Tải bản đầy đủ (.doc) (57 trang)

1 số gải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong lĩnh cực kinh doanh dầu nhờn của C.ty Dầu nhờn petrolimex

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (293.19 KB, 57 trang )



Lời nói đầu
Đất nớc ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc đã
tạo ra hàng loạt các loại doanh nghiệp mới đa dạng, đan xen và năng động. Để tồn
tại và pháp triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn năng động, học hỏi vơn lên
để tìm cho mình chỗ đứng vững chắc và ổn định trên thị trờng. Để đạt đợc mục
đích đó thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh là hết sức cần thiết trong mỗi
doanh nghiệp.
Trong quá trình vận động của thị trờng các doanh nghiệp luôn phải đứng đầu với
áp lực cạnh tranh và quy luật đào thải của thị trờng thì các doanh nghiệp luôn có
nguy cơ bị loại ra khỏi môi trờng cạnh tranh khốc liệt vì thế để tồn tại họ phải
ngăn cản điều đó bằng việc đa dạng hoá sản phẩm, giảm giá thành sản xuất nhằm
tạo ra lợi thế cạnh tranh để thu hút ngày càng nhiều khách hàng, tăng số lợng sản
phẩm tiêu thụ. Đây đợc xem là biện pháp để tồn tại và nâng cao khả năng cạnh
tranh của mỗi doanh nghiệp trên thị trờng.
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Kiêu Kỵ cũng không nằm ngoài áp lực cạnh
tranh của thị trờng. Hơn nữa ngành giầy dép là ngành cũng chịu sự cạnh tranh
khốc liệt bởi các doanh nghiệp cùng ngành trong nớc và mối đe doạ từ phía các
các doanh nghiệp nớc ngoài trong thời gian tới khi phá bỏ hàng rào thuế quan.
Từ tính cấp thiết của thực tế, đề tài Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh của Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Kiêu Kỵ giúp em tìm hiểu sâu hơn
khả năng cạnh tranh và áp lực cạnh tranh của của doanh nghiệp để từ đó đa ra
những giải pháp góp phần cùng doanh nghiệp tìm đợc thế đứng vững và phát triển
trên thị trờng.
Bố cục chuyên đề gồm ba chơng:
Chơng I : Một số lý luận cơ bản về nâng cao khả năng của doanh nghiệp
Chơng II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu
Kiêu Kỵ
Chơng III: Một số biện pháp chủ yêu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Kiêu Kỵ trong thời gian tới


1

Trong quá trình hoàn thành bản chuyên đề này em đã nhận đợc sự động viên,
tham gia, đóng góp ý kiến của các cô chú ở Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu
Kiêu Kỵ Hà Nội, cùng các bạn bè và sự hớnh dẫn nhiệt tình của các thầy cô
trong khoa quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là thầy giáo Trần Hùng.Qua đây em
xin trân trọng giửi lời cảm ơn, trân thành đến tất cả mọi ngời đã có những đóng
góp thiết thựcvà to lớn trong việc hoàn thành bản chuyên đề này.
Do năng lực và kinh nghiệm thực tế của bản thâncòn có hạn, bản chuyên đề sẽ
có những thiếu sót nhất định. Em mong đợc sự chỉ dẫn góp ý và thông cảm.

2

Chơng I
Một số lý luận cơ bản về nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp
I. Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghịêp
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh đợc hiểu là sự đua tranh giữa các nhà kinh
doanh trên thị trờng nhằm giành đợc những u thế hơn về cùng một lọai sản phẩm
hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh là một đặc trng cơ bản của cơ chế thị trờng.
Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp đợc hiểu nh là một Mô men động
lợng phản ánh và lợng hóa tổng hợp thế lực, địa vị, cờng độ, động thái vận hành
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong mối quan hệ tơng tác với đối thủ
cạnh tranh trực tiếp trên thị trờng mục tiêu xác định và trong các thời gian xác
định.
2.Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào hoạt động kinh

doanh trên thị trờng thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại, đứng vững đợc
trong nền kinh tế thị trờng. Ngày nay để tồn tại đợc và đứng vững, các doanh
nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Nâng cao khả năng để dành
giật khách hàng bằng việc tạo những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của mình là tốt nhất, phù hợp
với nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng nhất và doanh nghiệp nào càng đáp ứng
tốt nhu cầu của khách hàng, cung cấp cho họ những dịch vụ thuận tiện và sản
phẩm tốt nhất với giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong
nền kinh tế thị trờng. Do vậy việc nâng cao khả năng cạnh tranh là rất cần thiết.
doanh nghiệp tồn tại đợc hay không đợc thể hiện qua doanh thu của doanh
nghiệp. Lợi nhuận của doanh nghiệp có đợc khi bán đợc sản phẩm hàng hoá hay
dịch vụ. Lợng bán càng nhiều thì doanh thu càng cao,lợi nhuận càng lớn. Nh vậy
để thu hút đợc càng nhiều ngời mua buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình bằng cách nâng cao chất lợng sản phẩm, dịch vụ, đáp
3

ứng nhu cầu của khách hàng liên tục. Đối với giá cả, các doanh nghiệp đa ra các
mức giá thấp nhất có thể, chính điều này đã buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn
phơng án sản xuất tối u với chi phí nhỏ nhất. Điều này lại liên quan đến việc áp
dụng khoa học tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện đại làm tăng chất lợng sản phẩm
và giảm giá thành, tăng lợng bán, tăng doanh thu, lợi nhuận cao do đó doanh
nghiệp mới tồn tại và đứng vững đợc.
Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố thích kinh
doanh. Theo quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất. Sản xuất hàng hoá
ngày càng phát triển, hàng hoá bán ra nhiều, số lợng ngời cung ứng ngày càng
đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Kết quả của cạnh tranh là loại bỏ những
doanh nghiệp làm ăn không tốt.Khi đã tiến hành hoạt động kinh doanh thì doanh
nghiệp nào cũng muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh, để làm đợc điều đó doanh
nghiệp cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp phải
phát huy hết những u thế của mình tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh

tranh. Mặt khác doanh nghiệp phải biết áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, kỹ
thuật cao, cải tiến trang thiết bị, máy móc vào việc sản xuất hàng hoá, điều đó có
nghĩa là doanh nghiệp có khả năng giảm đợc các chi phí trong việc tạo ra sản
phẩm.
Trong nền kinh tế thị trờng mong muốn tồn tại và phát triển trong cạnh tranh luôn
là mục đích của mỗi doanh nghiệp. Cũng trong nền kinh tế đó, khách hàng là ngời
tự do la chọn nhà cung ứng, là ngời quyết định cho doanh nghiệp tồn tại hay
không .Họ không phải tự tìm đến doanh nghiệp nh trớc đây nữa mà buộc các
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tự tìm đến khách hàng và khai
thác nhu cầu nơi họ. Tức là muốn khách hàng tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp, các doanh nghiệp phải tự giới thiệu, quảng cáo sản phẩm của mình, làm
cho ngời tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp để họ cảm nhận và quyết
định dùng hay không.
Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp có đợc một khách hàng đã khó nhng để
giữ đợc khách hàng điều đó còn khó hơn. Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng
cao khả năng cạnh tranh của mình để tự khẳng định mình, để tồn tại, phát triển từ
đó doanh nghiệp sẽ đạt đợc những thành công trong kinh doanh.
4

Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có những mục tiêu nhất định.Tùy thuộc
vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh nghiệp cần đặt ra cho
mình những mục tiêu khác. Nếu nh giai đoạn mới bớc vào kinh doanh thì mục
tiêu của doanh nghiệp là muốn thị trờng biết đến sản phẩm kinh doanh của mình(
nói cách khác là xâm nhập thị trờng) thì ở giai đoạn phát triển mục tiêu của doanh
nghiệp là đạt đợc lợi nhuận tối đa và tăng thị phần, tạo uy tín và niềm tin cho
khách hàng. Đến giai đoạn suy thoái thì mục tiêu của doanh nghiệp là thu hồi vốn
và xây dựng chiến lợc sản phẩm mới.Do đó, muốn đạt đợc mục tiêu của mình thì
doanh nghiệp cần phải cạnh tranh. Vì chỉ có cạnh tranh mới có thể đa doanh
nghiệp đến sự phát triển. Việc nâng cao khả năng cạnh tranh buộc các doanh
nghiệp tìm ra những phơng thức, biện pháp tốt nhất để sáng tạo, tạo ra những sản

phẩm đạt chất lợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, cung cấp những dịch vụ tốt hơn
đối thủ cạnh tranh, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
3.Động lực của việc nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp
Trong thời đại ngày nay khi mà xu thế hội nhập quốc tế cũng nh liên khu vực
diễn ra ngày một nhanh chóng thì việc nâng cao khả năng của toàn bộ nền kinh tế
cũng nh từng thành phần trong nền kinh tế có một ý nghĩa vô cùng to lớn.Việc
nâng cao khả năng cạnh tranh, để tạo ra và chi phối các cơ hội đang xuất hiện, để
kiểm tra không gian cạnh tranh mới. Sự sáng tạo và phát triển của tơng lai mang
đến đày khó khăn thử thách hơn là đuổi kịp nó, ở đay doanh nghiệp phải tìm ra
một hớng đi riênh của chính mình. Mục tiêu không chỉ đơn giản là đuổi kịp sự đổi
mới, quy trình sản xuất của đối thủ cạnh tranh và học hỏi các phơng pháp của họ
mà nhằm phát triển 1 quan điểm cơ bản về các cơ hội của ngày mai, làm thế nào
để khai thác đợc chúng.
Nh vậy cạnh tranh sẽ dẫn đến kết quả là làm cho giá cả có xu hớng ngày càng
giảm, số lợng hàng hoá trên thị trờng ngày càng tăng, đáp ứng đợc nhu cầu của
ngời tiêu dùng.
Mặt khác cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải dành một phần lợi nhuận
thích đáng để hiện đại hoá. Để đúng đợc lâu dài trên thị trờng của các doanh
nghiệp phải đầu t các trang thiết bị, máy móc hiện đại, không ngừng đa tiến bộ
khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nhằm làm tăng chất lợng sản phẩm và tăng năng
suất lao động.
5

Cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản xuất kinh
doanh hàng hoá và khuyến khích các doanh nghiệp có chi phí thấp. điều này đã
toạ ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải giảm các chi phí, tối u hoá sản xuất đầu
vào trong sản xuất kinh doanh. Điều này một mặt cũng phù hợp với yêu cầu của
xã hội, song bên cạnh đó cũng làm cho một số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả phát triển mặt khác nó cũng đa một số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu
quả phá sản cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế những

doanh nghiệp kinh doanh kém phát triển nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã
hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nớc phát triển. Nh vậy cạnh tranh chính là động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế của mỗi nớc cũng nh mỗi doanh nghiệp . Với cách hiểu
nh vậy ta thấy vai trò đặc biệt của nhà kinh doanh trong việc làm tăng sự giầu có
của xã hội.
4. Các công cụ nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.
Thứ nhất: chất lợng hàng hoá. Trên thơng trờng nếu nhiều hàng hoá có công
dụng nh nhau giá cả bằng nhau thì ngời tiêu dùnh sẽ mua hàng hoá có chất lợng
cao hơn. Do đó, đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh nghiệp sử
dụng để thắng đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, chất lợng của hàng hoá phụ thuộc
vào điều kiện kỹ thuật của từng đơn vị sản xuất, từng ngành, từng vùng và từng
quốc gia.
Thứ hai: giá cả hàng hoá. Hai hàng hoá có công dụng, chất lợng nh nhau thì ng-
ời tiêu dùng sẽ mua hàng hoá nào có giá rẻ hơn. Giá cả hàng hoá đợc quyết định
bởi giá trị hàng hoá. Song sự vận động của giá còn phụ thuộc vào khả năng thanh
toán của ngời tiêu dùng. Mức sống còn thấp, ngời tiêu dùng tìm mua những hàng
hoá có giá rẻ. Thực tế cho thấy hàng tiêu dùng của Trung Quốc đợc tiêu thụ mạnh
tại Việt Nam. Các nhà sản xuất đã thực thiện một chiến lợc kinh doanh là làm ra
hang hoá có khả năng thanh toán về phía mình. Trong kinh doanh để cạnh trang
về giá, một số doanh nghiệp chấp nhận ít lời, bán giá thấp nhng dùng số nhiều để
thu lại. Ngợc lại, khi mức sống cao hơn ngời tiêu dùng sẽ quan tâm nhiều đến
hàng hoá có chất lợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
Thứ ba: áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại. Sức cạnh tranh hàng
hoá của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng hoá cá biệt của họ thấp hơn giá
trung bình trên thị trờng. Để có lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tập trung
các nguồn lực để tăng năng suất lao động, hạ chi phí đầu vào, nâng cao chất lợng
6

hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội.
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thờng xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý

hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và quản
lý hiện đại và trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thực tiễn đã chứng minh các
doanh nghiệp đã tồn tại và phát triển đợc cần có dây chuyền công nghệ mới, hiện
đại có phơng pháp tổ chức khoa học.
Thứ t: là thông tin, một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp. Thông tin
về thị trờng mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giá cả, đối thủ
cạnh tranh... có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Đầy đủ thông
tin và xử lý thông tin đúng, một mặt giúp các doanh nghiệp hạn chế rủ ro trong
kinh doanh, mặt khác qua thông tin có thể tìm ra và tạo ra lợi thế so sánh của
doanh nghiệp trên thơng trờng, chuẩn bị và đa ra đúng thời điểm những sản phẩm
mới thay thế để tăng cờng sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá. Thông tin đủ, đúng
có thể thúc đẩy thị trờng một cách tích cực hoặc tạo ra những nh cầu gỉa tạo, hành
vi cạnh tranh sai trái làm biến dạng thị trờng. Vì thế không ngạc nhiên khi tình
trạng quảng cáo sản phẩm hiện nay của các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng
nhiều trên các phơng tiện thông tin đại chúng, chi phí cho hoạt động quảng cáo,
giới thiệu, trng bày sản phẩm chiếm tỉ trọng nhất định trong chi phí chung của
doanh nghiệp.
Thứ năm: Phơng thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Phơng thức phục vụ và thanh toán là công cụ cạnh tranh khá quan
trọng. Ai nắm bắt đợc công cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh. Bởi vì công cụ này
tạo ra đợc tiện lợi cho khách hàng. Phơng thức phục vụ và thanh toán trớc hết đợc
thể hiện ở ba giai đoạn của quá trình bán hàng: Trớc khi bán hàng và trong quá
trình bán hàng, sau khi bán hàng. Trớc khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện
các việc nh: quảng cáo, giới thiệu, hớng dẫn thị hiếu khách hàng, các hoạt động
triển lãm, trơng bày hàng hoá. Những việc làm này nhằm hấp dẫn, lôi cuốn khách
hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình.
Trong quá trình bán hàng khâu quan trọng nhất là nnghệ thuật bán hàng, lịch
sự,ân cần và chu đáo. Sau khi bán hàng, phải có các dịch vụ nh bao bì và giao
hàng đến tận tay ngời tiêu dùngvà các dịch vụ bảo hành sửa chữa hàng hoá ...
7


Những dịch vụ này tạo ra sự tin tởng, uy tín của doanh nghiệp đối với ngời tiêu
dùng. Sau nữa, phơng thức phục vụ trên sẽ phát huy tác dụng khi đảm bảo đợc các
yêu cầu sau : các dịch vụ phải nhanh, chính xác... phơng thức thanh toán phải linh
hoạt, đa dạng nh : thanh toán một lần, thanh toán chậm, bán trả góp, bán có thởng,
thanh toán linh hoạt khi trả bằng ngoại tệ.
Thứ sáu: tính độc dáo của sản phẩm. Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên thơng tr-
ờng đều mang một chu kỳ nhất định, đặc biệt vòng đời của nó rút ngắn khi xuất
hiện sự cạnh tranh. Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp dùng
nhiều biện pháp trong đó có biện pháp là thờng xuyên cải tiến mọi mặt của sản
phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng, liên tiếp tung ra thị trờng những sản phẩm mới
thay thế sản phẩm cũ. Trong điều kiện doanh nghiệp cha đủ sức tạo ra tính độc
đáo của sản phẩm mới thì có thể sử dụng nhãn hiệu của một sản phẩm đang đợc
uy tín trên thị trờng qua hình thức liên doanh. Sự thay đổi thơng xuyên về mẫu mã
nhãn hiệu hàng hoá cũng nh việc không ngừng nâng cao chất lợng, tính năng của
hàng hoá sẽ tạo điều kiện cho sự tồn tại và phái triển của các doanh nghiệp hiện
nay.
Thứ bẩy: chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong quá trình
kinh doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm thu hút khách hàng
về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toá nh: qui -
ớc về giá cả, số lợng kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản hoạc bằng miệng, hay việc
thanh toán với các hình thức nh bán trả góp, bán chịu, bán gối đầu... Những hành
vi này sẽ thực hiện tốt hơn khi giữa doanh nghiệp và khách hàng có lòng tin với
nhau. Do vậy trữ tín trở thành công cụ sắc bén trong cạnh tranh, giúp cho quá trình
buôn bán diễn ra nhanh chóng tiên lợi. Mặt khác, công cụ này còn tạo cơ hội cho
nhiều ngời ít vốn có điều kiện tham gia kinh doanh, do đó mở rộng đợc thị phần
hàng hoá... tạo sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Những u điểm đó giải thích vì
sao trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh linh hoạt hơn, có
nhiều bạn hàng hơn. Tuy nhiên sử dụng công cụ này đòi hỏi các chủ thể cạnh
tranh phải có bản lĩnh. Bởi vì có nhiều vấn đề phức tạp nẩy sinh nh tình trạng đối

tác làm ăn có ý đồ đen tối.
Thứ tám: sự mạo hiểm rủi ro. Trong kinh doanh lợi nhuận doanh nghiệp th-
ờng tỉ lệ thuận với sự mạo hiểm rủi ro trong kinh doanh. Các chủ thể kinh doanh.
8

Các chủ thể kinh doanh có khuynh hớng đầu t kinh doanh (kể cả đầu t nghiên
cứu khoa học) và những mặt hàng mới, lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thờng cao.
Đây là khuynh hớng khách quan vì nó hy vọng thu đợc lợi nhuận cao trong tơng
lai. Mặt khác nó giảm đợc áp lực từ phía đối thủ cạnh tranh hiện tại. Sự mạo hiểm
chấp nhận rủi ro nhầm thu đợc lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong kinh doanh là
công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả, nhng cũng cực hỳ nguy hiểm trong quá trình
cạnh tranh. Việc sử dụng hiêu quả, nhng cực kỳ nguy hiểm trong quá trình cạnh
tranh. Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi doanh nghiệp có tài năng và bản
lĩnh.
Nh vậy, các công cụ cạnh tranh mà các doanh nghiệp hiện nay sử dụng có thể
khái quát nh sau: Lấy chất lợng, rẻ, thông tin, nhanh, mới, nhiều, linh hoạt,lòng
tin, nổi tiếng, thúc đẩy liên doanh, độc đáo, mạo hiểm và bán chịu để thắng trong
cạnh tranh.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp và mối quan hệ giữa chúng.
1. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực chính là những ngời tạo ra sản phẩm một cách trực tiếp, có thể
gián tiếp. Đội ngũ cán bộ quản lý sẽ là ngời quyết định các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Nh thế nào? và bao nhiêu? Mỗi
quyết định của họ có ý nghĩa quan trọng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Chính họ là ngời quyết định cạnh tranh nh thế nào, khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp ở mức nào, bằng cách nào?...
Bên cạnh những ngời quản lý, công nhân là ngời trực tiếp sản xuất ra sản phẩm.
Sản lợng sản phẩm cũng nh chất lợng sản phẩm cũng là do họ quyết định bởi các

thao tác công việc, những kinh nghiệm nhằm tiết kiệm nhng vẫn đảm bảo đợc chất
lợng sản phẩm tốt ở họ, trình độ tay nghề cộng với lòng hăng say làm việc là cơ
sở đảm bảo chất lợng sản phẩm và tăng năng suất lao động. Đây là tiền đề để
doanh nghiệp có thể tham gia cạnh tranh và đứng vững trên thị trờng.
1.2. Công tác quản trị của doanh nghiệp
Công tác quản trị giữ một vị trí trung tâm trong các hoạt động của doanh
nghiệp. Công tác quản trị bao gồm các công việc nh lập kế hoạch, tổ chức thực
9

hiện sản xuất kinh doanh, xây dựng bộ máy quản lý nh thế nào vừa tinh giảm nhất
vừa hiệu quả nhất.
Lập kế hoạch đợc xem nh là xơng sống của công tác quản trị, trong việc lập kế
hoạch, việc đa ra chiếnlợc kinh doanh của doanh nghiệp là rất quan trọng nó định
hớng đờng đi nớc bớc của doanh nghiệp,sự tồn tại của doanh nghiệp. Lập kế
hoạch đợc xem nh cầu nối giữa hiện tại với tơng lai. Lập kế hoạch phải chặt chẽ và
hợp lý nhất nhằm phân phối các hoạt động một cách nhịp nhàng dựa trên cơ sở kế
hoạch nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu kế hoạch không đi
sát thực tế sẽ không những không tăng mà còn làm giảm đi khả năng cạnh tranh.
Và hơn bao giờ hết, vai trò của ban lãnh đạo quyết định phần lớn đến sự sống còn
của doanh nghiệp.
1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của phản ánh khả năng phát triển của doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với công nghệ tiên tiến
chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Với một hệ thống
máy móc thiết bị tân tiến, chất lợng và số lợng sản phẩm sẽ đợc nâng cao hơn,
cùng với nó giá thành sản phẩm hạ kèm theo sự giảm giá bán trên thị trờng, khả
năng thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ là rất lớn, trái lại, mặc dù đội
ngũ quản lý có năng lực và các yếu tố khác là khá tốt, doanh nghiệp sẽ khó có khả
năng cạnh tranh cao khi mà công nghệ máy móc lạc hậu , vừa làm giảm chất lợng
sản phẩm vừa làm tăng thêm chi phí sản xuất.

1.4. Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm
Đặc điểm của sản phẩm có ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp, sản phẩm phải thích ứng với thị trờng một cách nhanh chóng thì
mới có thể tiêu thụ trên thị trờng. Mặt khác sự vợt trội về đặc điểm của sản phẩm
sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .
Chính sách sản phẩm là công cụ tốt để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Đa dạng hoá sản phẩm giúp doanh nghiệp giảm áp lực cạnh tranh, cho
phép doanh nghiệp kiểm soát đợc tình hình cạnh tranh ở mức nào. Sản phẩm
của doanh nghiệp phải luôn đợc hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu
cầu thị trờng bằng cách cải thiện các thông số về chất lợng, mãu mã, bao bì, kiểu
dáng...đa dạng hóa sản phẩm bao gồm nghiên cứu sản phẩm mới và cải tiến sản
phẩm không chỉ để đảm bảo đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng, thu nhiều lợi nhuận
10

mà còn là biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh. Song song với việc đa dạng
hoá sản phẩm là trọng tâm hoá sản phẩm tức là đi sâu nghiên cứu một số loại sản
phẩm chính (sản phẩm mũi nhọn) cho thị trờng, nhu cầu khách hàng tiêu dùng
nhất định. Khi đó, doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có
hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Ngoài ra chiến lợc khác biệt hoá sản
phẩm sẽ tạo ra nét độc đáo riêng trong việc thu hút tạo sự hấp dẫn cho khách hàng
và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
1.5. Giá cả sản phẩm hàng hoá
Yếu tố giá đợc hình thành thông qua quan hệ cung cầu. Ngời bán và ngời mua
thoả thuận với nhau trên thị trờng để từ đó đi tới mức giá cuối cùng đảm bảo hai
bên cùng có lợi. Giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc khách hàng quyết định
mua hay không mua sản phẩm của doanh nghiệp. Đối với những sản phẩm cùng
loại, chất lợng tơng đơng nhau thì mức giá bán thấp hơn sẽ làm tăng sản lợng tiêu
thụ của sản phẩm. Chính sách giá đóng một vai tròn quan trọng nh một thứ vũ khí
để cạnh tranh, định giá thấp, định giá ngang hay cao hơn giá thị trờng sao cho việc
thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp là tốt nhất.

Mức giá thấp hơn giá thị trờng cho phép doanh nghiệp thu hút ngày càng nhiều
khách hàng và tăng sản lợng tiêu thụ, cơ hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trờng
mới. Ngợc lại chính sách giá cao chỉ sử dụng trong các doanh nghiệp có tính độc
quyền cao vơn tới lợi nhuận siêu ngạch. Với mức giá ngay bằng giá thị trờng giúp
doanh nghiệp giữ đợc khách hàng, nếu có biện pháp giảm giá thành thì lợi nhụân
sẽ tăng nên và khả năng cạnh tranh đợc khẳng định.
Nh vậy, chính sách giá cả là quan trọng ảnh hởng đến u thế cạnh tranh và do đó
doanh nghiệp phải định giá phù hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong
chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của thị trờng.
1.6. Chất lợng sản phẩm.
Với xu thế hiện nay trên thế giới, chỉ tiêu chất lợng sản phẩm nó trở thành yếu tố
cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Đây là yếu tố ảnh hởng lớn đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Chất lợng sản phẩm tốt vừa đáp ứng yêu cầu của khách
hàng, vừa nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh với các
đối thủ.
Chất lợng sản phẩm mang tính chất nội tại của sản phẩm. Nó đợc xác định bằng
các thông số có thể đo đợc thông qua việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xã
11

hội. Chất lợng sản phẩm quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là
việc làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, thị phần doanh nghiệp chiếm lĩnh lớn,
khả năng cạnh tranh cao.
1.7. Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện đợc
phải có sự giúp đỡ về tài chính. Dựa trên cơ sở nguồn tài chính doanh nghiệp mới
quyết định các hoạt động nh mua sắm nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, quy mô
quảng cáo, mở rộng quy mô sản xuất.
doanh nghiệp có tiềm lực tài chính cao có khả năng thu hút khách hàng từ đối
thủ cạnh tranh nhờ sử dụng một số chính sách chẳng hạn ban đầu bán với mức giá
cùng hoặc thấp hơn giá của đối thủ cạnh tranh, chịu chấp nhận không có lợi

nhuận hoặc có thể hỗ trợ trong thời gian đầu. Sau đó khi đã chiếm đợc thị trờng
rộng lớn và tạo đựơc lòng tin từ phía khách hàng mới quay trở lại thu hồi vốn.
1.8. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm .
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó cũng
là khâu quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và khách
hàng là ngời mua sản phẩm thông qua kênh tiêu thụ, hoặc trực tiếp. Việc xây
dựng các kênh tiêu thụ vững chắc sẽ giúp cho việc nâng cao khả năng cạnh tranh.
Đó là việc tăng sản lợng hàng hoá, tăng lợi nhụân với tốc độ thu hồi vốn nhanh,
kích thích phát triển sản xuất.
Công tác tiêu thụ tốt giúp doanh nghiệp quyết định tăng sản lợng hay không, là
nhờ các hoạt động hỗ trợ bán hàng nh quảng cáo, khuyến mại, hoạt động dịch vụ
sau bán, hay việc tham gia các hội trợ, tổ chức hội nghị khách hàng làm tăng
thêm danh tiếng cho doanh nghiệp. Mạng lới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
giúp khách hàng tiếp xúc nhiều hơn với sản phẩm của mình, giúp doanh nghiệp
tạo ra nhiều bạn hàng khách hàng mới và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng.
1.9. Uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng .
doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp khẳng định đợc vị trí của
mình trên thị trờng. Vị trí này có đợc đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nỗ lực của
toàn thể cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Uy tín của doanh nghiệp
không chỉ đơn thuần với khách hàng mà còn uy tín với bạn hàng, với nhà cung
ứng, với tổ chức cá nhân có liên quan, với nhà nớc. Những doanh nghiệp có uy tín
12

sẽ có những bạn hàng lâu dài và tin tởng trong việc cung cấp nguyên vật lịêu cho
sản xuất kinh doanh, sẽ tạo ra nhiều mối quan hệ mới đặc biệt trong vấn đề liên
doanh, liên kết.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự liên
doanh liên kết, tơng trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp. Liên doanh với nhau
nhằm tận dụng thế mạnh của nhau và uy tín đã đợc lợng hoá để tính phần vốn góp

vốn của doanh nghiệp. Dựa vào những uy tín sẵn có của hãng kinh doanh mà
công t có khả năng bán đợc nhiều hơn sản phẩm của mình. Nh vậy, uy tín ảnh h-
ởng rất lớn tới khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Tất cả các nhân tố đều
gián tiếp, trực tiếp ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp . Nói đến
khả năng cạnh tranh mặc dù bằng nỗ lực bên trong của mỗi doanh nghiệp. Song
kết quả lại là thể hiện bên ngoài đó chính là khả năng tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp. Và nh vậy, để có một vị thế cạnh tranh tốt doanh nghiệp còn phải
đối đầu với những áp lực bên ngoài mà liên quan gần nhất là những áp lực thuộc
ngành - năm thế lực cạnh tranh.
(Theo tạp chí Việt Nam Economics news số ra năm 1999)
* Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đây là lực lợng thứ nhất trong số 5 lực lợng của mô hình này là quy mô cạnh
tranh trong số các doanh nghiệp hiện tại vừa là một ngành sản xuất, nếu các đối
thủ cạnh tranh càng yếu thì doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm đợc
nhiêù lợi nhuận hơn. Ngợc lại khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại thì sự cạnh tranh
13
Đối thủ cạnh
tranh tiềm
tàng
áp lực
của nhà
cung
ứng
Doanh nghiệp và
đối thủ cạnh
tranh hiện tại
áp lực của
người mua
Sản phẩm và
dịch vụ thay thế


về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đến tổn thơng. Cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất thờng bao gồm các nội
dung chủ yếu nh: Cơ cấu cạnh tranh, thực trạng cầu của ngành, các hàng rào lối
ra ...
* Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn .
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại cha cạnh tranh cùng
một ngành sản xuất, nhng có khả năng cạnh tranh nếu họ đợc lựa chọn và quyết
định gia nhập ngành.Đây là đe doạ cho các doanh nghiệp hiện tại .
*Nhà cung ứng
Nhà cung ứng có thế coi là áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá đầu vào
hoặc giảm chất lợng sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp, áp lực này sẩy ra khi là
nhà cung ứng độc quyền, không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp mua yếu tố
sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và u tiên của họ, cũng có thể loại
đầu vào của nhà cung ứng là quan trọng đối với doanh nghiệp hay các nhà cung
ứng vật t cũng có chiến lợc kết dọc, tức là khép kín sản xuất.
* Khách hàng
Đây là lực lợng tạo ra khả năng mặc cả của ngời mua. Ngời mua có thể mặc cả
thông qua sự ép giá giảm từ khối lợng hàng hoá mua của doanh nghiệp hoặc đa ra
yêu cầu chất lợng tốt hơn nhng họ cũng có thể tạo cơ hội cho doanh nghiệp tăng
giá kiếm lợi nhuận. Các nhân tố gây sức ép đó là mua khối lợng lớn, nắm bắt đ-
ợc thông tin của doanh nghiệp, thị trờng... thậm chí họ có thể vận dụng chiến lợc
liên kết dọc, xu hớng khép kín sản xuất.
* Sản phẩm thay thế.
Là sản phẩm khác có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Đặc điểm cơ bản
của nó thờng có những u thế hơn sản phẩm bị thay bởi đặc trng riêng biệt hay giá
rẻ hơn. Tạo điều kiện u đãi hơn về dịch vụ hoặc các điều kiện tài chính.
Nh vậy, trong một ngành kinh doanh luôn có những đe dọa buộc các doanh
nghiệp phải nghiên cứu phân tích nhằm đa ra những chiến lợc cho mình để đối
phó với các thế lực trên nhằm nần cao khả năng cạnh tranh của mình trong nền

kinh tế thị trờng.
14

2. Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh phụ thuộc và rất nhiều nhân tố. Ngoài các nhân tố kể trên
đó chỉ là các điển hình còn có rất nhiều nhân tố khác. Tuy nhiên các nhân tố ảnh
hởng này không phải là ảnh hởng một cách đơn lẻ, mà giữa chúng có sự liên kết,
tác động, ảnh hởng lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau cùng tác động đến khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp .
Thực vậy các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Chúng kết hợp với nhau tạo lên một khả năng tốt nhất cho hoạt động
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh nguồn nhân lực phải đợc đào tạo về chất lợng,
nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, bồi dỡng đội ngũ cán bộ quản lý của
doanh nghiệp để có đợc điều này đòi hỏi phải trang bị máy móc công nghệ kỹ
thuật cao cho hoạt động tay nghề của công nhân, phải có khả năng về tài chính để
trang bị máy móc, thiết bị, bồi dỡng cán bộ.
Công tác quản trị của doanh nghiệp trong đó đặc biệt là chiến lợc cho hoạt động
của doanh nghiệp. Để hoạch định, đa ra một chiến lợc cho hoạt động của doanh
nghiệp có khả thi đòi hỏi cán bộ quản lý phải giỏi về chuyên môn nghiệp vụ có
tầm nhìn rộng và sâu, khả năng phân tích cao, t duy sắc bén, logic. Song có đợc
điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải thờng xuyên bồi dỡng nâng cao trình độ cho
đội ngũ cán bộ quản lý, công tác phát triển nguồn nhân lực phải đặt lên trên.
Cơ sở vật chất, công nghệ và máy móc ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh
trong công nghiệp. Bởi công nghệ máy móc thiết bị hiện đại thì tạo ra năng suất
lao động cao chi phí giảm, tăng lợi nhuận, ảnh hởng đến sản phẩm và cơ cấu sản
phẩm, tới giá cả sản phẩm, tới uy tín của doanh nghiệp.Tuy nhiên, để trang bị
máy móc thiết bị công nghệ hiện đại đòi hỏi khả năng tài chính phải cao mới có
đủ khả năng trang bị cho hoạt động sản xuất, mua sắm của doanh nghiệp.

Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm, yếu tố này chịu tác động của công tác quản trị
của doanh nghiệp, của nguồn nhân lực, của công nghệ máy móc thiết bị. Chiến l-
ợc kinh doanh của doanh nghiệp trong đó có chiến lợc vì sản phẩm cơ cấu sản
phẩm nh thế nào, giá sản phẩm ra sao cho phù hợp với chi phí bỏ ra, với giá trên
thị trờng.
15

Giá cả của sản phẩm lại ảnh hởng bởi máy móc công nghệ thiết bị. Công nghệ có
hiện đại thì mới giảm đợc chi phí sản xuất khi đó giá mới giảm đồng thời chất l-
ợng sản phẩm lại tốt do đó khách hàng sử dụng yên tâm hoạt động tiêu thụ mạnh
mẽ, lợi nhuận tăng, doanh nghiệp mở rộng thị phần, khả năng cạnh tranh đợc
nâng cao.
Khi uy tín doanh nghiệp đợc khẳng định thì khả năng cạnh tranh rất cao bởi
khách hàng và bạn hàng đã biết đến. Để tạo dựng đợc uy tín đòi hỏi sản phẩm của
doanh nghiệp phải tốt, đáp ứng các nhu cầu của ngời tiêu dùng, giá cả hợp lý, cơ
cấu sản phẩm đa dạng.
Nh vậy tất cả các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra tốt đẹp
nhất.
III. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp
1. Thị phần và vị thế cạnh tranh
Thị phần là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thờng dùng để đánh giá mức độ chiếm
lĩnh thị trờng của mình so với đối thủ cạnh tranh. Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất để
đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thị phần càng lớn càng thể hiện
rõ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Biểu hiện cụ thể là thị phần
mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, bạn
hàng thậm chí cả với đối thủ cạnh tranh.
Khi xem xét ngời ta đề cập đến các loại thị phần sau :
+Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trờng: Đây chính là tỉ lệ phần trăm

giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn ngành.
+Thị phần của doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục vụ : Đó là tỉ lệ phần
trăm giữa doanh số của doanh nghiệp đối với doanh số của toàn phân khúc.
+Thị phần tơng đối: Đây là tỉ số giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số
của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Nó cho biết vị thế của doanh nghiệp trong cạnh
tranh trên thị trờng nh thế nào.
+Thị phần tuyệt đối là so với toàn ngành
doanh thu của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp =
16

Tổng doanh thu toàn ngành
Dễ thấy thị phần của doanh nghiệp càng lớn thì doanh thu của doanh nghiệp
càng cao. Chính vì thế nó là nhân tố quyết định hiệu quả, lợi nhuận của doanh
nghiệp hay là yếu tố quan trọng quyết định đối với vị thế cạnh tranh của doanh
nghiệp.
2. doanh thu và lợi nhuận
Ngoài việc đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu,
thị phần và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, ngời ta còn đánh giá kết quả cạnh
tranh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận mà doanh
nghiệp đạt đợc trong sự cạnh tranh gay gắt với các đối thủ cạnh tranh.
doanh thu : là tổng doanh thu của doanh nghiệp so với tổng doanh thu của đối
thủ cạnh tranh, khi chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh tốt, sức cạnh tranh mạnh. Và ngợc lại nếu chỉ tiêu này nhỏ cũng có nghĩa
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là không cao.
Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thu đợc phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu t.
Nếu hiệu quả cao sẽ đem lại lợi nhuận lớn, tăng khả năng tái sản xuất, mở rộng thị
trờng, nâng cao khả năng cạnh canh của doanh nghiệp nhờ vào quy mô sản xuất
ngày càng mở rộng tạo lợi thế vợt trội so với đối thủ cạnh tranh .
Lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận =
doanh thu
doanh thu tỷ lệ nghịch với tỷ xuất lợi nhuận, khi doanh thu càng cao thì tỷ
xuát lợi nhuận sẽ giảm và ngợc lại. Chính vì thế muốn tăng doanh thu ta có thể
giảm tỷ xuất lợi nhuận.
17

Chơng II
Thực trạng khả năng cạnh tranh của Xí nghiệp giầy
thể thao xuất khẩu kiêu kỵ
I. Những nét khái quát về Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu
kiêu kỵ.
1.Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ là một doanh nghiệp nhà nớc
trực thuộc Bộ Thợng mại có chức năng và nhiệm vụ là: sản xuất và kinh doanh
mặt hàng giầy dép các loại.
Địa chỉ của Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ:
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ, Gia Lâm Hà Nội
Điện thoại : 8766879
Fax : 8276289
Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp có thể đợc khái quát nh
sau:
Do nhu cầu xuất khẩu ngày cao và nền kinh tế mở cửa cần nâng cao mở rộng
phạm vi hoạt động của một số ngành hàng đặc biệt là giầy dép xuất khẩu nên:
ngày 22 tháng 7 năm 1995 doanh nghiệp đợc quyết định thành lập và đi vào
hoạt động.
Sau nhiều năm hoạt động và phát triển doanh nghiệp đã dần khẳng định đợc
mình là một trong những doanh nghiệp lớn mạnh trên cơ sở đội ngũ công nhân
viên là những ngời có trình độ và lòng nhiệt huyết cao đã đa doanh nghiệp đến
nhng bớc nhảy vọt về sản lợng cũng nh chất lợng và hoàn thành tốt những chỉ tiêu

đã đề ra.
Là một doanh nghiệp nhà nớc hoạt động trong cơ chế thị trờng, hơn nữa là
một doanh nghiệp trẻ mới đợc thành lập với đặc thù nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh giầy dép là một mặt hàng dân dụng phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, khí
hậu, mùa vụ, sức sống dân c... Song doanh nghiệp vẫn không ngừng đổi mới đầu
t mua sắm trang thiết bị máy móc hiện đại để mở rộng sản xuất kinh doanh, bên
18

cạnh đó Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ rất chú trọng tới nguồn nhân
lực, doanh nghiệp đã xác định lao động là yếu tố hàng đầu của quá trình sản xuất
kinh doanh. Nếu nh đảm bảo chất lợng lao động sẽ mang lại kết quả cao, số lợng
và chất lợng lao động sẽ ảnh hởng trực tiếp đến năng suất hiệu quả máy móc thiết
bị của doanh nghiệp, do đó những năm qua doanh nghiệp không ngừng lớn mạnh
cả về số lợng và chất lợng. Hiện nay tổng số lao động của doanh nghiệp là 1215
ngời trong đó có 87% lực lợng lao động trẻ khoẻ, có đủ trình độ tiếp thu những
công nghệ sản xuất tiên tiến. Trong những năm gần đây doanh nghiệp đã không
ngừng nâng cao và cải thiện điều kiện làm việc. Đối với các phòng ban và nghiệp
vụ nhân viên đợc làm việc trong điều kiện khá tốt. Có đầy đủ thiết bị văn phòng,
kể cả hệ thống thông tin liên lạc, từng phòng có gắn máy điều hoà nhiệt độ. Đối
với công nhân sản xuất trực tiếp đợc làm việc trong môi trờng an toàn có đủ hệ
thống chiếu sáng, quạt máy và đủ máy móc chuyên dùng thay thế cho những công
việc nặng nhọc.
Nh vậy do chú trọng tới việc đầu t máy móc thiết bị hiện đại và không ngừng
phát triển nguồn nhân lực của mình, nên từ chỗ doanh nghiệp chỉ sản xuất đợc
mặt hàng giầy dùng cấp thấp chủ yếu tiêu thụ thị trờng nội địa, đến nay sản phẩm
của doanh nghiệp đa dạng phong phú về màu sắc, chủng loại, chất lợng sản phẩm
đợc nâng cao, khách hàng trong và ngoài nớc tín nhiệm. Từ chỗ doanh nghiệp có
rất ít khách hàng nhất là khách hàng nớc ngoài thì đến nay sản phẩm của doanh
nghiệp đã có mặt ở nhiều nơi trên thị trờng thế giới nh thị trờng EU, Uc, Bắc Mỹ...
* Tài sản Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ

Với quá trình phát triển nh vậy tính đến năm 2002 quy mô sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là:
- Tổng số vốn kinh doanh: 32.198.725.000 đồng
- Vốn ngân sách cấp: 20.271.321.080 đồng
- Vốn vay: 9.269.187.000 đồng
- Vốn tự bổ sung: 2.658.216.920 đồng
2. Chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp:
2.1. Chức năng:
Doanh nghiệp có chức năng chính là sản xuất kinh doanh các loại giầy dép
và một số mặt hàng khác từ cao su phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu. Ngoài ra
19

doanh nghiệp còn có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp theo giấy
phép kinh doanh XNK số 2051081 cấp ngày 18/12/1992. Phạm vi kinh doanh
XNK của doanh nghiệp là:
* Xuất khẩu: Các loại giầy dép và mặt hàng doanh nghiệp sản xuất ra.
* Nhập khẩu: vật t, nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản
xuất của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập trên cơ sở lấy
thu bù chi, khai thác các nguồn vật t, nhân lực, tài nguyên của đất nớc đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu tăng thu ngoại tệ góp phần vào công cuộc xây dựng và phát
triển kinh tế.
2.2. Nhiệm vụ:
Là một đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng. Xí
nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng thủ đô hà Nội và ngành giầy da Việt Nam. Nhiệm vụ của doanh nghiệp đợc
thể hiện:
- Thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở chủ động và tuân thủ
nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp.
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trờng, kiến nghị và đề xuất với

Bộ Thơng mại giải quyết các vấn đề vớng mắc trong hoạt động sản xuất kinh
doanh.
- Tuân thủ luật pháp nhà nớc về quản lý tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và
giao dịch đối ngoại, nghiêm chỉnh thực hiện cam kết trong hợp đồng mua bán
ngoại thơng và các hợp đồng liên quan đến sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đồng thời tự tạo nguồn vốn cho
sản xuất kinh doanh, đầu t mở rộng đổi mới trang thiết bị tự bù đắp chi phí, tự cân
đối xuất nhập khẩu, đảm bảo thực hiện sản xuất kinh doanh có lãi và hoàn thành
nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nớc.
- Nghiên cứu thực hiện có hiệu quả nâng cao các biện pháp nâng cao chất l-
ợng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. kinh doanh nhằm tăng sức cạnh tranh
và mở rộng doanh thu tiêu thụ.
20

- Quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên để phù hợp với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và theo kịp sự đổi mới của đất nớc.
3. Bộ máy tổ chức và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp:
Xuất phát từ tình hình, đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu của thị tr-
ờng và để phù hợp với sự phát triển của mình, doanh nghiệp đã không ngừng nâng
cao, hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý. Đến nay bộ máy tổ chức quản lý của
doanh nghiệp đợc chia làm 3 cấp: doanh nghiệp, Xởng - Phân xởng sản xuất. Hệ
thống lãnh đạo của doanh nghiệp bao gồm Ban giám đốc và các phòng ban nghiệp
vụ giúp việc cho giám đốc trong việc tiến hành chỉ đạo quản lý.
- Ban giám đốc gồm:
+ giám đốc
+ Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật
+ Phó giám đốc phụ trách kinh doanh
- Hệ thống các phòng ban bao gồm:
+ Phòng tổ chức

+ Phòng tài vụ kế toán
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
+ Phòng hế hoạch vật t
+ Phòng cơ điện
+ Phòng kỹ thuật
Mô hình tổ chức quản lý của doanh nghiệp là mô hình trực tuyến, chức năng.
Đứng đầu là giám đốc doanh nghiệp sau đó là các phòng ban nghiệp vụ và sau là
các đơn vị thành viên trực thuộc.
21

Sơ đồ 1: cơ cấu bộ máy tổ chức của doanh nghiệp
II. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp giầy
thể thao xuất khẩu kiêu kỵ
1. Đặc điểm về sản phẩm của doanh nghiệp
Ngành giầy là ngành công nghiệp nhẹ, sản phẩm của ngành vừa phục vụ cho
sản xuất, vừa phục vụ cho tiêu dùng. Đối tợng phục vụ của ngành giầy rất rộng lớn
bởi nhu cầu về chủng loại sản phẩm của khách hàng rất đa dạng.
Mặt khác sản phẩm giầy phụ thuộc nhiều vào mục đích sử dụng và thời tiết,
mùa vụ, thời trang. Do đó doanh nghiệp đã chú trọng sản xuất những sản phẩm
chất lợng và yêu cầu kỹ thuật cao - công nghệ phức tạp, giá trị kinh tế của sản
phẩm cao.
22
Giám đốc
P.Giám đốcP.Giám đốc
Phòng
tổ chức
hành
chính
Phòng
kế toán

tài vụ
Phòng
kinh
doanh
xuất
nhập
khẩu
Phòng
cơ điện
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
kế
hoạch
vật tư
Phân xưởng
cắt
Phân xưởng
may
Phân xưởng
gò ráp
Phân xưởng
đế

Vì thế, trong điều kiện hiện nay đã đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị tr-
ờng và thị hiếu của ngời tiêu dùng doanh nghiệp đã tung ra thị trờng những mặt
hàng giầy dép chủ yếu sau:
- Giầy vải cao cấp dùng để du lịch và thể thao
- Giầy, dép nữ thời trang cao cấp

- Giầy giả da xuất khẩu các loại
- Dép giả da xuất khẩu các loại
Do có sự cải tiến về công nghệ sản xuất cũng nh làm tốt công tác quản lý kỹ
thuật nên sản phẩm của doanh nghiệp có chất lợng tơng đơng với chất lợng sản
phẩm của những nớc đứng đầu châu á. Sản lợng của doanh nghiệp ngày càng tăng
nhanh, biểu hiện khả năng tiêu thụ sản phẩm lớn.
Đặc điểm sản phẩm của doanh nghiệp có ảnh hởng rất lớn trong hoạt động
nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt sản phẩm của doanh
nghiệp chủ yếu là xuất khẩu, đây là một đặc điểm có vai trò quan trọng trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp sản phẩm xuất khẩu, doanh thu xuất khẩu chiếm một
tỷ lệ lớn (trên 90%) giá trị sản phẩm sản xuất và tổng doanh thu, Qua đó ta có thể
thấy vai trò quan trọng của nó trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc tăng khối lợng sản phẩm xuất khẩu sẽ
góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu lợi nhuận từ đó làm tăng
nhanh vòng quay của vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2. Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất giầy của doanh nghiệp
Từ ngày thành lập là một doanh nghiệp làm ăn độc lập với những dây chuyền
cũ, lạc hậu không thích ứng với thời cuộc, đứng trớc tình huống đó ban giám đốc
doanh nghiệp đã tìm ra hớng đi riêng cho mình, tìm đối tác làm ăn, ký kết hợp
đồng chuyển giao công nghệ. Hiện nay, dây chuyền sản xuất chủ yếu của doanh
nghiệp đều nhập từ Đài Loan, Hàn Quốc, phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt
Nam về kỹ thuật và sử dụng nhân công nhiều.
Đến nay doanh nghiệp đã đầu t dây chuyền sản xuất, công suất dự tính 2,5
triệu đôi/năm trong đó gồm dây chuyền sản xuất giầy dép thời trangvà dây chuyền
sản xuất giầy thể thao, giầy vải cao cấp xuất khẩu, giầy bảo hộ lao động và các sản
phẩm may mặc, cao su hoá. Đây là dây chuyền hoàn toàn khép kín từ khâu may
mũ giầy vào form, cắt dân. "OZ" (đờng viền quanh đế giầy), các dây chuyền có
23


tính tự động hoá. Trong công xởng công nhân không phải đi lại, hệ thống băng
chuyền cung cấp nguyên vật liệu chạy đều khắp nơi. Chính đặc điểm quy trình
công nghệ sản xuất này đảm bảo cho dây chuyền sản xuất cân đối, nhịp nhàng cho
phép doanh nghiệp khai thác tới mức tối đa các yếu tố vật chất trong sản xuất.
Nhờ đó mà góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Quy trình công nghệ sản xuất giầy của Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu
kiêu kỵ có thể biểu diễn theo sơ đồ sau:
24

Sơ đồ 2: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giầy của
doanh nghiệp
3. Đặc điểm về lao động
Nhân tố con ngời là yếu tố quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh
do đó doanh nghiệp đã xác định: lao động là yếu tố hàng đầu của quá trình sản
xuất kinh doanh. Nếu nh đảm bảo số lợng, chất lợng lao động sẽ mang lại hiệu
25
Nguyên vật liệu
Nguyên liệu
hoá chất
Cao su tự nhiên Vải, mus, chỉ, ozê
Bồi, vải, musHỗn luyệnSơ luyện
Ra hình Cắt
Cắt may
In
Gò, dán, ép
Dán mặt gò
Lu hoá
Thu hoá
Đóng gói bao bì
Nhập kho

Xuất hàng

×