Độ,
Pakistan,
Bangladesh


Sri
Lanka
đã đóng góp trên
95%
vào
tổng
kim ngạch này.
Các nước còn
lại
đều có
nền
ngoại
thương kém
phát
triển,
tổng
kim ngạch
xuất
nhập khẩu
trong
những
năm qua
chỉ đạt
dưới
as
www.intracen.org
,0
"
Kinh

tế thế
giới 2003-2004:
Dặc
điểm

triền vọng
8
Đinh
Thị
Thu
Hiền
-
Lớp
A4 -K
40A - KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
2
tỷ
USD,
đặc
biệt

Buhtan,
tổng
kim
ngạch
còn
chưa đến

0,5
tỷ
USD
12
.
Hiện
nay
các nước
trong
khu vực
Nam Á
đều
trong
tình
trạng
nhập
siêu.

cấu
các mặt hàng
xuất -
nhập khẩu
nhìn
chung
còn đan
giản.

các
nước
Nam

Á,
sản
xuất
nông
nghiệp
vốn là
ngành chủ đạo nên các mật hàng
xuất
khẩu chủ
lực
phần
lớn

các mặt hàng nông
sản
như
lúa
gạo,
chè
đen,

phê,
hạt
tiêu Ngoài
ra
còn có các
sản
phẩm khác như hàng
may
mặc, dược

phẩm,
phần
mềm
máy
tính.
về
nhập
khẩu,
các nưóc
Nam Á
đều là
các
quốc
gia
đang và chậm phát
triừn
nên nhu
cầu nhập khẩu
các khoáng
sản,
nhiên
liệu
như
đầu
lửa,
sản
phẩm
chế
biến
dẫn

xuất từ
dầu
lửa
hay các
sản
phẩm
chế
tạo
như
máy móc
thiết
bị là
rất
lớn.
niêm vào đó các
quốc
gia
này
vẫn nhập khẩu
một
số
mặt
hàng lương
thực thực
phẩm
đừ
thỏa
mãn
nhu cầu
tiêu

dùng
trong
nước.
Từ
nhiều
năm
qua,
bạn hàng
chủ
yếu
của
các nước
Nam Á
vẫn
là các
quốc
gia
phát
triừn
như Mỹ,
Nhật,
EU,
Liên
bang
Nga và
Trung
Quốc.
Tỷ
trọng
buôn bán

với
các nước này
chiếm
gần
70%
kim ngạch
ngoại
thương
của
các nước
trong
khu
vực
13
.
Tuy nhiên trước xu
thế hội
nhập quốc
tế
như
hiện
nay,
cùng
với
sự
tăng
trưởng
thần
kỳ
của khu vực

Đông
Nam
Á,
các
quốc
gia
Nam Á
đang
bắt
đầu chú
ý
nhiều
hơn
đến
các nước
trong khối
ASEAN
này.
Trong
khi
quan
hệ buôn bán
với
các nền
kinh
tế
ngoài khu vực ngày
càng
khởi
sắc,

thì quan hệ
ngoại
thương
trong
khu vực
lại
chưa
mấy
tiến triừn.
Nguyên nhân chính
của
tình
ữạng
này
là xung
đột
về lãnh
thổ,
sắc
tộc.
Liên
tiếp
những
vụ đụng
độ,
tranh
chấp
chính
tri,
thậm

chí cả quân sự
khiến khi
trường
khu vực bị
chia
cắt,
chính
phủ quan
tâm đến các sáng
kiến
nhằm
giảm
xung
dột
chính
trị
nhiều
hơn

các sáng
kiến
hợp
tác
kinh
tế.
Mặt
khác,
mấy
chục
năm

thực
hiện
chính sách
bảo
hộ
thay
thế
nhập khẩu
cùng cơ
cấu
kinh
tế
tương
đồng,
nên
việc
chuyừn sang
hợp tác
theo
xu
hướng
tự
do hoa thương
mại
vừa gặp
phải
sự
chống
đối
của

nhiều
nhóm
lợi
ích,
vừa
phải
chuyừn dịch
đừ có một cơ
cấu
phù
hợp,
hỗ
trợ
và phát huy
lợi
thế
so
sánh
của
mỗi
nước.
12
Số
liệu kinh
tí-

hội
các
nước


vùng lãnh
thổ
trên
thế
giới
- NXB
Thống
kẻ

Nội
2003
13
www.ccionline.org
9
Đinh
Thị
Thu mền-LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
Thực
tế
ở Nam Á đã hình thành một
vài
tổ
chức
kinh tế
thương mại khu vực
như
Hiệp hội

hợp tác Nam Á
(SAARC)

thực
chất
là khu vực ưu tiên
thương
mai
Nam A (SAPTA) và
khu
vưc tư do thương mai Nam A
(SAFTA),
hiệp
định hợp tác
tiểu
khu vực
BIMS1EC
(gồm
Bangladesh,
Ấn Độ,
Myanmar,
Sri
Lanka
và Thái
Lan)
và BBNI (gồm
Bangladesh,
Butan,
Nê-pan
và Ân

Độ).
Song
nhìn
chung
do
nhiều
hạn chế
như
trình
độ phát
triển
kinh tế,
các
yếu
tố
liên
quan
đến chính
trị,
tôn
giáo
nên các
tổ
chức
này chưa phát
huy
được
vai
trò của
mình.

Xét một cách
tổng
thể,
tình
hình
kinh tế
-
thương
mại của khu vực
Nam
Á
trong
nhảng
năm gần đây đã có
nhiều
chuyển
biến
tích
cực,
chủ yếu là
nhờ
vào
sự
tăng
trưởng
của
các
nền
kinh tế
đóng

vai
trò chủ
chốt
trong
khu vực là
Ân Độ
,
Pakistan,
Bangladesh

Sri
Lanka.
Sau
đây, tác
giả xin
điểm
qua
một
số
nét
nổi bật
về
tình hình
kinh tế
thương
mại của
các
quốc
gia
này.

2.
Tình hình
kinh tế
- thương mai của mốt số nưởc
thuốc
khu vực Nam
Á:
2.1.
Ấn Độ
An Độ

nước
liên
bang
ở Nam A có dân
số
trên
Ì
tỷ
người,
đứng hàng
thứ hai
trên
thế
giới.
Lãnh
thổ
Ấn Độ là một
tiểu
lục

địa
trải
dài trên 3.000
km
từ
Bắc đến
Nam, phía Bắc
giáp
dãy
Himalaya,
phía
Nam và
phía
Tây giáp
Ấn
Độ Dương, phía Đông giáp
vịnh
Bengal.
Đây là
quốc
gia lớn
nhất
khu
vực
Nam Á
với diện
tích
3.287.590
km
2

và cũng là nền
kinh
tế
phát
triển
nhất
khu vực.
Địa
vị
đầu tàu
của
Ân Độ
đối với
các nước
trong
vùng Nam Á
cũng
giống
như
địa
vị
của
Trung
Quốc
đối với
các nước
trong
vùng Đông Á.
Sau
hơn 50 năm giành được

độc
lập,
thực
hiện
đường
lối
phát
triển
kinh
tế
độc
lập,
tự lực
cánh
sinh,
Ân Độ đã xây
dựng
một
nền
kinh
tế
cân
đối,
đồng
bộ
với
một hệ
thống
công
nghiệp

khá hoàn
chỉnh

hiện đại (luyện kim,

khí,
dầu
khí,
đường
sắt,
điện
tử,
năng
lượng
nguyên
tử ),
phát
triển
nền khoa
10
Đinh
Thị
Thu Hiền-LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
học
công
nghệ

tiên
tiến
ngang
tẩm
quốc
tế
(năng
lượng
hạt
nhân,
khoa
học

trụ, tin
học.)

tự
túc
được lương
thực
cho
hơn
Ì
tỷ
dân.
Trong
những
năm
qua,
chỉ số

GDP
của
Ấn Độ luôn ở mức ừn định và
có xu
thế
tăng
dần.
Mức tăng trưởng GDP năm 1998 là 6,3%, năm 1999 là
6,4%,
năm
2000
là 6,7%,
đến năm
2004

8,2 %
14
.
Từ năm 1998
trở
lại
đây,
mức tăng trưởng
sản
xuất
công
nghiệp
trung
bình hàng năm trên 7%,
chiếm

trên 25% GDP của Ấn
Độ.
Các ngành công
nghiệp
chế
tạo
chiếm
80%
từng
giá
trị
sản phẩm ngành công
nghiệp
nước
này,
dạt
mức tăng
truồng
7,2%,
đây
cũng

nhân
tố
quan
trọng
nhất
đóng góp
tăng trưởng cho khu vực Nam Á. Các ngành công
nghiệp

khác như
sản
xuất
hàng tiêu dùng lâu
bền,
ngành
chế
tạo
máy công cụ đều có
những
bước tăng
trưởng
đáng kể (trên
11%)
trong
những
năm
qua
15
.
Mặc dù
sản
xuất
nông
nghiệp
của
Ân Độ đã có
những
bước
tiến

quan
trọng
nhờ
kết
quả
của
cuộc
cách
mạng
xanh,
nhưng về cơ
bản vẫn
phụ
thuộc
vào
điều
kiện
tự
nhiên.
Ngành nông
nghiệp
của
ấn độ
hiện
chiếm
24%
trong
GDP, và
với
mức tăng

9,1%
năm
2004,
đã góp
phần
quan
trọng
vào mức tăng
trưởng
chung.
Các
sản
phẩm nông
nghiệp
chính
của
Ân Độ

gạo,
lúa
mỳ,
hạt

dầu,
bông,
mía
đường,
chè
khoai tây,
gia

súc
16
.
Khu
vực
phi
nông
nghiệp
của
An Độ có
những
bước
chuyển
biến
mới
nhờ
hàng
loạt
các
biện
pháp
cải
cách của chính
phủ,
đặc
biệt
quá trình tư
nhân hóa khu vực
doanh
nghiệp

nhà nước và
tự
do hóa
kinh tế
đang
diễn
ra
khá
nhanh.
Từ
cuối
những
năm
1990,
ngành
dịch
vụ
của
Ấn Độ đã
đạt
được
mức tăng trưởng tương
đối cao,
trung
bình trên 8%.
Trong
hai
năm
2000,
2001

ngành này
chịu
sự
suy
giảm
do
những
xung
đột sắc
tộc
trong
nước và
tình hình chính
trị
căng
thẳng
với
Pakistan,
dẫn đến ngành du
lịch
bị ảnh
hưởng.
Từ
2002,
sự
phục
hồi
của
ngành du
lịch

(10,9%
năm
2003-2004)
đã
góp
phẩn
thúc đẩy
tốc
độ tăng trưởng
của
ngành
dịch
vụ,
đạt 8,4%.
Các
lĩnh
14
Con
đường phát triển
cùa
ấn Độ
trong
kỷ
nguyên toàn
cẩu
hoa
-
Kinh tểthếgiớì
số
1(105) 2005

15
Một số
độc
điểm tăng trưởng kinh
tế ấn Độ
hiện
nay
-
Những
vấn để
kinh
tế thể
giới số'3110712005
IS
Tái liệu cơ bàn ấn Độ - Ban quan
hệ
quốc
tếvccí
li
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
vực
có mức tăng trưởng cao hơn mức
trung
bình ngoài ngành du
lịch

còn có
khách
sạn,
vận
tải,
và thông
tin
liên
lạc
17
.
Chính sách thương
mại
mới
của
Ấn Độ đánh dấu một bước
ngoặt
trong
chính sách
tự
cấp
tự
túc và đóng
cửa, chuyển sang
chính sách mở cửa và
hướng
ngoại.
Chính sách này
qui
định bỏ

viỉc
cấp
giấy
phép
xuất
nhập khẩu
cho
hầu
hết
các mặt
hàng,
chỉ
trừ
một
số
ít
mặt hàng có tính
chiến
lược liên
quan
đến an
ninh
quốc
phòng
hoặc
có tầm
quan
trọng
thiết
yếu

đến
đời
sống

hội.
Đồng
rupi
được
tự
do
chuyển
đổi
hoàn toàn
trong lĩnh
vực
thương
mại.
Hàng rào
thuế
quan
trong
những
năm qua được
giảm
mạnh
từ
150%
xuống
còn
85%, 65%,

50% và đến năm 1997 còn
35%
18
.
Hiỉn
nay Ấn Độ
vẫn
đang
trong
quá trình
cải
cách nói
trên.
Mục tiêu
giảm
thuế
của
Ấn Độ
là phấn
đấu
giảm
thuế
bằng
mức
của
các nước
ASEAN
vào năm
2005.
Nhờ chính sách

đổi
mới
thông thoáng mà
hoạt
động
ngoại
thương của Ân Độ
trong
những
năm
qua
đã
đạt
được
những
bước
tiến
bộ đáng
kể.
Các nền
kinh tế
chủ
chốt
trên
thế
giới
cũng
là các
đối
tác chính

của
Ấn Độ như Mỹ,
Nhật,
Trung
Quốc và
Đông Nam
Á.
Để đáp ứng nhu
cầu
trong
nước,
Ấn Độ
nhập khẩu
than đá,
dầu
thô,
hóa
chất,
máy móc và
linh
kiỉn
điỉn
tử,
một số
sản
phẩm nông
sản
Đồng
thời,
Ấn Độ

xuất
khẩu
ra thị
trường các
sản
phẩm như
thép,
xi
măng,
dỉt
may và
sản
phẩm công
nghỉ
thông
tin.
Hiỉn
nay
Ân Độ đang đứng
thứ hai
khu
vực Châu Á về
xuất
khẩu dịch
vụ
tin
học
chỉ sau
Singapore.
Năm

2004,
Ấn
Độ
xuất
khẩu
một
khối
lượng
phần
mềm và
dịch
vụ thông
tin
khổng
lồ
tri
giá 9,5
tỷ
USD. Đáng chú ý

ngoài
viỉc xuất
khẩu
các
sản
phẩm
chế tác
Ân
Độ
hiỉn

được
coi

nước
xuất
khẩu
lao
động có trình độ
trong
các
lĩnh
vực.
Chuyên
gia
công
nghỉ
thông
tin
người
Ấn Độ làm
viỉc
tại
nước ngoài đông
đảo
nhất thế
giới.
Năm
2000
mới có
khoảng

300.000
người
làm
viỉc
ở nước
ngoài,
đến năm
2003
con
số
này đã tăng hơn gấp
đôi,
tói
650 nghìn
người
19
.
" Những vấn đề kinh lí thế giới số3110712005
18
www.dei.gov.vn
" Ấn Độ
với
chính sách hướng
Dông
-
Tạp
chí
thương
mại
số2012005

12
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Tuy
vậy các số
liệu
thống
kê cho
thấy
sự tăng trưởng
trong
thương mại còn
chưa ổn
định.
Năm
2001

2003,
xuất
khẩu
tăng trên
20%,
trái
lại
năm

2002
chỉ
tăng có 2,2% và năm
2004
chỉ đạt
mức tăng
trưởng
trung
bình

11,2%
20
.
Về
đối
ngoại,
từ
khi
độc
lập
đến
nay,
Ấn Độ
theo
dường
lối
đối ngoại
hoa
bình,
độc

lập,
không liên
kết.
Đường
lối
này phù hủp
với
mục tiêu đấu
tranh
của
các nước xã
hội chủ
nghĩa
và do đó Ân Độ
trở
thành đồng
minh
tự
nhiên và có
quan
hệ
gắn

với
Liên Xô và các nước
XHCN.
Sau chiến
tranh
lạnh,
Ấn Độ

điều
chỉnh
chính sách
đối ngoại theo
hướng
cân
bằng
các nước
lớn,
đa
dạng
hoa
quan
hệ,
trong
đó có ưu tiên
cải
thiện
quan
hệ
với
các nước láng
giềng,
chú
trọng
điều
chỉnh

cải
thiện

quan
hệ
với
Mỹ, bình thường
hoa
quan
hệ
với
Trung
Quốc,
củng
cố
quan
hệ
truyền
thống
với
Nga,
tăng
cường
mở
rộng
quan
hệ hủp tác
với
EU, Đòng Nam Á và
Châu Á
-
Thái Bình Dương, nói
chung

chính sách
"hướng
đông" là
kim
chỉ
nam
cho hoạt
động đó.
2.2.
Pakistan
Nước
cộng
hòa
hồi
giáo
Pakistan
nằm ở khu vực Nam Á, phía Đông
giáp
với
Ân
Độ,
phía Tây giáp
với
Iran

Afghanistan,
phía Nam giáp
biển

Rập,

phía Tây Bắc giáp
Trung
Quốc. Đây

quốc
gia
có nền
kinh
tế lớn
thứ
hai
trong
khu vực
Nam Á
sau
Ân Độ.
Từ năm
1988, Pakistan bắt
đầu thưc
hiện cải
cách
kinh
tế theo
hướng
thị
trường
tự do,
khuyến
khích đầu tư
trong

và ngoài
nước,
cải
cách ngân
hàng,
phá giá đồng
Rupi
(tiền
Pakistan),
khuyến
khích đầu tư vào các ngành
hướng
về xuất
khẩu.
Cho đến nay nông
nghiệp vẫn là
ngành
kinh
tế lớn
nhất
và có ý
nghĩa
quan
trọng
đối
với
quốc
gia
này.
Năm

2003
tỷ
trọng
nông
nghiệp
chiếm
26%
GDP,
thu
hút gần 2/3
lực
lưủng
lao
động ở
Pakistan
21
.
Các
sản
phẩm chính
trong
sản xuất
nông
nghiệp là lúa gạo, lúa
mỹ,
bông,
mía
đường,
thuốc


Do
20
www. ficci.com
21
Kinh tế thế
giới
2003 -2004: đặc điểm và
triền
vọng
13
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
nông
nghiệp
còn phụ
thuộc nhiều
vào
điều
kiện
tự
nhiên nên
sản
lượng
hàng
năm thường không ổn
định,

Pakistan
thường
xuất
khẩu
gạo và
bông,
nhưng
phải
nhập
khẩu
lúa mỹ.
Nghề cá và chăn nuôi

các ngành
kinh
tế
khá phát
triển.
Pakistan

đàn
trâu
bò,
gia súc, gia
cầm
lỉn,
đặc
biệt

giống


Sind nổi
tiếng
thế
giỉi.
Ngành công
nghiệp Pakistan
mỉi chỉ
chiếm khoảng
25% GDP,
song
trong
những
năm gần đây đã
bắt
đầu có dấu
hiệu
tăng trưởng vói
tốc
độ bình
quân 3,5 đến
5%/năm
22
.
Ngành
dệt
may, ngành
xuất
khẩu
chủ

lực,
chiếm
8,5% GDP,
31%
tổng
vốn dầu tư và 60%
tổng
sản
phẩm
xuất
khẩu
23
.
Trong
năm
2003,
ngành này duy
trì
tốc
độ tăng trưởng ở mức cao là
14,2%.
Các
ngành
chế
biến
đường,
sản
xuất
ô
tô,

điện,
xi
măng

những
ngành dẫn đầu
về
tốc
độ tăng
trưởng
sau
ngành
dệt
may,
trong
đó
sản
lượng
thép tăng
11,5%,
ximăng tăng
16,2%.
Các ngành công
nghiệp
khác như
chế
biến
nông phẩm,
thúy,
hải

sản

sản
xuất
hàng
tiêu
dùng
cũng
phát
triển
tương
đối
khá. Trong
năm
2003,
sản
lượng
các mặt hàng tiêu dùng tăng đáng
kể,
như xe
jeep
sản
xuất
trong
nưỉc tăng
53%,
xe máy tăng
13,4%,
ti
vi

tăng
69,8%, tủ
lạnh

các
thiết
bị
lạnh
tăng
18,9%
24
.
Những Bên
cạnh đó,
Pakistan
đang có chính
sách
thu
hút đầu tư vào ngành
khai
khoáng và dầu
khí.
Hàng năm
Pakistan
sản xuất
trên
16
triệu
thùng
dầu

thô và
khai
thác 12
tỷ
m
3
khí
25
.
Về cơ
bản
Pakistan
đã hoàn thành quá
trình

nhân
hóa.
Tỉi
nay nưỉc
này đã bán gần 900
trong
tổng
số 1000
doanh
nghiệp
nhà
nưỉc.
Tiến
trình
này được

bắt
đầu
từ
năm
2001, hiện
nhà nưỉc
chỉ
còn
kiểm
soát không quá
100
doanh
nghiệp,
trong
đó có hãng hàng không
quốc
gia

hai
ngân hàng
thương
mại. Trong
thời
gian
tỉi
Pakistan
sẽ
tập
trung
cải

cách bộ máy nhà
nưỉc
nhằm nâng
cao
hiệu
quả
quản
lý.
Về
ngoại
thương, nhìn
chung
Pakistan
vẫn chưa
thực
sự phát
triển.
Năm
1997, tổng
kim
ngạch
xuất/nhập
khẩu
hàng hoa và
dịch
vụ
của
Pakistan
khoảng
23 tỷ USD,

trong
đó kim
ngạch
xuất
khẩu đạt
10
tỷ
USD và kim
22
Tài liệu cơ bẩn Pakistan - Bộ thương mại
23

25
Tài
tiêu
cơ bản
Pakistan
- Bộ
ngoại giao
24
Kinh
tế thế
giới 2003 -2004:
đặc
điềm

triền vọng
14
Đinh Thị Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa

luận
tốt
nghiệp
ngạch
nhập
khẩu

13
tỷ
USD. Đến năm
2003
tổng kim
ngạch
mới
chỉ
nhích
lên một
chút,
đạt
24,968
tỷ
USD,
trong
đó
xuất
khẩu
11,93
tỷ
USD và
nhập

khẩu
13,038
USD
26
.
Các mặt hàng
xuất
khẩu
chủ yếu của
Pakistan
là thúy
sản, gạo,
bông,
sợi
bông,
len,
thảm
len,
giày dép và hàng may mặc. Các mặt hàng
nhập
khẩu
chủ yếu của Pakistan
là lúa mỳ,
chè,
đường,
mật
ong, sợi tổng hợp,
dầu thô,
nhiên
liụu,

dầu
ăn,
phân
bón, sắt
thép và ô-tô các
loại.
Các bạn hàng
chủ
yếu
của Pakistan
là Hoa Kỳ, các nước Tây
Âu,
các nước
hồi
giáo
thuộc
khu vục
Trung
Cận
Đông,
Trung
Quốc,
Nhật
Bản.
Về
đối ngoại, từ
ngày độc
lập Pakistan
tuyên bố
theo đuổi

chính sách
đối
ngoại
hoa bình và
trung
lập.
Trong
thời
kỳ
chiến
tranh
lạnh Pakistan
thân
Mỹ và phương
Tây,
tham
gia
các
khối
quân sự do Mỹ
lập
ra,

quan
hụ
tốt
với
Trung
Quốc và các nước
Hồi

giáo,
đồng
thời
quan
hụ thù
địch
với
Ân Độ.
Sau chiến
tranh
lạnh,
trước
những
biến đổi
sâu sắc của tình hình
thế
giới,
khu
vực

những
khó khăn
trong
nước,
Pakistan
điều
chỉnh
chính sách
đối
ngoại theo

hướng cân
bằng
hơn
trong
mối
quan
hụ
với
các nước
lớn,
cố
gắng
cải
thiụn
quan
hụ
vói
Mỹ, mở
rộng
quan
hụ
với
Tây Âu và
Nhật,
tiếp
tục
quan
hụ
tốt
với

Trung
Quốc và các nước
Hồi
giáo,
có thái độ ôn hòa hơn
với
Ân
Độ.
Trong
những
năm gần đây,
Pakistan
đang
chuyển
hướng thúc đẩy
quan
hụ
với
các nước Đông Nam Á.
2.3.
Bangladesh
Nước
cộng
hòa nhân dân
Bangladesh
nằm ở
phía
Đông Bắc
của
tiểu

lục
địa
Ẩn
Độ,
phía
Tây,
phía
Bắc,
phía Đông giáp Ấn
Độ,
phía Đông Nam giáp
Myanmar, phía Nam giáp
vịnh
Bengal.
Đất
nước đến 87% dân số
theo
đạo
Hồi,
số
còn
lại
theo
Ấn Độ giáo
,
Phật
giáo và Thiên chúa
giáo.
Đây


quốc
gia trẻ
nhất
Nam
Á,
được thành
lập
năm
1971.
Trước năm
1947
Bangladesh

một
phần
lãnh
thổ của
Ấn Độ.
www.wto.org
15
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Về cơ
bản,
Bangladesh

vẫn là
nước nông
nghiệp
chưa phát
triển.
Trong
năm
2003-2004,
GDP tăng
trưởng
5%, năm
2004-2005
GDP tăng 5,7%
27
.
Nông
nghiệp
là ngành
kinh
tế
được chính phủ ưu tiên hàng đầu đóng
góp 24% GDP và
62,93%
nhân
lực
làm
việc
28
.
Hiện nay

canh
tác nông
nghiệp
của
Bangladesh
chủ yếu vẫn

qui

nhỏ, sử
dụng
lao
động
thủ
công.
Chính
phủ
nước này
chủ
trương
khuyến
khích đẩy
mạnh
áp
dụng
máy móc kồ
thuật
canh
tác
hiện

đại
để tăng năng
suất
cây
trồng

sản xuất
lương
thực.
Nông
nghiệp
gồm các ngành
nghề
chính:
trồng
trọt,
chăn
nuôi,
thủy hải sản
và lâm
nghiệp.
Một
trong
những
sản
phẩm nông
nghiệp chủ
đạo
của
nước này


đay.
Hiện
Bangladesh

nước
sản xuất
đay
lớn nhất
thế
giới.
Bangladesh
là một
trong
những
nước đưa
ra
sáng
kiến

đi
đầu
trong
việc
thành
lập
ngân hàng nông thôn dành cho
người
nghèo và đã
thu

được
nhiều
kết
quả
tốt,
được
nhiều
nước
học tập.
Công
nghiệp
ở nước này mới
chỉ chiếm tỷ
trọng
26 % GDP và
thu
hút
khoảng
12%
lực
lượng
lao
động. Các ngành công
nghiệp
chính là công
nghiệp chế
biến
đay,
đường,
chế

biến
lương
thực, dệt,
sản
xuất
phân bón,
dược
phẩm,
xi
măng,
đồ gốm
điện
tử.
Ngay
từ
những
năm
80,
ngành
dệt
may

Bangladesh
đã phát
triển
mạnh.
Nguyên nhân có
thể
là do
nguồn

lao
dộng
rẻ
nên đã
thu hút
được các nhà
đầu tư
nước
ngoài vào
lĩnh vực này.
Trên
khắp
cả
nước
Bangladesh,
một
mạng
lưới
kinh
doanh
trong
ngành
dệt
may đã hình
thành,
từ tơ,
sợi,
nguyên phụ
liệu
dệt

may,
vải
cho đến hàng may
sẵn. Hiện
ngành này
thu
hút trên 40%
lao
động nữ của
Bangladesh
và là ngành
xuất
khẩu
chủ đạo, chiếm tỷ
trọng
cao nhất
trong

cấu xuất khẩu
30
Bangladesh
còn là một nước có dự
trữ
lượng khí đốt
lớn (khoảng
21.000
tỷ
fĩt
khối).
Từ năm

1993,
chính phủ
Bangladesh
ban hành chính sách
khuyến
khích nước ngoài đầu

vào
lĩnh vực
khai
thác
dầu
mỏ.
Hiện
nước này đang trong
tiến
trình
cải
cách khu vực kinh
tế
nhà nước,
dự
định tư nhân hóa 60% các
doanh
nghiệp
đang có và
kiểm
soát
chặt
chẽ

27
www.mot.gov
28
Tài
liệu
cơ bân
Bangladesh
- Bộ
thương
mại
30
www.en.wikipedia.org.
16
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
việc
lập
thêm các
doanh
nghiệp
nhà nước
mói.
Năm
2003,
Chính phủ đã
thử

nghiệm
chương trình tư nhân hóa
của
mình
bằng
việc
bán công
ty
Admajee
Jute
Min, công
ty khai
thác
than
lòn
nhất thế
giới
hiện nay.
Bangladesh cũng
rất
quan
tâm đến
việc
phát
triển
ngoại
thương.
Từ
khi
tiến

hành
tự
do hóa và
mở
cửa
nền
kinh tế cuối thập
kỷ
80,
đầu
thế
kỷ
90,
chính phủ
Bangladesh
đã
chú
trọng
và có
nhiều
chính sách
khuyến
khích
xuất
khảu,
đồng
thời
cũng
giảm
dần các

rảo
cản
nhập
khảu.
Mức
thuế
cao
nhất
từ
350% năm 1991 đã
giảm
xuống
còn 40% năm
1999
và năm
2000
là 37,5%
31
Năm
tài
chính
2003-2004,
giá
trị
xuất
khảu
đạt
khoảng
5
tỷ

USD, tăng
khoảng 16,2%.
Mỹ là
thị
trường
xuất
khảu
lớn nhất
chiếm 37%,
tiếp
đến là
Đức 11,37%
và Anh
10,83%.
Các mặt hàng
xuất
khảu
chính
là quần
áo may
sẵn,
chè, đay,đồ da Cũng
trong
năm này,
Bangladesh nhập khảu
10,2 tỷ
USD,
chủ yếu là
máy móc
thiết bị,

sắt
thép,
hóa
chất,
hàng
dệt
may,
sợi
bông,
dầu
thô,
xi
măng,
thực
phảm
32
Về
đối ngoại,
Bangladesh
thi
hành chính sách
đối ngoại
hòa
bình,
hữu
nghị
hợp
tác
với
các

nước,
đặc
biệt
chú
trọng
quan
hệ
với
Ân Độ và các nước
láng
giềng
ở Nam Á, các nước
Hồi
giáo,
Trung
Quốc đồng
thời
tích
cực
phát
triển
quan
hệ
với
Mỹ,
Nhật
Bản và các nước Đông Nam Á, Châu Á
-
Thái
Bình Dương. Từ năm

2001,
Bangladesh
triển
khai
mạnh
chính sách
hướng
Đông,
tăng
cường
quan
hệ
với
các nước
ASEAN.
Bangladesh
là thành viên
của
Liên hợp
quốc,
tổ
chức
các nước
hồi
giáo loe và
khối
liên
hiệp
Anh và
các

tổ
chức
ở khu vực Nam Á,
tổ chức
hợp tác các nước Nam
Á(SAARC),
Nhóm hợp
tác
kinh
tế
liên
khu vực
BIMST-EC.
2.4.
Sri Lanka
Sri
Lanka
nằm ở Ân Độ
Dương,
cực
Nam
tiểu
lục
địa
Ân
Độ,
cách mũi
Tây Nam An Độ 75 km,

nước đảo có

đường
bờ
biển
bao bọc dài
Ì
.340
km,
không có biên
giới
đất
liền.
Địa
hình nhìn
chung
thấp
hơn mực nước
biển,

đổng
bằng bằng
phang.
r~ — —,
31
www.wto.org
32
tài
liệu
cơ bản
Băngladesh
- Bộ

ngoại giao
17
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
Nước

Lanka
đầu
tiên
được thành
lập
vào
thế
kỷ
6
tr
C.N. Từ
thế
kỷ
thứ
16,
Sri
Lanka
đã
bị
nhiều

đế
quốc
xâm lược như Bồ Đào Nha
(1505),

Lan
(1658),
Anh
(1796).
Ngày
4/2/1948,
thực
dân Anh
trao
trả
quyền
tự
trị
cho
Sri
Lanka (lúc
đó còn
gọi

Ceylon)
nằm
trong khối
liên
hiệp
Anh.

Cho đến
nay,
Sri
Lanka

bản vẫn là
nước nông
nghiệp.
Ba
sản
phấm
truyền
thống
nổi
tiếng
của
Sri
Lanka là chè,
dừa và cao
su.
Đây
cũng
là sản
phấm
xuất
khấu chủ yếu của
nước
này,
đóng góp
trên

60%
nguồn
thu từ xuất
khấu.
Hiện
Sri
Lanka
đứng đấu
thế giới
về sản
xuất
cao su
bán thành phấm và
xuất
khấu
chè
đen,

dừa.
Năm
1977,
Sri
Lanka bắt
đầu xoa bỏ chính sách
kinh tế tập trung

chuyển
sang
chính sách thương mại
thay thế

nhập khấu
hướng
thị
trường và
theo
hướng
xuất
khấu.
Từ năm
1990,
Sri
Laàka
tiếp
tục
dấy
mạnh
công
cuộc
cải
cách và mở
cửa
nền
kinh
tế.
Sri
Lanka
đã
lấy thập
kỉ
90 là

"thập
kỷ
xuất
khấu".
Những thành
phần
năng động
nhất
trong
nền
kinh tế hiện
nay

chế
biến
thực
phấm,
dệt
và đồ thêu may, lương
thực,
đồ
uống,
viễn
thông,
bảo
hiểm,
ngân
hàng.
Du
lịch

cũng là
ngành
dịch
vụ
quan
trọng,
đóng góp đáng
kể
vào nền
kinh tế
của
Sri
Lanka.
Giai
đoạn
1997 -
2000,
kinh tế
Sri
Lanka
phát
triển
ở mức độ tăng
trưởng
trung
bình,
5,3%,
nhưng đến năm
2001,
tăng

trưởng
kinh tế
âm,
nguyên nhân chủ yếu do
nội chiến
bùng
phát,
thâm
hụt
ngân sách
trầm
trọng,
thiếu
nội lực
phát
triển
.
Trong
năm
2002,
với nhiều
nỗ
lực
của
chính phủ và quá
trình
hòa
giải
dân
tộc

đang
diễn
ra,
tốc
độ tăng trưởng GDP
của
Sri
Lanka phục
hồi
trỏ lại
đạt
3,2%.
Đến năm
2003

2004,
mức tăng
trưởng
đã
đạt
trên
5%.
Kim ngạch
ngoại
thương
của
Sri
Lanka vẫn
còn mức khiêm
tốn.

Năm
2002
tổng
kim ngạch đạt
lo tỷ
USD,
trong
đó
xuất
khấu
4,6
tỷ
USD và
nhập
khấu
5,4
tỷ
USD. Đến năm
2004,
tổng
kim ngạch
tăng lên
12,5 tỷ
USD,
xuất
khấu
5,2 tỷ USD,
nhập khấu
7,3 tỷ
USD

33
.
Ngoài xơ dừa và chè đen,
Sri
Lanka
còn
xuất
khấu
cả kim
cương,
đá quý và các
sản
phấm xăng
dầu. Đổi
www.wto.org
18
Đinh
Thị
Thu Hiền - Lớp A4 -K 40A - KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
lại,
nước này
nhập
khẩu
hàng
dệt
may,

sản
phẩm khoáng
sản,
xăng
dầu,
lương
thực thực
phẩm, máy móc
thiết
bị.
Các bạn hàng chủ yếu là Mỹ, các nước
phương Tây,
Trung
Cận Đông,
Nhật
Bản,
nay đã
bắt
đầu phát
triển
với
các
nước
Trung
Quốc,
Đông Á và Đông Nam Á.
Về
đối
ngoại,
Sri

Lanka
thi
hành chính sách
đối ngoại
hòa
bình,
độc
lập,
không liên
kết,
phát
triển
quan
hệ hữu
nghị
với
các nước láng
giềng

với
tờt
cả các
nước,
nhờt

với
Ân
Độ,
Mỹ,
Trung

Quốc, các nước phương
Tây, các nước
trong
khu vực và liên khu
vực.
Từ đầu
những
năm
90, Sri
Lanka
điều
chỉnh
chính sách
đối ngoại theo
hướng đa phương
hóa,
đa
dạng
hóa
quan
hệ.
Từ sau
khi
chính phủ của
thủ
tướng
Wickramesinghe

hiệp
định

ngừng
bắn vô
thời
hạn
với lực
lượng Hổ
Tamil
(tháng
6/2002),
hai
bên
tiến
hành các vòng hòa đàm
với
Na-uy làm
trung gian,
Sri
Lanka
tranh
thủ
môi trường hòa bình và ổn
định,
đẩy
mạnh
quan
hệ
đối ngoại với
các
nước,
nhờt là

các nước và các
tổ
chức
tài
trợ
nhằm hỗ
trợ
cho
quá trình hòa đàm và
đẩy
mạnh
tốc
độ phát
triển
kinh
tế
- xã
hội.
Sri
Lanka
chú
trọng

tích
cực
đẩy
mạnh
quan
hệ
với

các nước
lớn
như
Mỹ, Ấn
Độ,
Trung
Quốc,
Nhật
Bản và các nước khác
tại
khu
vực
Châu Á
-
Thái Bình Dương, đặc
biệt

Đông Á và Đông Nam Á.
Sri
Lanka
đang tích
cực vận
động để
trở
thành
bạn đối
thoại
của
ASEAN
và thành viên

của
APEC.
Sri
Lanka
tích cực
hoạt
động
trong
các
tổ
chức
quốc
tế,
khu
vực

liên
khu
vực
như
SAARC
(hợp
tác các nước
khu
vực Nam
Á),
BIMST-EC
(nhóm hợp
tác
kinh tế

một
số
các nước
khu vực
Nam Á và Đông Nam
Á),
IOR-ARC
(tổ
chức
hợp
tác khu vực
các nước
ven
Ấn Độ
Dương).
m. sự CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN
QUAN
HỆ
KINH
TẾ
-
THƯƠNG
MẠI
GIỮA
VIỆT NAM VỚI CÁC
NƯỚC
NAM Á
Đối
với
Việt

Nam,
những
thành
tựu
đã
đạt
được sau hơn 10 năm
thực
hiện
công
cuộc
đổi
mới đã và đang
tạo thế

lực mới, tạo
tiền
đề mới để
chuyển
sang
thời
kỳ công
nghiệp hóa,
hiện
đại
hóa (CNH-HĐH)
đờt
nước.
Sự
19

Đinh
Thị
Thu Hiền - Lớp A4 -K 40A - KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
nghiệp
CNH-HĐH là con đường duy
nhất
để
Việt
Nam thoát
ra khỏi
một
nước
nghèo và chậm phát
triển,
tránh
khỏi
nguy

tụt
hậu
ngày càng
xa
đổng
thời

một

tất
yếu đối với lịch sử, là đòi hỏi cấp
bách
đối với Việt
Nam
trong
quá
trình
hội
nhập.
Sự
nghiệp
CNH_HĐH đó đã được nêu
ra
một cách có hệ
thống
từ hội
nghị
đầi biểu
toàn
quốc
nhiệm
kỳ khóa vu
(1/1994)

đầi hội
Đảng
lần thứ
VUI
về

quan
điểm
nội
dung
CNH-HĐH, xác định mục
tiêu,
phương hướng,
quy
mô và bước đi của
tiến
trình công
nghiệp
hóa nhằm đưa
Việt
Nam đến
2020
thành một nước công
nghiệp.
Đồng
thời
cũng
tầi
đầi hội
vin Đảng dã
nhấn
mầnh
quan
điểm
về CNH-HĐH: "Dựa vào
nguồn

lực
nước
ta là
chính,
đi
đôi
với tranh thủ
tối
đa
nguồn
lực
bên
ngoài,
xây
dựng
nền
kinh tế
mở,
hội
nhập
với
khu vực và
thế
giói,
hướng
mầnh
về
xuất
khẩu.
Đồng

thời
thay thế
nhập
khẩu
những
sản
phẩm
trong
nước
sản
xuất

hiệu quả."
34
Quan
điểm
này đã
chỉ
rõ một
trong
những
diều kiện
tiên
quyết
để đưa
đất
nước
đi lên,
để phát
triển

kinh tế
vững
mầnh
đó chính
là hội
nhập
vào nền
kinh tế thế
giới
và khu
vực,
là đẩy
nhanh
hàng hóa
Việt
Nam
ra thị
trường
quốc
tế.
Để có
thể
tăng kim
ngầch
hàng
xuất
khẩu,
một mặt
phải
tìm cách

duy
tri
và phát
triển
các
thị
trường
truyền
thống,
mặt khác
cần
thâm
nhập

tầo
chỗ đứng trên
những
thị
trường mới đầy
tiềm
năng. So
với
những
thị
trường
còn bỏ ngỏ như
Trung
Đông hay Châu
Phi,
Nam Á ở

vị trí địa
lý gần
với
Việt
Nam hơn
cả.
Đây

một
thị
trường
rộng
lớn với
lượng dân cư đông,
mức tiêu
thụ
manh,
thu
nhập
bình quân đầu
người
ở mức
trung
bình,
không
đòi
hỏi
khắt
khe về
chất

lượng
sản
phẩm
cũng
như mẫu
mã,
nhu
cầu
về tiêu
dùng hoàn toàn phù hợp
với
trình độ sản
xuất
của
Việt
Nam. Chính
những
yếu tố
này đã
cho thấy
Nam Á

một
thị
trường
tiềm
năng mà
Việt
Nam
cần

khai
thác và thúc đẩy
quan
hệ hợp
tác.
Việc
thâm
nhập
thành công
thị
trường
này không
những
góp
phần
tăng kim
ngầch
buôn
bán,
tìm được
thị
trường
mói cho
sản
phẩm
hiện
tầi

sản
phẩm mới

của Việt
Nam
khi
các
thị
trường
34
trích
Văn
kiện
Đại
hội
Đảng
lần
thứVIII
20

×