Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

BÁO CÁO KHẢO CỔ: “KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ” pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.19 MB, 87 trang )


VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN KHẢO CỔ HỌC








GÓI THẦU MT-04 THUỘC DỰ ÁN HỖ TRỢ KỸ THUẬT (PHRD GRANT)
CHO CHUẨN BỊ DỰ ÁN “PHÁT TRIỂN NGUỒN ĐIỆN VIỆT NAM”







“KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ
TẠI KHU VỰC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN,
TỈNH THANH HOÁ”


(BÁO CÁO CUỐI CÙNG)




NHÓM TƢ VẤN: VIỆN KHẢO CỔ HỌC












Hà Nội, tháng 11 năm 2008

2

Mục lục




1.
Tổng quan dự án

1.1.
Giới thiệu

1.2.
Môi trƣờng pháp lý

1.3.
Mục đích, nhiệm vụ, phƣơng pháp và phƣơng thức tiến hành


1.4.
Khu vực khảo sát và các bƣớc tiến hành

1.5.
Kế hoạch triển khai

2.
Kết quả điều tra khảo sát

2.1.
Vị trí địa lý, địa chất và cảnh quan môi trƣờng

2.2.
Điều tra khảo sát vùng chân đập

2.3.
Tổng quan về các di tích, di vật đã phát hiện

3.
Nhóm di tích, di vật nằm trong vùng lòng hồ

3.1.
Di tích khảo cổ thuộc giai đoạn tiền sơ sử


Di tích Bản Nàng 1

3.2.
Di tích khảo cổ học giai đoạn lịch sử



Khu mộ Huổi Pa

3.3.
Sƣu tập hiện vật trong vùng lòng hồ

3.3.1.
Sƣu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử

3.3.2.
Sƣu tập hiện vật giai đoạn lịch sử

3.4.
Các di tích mang tính chất thiêng liêng của nhóm tộc ngƣời
(Khiêng sằn)

3.4.1.
Khiêng sằn của bản Ta Bán

3.4.2.
Khiêng sằn của bản Nàng 1

3.4.3.
Khiêng sằn của bản Tài Chánh

4.
Nhóm di tích nằm ngoài vùng lòng hồ

4.1.

Di tích khảo cổ học giai đoạn tiền sơ sử


Di tích thời đại đá mới Hang Cú

4.2.
Di tích khảo cổ học giai đoạn lịch sử

4.2.1.
Khu mộ Mái đá Nàng Chanh

4.2.2.
Khu mộ Tiên Tẳng

4.2.3.
Viên đá có chữ

5.
Đề xuất phƣơng hƣớng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật
thể

5.1.
Đánh giá về khu vực công tác

5.2.
Đề xuất phƣơng hƣớng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật
thể trong khu vực công tác

5.2.1.
Các địa điểm khảo cổ học


5.2.1.1.
Di tích thời đại đá cũ Bản Nàng 1

5.2.1.2.
Khu mộ Huổi Pa

5.2.2.
Nhóm di vật thu đƣợc từ đợt công tác

5.2.3.
Các khu vực mang tính thiêng liêng của nhóm tộc ngƣời

5.3.
Đề xuất phƣơng hƣớng nghiên cứu các địa điểm văn hoá vật
thể nằm ngoài khu vực công tác

6.
Những vấn đề khi tiếp tục triển khai nghiên cứu xử lý các di
tích trong khu vực công tác


3
6.1.
Xác định địa điểm cần đƣợc khai quật di dời

6.2.
Vấn đề chủ đầu tƣ cho công tác khai quật nghiên cứu

6.3.

Những thủ tục pháp lý

6.4.
Công tác bảo vệ và bảo quản di tích, di vật

6.5.
Công tác khai quật di dời di tích

6.6.
Dự kiến danh sách thành viên nhóm tƣ vấn

6.7.
Dự kiến thời gian thực hiện

6.8.
Vấn đề kinh phí

6.9.
Xử lý di tích, di vật phát lộ trong quá trình thi công công trình

7.
Kết luận


Tài liệu tham khảo


Phụ lục






































4


BÁO CÁO

“KHẢO SÁT CÁC NGUỒN VĂN HOÁ VẬT THỂ TẠI KHU VỰC
DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TRUNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ”



1. Tổng quan dự án
1.1. Giới thiệu
Gói thầu MT-04: “Khảo sát các nguồn văn hoá vật thể tại khu vực Dự án
thuỷ điện Trung Sơn, tỉnh Thanh Hoá”, đƣợc thực hiện bởi nhóm tƣ vấn Viện Khảo
cổ học, là một thành phần của Dự án thuỷ điện Trung Sơn thuộc Dự án Hỗ trợ kỹ
thuật (PHRD grant) cho chuẩn bị dự án "Phát triển nguồn điện Việt Nam”.
Dự án thuỷ điện Trung Sơn là một dự án đa mục tiêu bao gồm cả phát điện
và chống lũ, cũng nhƣ việc điều hoà lƣu lƣợng nƣớc ở khu vực sông Mã vào mùa
khô. Chân đập đƣợc xây dựng cách biên giới Việt Lào về phía hạ lƣu sông Mã
25km, thuộc địa phận bản Co Me, xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá,
dòng chảy sau đập đi trong địa phận Việt Nam. Một đập bê tông cao 88m, chiều dài
đỉnh đập là 353m tạo nên một hồ chứa có dung tích 112 triệu m
2
với diện tích bề
mặt khoảng 13,13km
2

để phục vụ cho việc phát điện của 4 tổ máy với tổng công
suất là 250MW.
Ở giai đoạn điều tra khảo sát chuẩn bị đầu tƣ, Công ty Tƣ vấn Xây dựng
Điện 4 (PECC4) đã tiến hành lập dự thảo báo cáo tác động môi trƣờng (EA) cho dự
án. Sau khi xem xét, nghiên cứu bản dự thảo trên, Ban QLDA Trung Sơn đã có một
số đề xuất bổ xung để hoàn thiện thêm, trong đó có vấn đề khảo sát các nguồn văn
hoá vật thể. Trên cơ sở đó, ngày 18/4/2008 BQL Dự án Trung Sơn đã ký kết với
Viện Khảo cổ học Việt Nam Hợp đồng dịch vụ tƣ vấn về vấn đề “Khảo sát các
nguồn văn hoá vật thể tại khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn”.
Báo cáo này đƣợc nhóm tƣ vấn thực hiện với mục đích giải quyết những khía
cạnh về Tài nguyên Văn hoá Vật thể (PCR) trong Báo cáo Đánh giá Môi trƣờng
(EA) của Dự án Thuỷ điện Trung Sơn.

1.2. Môi trƣờng pháp lý
Đợt điều tra, khảo sát các nguồn văn hoá vật thể tại khu vực Dự án thuỷ điện
Trung Sơn, tỉnh Thanh Hoá đƣợc tiến hành căn cứ theo những cơ sở pháp lý sau:
- Luật Di sản Văn hoá đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 29/6/2001.
- Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều Luật Di sản Văn hoá.
- Đề cƣơng khảo sát thiết kế công trình thuỷ điện Trung Sơn giai đoạn TKCS
do Công ty TVXD Điện 4 lập tháng 9 năm 2004, đƣợc Tổng công ty Điện lực Việt
Nam phê duyệt tại Quyết định số 2847/QĐ-EVN-TĐ-KTDT, ngày 06/10/2004.
- Quyết định số 635/QĐ-EVN ngày 14/4/2008 của Tổng giám đốc tập đoàn
Điện lực Việt Nam về việc phê duyệt kết quả lựa chọn gói thầu MT-04: Khảo sát

5
các nguồn tài nguyên văn hoá khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn - Dự án hỗ trợ kỹ
thuật (PHRD Grant) cho chuẩn bị dự án phát triển nguồn điện Việt Nam.
- Quyết định số 807/QĐ-KHXH ngày 10/5/2005 của Chủ tịch Viện Khoa học

Xã hội Việt Nam quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Viện Khảo cổ học.
- Hợp đồng dịch vụ tƣ vấn số 16/HĐTV-ATĐTS-P2 thuộc Dự án Hỗ trợ kỹ
thuật (PHRD grant) cho chuẩn bị dự án “Phát triển nguồn điện Việt Nam”, ký ngày
18/4/2008 giữa Ban QLDA Thuỷ điện Trung Sơn và Viện Khảo cổ học Việt Nam.
- Các quy định và hƣớng dẫn của WB về văn hoá vật thể ở các Điều khoản
tham chiếu trong Phụ lục Hợp đồng dịch vụ tƣ vấn số 16/HĐTV-ATĐTS-P2.
- Công văn số 683/TĐTS-P2 của Ban chuyên gia Môi trƣờng và Xã hội
thuộc Ban QLDA Thuỷ điện Trung Sơn cho bản thảo Báo cáo Khảo sát các nguồn
văn hoá vật thể khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn.

1.3. Mục đích, nhiệm vụ, phƣơng pháp và phƣơng thức tiến hành
- Mục đích:
Tiến hành điều tra tổng thể các nguồn tài nguyên văn hoá vật thể ở khu vực
lòng hồ, từ đó tƣ vấn cho Ban QLDA Thuỷ điện có đầy đủ cơ sở tiến hành xây dựng
Nhà máy thuỷ điện Trung Sơn và góp phần bảo vệ di sản văn hoá dân tộc theo Luật
Di sản Văn hoá của Nhà nƣớc đã ban hành.
Các nguồn tài nguyên văn hoá vật thể đƣợc hiểu là các di sản văn hoá vật
thểTheo Điều 4, mục 2 của Luật Di sản văn hoá: "Di sản văn hóa vật thể là sản
phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn
hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia".
Công việc điều tra, khảo sát trong khu vực Dự án Thuỷ điện Trung Sơn phát
hiện và nghiên cứu các khu vực di tích ở dạng tiềm tàng (ví dụ: các di tích, di vật
nằm trong lòng đất…) và nghiên cứu đánh giá những di tích, di vật khảo cổ học
xuất lộ trên mặt đất đã đƣợc hay chƣa đƣợc đăng ký trong danh mục di tích Quốc
gia và địa phƣơng, có quan hệ với đời sống của cƣ dân địa phƣơng hiện đại (ví dụ:
các di tích đình, đền, chùa, miếu mạo, mộ táng…). Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tƣ
vấn đƣa ra các phƣơng án xử lý cụ thể với từng di tích hay từng nhóm di tích, di vật
nhằm gìn giữ một cách tốt nhất các giá trị văn hoá truyền thống.
Điều tra khảo cổ học còn nhằm thu thập tƣ liệu ngiên cứu văn hoá lịch sử;

thu thập hiện vật phục vụ cho việc trƣng bày bảo tàng, phát huy di sản văn hoá dân
tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội vùng Tây Thanh Hoá.
- Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ chính của nhóm tƣ vấn là xác định ranh giới và đánh giá tác động
của tất cả các loại hình văn hoá vật thể bao gồm những tài nguyên do con ngƣời, tự
nhiên, đã đăng ký hay chƣa đăng ký, có thể di chuyển và không di chuyển trong khu
vực Dự án thuỷ điện Trung Sơn.
- Phƣơng pháp:
Sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành giữa khảo cổ học, dân tộc
học và văn hoá học nhằm phát hiện các di tích văn hoá lịch sử, di tích khảo cổ, thu
thập đầy đủ các thông tin, đăng ký và xây dựng bản đồ phân bố các di tích trong khu
vực. Trong đó phƣơng pháp điều tra trên diện rộng và phƣơng pháp khảo sát trọng
điểm là cách thức để nhóm tƣ vấn triển khai công tác.

6
Tiến hành đào một số hố thám sát tại các di tích nhằm xác định quy mô, tính
chất và niên đại của địa điểm. Kết quả đào thám sát là cơ sở để kiến nghị các
phƣơng án xử lý với mỗi di tích cụ thể.
Trong quá trình làm việc, nhóm tƣ vấn đã có những liên hệ với chính quyền
và cƣ dân địa phƣơng để thu thập, tìm hiểu những thông tin về di tích và những hiện
vật khảo cổ đang đƣợc bà con nhân dân ở đây lƣu giữ.
Toàn bộ các di tích, hiện vật phát hiện đều đƣợc lập phiếu đăng ký, chụp ảnh,
đo vẽ, khảo tả và lƣu hồ sơ (nằm ở phần phụ lục của Báo cáo).
- Phƣơng thức:
Sử dụng các phƣơng pháp khảo cổ học là chính, tiến hành điều tra toàn bộ
khu vực dự án thuỷ điện Trung Sơn. Trong đó đặc biệt chú trọng nghiên cứu các di
tích, di vật tiềm tàng.
Điều tra trên diện rộng: nhóm tƣ vấn chia thành các nhóm nhỏ xâm nhập vào
các bản làng thu thập các thông tin về các địa điểm có dấu tích văn hoá vật thể, các
khu vực có tính chất thiêng liêng của bản và đi đến kiểm tra thực địa. Ở giai đoạn

này vai trò của các già làng, trƣởng bản rất quan trọng và đã có những hỗ trợ rất lớn
cho nhóm tƣ vấn bởi họ là những ngƣời nắm đƣợc những địa điểm mang tính thiêng
liêng, sự biến đổi và những sự tích liên quan đến địa điểm đó.
Khảo sát trọng điểm: là công việc tiến hành khi đã xác định đƣợc địa điểm có
dấu tích văn hoá vật thể ở giai đoạn khảo sát sơ bộ. Các công việc xác định vị trí di
tích, đo vẽ lập sơ đồ, khảo tả hiện trạng và đào thám sát di tích đƣợc tiến hành.
Những tƣ liệu thu thập đƣợc ở giai đoạn khảo sát này là cơ sở để nhóm tƣ vấn phân
loại các loại hình di tích và đề ra các phƣơng án xử lý cụ thể cho từng di tích.

1.4. Khu vực khảo sát và các bƣớc tiến hành
Khu vực tiến hành điều tra, khảo sát theo Hồ sơ thiết kế cơ sở Dự án thuỷ
điện Trung Sơn gồm:
- Vùng thƣờng xuyên ngập nƣớc
- Các trại và các trại phụ trợ
- Các khu có bãi đất mƣợn và đất thải
- Đƣờng vào và dây chuyền vận chuyển
- Các khu tái định cƣ
- Các khu mỏ nguyên liệu
Nhƣ vậy khu vực tiến hành khảo sát tƣơng ứng với địa giới hành chính của
25 bản thuộc 5 xã, 3 huyện và 2 tỉnh. Các bản Ta Bán, bản Co Me, bản Xƣớc, bản
Quán Nhục thuộc xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá; bản Tài Chánh, bản Kít, bản
Mau, bản Chiềng Nƣa, bản Nàng 1, bản Muống 2 thuộc xã Mƣờng Lý; bản Lìn, bản
Tà Cóm, bản U, bản Cà Giáng, bản Chiềng Lý, bản Pa Búa thuộc xã Trung Lý; bản
Poom Khuông, bản Cân, bản Kha Ni, bản Ko Đóc, bản Poom Buôi thuộc xã Tam
Chung, huyện Mƣờng Lát (Thanh Hoá); bản Pù Lầu, bản Tà Lào Đông, bản Tà Lào
Tây thuộc xã Xuân Nha, huyện Mộc Châu (Sơn La).
Hồ sơ thiết kế cơ sở Dự án thuỷ điện Trung Sơn đƣợc xây dựng từ trƣớc năm
2004, nên đến nay địa giới hành chính có một số thay đổi. Cụ thể: bản Poom Buôi
thuộc xã Tam Chung, huyện Mƣờng Lát đã chuyển về thị trấn Mƣờng Lát từ cuối
năm 2004; Bản Tà Lào Đông và bản Tà Lào Tây thuộc xã Xuân Nha, huyện Mộc

Châu đƣợc cắt về xã Tân Xuân, huyện Mộc Châu mới lập năm 2007.

7
Bng 1: Khu vc tin hnh kho sỏt theo a gii hnh chớnh

Tỉnh
Huyện

Thôn, bản
Thanh Hoá
Quan Hoá
Trung Sơn
Tà Bán, Co Me, X-ớc, Quán Nhục
M-ờng Lát
M-ờng Lý
Tài Chánh, Kít, Mau, Chiềng N-a,
Nàng, Muống 2
Trung Lý
Lìn, Tà Cóm, U, Cà Giáng, Chiềng
Lý, Pa Búa
Tam Chung
Poom Khuông, Cân, Kha Ni, Lát, Ko
Đóc, Lâm tr-ờng
TT M-ờng Lát
Poom Buôi
Sơn La
Mộc Châu
Xuân Nha
Pù Lu
Tân Xuân

Tà Lao Đông, Tà Lao Tây

Cụng vic c tin hnh theo 4 giai on:
Cụng vic tin hnh theo bn giai on c th, tuy nhiờn tu theo tỡnh hỡnh
thc t, mt s giai on cú th c tin hnh song song nhau.
- Giai on 1: iu tra kho sỏt trờn din rng ton b khu vc chõn p,
lũng h cha v cỏc khu vc khỏc cú liờn quan, nhm xỏc nh v thng kờ cỏc loi
hỡnh di tớch di vt.
- Giai on 2: Tin hnh o thỏm sỏt nhng a im cú du hiu tng vn
hoỏ kho c tiờu biu. Nhm xỏc nh chc chc v mt loi hỡnh di tớch v t ú lp
xut cỏc phng ỏn x lý.
- Giai on 3: Chnh lý di tớch, di vt thu c: lm phiu di tớch, di vt, chp
nh, x lý bn v ti cụng trng, lp cỏc bng biu thng kờ
- Giai on 4: Phõn tớch v tng hp d liu vit bỏo cỏo.

1.5. K hoch trin khai
Giai on 1 & 2, nhúm t vn chia lm 3 i cụng tỏc hot ng c lp v
chu s ch o trc tip t Trng nhúm t vn.
- i th nht kho sỏt cỏc bn nm trong khu vc dc sui Quanh v cỏc
chi lu ca nú, thuc a phn xó Trung Sn (Quan Hoỏ), xó Tõn Xuõn v xó Xuõn
Nha (Mc Chõu).
- i th 2 kho sỏt cỏc bn nm t ngn sụng Mó, thuc a phn th trn
Mng Lỏt v xó Trung Lý (Mng Lỏt).
- i th 3 kho sỏt cỏc bn nm hu ngn sụng Mó, thuc a phn cỏc xó
Mng Lý v Tam Chung (Mng Lỏt).
Giai on 3 & 4 tp chung li thnh mt nhúm lm vic tp chung, chnh lý
h s t liu ó thu thp c trong t kho sỏt, chnh lý hin vt tin hnh vit
bỏo cỏo v giao cho ph trỏch nhúm tng hp.

2. Kt qu iu tra kho sỏt

2.1. V trớ a lý, a cht v cnh quan mụi trng
(Mc ny c vit da trờn kt qu nghiờn cu ca bỏo cỏo Thit k c s D ỏn Thu
in Trung Sn; Quyn 2.2 Bỏo cỏo a cht - a mo khu vc thi cụng cụng trỡnh v mt
phn nh l kt qu kho sỏt khu vc cụng tỏc ca nhúm t vn).
Khu vc D ỏn Thu in Trung Sn nm trờn lu vc Sụng Mó phớa Tõy

8
tỉnh Thanh Hoá và Hoà Bình. Đây là vùng núi cao thuộc miền Tây Bắc của Việt
Nam bao gồm các dãy núi kéo dài theo phƣơng TB-ĐN phân cắt mạnh đến trung
bình, bề mặt sƣờn có độ dốc khá lớn, từ 10-30
o
. Các khối núi ven sông thƣờng khá
thoải, cao độ tuyệt đối dao động từ trăm mét đến vài trăm mét.
Trong vùng có hai đứt gãy sinh chấn là đứt gãy sâu rìa miền Sông Mã và đứt
gãy sâu rìa đới Sơn La:
- Đứt gãy Sông Mã dài trên 390km (trong đó gần 100 km trên đất Lào), có
phƣơng chung TB-ĐN với nhiều đoạn thay đổi phƣơng, bắt đầu từ Mƣờng Ảng
(Tuần Giáo) và chấm dứt ở ven biển Quảng Xƣơng-Tĩnh Gia (Thanh Hoá)
- Đứt gãy Sơn La dài khoảng 360 km bắt đầu từ Tuần Giáo (Lai Châu) và kết
thúc ở bờ biển Nga Sơn (Thanh Hoá) có phƣơng chung TB-ĐN, riêng đoạn Chiềng
Ve - Mai Châu có phƣơng á vĩ tuyến. Tại khu vực nghiên cứu đới đứt gãy Sơn La
thể hiện không liên tục và các biểu hiện biến dạng địa mạo yếu.
Khu vực này có hai dạng địa hình chính:
- Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn: là dạng địa hình có quy mô lớn nhất,
trùng với các dải đồi có mức phân cắt cao. Căn cứ theo mức độ phân cắt và độ dốc
của địa hình có thể phân chia ra các khối núi: Khối núi xâm thực bóc mòn phân cắt
trung bình và khối núi xâm thực bóc mòn sƣờn dốc đến rất dốc.
- Kiểu địa hình tích tụ: Trên bình đồ, dạng địa hình trùng với các diện tích
phân bố trầm tích hệ Đệ Tứ dƣới dạng các dải đất bằng hẹp. Theo độ cao, có thể
phân ra các dạng địa hình thềm bậc I, bãi bồi cao và các bãi bồi thấp, doi cát, bãi cát

ven sông.
Hệ thống sông Mã gồm dòng chính sông Mã và phụ lƣu lớn sông Chu. Dòng
chính sông Mã bắt nguồn từ vùng núi núi Pu Va (tỉnh Điện Biên, Lai Châu) dài
512km, chảy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam qua Sơn La, Sầm Nƣa (nƣớc Lào),
Hoà Bình, Thanh Hoá rồi đổ ra cửa Lạch Sung, Lạch Trƣờng, Lạch Hới vùng ven
biển tỉnh Thanh Hoá. Theo thống kê, lƣu vực Sông Mã có diện tích 28.400 km
2
. Vị
trí địa lý của lƣu vực sông Mã tính đến tuyến đập, đƣợc xác định ở toạ độ 20
0
6’ -
20
0
0’ vĩ độ Bắc và 104
0
6’ - 105
0
0’ kinh độ Đông. Ngoài dòng sông chính, có nhánh
Suối Quanh bắt nguồn từ vùng núi Yên Châu tỉnh Sơn La chảy vào Sông Mã đoạn
Bản Quán Nhục cách tuyến đập về phía thƣợng lƣu khoảng 0,7km.
Các suối nhánh của Sông Mã có mật độ tƣơng đối cao, dạng xƣơng cá chiều
dài từ 2-3km đến hàng chục km. Đặc điểm rất nổi bật của hệ thống suối thƣờng có
phƣơng á kinh tuyến và uốn khúc rất mạnh. Mức phân cắt dọc của các suối thƣờng
khá thấp ở phần hạ lƣu, tăng cao đột ngột trên vùng thƣợng lƣu.
Khu vực công tác nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tổng thời gian
mặt trời chiếu sáng mỗi năm trên 4.400 giờ. Nhiệt độ trung bình hàng năm 26,3
o
C.
Nhiệt độ cao nhất 42
o

C, thấp nhất là -0,8
o
C. Mùa mƣa thƣờng bắt đầu từ tháng 6,
kết thúc vào tháng 10. Các tháng mƣa nhiều nhất là 8, 9 và 10. Số ngày mƣa ở
Mƣờng Lát theo thống kê là 49 ngày/năm. Lƣợng mƣa phân bố không đều. Độ ẩm
cao nhất là 93% vào tháng 8-10, thấp nhất 6% vào tháng 1-3, trung bình 85%.
Hƣớng gió chính thay đổi mạnh theo mùa. Về mùa hè, hƣớng chính là Đông
và Đông Nam. Vào mùa Đông, hƣớng chính là Bắc và Đông Bắc. Gió Tây khô
nóng thƣờng xuất hiện vào đầu mùa Hè kéo dài 20-30 ngày hàng năm. Tháng 9
hàng năm thƣờng có mƣa to và bão.
Giao thông đƣờng bộ ở khu vực này rất khó khăn. Từ thị trấn Mai Châu, theo

9
đƣờng nhựa khoảng 13 km, đến thị tứ Co Lƣơng. Từ Co Lƣơng, theo đƣờng cấp
phối ven Sông Mã để đến vùng lòng hồ. Hệ thống giao thông nội bộ trong vùng rất
xấu và không thuận lợi cho việc lƣu thông xe cộ, chủ yếu là đi lại bằng các lối mòn
nhỏ men theo sông suối hay cắt ngang núi do nhân dân địa phƣơng tự mở. Xe ôtô
chỉ có thể đến đƣợc trung tâm xã và một số bản lớn. Riêng xã Mƣờng Lý mới đƣợc
thành lập từ năm 2007 chỉ có một lối mòn độc đạo dẫn vào trung tâm xã, đƣờng đi
cũng chỉ có thể đi bộ hoặc đi bằng xe máy.
Giao thông đƣờng sông từ Co Lƣơng đến tuyến đập bằng thuyền thuận lợi
hơn về mùa lũ. Nhƣng về mùa khô, việc đi lại cũng khá khó khăn do tuyến đƣờng
sông từ bản Xƣớc đến Mƣờng Lát rất hẹp, nhiều ghềnh thác, ghe và thuyền chỉ có
thể đi lại trong các đoạn ngắn.
Cảnh quan môi trƣờng ở khu vực này là sự kết hợp giữa những dải đồi núi
trùng điệp có mức phân cắt cao và khu vực lòng sông dốc hẹp quanh co nhiều thác
ghềnh nằm giữa các khe núi, kết hợp với các khu vực suối nhánh đổ ra sông Mã
theo dạng xƣơng cá. Giao thông đƣờng bộ và đƣờng sông đều rất khó khăn cho đến
hiện nay.
Địa hình đồi núi có diện tích phân bố lớn nhất trong khu vực công tác. Phần

lớn các khối núi đƣợc tạo bởi các đá trầm tích biến chất hệ tầng Sông Mã, nằm kéo
dài phƣơng Tây Bắc -Đông Nam và á kinh tuyến dạng yên ngựa. Tại đây địa hình
có mức phân cắt rất mạnh, bề mặt sƣờn có độ dốc lớn, đƣờng phân thuỷ hẹp dạng
sống trâu.
Sông ngòi có lòng hẹp, triền sông dốc đứng, chỉ có thềm bậc I, đôi chỗ có
các bãi bồi, các doi cát và bãi cuội ven sông. Thềm bậc I phân bố ở độ cao từ 7 -
11m, bề mặt thềm thƣờng hẹp, hơi nghiêng về phía lòng sông. Bãi bồi nằm ở độ cao
2 - 3m, có diện tích hẹp, bề mặt nghiêng về phía lòng sông và thƣờng bị ngập trong
mùa mƣa lũ. Các doi cát và bãi cát sỏi ven sông phân bố rải rác ở các đoạn sông uốn
khúc, thƣờng bị bán ngập, kích thƣớc các bãi cát sỏi kéo dài từ vài chục mét đến
vài trăm mét, chiều rộng vài chục mét đến 100m.
Nhìn chung, địa hình núi đồi hiểm trở không thuận lợi cho việc cƣ trú và
chuyển của các nhóm cƣ dân, đặc biệt là cƣ dân thời kỳ tiền - sơ sử. Đến nay, trong
khu vực công tác, ngoại trừ các bản ngƣời H’Mông sống du canh du cƣ ở những
khu vực núi rất cao (thƣờng là nằm ngoài vùng lòng hồ), các bản ngƣời Thái thƣờng
chỉ định cƣ ở khu vực ngã ba các sông suối, nơi có địa hình tƣơng đối thuận lợi cho
việc sinh sống, đi lại. Việc phát hiện các di tích tiền - sơ sử ở khu vực này là rất
hiếm và mang tính chất đặc biệt quan trọng. Các di tích lịch sử văn hoá và các khu
mộ táng thƣờng liên quan mật thiết đến nguồn gốc của các cộng đồng cƣ dân hiện
đại. Các di tích thƣờng phân bố ở những khu vực sƣờn núi ven sông suối hay những
khu vực đất khá bằng phẳng do các con suối lớn tạo nên. Những khu vực phân bố
và các loại hình di tích cụ thể sẽ đƣợc trình bày chi tiết ở mục 3,4 của báo cáo.

2.2. Điều tra khảo sát vùng chân đập
Khu vực chân đập thuỷ điện đƣợc đặt ở địa phận bản Co Me, xã Trung Sơn,
huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Đƣờng vào chân đập có thể đi theo hai đƣờng:
đƣờng bộ và đƣờng thuỷ.
Đƣờng bộ từ thị trấn Mai Châu, theo đƣờng nhựa đi Quan Hoá khoảng 13
km, đến thị tứ Co Lƣơng. Từ Co Lƣơng đi theo đƣờng cấp phối ven Sông Mã


10
khoảng 22km đến trung tâm xã Trung Sơn, tiếp tục đi khoảng 3km là đến bản Co
Me - nơi đặt chân đập.
Đƣờng sông cũng khá thuận lợi, đoạn từ Co Lƣơng đến bản Co Me có lòng
rộng, ít thác ghềnh, có thể dùng thuyền hay xuồng máy đi từ Co Lƣơng ngƣợc sông
khoảng 15km là đến chân đập.
Kết quả điều tra, khảo sát cho biết khu vực chân đập có địa hình hiểm trở,
sƣờn núi cao, dốc đứng, loại hình thềm sông bãi cuội doi cát bán ngập không thuận
lợi cho việc cƣ trú cũng nhƣ việc triển khai các hoạt động sống của các nhóm cƣ
dân cổ cũng nhƣ các nhóm cƣ dân hiện đại. Tuy vậy do tính chất đặc biệt quan
trọng của khu vực chân đập nên chúng tôi áp dụng phƣơng pháp điều tra, khảo sát
trọng điểm thay vì sử dụng phƣơng pháp khảo sát theo diện rộng.
Chân đập đƣợc xây dựng ở đoạn có lòng sông khá hẹp, hai bên là các vách
núi có độ dốc đứng cao. Đây là tính chất chung của vùng thƣợng lƣu sông Mã và
của khu vực công tác. Vùng chân đập, bên bờ phải sông còn dấu vết đƣờng hầm
khoan sâu vào trong lòng núi thăm dò địa chất, đƣờng hầm này đã bị sập, đất đá lấp
đầy cửa hầm. Hiện chỉ còn quan sát đƣợc phần rãnh lõm do đất đá từ trên sập
xuống, một số cây gỗ chống đổ ngổn ngang và một bãi đất đá hất ra phía ngoài cửa
hang. Toạ độ 20
0
36’539” vĩ Bắc và 140
0
50’201” kinh Đông. Cao độ so với mực
nƣớc biển là 97.5m.
Cũng ở bờ phải, từ chỗ khoan thăm dò địa chất tiến lên phía thƣợng lƣu
khoảng 200m là bãi Quán Cầu - một bãi cuội và doi cát khá lớn nằm ở thềm sông,
sát cạnh dòng chảy và chỉ lộ ra vào mùa nƣớc cạn. Bãi cuội có toạ độ 20
0
36’665’’ vĩ
độ Bắc và 140

0
50’093’’ độ kinh Đông. Cao độ so với mực nƣớc biển là 88.6m.
Kết quả điều tra, khảo sát không phát hiện dấu hiệu của các địa điểm văn hoá
vật thể, cũng nhƣ các di tích, di vật khảo cổ. Nhƣ vậy việc tiến hành xây dựng, thi
công công trình ở khu vực chân đập sẽ không gặp trở ngại do lĩnh vực văn hoá vật
thể gây ra. Trong quá trình xây dựng cũng có thể sẽ làm phát lộ một vài hiện vật
khảo cổ do nhiều lý do đƣợc đƣa đến (nhƣ sông suối có thể cuốn trôi một vài di vật
khảo cổ từ thƣợng nguồn xuống; các hoạt động của con ngƣời cũng có thể làm một
số di vật xuất hiện ở đây…). Việc thu nhặt các hiện vật và giao lại cho các cơ quan
văn hoá có chức băng bảo quản là cần thiết (ví dụ nhƣ Bảo tàng Tỉnh), nhƣng nó
không đủ tính chất quan trọng để tạm dừng một công trƣờng xây dựng.

2.3. Tổng quan về các di tích, di vật đã phát hiện
Những nghiên cứu về địa chất địa mạo (mục 2.1) khu vực công tác có địa
hình hiểm trở, núi cao dốc, lòng sông hẹp, các bãi cuội, doi cát bán ngập không
thuận lợi cho việc cƣ trú cũng nhƣ triển khai các hoạt động sống của các nhóm cƣ
dân cổ.
Thực tế khảo sát cho thấy các di tích, dấu tích văn hoá vật thể đƣợc phát hiện
với số lƣợng ít, phân bố không tập chung và ở gần các bản làng hiện nay của các
nhóm cƣ dân địa phƣơng. Những địa điểm này thƣờng liên quan mật thiết đến các
cộng đồng cƣ dân bản địa hiện đại hoặc liên quan đến nguồn gốc của các cƣ dân đó.
Đặc điểm chung về khu vực phân bố của các di tích là khu vực sƣờn đồi ven
sông, ven suối, ngã ba sông suối, đặc biệt ở những khu vực khá bằng phẳng đƣợc
tạo nên từ những con suối lớn nhƣ suối Quanh. Những khu vực này độ cao vừa
phải, có nguồn cung cấp nƣớc sinh hoạt quanh năm và không bị lũ lụt đe doạ. Địa

11
hình tƣơng đối thuận lợi cho việc sinh sống và triển khai các hoạt động kinh tế khai
thác tự nhiên hơn các khu vực khác. Khu vực trên trùng lặp với vùng lòng hồ chứa
nƣớc thuỷ điện Trung Sơn.

Quá trình khảo sát đã xác định đƣợc 11 địa điểm có dấu ấn văn hoá vật thể,
thuộc hai nhóm loại hình là di tích, di vật khảo cổ học và di tích văn hoá mang tính
thiêng liêng của nhóm tộc ngƣời (trong đó có 6 di tích khảo cổ học, 2 sƣu tập hiện
vật khảo cổ và 3 di tích văn hoá mang tính chất thiêng liêng của nhóm tộc ngƣời).
Trong số 11 địa điểm trên có 7 địa điểm nằm trong vùng lòng hồ và 4 địa
điểm nằm ngoài phạm vi dự án thuỷ điện Trung Sơn. Trong bản Báo cáo này chúng
tôi trình bày toàn bộ kết quả điều tra, khảo sát với mục đích có đƣợc cái nhìn tổng
quan về sự phân bố của các loại hình di tích, di vật tại khu vực công tác.
Phân loại theo phạm vi ảnh hưởng của vùng lòng hồ thuỷ điện:
- Các di tích nằm trong vùng lòng hồ thuỷ điện: di tích đá cũ Bản Nàng 1;
khu mộ táng Huổi Pa (Ta Bán); Khiêng sằn của các bản Ta Bán, Tài Chánh, Nàng
1; Sƣu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử và sƣu tập hiện vật giai đoạn lịch sử
- Các di tích nằm ngoài vùng ảnh hƣởng: di tích đá mới - kim khí Hang Cú,
Mái đá Nàng Chanh, mộ Tiên Tẳng; Đá khắc chữ ở Tam Chung.

Bảng 2: Phân loại theo loại hình di tích và phạm vi ảnh hưởng của vùng lòng hồ

Loại hình di tích
Trong vùng lòng lòng hồ
Ngoài vùng ảnh hƣởng
Di tích đá cũ
Bản Nàng 1 (1)

Di tích đá mới - kim khí

Hang Cú (8)
Khiêng sằn
Ta Bán (2); Tài Chánh (3); Nàng 1 (4)

Mộ táng hang động


Mái đá Nàng Chanh (9)
Mộ táng cổ
Huổi Pa (5)
Mộ Tiên Tẳng (10)
Đá khắc chữ

Tam Chung (11)
Sưu tập hiện vật
Giai đoạn tiền - sơ sử (6); Giai đoạn
lịch sử (7)


Địa điểm phân bố các di tích theo địa giới hành chính:
Tỉnh Thanh Hoá
Huyện Quan Hoá:
- Xã Trung Sơn: Mái đá Nàng Chanh; Khu mộ táng Huổi Pa (Ta Bán);
Khiêng sằn Ta Bán.
Huyện Mƣờng Lát:
- Xã Mƣờng Lý: di tích đá cũ Bản Nàng 1; Khiêng sằn các bản Tài Chánh,
Nàng 1; mộ Tiên Tẳng ở Chiềng Nƣa.
- Xã Trung Lý: không phát hiện di tích văn hoá vật thể.
- Xã Tam Chung: Hang Cú ở Bản Lát; Đá khắc chữ.
- Thị trấn Mƣờng Lát: không phát hiện di tích văn hoá vật thể.
- Huyện Quan Hoá và Mƣờng Lát: Sƣu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử ở
bản Ta Bán, Nàng 1, Tài Chánh, Lìn và Sƣu tập hiện vật giai đoạn lịch sử ở bản Ta
Bán.
Tỉnh Sơn La
Huyện Mộc Châu:
- Xã Tân Xuân: không phát hiện di tích văn hoá vật thể.


12
- Xó Xuõn Nha: khụng phỏt hin di tớch vn hoỏ vt th.

Bng 3: Phõn loi di tớch theo a gii hnh chớnh

Huyện

Bản
Di tớch
Quan Hoá
Trung Sơn
Tà Bán
Mỏi ỏ Nng Chanh (1); Hui Pa (2); Khiờng
sn (3)
M-ờng Lát
M-ờng Lý
Nàng 1
Di tớch ỏ c Bn Nng 1 (4); Khiờng sn (5)
Tài Chánh
Khiờng sn (6)
Chiềng N-a
m Tiờn tng (7)
Trung Lý
Các bản
Khụng phỏt hin di tớch
Tam Chung
Ko Đóc
ỏ khc ch (8)
Lát

Hang Cỳ (9)
Quan Hoá - M-ờng Lát
Su tp hin vt giai on tin s s (10); Su
tp hin vt giai on lch s (11).
Mộc Châu
Xuân Nha
Các bản
Khụng phỏt hin di tớch
Tân Xuân
Các bản
Khụng phỏt hin di tớch

Phõn loi theo loi hỡnh di tớch:
* Di tớch kho c hc:
- Di tớch thi i ỏ c Bn Nng 1.
- Di tớch hang ng thi i ỏ mi - kim khớ: Hang Cỳ (Bn Lỏt).
- Di tớch m tỏng trong hang ng: Mỏi ỏ Nng Chanh (Ta Bỏn).
- Cỏc khu m tỏng c: Hui Pa (Ta Bỏn); M Tiờn Tng (Ching Na).
- ỏ khc ch Tam Chung.
- Su tp hin vt kho c hc thu c trong khu vc lũng h: Su tp hin
vt giai on tin s s; Su tp hin vt giai on lch s.
* Di tớch vn hoỏ mang tớnh thiờng liờng ca nhúm tc ngi:
- Khu vc t l ca cỏc bn (Khiờng sn): Ta Bỏn; Ti Chỏnh; Nng 1.

Bng 4: Loi hỡnh v c im di tớch

Loi hỡnh di tớch
Tờn di tớch
c im di tớch
Di tớch ỏ c

Bn Nng 1
(1)
Di tớch trung tõm bn Nng 1, xó Mng Lý,
huyn Mng Lỏt, tnh Thanh Hoỏ. To
20
0
32433 v Bc 104
0
46078 kinh ụng. cao so
vi mt nc bin 119.4m, phõn b chõn nỳi, ven
sui Nng. Din phõn b khong 1000m
2
. a tng di
tớch, quan sỏt trờn vỏch taluy l lp t sột pha sn si
mu nõu vng, dy 0,5 - 1m
Su tp hin vt gm 15 hin vt ỏ vi cỏc loi
hỡnh cụng c: cụng c rỡa li ngang, cụng c rỡa li
dc, cụng c 3 rỡa li, cụng c mi nhn, cụng c
cui b, cụng c mnh tc
Di tớch thuc loi hỡnh di tớch thi i ỏ c phõn b
ngoi tri, dng i gũ trc nỳi, mang c trng ca
loi hỡnh Sn Vi min nỳi.

13
Di tích đá mới -
kim khí
Hang Cú (2)
Di tích nằm ở bản Lát, xã Tam Chung, huyện
Mƣờng Lát, cách suối Lát khoảng 300m. Toạ độ
20

0
33’531’’ vĩ Bắc và 104
0
36’849’’ kinh Đông. Độ
cao so với mặt nƣớc biển 210m.
Di chỉ là một hang núi đá vôi khá rộng, nằm ở chân
dãy núi Pha Pợ. Tại đây đã phát hiện vết tích của 3
ngôi mộ. Hiện vật thu đƣợc một số đồ gốm tuỳ táng, 64
mảnh gốm và 13 vỏ nhuyễn thể. Hoa văn trang trí trên
đồ gốm mang đặc trƣng của văn hoá Hoa Lộc. Niên đại
dự đoán khoảng 5000 năm cách ngày nay.
Sưu tập hiện vật
Giai đoạn tiền
- sơ sử (3)
Thu đƣợc 26 hiện vật gồm 5 đồ đồng, 20 đồ đá và 1
hiện vật xƣơng sừng. Từ những thông tin về địa điểm
phát hiện, nhóm tƣ vấn đã đi điều tra khảo sát nhƣng
không phát hiện di tích. Tuy vậy việc tìm thấy những
hiện vật này là những tín hiệu khả quan về sự có mặt
của nhóm cƣ dân giai đoạn kim khí ở khu vực công tác.
Giai đoạn lịch
sử (4)
Hiện vật gồm 1 thỏi đồng và 1 sƣu tập tiền kẽm. Sƣu
tập tiền kẽm có 171 đồng thu đƣợc trong 1 hũ sành, có
niên đại của 3 triều Gia Long, Minh Mệnh và Tự Đức
thời Nguyễn. Sƣu tập cho thấy sự giao lƣu kinh tế - văn
hoá giữa khu vực này với miền xuôi đã diễn ra khá phổ
biến trong lịch sử.
Mộ táng hang
động

Mái đá Nàng
Chanh (5)
Nằm đầu bản Tà Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan
Hoá. Toạ độ 20
0
38’468" vĩ Bắc và 104
0
51’588" kinh
Đông. Độ cao trên 300m.
Di tích thuộc loại hình quan tài thân cây khoét rỗng,
nằm trong tình trạng bị sập vỡ, nằm kẹt trong hốc hoặc
bị rơi xuống dƣới chân vách đá.
Khu vực di tích là bản của ngƣời Thái và ngƣời
Mƣờng. Loại hình quan tài thân cây khoét rỗng này
đến nay vẫn còn đƣợc ngƣời dân địa phƣơng sử dụng.
Qua so sánh cho thấy chủ nhân của những ngôi mộ
táng trên có thể có quan hệ khá mật thiết với hai tộc
ngƣời Thái và Mƣờng ở khu vực này.
Niên đại đoán định khoảng thế kỷ X - XV.
Mộ táng cổ
Mộ Tiên Tẳng
(6)
Nằm ở bản Chiềng Nƣa, xã Mƣờng Lý, huyện
Mƣờng Lát. Toạ độ 20
0
31’512" vĩ Bắc và 104
0
42’112"
kinh Đông. Độ cao so với mặt nƣớc biển 183m.
Cấu trúc mộ gồm một trụ đá dựng thẳng, phía sau là

một cột đá nhỏ đỡ cho trụ đá lớn khỏi bị nghiêng đổ.
Phía trƣớc trụ đá, cách khoảng 0,5m là một cột đá nhọn
nhỏ hơn.
Theo truyền thuyết của dân bản thì đây là ngôi mộ
của Tiên Tẳng (ngƣời có chức quyền, tƣơng tự nhƣ
chúa bản, chúa mƣờng).
Niên đại đoán định khoảng thế kỷ XVI - XVII.

14
Huổi Pa (7)
Khu mộ nằm cạnh suối Pa, bản Tà Bán, xã Trung
Sơn, huyện Quan Hoá. Toạ độ 20
0
37’514’’ vĩ Bắc và
104
0
49’780’’ kinh Đông. Độ cao so với mặt nƣớc biển
131m. Di tích rộng khoảng 1000m
2
, với nhiều ngôi mộ
đƣợc đặt các phiến đá khá lớn chôn ở đầu hay/và xung
quanh mộ.
Qua so sánh loại hình di tích, có thể đoán định niên
đại khu mộ ở trong khoảng thế kỷ XVI - XVII.
Đá khắc chữ
Tam Chung
(8)
Nằm ở xã Tam Chung, huyện Mƣờng Lát, toạ độ
20
0

31’940" vĩ bắc và 140
0
40’263" kinh Đông. Độ cao
so với mặt nƣớc biển 182m.
Di tích là một tảng đá gốc có kích cỡ lớn cao 6m;
rộng trên 5m nằm trên sƣờn núi, hữu ngạn sông Mã.
Trên đỉnh viên đá có một hàng chữ Nho khắc sâu theo
hàng dọc. Do đá bị bào mòn nên chỉ còn đọc đƣợc một
chữ dƣới cùng (chữ VƢƠNG).
Niên đại đoán định sớm nhất là vào thế kỷ XVII.
Khiêng sằn
Ta Bán (9)
Nằm ở đầu bản Ta Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan
Hoá. Toạ độ 20
0
37’300" vĩ Bắc và 104
0
50’237" kinh
Đông. Độ cao so với mặt nƣớc biển 145m.
Đây là nơi tế lễ hàng năm của dân bản, một hoạt
động văn hoá mang tinh thần cố kết cộng đồng nhƣ hội
làng ở miền xuôi. Lễ tế bao gồm trâu bò hoặc lợn gà
tuỳ theo tình trạng kinh tế hàng năm của dân bản, diễn
ra vào đầu tháng 5 âm lịch hàng năm.
Tài Chánh
(10)
Nằm ở đầu bản Tài Chánh, xã Mƣờng Lý, huyện
Mƣờng Lát. Toạ độ 20
0
32’849" vĩ Bắc và 104

0
47’434"
kinh Đông. Độ cao so với mặt nƣớc biển 146m.
Khiêng sằn là một nhà tạm làm từ vật liệu luồng và
gỗ, khá vuông vức, có sàn gỗ thấp. Đây là nơi tế lễ
hàng năm của dân bản, một hoạt động văn hoá mang
tinh thần cố kết cộng đồng nhƣ hội làng ở miền xuôi.
Lễ tế diễn ra vào cuối tháng 5 âm lịch hàng năm.
Nàng 1 (11)
Nằm ở đầu bản Nàng 1, xã Mƣờng Lý, huyện
Mƣờng Lát. Toạ độ 20
0
32’528" vĩ Bắc và 104
0
46’104"
kinh Đông. Độ cao so với mặt nƣớc biển 126m.
Khiêng sằn đƣợc xây dựng từ vật liệu nhẹ, hình
vuông, diện tích lòng nhà khoảng 8m
2
, xung quanh nhà
đƣợc bao quanh bởi một hàng lan can thấp.
Đây là nơi tế lễ hàng năm, mang ý nghĩa cầu an và
củng cố tinh thần cố kết cộng đồng nhƣ hội làng ở
miền xuôi. Lễ tế diễn ra vào ngày 20 tháng 6 ÂL hàng
năm. Lễ vật nhất định phải có 1con lợn, 1 con chó, 3
con gà và 3 chĩnh rƣợu cần do toàn thể dân bản góp lại.
Ngoài ra, hàng tháng Trƣởng bản có trách nhiệm phải
cúng tế.

15

Nhìn chung vì nhiều lý do về các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội nên khu vực
Tây Thanh Hoá đến nay mới chỉ có một số nghiên cứu di tích văn hoá vật thể ở một
số khu vực hạn chế [Nguyễn Gia Đối 1998; 2003; Bùi Văn Liêm 1998-1999]. Do
vậy những di tích, di vật mới đƣợc phát hiện mang một ý nghĩa rất lớn về mặt văn
hoá - lịch sử, có tính chất khai phá các địa điểm văn hoá vật thể ở vùng đất Tây
Thanh Hoá.
Do có tính chất khác nhau nên mỗi di tích có các phƣơng án xử lý khác nhau.
Các phƣơng án xử lý cụ thể cho từng di tích sẽ đƣợc nhóm tƣ vấn đƣa ra ở các mục
dƣới. Tuỳ từng địa điểm, nhóm tƣ vấn sẽ đề nghị các phƣơng án giải quyết khác
nhau nhƣ: Các di tích nằm ngoài vùng ảnh hƣởng của dự án không phải xử lý trong
khi xây dựng cũng nhƣ vận hành nhà máy thuỷ điện; các di tích nằm trong khu vực
dự án không cần thiết phải di dời; hay các di tích cần phải di dời khỏi vùng lòng hồ
để tiếp tục nghiên cứu
Thực tế nhóm di tích nằm ngoài khu vực dự án hầu nhƣ không bị ảnh hƣởng
bởi quá trình xây dựng, cũng nhƣ vận hành nhà máy thuỷ điện Trung Sơn, vì vậy
chúng không thuộc phạm vi hợp đồng đã thoả thuận. Tuy nhiên do mới đƣợc phát
hiện và điều tra, khảo sát trong đợt này nên nhóm tƣ vấn trình bày nhƣ một phần
của báo cáo công việc đã tiến hành.

3. Nhóm di tích, di vật nằm trong vùng lòng hồ
3.1. Di tích khảo cổ thuộc giai đoạn tiền sơ sử
Di tích Bản Nàng 1
Di tích nằm ngay tại trung tâm bản Nàng 1, xã Mƣờng Lý, huyện Mƣờng
Lát. Tên di tích đƣợc đặt theo tên của địa điểm - nơi phát hiện. Toạ độ di tích
20
0
32’433’’ vĩ độ Bắc và 104
0
46’078’’ kinh độ Đông. Độ cao so với mặt nƣớc biển
là 119.4m, thuộc phạm vi ngập của vùng lòng hồ chứa. Tên di tích đƣợc đặt theo tên

địa điểm - nơi phát hiện
Di tích phân bố ở khu vực chân núi có độ dốc không lớn, nằm ven suối
Nàng. Suối Nàng chảy từ hƣớng Bắc sang Nam và đổ vào sông Mã ở đoạn cách Bản
Nàng 1 khoảng 0,5km về phía Nam. Tại khu vực di tích, suối lƣợn vòng cung và ôm
gọn ở các mặt Đông Bắc, Đông và Đông Nam; phía Nam có một khe nhỏ thƣờng có
nƣớc vào mùa mƣa; phía Tây là dải núi cao án ngữ.
Đƣờng đến di tích có thể đi bằng đƣờng bộ và đƣờng thuỷ. Đƣờng bộ từ Co
Lƣơng theo đƣờng dải cấp phối dài khoảng 22km đến bản Co Me, xã Trung Sơn
(khu vực chân đập). Tiếp tục theo đƣờng mòn ven sông, đi ngƣợc theo hữu ngạn
sông Mã dài khoảng 20km qua các bản Quán Nhục, bản Xƣớc (xã Trung Sơn), bản
Mau, bản Kít, bản Tài Chánh (xã Mƣờng Lý) đến bản Nàng 1 là đến di tích. Nếu
theo đƣờng bộ từ thị trấn Mƣờng Lát, đi qua cầu cheo bản Lát, theo đƣờng dải cấp
phối xuôi theo hữu ngạn sông Mã khoảng 3km đến UBND xã Tam Chung, tiếp tục
đi khoảng 25km theo đƣờng mòn ven sông Mã qua bản Ko Đóc (xã Tam Chung),
bản Chiềng Nƣa, bản Muống 2, trụ sở UBND xã Mƣờng Lý đến bản Nàng 1.
Đƣờng thuỷ từ Co Lƣơng đến bản Nàng 1 dài khoảng 30km nhƣng chỉ có thể đi
đƣợc vào mùa lũ, vì vào mùa khô đoạn này nhiều thác ghềnh khiến thuyền bè không
thể lƣu thông đƣợc, hoặc có thể đi từ thuyền từ Co Lƣơng lên đến bản Tài Chánh rồi
tiếp tục đi theo đƣờng mòn ven chân núi đến di tích. Nhìn chung, đƣờng đi khá khó
khăn hiểm trở.

16
Di tích là một gò đất khá cao, nhƣng nay đã bị cƣ dân địa phƣơng san bạt
một phần lấy mặt bằng làm nền nhà và đƣờng đi. Di tích hiện phân bố ở khu vực
nhà anh Ngân Văn Thu và một số nhà dân xung quanh. Giữa di tích là con đƣờng
mòn ven sông cắt ngang theo hƣớng Đông - Tây. Diện phân bố di tích trong khoảng
1000m
2
. Bề mặt di tích có nhiều tảng đá gốc kích cỡ lớn lăn từ trên núi xuống. Các
hiện vật, công cụ đá cũ cũng xuất lộ rải rác, có thể dễ dàng quan sát và thu thập.

Địa tầng di chỉ, quan sát trên vách taluy đƣợc ngƣời dân san bạt làm nền nhà
cho biết: Tầng văn hoá là lớp đất sét pha lẫn sạn sỏi màu nâu vàng, đất khá cứng,
dày khoảng 0,5 - 1m, hiện vật nằm tập chung trong lớp này. Sinh thổ là lớp đá gốc
đang trong quá trình phong hoá.
Sƣu tập hiện vật thu về trong đợt khảo sát gồm 15 hiện vật đá tiêu biểu cho
các loại hình công cụ khác nhau: công cụ rìa lƣỡi ngang, công cụ rìa lƣỡi dọc, công
cụ 3 rìa lƣỡi, công cụ mũi nhọn, công cụ cuội bổ, công cụ mảnh tƣớc…

Bảng 5: Loại hình công cụ ở di tích Bản Nàng 1

Loại hình công cụ
Số lƣợng hiện vật
Công cụ rìa lƣỡi ngang
5
Công cụ rìa lƣỡi dọc
2
Công cụ 3 rìa lƣỡi
1
Công cụ mũi nhọn
1
Công cụ cuội bổ
2
Công cụ mảnh tƣớc
2
Công cụ không định hình
1
Công cụ hình rìu
1
Tổng
15


* Nhóm công cụ rìa lưỡi ngang: thu đƣợc 5 tiêu bản. Là loại công cụ đƣợc
làm từ cuội sông suối hình bầu dục, phần lƣỡi sử dụng đƣợc tạo ở một đầu ngang
viên cuội. Các tiêu bản cụ thể:
- Công cụ rìa lƣỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 1 làm từ viên cuội sông suối
hình gần vuông, chất liệu đá basalte màu xanh đen. Toàn thân phủ lớp patin khá dày
màu nâu. Phần lƣỡi tác dụng đƣợc tạo ở ngang thân cuội, phía đầu cuội dày, tạo mặt
cắt dọc công cụ có hình nón với phần đốc ở phía chóp. Kỹ thuật ghè nhiều lớp từ
các hƣớng khác nhau, vết ghè lớn nhƣng không liên tục. Công cụ có góc lƣỡi lớn.
Phần thân còn lƣu lại tối đa lớp vỏ cuội tự nhiên. Kích thƣớc: dài 10,8cm; rộng
9,5cm; dày 4,6cm.
- Công cụ rìa lƣỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 2 làm từ viên cuội sông suối
kích cỡ khá lớn, hình gần bầu dục hơi dẹt, lớp vỏ cuội hơi lồi lõm, chất liệu đá
basalte màu xanh đen. Toàn thân phủ lớp patin dày màu nâu. Phần lƣỡi tác dụng
đƣợc tạo ở ngang thân viên cuội. Kỹ thuật ghè tạo lƣỡi tác dụng, ghè một mặt từ
một hƣớng, ghè nhiều lớp, vết ghè có kích cỡ khá lớn liên tiếp. Tạo công cụ có rìa
lƣỡi sắc, lƣỡi khá phẳng, góc lƣỡi khá lớn. Công cụ lƣu lại tối đa lớp vỏ cuội tự
nhiên, phần đốc cầm có hình gần cung tròn. Kích thƣớc: dài 11,5cm; rộng 11,3cm;
dày 4,6cm.
- Công cụ rìa lƣỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 3 làm từ viên cuội sông suối
hình gần tam giác. Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp patin màu nâu sáng khá

17
dày. Phần lƣỡi tác dụng đƣợc tạo ở một đầu ngang viên cuội. Kỹ thuật ghè một mặt,
từ một hƣớng, ghè nhiều lớp. Vết ghè có kích cỡ trung bình liên tiếp, kết hợp với
những vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lƣỡi tạo cho rìa lƣỡi sắc. Công cụ có góc lƣỡi lớn.
Phần thân còn lƣu lại tối đa lớp vỏ cuội tự nhiên, phần đốc gần hình chóp. Kích
thƣớc: dài 7,5cm; rộng lƣỡi 9cm; dày 3,4cm.
- Công cụ rìa lƣỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 4 làm từ viên cuôi sông suối
hình gần bầu dục dẹt. Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp pa tin màu nâu trắng

khá dày. Phần lƣỡi tác dụng đƣợc tạo ở một đầu hẹp ngang viên cuội. Lƣỡi đƣợc tạo
từ 3 - 4 nhát ghè lớn liên tiếp và một số vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lƣỡi. Kỹ thuật ghè
một mặt, ghè một lớp từ một hƣớng tạo công cụ có rìa lƣỡi sắc, góc lƣỡi hẹp. Công
cụ còn lƣu lại tối đa lớp vỏ cuội tự nhiên. Kích thƣớc: dài 12cm; rộng thân 8,8cm;
rộng lƣỡi 7cm; dày 3,8cm.
- Công cụ rìa lƣỡi ngang ký hiệu 08.BN1.ĐT: 5 làm từ viên cuội sông suối
kích cỡ nhỏ, hình bầu dục hơi dẹt. Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp patin màu
nâu đen, một góc công cụ có màu đen do bị đốt qua lửa. Phần lƣỡi tác dụng đƣợc
tạo ở một đầu ngang viên cuội. Kỹ thuật ghè một mặt, từ một hƣớng, ghè một lớp.
Phần lƣỡi cong vồng, đƣợc tạo từ ba nhát ghè lớn liên tiếp, góc lƣỡi nhỏ, lƣỡi sắc.
Phần thân công cụ còn giữ lại tối đa lớp vỏ cuội, phần đốc bị vỡ một góc nhỏ. Công
cụ gần dạng công cụ hình móng ngựa. Kích thƣớc: dài 7,8cm; rộng 6cm; dày 2,5cm.
* Công cụ ba rìa lưỡi: thu đƣợc 1 tiêu bản, ký hiệu 08.BN1.ĐT: 6 làm từ
viên cuội sông suối kích cỡ khá lớn, hình bầu dục dẹt, chất liệu đá basalte. Toàn
thân phủ kín lớp patin dày màu nâu nhạt. Phần lƣỡi tác dụng đƣợc tạo ở hai rìa
ngang và một rìa dọc viên cuội. Các rìa lƣỡi giao nhau tạo hình cung lồi. Kỹ thuật
tạo lƣỡi ghè một mặt, từ một hƣớng, ghè nhiều lớp. Vết ghè lớn liên tiếp, kết hợp
với một số vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lƣỡi. Công cụ có rìa lƣỡi sắc, góc lƣỡi hẹp. Kích
thƣớc: dài 9,5cm; rộng 13,4cm; dày 3,9cm.
* Công cụ mũi nhọn: thu đƣợc 1 tiêu bản, ký hiệu 08.BN1.ĐT: 7 làm từ viên
cuội sông suối kích cỡ khá lớn, hình bầu dục dẹt, chất liệu đá basalte màu xanh đen.
Toàn thân phủ kín một lớp patin dày màu nâu. Mặt ngoài đang bị phong hoá mạnh
tạo lớp cát xù xì khá bở. Phần lƣỡi tác dụng đƣợc tạo ở một đầu ngang viên cuội.
Kỹ thuật tạo lƣỡi ghè một mặt từ một hƣớng, ghè nhiều lớp, vết ghè có kích cỡ khá
lớn liên tiếp. Ghè đẽo từ hai cạnh vào tạo thành công cụ có một đầu nhọn, góc lƣỡi
rất lớn. Công cụ lƣu lại tối đá lớp vỏ cuội tự nhiên, đốc cầm hình vòng cung tròn.
Kích thƣớc: dài 13,5cm; rộng 10,1cm; dày 4,4cm.
* Công cụ rìa lưỡi dọc: thu đƣợc 2 tiêu bản.
- Công cụ rìa lƣỡi dọc ký hiệu 08.BN1.ĐT: 8 làm từ viên cuội sông suối hình
bầu dục dẹt. Toàn bộ công cụ bám một lớp patin dày màu nâu vàng. Bề mặt công cụ

đang bị phong hoá mạnh, tạo một lớp cát tơi bở bám ở bên ngoài. Phần lƣỡi tác
dụng đƣợc tạo ở một cạnh dọc viên cuội. Kỹ thuật ghè tạo lƣỡi ghè một mặt, từ một
hƣớng, ghè một lớp. Các nhát ghè khá lớn liên tiếp triển khai từ đầu này đến đầu kia
viên cuội, tạo góc lƣỡi hẹp, lƣỡi hơi cong vồng. Do đang trong quá trình phong hoá
nên rìa lƣỡi bị bào mòn hơi tù. Phần thân công cụ giữ lại tối đa lớp vỏ cuội. Kích
thƣớc: dài 6,8cm; rộng 9,7cm; dày 3cm.
- Công cụ rìa lƣỡi dọc ký hiệu 08.BN1.ĐT: 9 làm từ viên cuội sông suối,
không định hình, chất liệu đá basalte. Toàn thân phủ lớp patin dày màu nâu nhạt.
Trên một cạnh dẹt dọc thân cuội đƣợc ghè tạo lƣỡi. Kỹ thuật ghè một lớp từ một

18
hƣớng, nhát ghè lớn liên tiếp đều nhau tạo công cụ có rìa lƣỡi sắc, góc lƣỡi hẹp.
Kích thƣớc: dài 6,8cm; rộng 10,2cm; dày nhất 5,8cm.
* Công cụ không định hình: thu đƣợc 1 tiêu bản ký hiệu 08.BN1.ĐT: 10 làm
từ viên cuội sông suối hình bầu dục. Chất liệu đá basalte, mặt ngoài phủ lớp patin
màu nâu sáng. Công cụ đƣợc ghè tạo lƣỡi ở một cạnh dọc viên cuội, các cạnh còn
lại và mặt bụng công cụ cũng đƣợc ghè đẽo tách bỏ toàn bộ lớp vỏ cuội. Kỹ thuật
ghè nhiều lớp, từ các hƣớng khác nhau, triển khai từ mặt lƣng sang mặt bụng viên
cuội. Các vết ghè có kích cỡ trung bình, khá đều nhau, ghè liên tiếp. Phần lƣỡi đƣợc
ghè từ mặt lƣng đến giữa thân cuội, ghè nhiều lớp từ một hƣớng, vết ghè đều, tạo
công cụ có phần lƣỡi hơi nhọn. Hai cạnh bên đƣợc ghè từ mặt lƣng sang, diện ghè
vuông góc với phần lƣỡi, vết ghè lớn, chủ yếu có tác dụng định hình công cụ. Mặt
bụng, phần từ đốc xuống cũng đƣợc ghè đẽo, diện ghè triển khai từ đốc đến giáp
phần lƣỡi công cụ theo hƣớng đối nghịch với hƣớng ghè tạo lƣỡi, bóc đi toàn bộ
phần vỏ cuội tự nhiên ở mặt bụng viên cuội. Lớp vỏ cuội chỉ còn đƣợc giữ nguyên ở
mặt lƣng công cụ. Kích thƣớc: dài 6,6cm; rộng 8cm; dày nhất 4,6cm
* Công cụ cuội bổ: thu đƣợc 2 tiêu bản.
- Công cụ ½ viên cuội ký hiệu 08.BN1.ĐT: 11. Chất liệu cuội sông suối, có
nguồn gốc đá basalte hạt mịn, hình bầu dục dẹt. Toàn thân phủ lớp patin dày màu
nâu vàng, mặt ngoài đang bị phong hoá mạnh. Kỹ thuật tạo dáng, bổ ½ viên cuội

theo cạnh dọc ở mặt lớn, sau đó ghè tạo lƣỡi ở một đầu ngang viên cuội. Phần lƣỡi
đƣợc tạo theo hình cung lồi từ một đầu ngang đến gần giữa thân cuội. Kỹ thuật ghè
một mặt từ một hƣớng, ghè một lớp tạo rìa lƣỡi sắc, góc lƣỡi hẹp. Diện ghè từ mặt
cuội sang mặt bổ, vết ghè kích cỡ khá nhỏ, liên tiếp xen kẽ với những vết ghè nhỏ tu
chỉnh rìa lƣỡi. Mặt lƣng công cụ để nguyên lớp vỏ cuội. Kích thƣớc: dài 18,6cm;
rộng 9,7cm; dày 2,9cm.
- Công cụ ¼ viên cuội ký hiệu 08.BN1.ĐT: 12. Làm từ chất liệu cuội sông
suối, nguồn gốc đá quartf hạt mịn, gần hình bầu dục dẹt. Toàn thân phủ lớp patin
màu nâu sáng. Kỹ thuật tạo hình bổ ½ theo cạnh dọc ở mặt lớn viên cuội sau đó ghè
tạo lƣỡi ở ngang thân cuội tạo công cụ có dạng ¼ viên cuội. Kỹ thuật ghè một mặt
từ một hƣớng, ghè một lớp. Diện ghè từ mặt cuội sang mặt bổ. Ghè ba nhát lớn liên
tiếp, kết hợp một số vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lƣỡi. Công cụ có góc lƣỡi hẹp, rìa lƣỡi
sắc. Mặt lƣng công cụ giữ nguyên lớp vỏ cuội. Kích thƣớc: dài 7,6cm; rộng lƣỡi
8,8cm; dày 2,5cm.
* Công cụ mảnh tước: thu đƣợc 2 tiêu bản.
- Công cụ mảnh tƣớc ký hiệu 08.BN1.ĐT: 13 là một mảnh tƣớc có hình gần
tam giác đƣợc tách ra từ một viên cuội sông suối. Toàn thân bao phủ một lớp patin
dày màu nâu. Loại hình mảnh tƣớc thứ, có mặt lƣng và mặt bụng gần phẳng, vỏ
cuội còn lƣu lại ở hai cạnh hẹp của mảnh tƣớc. Phần lƣỡi mảnh tƣớc đƣợc tiếp tục
gia công bằng những nhát ghè nhỏ liên tiếp tu chỉnh tạo rìa lƣỡi sắc. Vết ghè tu
chỉnh theo một hƣớng, từ mặt bụng sang mặt lƣng. Tạo nên công cụ có chức năng
nhƣ dao cắt. Kích thƣớc: dài 6cm; rộng lƣỡi 5,7cm; dày 1,5cm.
- Công cụ mảnh tƣớc ký hiệu 08.BN1.ĐT: 14 đƣợc làm từ một mảnh vỡ lớn
của viên cuội sông suối, chất liệu đá basalte. Mặt ngoài phủ lớp patin dày màu nâu
và đang bị phong hoá mạnh. Công cụ đƣợc tạo hình từ nhiều nhát ghè theo nhiều
hƣớng khác nhau vòng quanh rìa cạnh, hƣớng ghè từ mặt cuội sang mặt bụng. Vết
ghè tạo lƣỡi lớn kết hợp với những vết ghè nhỏ tu chỉnh rìa lƣỡi, tạo góc lƣỡi hẹp,

19
lƣỡi sắc. Có thể coi đây là loại công cụ đá không định hình. Kích thƣớc: dài 7,2cm;

rộng 8,3cm; dày 3,2cm.
* Công cụ hình rìu: thu đƣợc 1 tiêu bản ký hiệu 08.BN1.ĐT: 15 làm từ viên
cuội sông suối hình bầu dục dẹt, chất liệu đá quartf màu đen, hạt hơi thô, mặt ngoài
phủ lớp patin màu xám xanh. Công cụ có một mặt lớn còn giữ nguyên lớp vỏ cuội,
mặt còn lại đƣợc ghè bóc hết lớp vỏ cuội bằng những nhát ghè lớn, sau đó ghè tu
chỉnh toàn bộ rìa lƣỡi và hai bên cạnh hẹp tạo cho công cụ có hình rìu dài, có phần
lƣỡi cong vồng, rìa lƣỡi hẹp, lƣỡi sắc. Cũng có khả năng đây là phác vật rìu đá ở
giai đoạn hậu kỳ đá mới hay sơ kỳ kim khí, tuy vậy khả năng này thấp. Kích thƣớc:
dài 13,6cm; rộng 6,5cm; dày 2,1cm.

Bảng 6: Thống kê mô tả hiện vật đá cũ Bản Nàng 1

Stt
Tên hiện vật
Ký hiệu
Chất liệu
Kích thước (cm)
(dài x rộng x dày)
1
Công cụ rìa lƣỡi ngang
08.BN1.ĐT: 1
Đá basalte
10,8 x 9,5 x 4,6
2
Công cụ rìa lƣỡi ngang
08.BN1.ĐT: 2
Đá basalte
11,5 x 11,3 x 4,6
3
Công cụ rìa lƣỡi ngang

08.BN1.ĐT: 3
Đá basalte
7,5 x 9,0 x 3,4
4
Công cụ rìa lƣỡi ngang
08.BN1.ĐT: 4
Đá basalte
12,0 x 8,8 x 7,0 x 3,8
5
Công cụ rìa lƣỡi ngang
08.BN1.ĐT: 5
Đá basalte
7,8 x 6,0 x 2,5
6
Công cụ ba rìa lƣỡi
08.BN1.ĐT: 6
Đá basalte
9,5 x 13,4 x 3,9
7
Công cụ mũi nhọn
08.BN1.ĐT: 7
Đá basalte
13,5 x 10,1 x 4,4
8
Công cụ rìa lƣỡi dọc
08.BN1.ĐT: 8
Đá basalte
6,8 x 9,7 x 3,0
9
Công cụ rìa lƣỡi dọc

08.BN1.ĐT: 9
Đá basalte
6,8 x 10,2 x 5,8
10
Công cụ không định hình
08.BN1.ĐT: 10
Đá basalte
6,6 x 8,0 x 4,6
11
Công cụ ½ viên cuội
08.BN1.ĐT: 11
Đá basalte
18,6 x 9,7 x 2,9
12
Công cụ ¼ viên cuội
08.BN1.ĐT: 12
Đá quartf
7,6 x 8,8 x 2,5
13
Công cụ mảnh tƣớc
08.BN1.ĐT: 13
Đá basalte
6, 0 x 5,7 x 1,5
14
Công cụ mảnh tƣớc
08.BN1.ĐT: 14
Đá basalte
7,2 x 8,3 x 3,2
15
Công cụ hình rìu

08.BN1.ĐT: 15
Đá quartf
13,6 x 6,5 x 2,1

Di tích thuộc loại hình di tích thời đại đá cũ phân bố ngoài trời, dạng đồi gò
trƣớc núi. Mặt bằng di chỉ có độ dốc không lớn, bên cạnh là nguồn suối Nàng cung
cấp nƣớc ngọt quanh năm nên khá thuận lợi cho việc cƣ trú và phƣơng thức kinh tế
khai thác tự nhiên nhƣ săn bắt, hái lƣợm.
Đặc điểm nổi bật của nhóm công cụ đá là kỹ thuật ghè đão chiếm vị trí chủ
đạo, ghè trên một cạnh dọc hay ngang viên cuội tạo ra các loại hình công cụ khác
nhau là thủ pháp điển hình của giai đoạn đá cũ hậu kỳ (văn hoá Sơn Vi). Kỹ thuật
cuội bổ đƣợc sử dụng nhằm tiết kiệm nguyên liệu, đồng thời cũng là phƣơng pháp
làm mỏng thân cuội giúp cho quá trình ghè đẽo tạo lƣỡi công cụ đƣợc thuận lợi hơn.
Sự có mặt của bóc phần lớn vỏ cuội, phác vật rìu hay công cụ hình rìu tay cho thấy
dấu hiệu của việc phát triển liên tục cho đến giai đoạn văn hoá đá mới sơ kỳ. Qua so
sánh với sƣu tập hiện vật thu đƣợc trong khu vực [Nguyễn Gia Đối 2003; Kỷ yếu
hội thảo 30 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Sơn Vi 1998; Hà Văn Tấn (chủ
biên) 1998; Hà Văn Tấn, Nguyễn Khắc Sử, Trình Năng Chung 1999] cho thấy, loại
hình công cụ ở đây khá đẹp và rất điển hình cho giai đoạn hậu kỳ đá cũ ở khu vực
miền núi Tây Bắc.

20
Di tích mang đặc trƣng của loại hình Sơn Vi miền núi, lần đầu tiên phát hiện
ở vùng núi Tây Thanh Hoá. Do vậy, việc nghiên cứu toàn diện di chỉ này mang ý
nghĩa rất quan trọng, giải quyết đƣợc nhiều vấn đề khoa học nhƣ: không gian phân
bố của các di chỉ hậu kỳ đá cũ, các phƣơng thức kinh tế, quá trình chiếm lĩnh và làm
chủ không gian sống của các nhóm cƣ dân giai đoạn hậu kỳ đá cũ.
Di tích nằm trong khu vực chứa nƣớc của lòng hồ thuỷ điện Trung Sơn.
Đồng thời, với cao độ trên dƣới 120m so với mực nƣớc biển thì sau khi Thuỷ điện
Trung Sơn hoàn thành và đƣa vào sử dụng, di tích sẽ nằm sâu khoảng 40m dƣới mặt

nƣớc của hồ chứa thuỷ điện. Đồng thời việc nằm trong khu vực dân cƣ cũng đem
đến cho di tích một nguy cơ lớn do việc mở đƣờng di dân khỏi vùng lòng hồ gây ra.
Nhìn chung, có thể nhận thấy tác động của việc xây dựng Dự án thuỷ điện Trung
Sơn đến di tích là rất nặng lề, làm thay đổi gần nhƣ hoàn toàn môi trƣờng tự nhiên
phân bố di tích, thậm chí đặt di tích vào nguy cơ bị phá huỷ hoàn toàn. Các công tác
triển khai nghiên cứu di tích cần đƣợc tiến hành ngay lập tức trƣớc khi toàn bộ khu
vực di tích bị ngâm trong vùng hồ chứa thuỷ điện. Đây là một công việc thiết thực
góp thêm tƣ liệu soi sáng cội nguồn quá khứ xa xƣa của dân tộc và góp phần giữ rìn
các di sản văn hoá của dân tộc. Các đề xuất và phƣớng hƣớng nghiên cứu cụ thể
đƣợc chúng tôi trình bày cụ thể hơn ở mục 5 của báo cáo này.

3.2. Di tích khảo cổ học giai đoạn lịch sử
Khu mộ Huổi Pa
Đợt khảo sát đã phát hiện một di tích thộc giai đoạn lịch sử là khu mộ táng
Huổi Pa, nằm ở khu vực rừng luồng của bản Tà Bán, xã Trung Sơn, huyện Quan
Hoá. Khu mộ nằm ở chân núi, cạnh một con suối nhỏ gọi là Huổi (suối) Pa. Toạ độ
di tích 20
0
37’514’’ vĩ độ Bắc và 104
0
49’780’’ kinh độ Đông. Độ cao so với mặt
nƣớc biển 131m.
Đƣờng đến di tích từ UBND xã Trung Sơn đi theo đƣờng dải cấp phối
khoảng 5km đến bản Ta Bán, tiếp tục đi theo con đƣờng mòn đi các bản Tà Lào
Đông, Tà Lào Tây thuộc xã Tân Xuân, đi khoảng 3km - gần hết địa phận bản Ta
Bán là đến di tích. Di tích nằm ở phía bên phải con đƣờng mòn này.
Mặt bằng phân bố di tích là một triền gò có độ dốc không lớn, mới đƣợc sử
dụng trồng luồng vài năm gần đây. Diện phân bố di tích rộng khoảng 1000m
2
, tình

trạng còn khá nguyên vẹn. Trong khu vực này có rất nhiều ngôi mộ đƣợc đặt các
viên đá phiến kích cỡ khá lớn đƣợc chôn đánh dấu ở đầu hay/và xung quanh mộ.
Trong đó loại hình mộ chôn một phiến đá đơn lẻ chiếm số lƣợng chủ đạo. Đá đánh
dấu mộ là loại đá phiến có sẵn trong tự nhiên.
Nhóm tƣ vấn đã tiến hành khảo sát chi tiết một số phiến đá đánh dấu mộ.
Một số hố thám sát nhỏ đƣợc mở ra ở phía chân một vài tảng đá lớn để tìm hiểu cấu
trúc ban đầu của mộ. Kết quả nhƣ sau: Phiến đá thứ nhất có kích thƣớc dài 173cm
(chƣa tính phần chân chôn sâu dƣới đất), rộng 100cm, dày 7 - 10cm; Phiến đá thứ 2
có kích thƣớc dài 130cm (chƣa tính phần chân chôn dƣới đất), rộng 102cm, dày 7 -
10cm; Phiến đá thứ 3 dài 83cm (độ dài toàn bộ 130cm), rộng 75cm, dày 9cm. Phiến
thứ 4 có chiều dài trên mặt đất 97cm, rộng 78cm, dày 9cm; Phiến thứ 5 có chiều dài
trên mặt đất 55cm, rộng 75cm, dày 6 - 10cm.
Mộ có loại hình và cấu trúc tƣơng tự một số khu mộ Mƣờng đã đƣợc Viện
Khảo cổ học khai quật nghiên cứu trƣớc đây (nhƣ khu mộ Mƣờng Đống Thếch ở

21
Hoà Bình; khu mộ Mƣờng Vang ở Sơn La ) [Lê Đình Phụng, Phan Tiến Ba,
Nguyễn Dân 1985; Phạm Quốc Quân 1994]. Khu mộ có cấu trúc khá độc đáo, đƣợc
bảo quản khá tốt, rất thuận lợi cho những giai đoạn nghiên cứu tiếp theo.
Điều đặc biệt là đến nay, ở khu vực công tác ngoài cƣ dân thuộc tộc ngƣời
Thái chiếm phần lớn số lƣợng thì ngƣời Mƣờng cũng có một số lƣợng khá lớn. Hai
tộc ngƣời này sống hoà đồng với nhau trong cùng một bản và không có sự phân biệt
về nguồn gốc tộc ngƣời. Cƣ dân ngƣời Mƣờng hiện nay sinh sống trong các bản
Thái đều theo phong tục của ngƣời Thái. Cho thấy việc giao lƣu, hội nhập văn hoá ở
khu vực này đã và đang diễn ra rất mạnh.
Thực tế, những nghiên cứu trƣớc đây cũng chỉ ra rằng: sự ảnh hƣởng, giao
lƣu văn hoá giữa một số nhóm Thái với nhóm các dân tộc Việt Mƣờng, hay Mƣờng,
thể hiện rất đậm trong phong tục mai táng và xây cất mộ và cũng nhƣ ngƣời
Mƣờng, ngƣời Thái cũng có mộ cấu trúc giống hệt Mƣờng kể cả những chi tiết nhỏ
nhƣ tục trải than, số lƣợng cột đá, quan niệm về sự tồn tại linh hồn và đá là nơi trú

ngụ của linh hồn [Vy An 1987; Nguyễn Ngọc Thanh 1989; Phạm Quốc Quân
1994].
Qua so sánh loại hình di tích, có thể đoán định niên đại khu mộ ở trong
khoảng thế kỷ XVI - XVII [Phạm Quốc Quân 1988; Phạm Quốc Quân 1994].
Việc phát hiện các khu mộ táng ở khu vực sinh sống của ngƣời Thái nhƣng
lại mang một số dấu hiệu của loại hình mộ Mƣờng là một phát hiện khá lý thú. Việc
nghiên cứu các khu mộ này sẽ hé mở ra bức tranh phân bố của các tộc ngƣời trong
khu vực Tây Thanh Hoá; quá trình giao lƣu, hội nhập văn hoá giữa các tộc ngƣời
Thái và ngƣời Mƣờng ở khu vực này trong quá khứ.
Có thể nhận thấy di tích phân bố phân bố ở ngay phía trên chân đập thuỷ
điện, thuộc khu vực lòng hò chứa nƣớc Dự án thuỷ điện Trung Sơn. Với độ cao trên
130m so với mực nƣớc biển thì sau khi tích nƣớc hồ chứa cho Nhà máy Thuỷ điện
Trung Sơn, di tích sẽ nằm sâu khoảng 30m dƣới mặt hồ chứa. Đồng thời việc tích
nƣớc hồ chứa cũng sẽ làm cho môi trƣờng tự nhiên phân bố di tích bị thay đổi hoàn
toàn. Các nhóm cƣ dân bản địa sẽ đƣợc di dời khỏi vùng lòng hồ và nhƣ vậy việc
nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc và sự giao thoa văn hoá giữa các tộc ngƣời ở khu
vực này trong lịch sử cũng vĩnh viễn bị trôn vùi cùng di tích. Do vậy việc lập một
kế hoạch nghiên cứu di tích trƣớc khi nó bị xoá sổ là một hành động rất thiết thực
và hữu ích. Những đề xuất cụ thể nhằm xử lý di tích đƣợc chúng tôi đề cập ở mục 5
ở báo cáo này.

3.3. Sưu tập hiện vật trong vùng lòng hồ
3.3.1. Sưu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử
Sƣu tập hiện vật giai đoạn tiền sơ sử hiện đang đƣợc lƣu giữ rải rác trong
một số hộ dân ở các bản Ta Bán, bản Tài Chánh, bản Nàng 1 và bản Lìn (xem bảng
6). Theo những ngƣời đang lƣu giữ những hiện vật này cho biết họ thu thập đƣợc ở
các khu vực ven sông suối hay trên các nƣơng rẫy quanh bản của họ. Đối với cƣ dân
địa phƣơng các hiện vật này đƣợc coi là bảo vật, có giá trị rất thiêng liêng về mặt
tinh thần. Họ quan niệm đây là "búa trời" (cả với đồ đá và đồ đồng), chỉ xuất hiện
khi trời mƣa to, có sấm sét. Hiện vật này thƣờng đƣợc để chung với những đồ đạc

quý trong nhà nhƣ vàng bạc, đồ trang sức. Đặc biệt những thầy mo, thầy cúng
thƣờng sử dụng chúng nhƣ vật thiêng để chữa bệnh cho dân bản. Nhóm tƣ vấn đã

22
thử đƣa ra đề nghị mua lại những hiện vật trên nhƣng đã bị từ chối. Đối với họ việc
bán những hiện vật này sẽ làm cho các thần (hay ma bản) giận dữ và làm cho gia
đình họ phải chịu nhiều tai nạn nhƣ bị đau ốm hoặc mất mùa.

Bảng 7: Thống kê, phân loại hiện vật giai đoạn tiền sơ sử


Sƣu tập


Địa điểm Loại hình
Đồ đá
Đồ
xƣơng
Đồ đồng
Tổng
Rìu
Cuốc
Đá
hình
trụ
Công
cụ
ghè
đẽo
Rìu

Mũi
lao
Bản Ta Bán
Phạm Bá Lâm
2




1

3
Lò Khẳm Tƣ
1




2
1
4
Bản Nàng 1
Ngân Thị Thiết
4
1


1
1


7
Đinh Công Điệp
1


1



2
Ngân Văn Thu
1






1
Vi Văn Thắm
3






3
Bản Lìn
Đinh Công Điện

2






2
Bản Tài Chánh
Lƣơng Văn Toán
3

1




4
Tổng
17
1
1
1
1
4
1
26

Trong tổng số 26 hiện vật thuộc giai đoạn tiền sơ sử nhóm tƣ vấn đã tiếp xúc,
nghiên cứu có 5 hiện vật đồ đồng, 20 hiện vật đồ đá và 1 hiện vật làm từ xƣơng

sừng. Các hiện vật đƣợc lƣu giữ ở các hộ gia đình ông Phạm Bá Lâm (3 hiện vật),
ông Lò Khẳm Tƣ (4 hiện vật) ở bản Ta Bán; bà Ngân Thị Thiết (7 hiện vật), ông
Đinh Công Điệp (2 hiện vật), ông Ngân Văn Thu (1 hiện vật), ông Vi Văn Thắm (3
hiện vật) ở bản Nàng 1; ông Đinh Công Điện (2 hiện vật) ở bản Lìn và ông Lƣơng
Văn Toán (4 hiện vật) ở bản Tài Chánh.
Từ những thông tin về địa điểm phát hiện, nhóm tƣ vấn đã đi điều tra khảo
sát nhƣng không phát hiện di tích. Tuy vậy việc tìm thấy những hiện vật này là
những tín hiệu khả quan về sự có mặt của nhóm cƣ dân giai đoạn kim khí ở khu vực
công tác.
Những hiện vật này đƣợc xử lý theo dạng sƣu tập hiện vật phát hiện ngẫu
nhiên. Sau khi công bố thông tin trong bản báo cáo này, công việc xử lý các sƣu tập
hiện vật đã kết thúc.
Nhóm đồ đồng: 5 hiện vật, thuộc hai loại hình: rìu và mũi lao.
* Rìu đồng: 4 hiện vật.
- Rìu đồng ký hiệu 08.TB.ST: 1 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Phạm Bá
Lâm, bản Ta Bán. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Ta Bán. Tình trạng còn nguyên
vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng, đôi chỗ bị
mài ra có màu vàng rực. Rìu có họng tra cán hình bầu dục, vai xuôi cân đối, thân
dƣới hơi kéo dài tạo cho phần thân dƣới có dáng khá đầy đặn, rìa lƣỡi sắc cong
vồng. Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang. Mặt ngoài rìu không trang trí hoa văn.
Kích thƣớc: rìu dài 9,7cm; rộng họng 3,9cm; dày họng 1,8cm; dài vai 5,5cm; rộng
vai 7,5cm.
- Rìu đồng ký hiệu 08.TB.ST: 2 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Lò Khẳm
Tƣ, bản Ta Bán. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Ta Bán. Tình trạng còn nguyên

23
vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng. Rìu lƣỡi xéo
gót tròn mũi nhọn, họng tra cán hình bầu dục nhọn hai đầu thắt lại so với thân dƣới,
giữa họng và thân dƣới có một đƣờng chỉ nổi ngăn cách. Rìa lƣỡi sắc có một số vết
mẻ nhỏ do sử dụng. Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang. Mặt ngoài rìu không trang

trí hoa văn. Kích thƣớc: rìu dài 10,1cm; rộng họng 4,6cm; dày họng 2,0cm; họng
dài 2,5cm; rộng lƣỡi 8,0cm.
- Rìu đồng ký hiệu 08.TB.ST: 3 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Lò Khẳm
Tƣ, bản Ta Bán. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Ta Bán. Tình trạng còn nguyên
vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ đồng màu đen bóng, phần lƣỡi bị
mài lại có màu vàng rực. Rìu xoè cân, có họng tra cán hình bầu dục gần lục giác, rìa
lƣỡi sắc cong vồng. Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang. Một mặt bên trang trí hoa
văn hình hai chữ C dựa lƣng vào nhau. Kích thƣớc: rìu dài 5,6cm; rộng họng 2,0cm;
dày họng 0,8cm; rộng lƣỡi 4,8cm.
- Rìu đồng ký hiệu 08.BN1.ST: 1 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà bà Ngân
Thị Thiết, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Nàng. Tình trạng còn khá
nguyên vẹn hình dạng, bị sứt mẻ nhẹ phần họng tra cán, toàn bộ mặt ngoài bám một
lớp rỉ đồng màu đen bóng. Rìu lƣỡi xoè cân, họng tra cán hình bầu dục, rìa lƣỡi sắc
cong lồi, lƣỡi có một số vết sứt mẻ do sử dụng. Thân và họng đƣợc tách bằng một
đƣờng chỉ nổi nhỏ. Kỹ thuật đúc rìu từ khuôn hai mang. Mặt ngoài rìu không trang
trí hoa văn. Kích thƣớc: rìu dài 8,2cm; rộng họng 4,0cm; dày họng 1,1cm; rộng lƣỡi
4,7cm.
* Mũi lao đồng: thu đƣợc 1 hiện vật, ký hiệu 08.TB.ST: 4, hiện đang đƣợc
lƣu giữ tại nhà ông Lò Khẳm Tƣ, bản Ta Bán. Hiện vật thu đƣợc ở khu vực ven suối
Ta Bán. Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp rỉ
đồng màu đen bóng, đôi chỗ có màu vàng rực. Lao có họng tra cán hình bầu dục hơi
thót dần về phía lƣỡi, mũi hơi tù có thể do sử dụng nhiều, hai bên cạnh đƣợc vuốt
ngƣợc về phía sau tạo hình cánh én. Sống lƣỡi đƣợc đúc đƣờng chỉ nổi khá rõ. Kỹ
thuật đúc từ khuôn hai mang. Mặt ngoài không trang trí hoa văn. Kích thƣớc: lao
dài 7,5cm; rộng họng 2,1cm; dày họng 1,2cm; họng dài 3,0cm; rộng vai 3,7cm.
Qua so sánh cho thấy, nhóm đồ đồng là hiện vật giai đoạn kim khí, mang đặc
điểm của nhóm đồ đồng văn hoá Đông Sơn ở khu vực miền núi phía Bắc [Phạm
Minh Huyền 1996; Hà Văn Tấn (chủ biên) 1999].
Nhóm đồ đá: 20 hiện vật gồm 17 rìu đá, 1 cuốc, 1 công cụ ghè đẽo.
* Rìu đá: thu đƣợc hai loại hình rìu tứ giác và rìu có vai, trong đó rìu có vai

chiếm tuyệt đại đa số với 16 hiện vật.
Rìu đá có vai:
- Rìu đá ký hiệu 08.TB.ST: 5 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Phạm Bá
Lâm bản Ta Bán. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực cửa suối Quanh, trong khi đi đào đãi
vàng. Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt hơi
thô, toàn bộ mặt ngoài bám một lớp patin màu xám trắng. Loại hình rìu hai vai cân,
thân dài gần dạng cuốc, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, lƣỡi hơi cong vồng, rìa
lƣỡi sắc, bị nhiều vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng. Toàn thân đƣợc mài khá chau chuốt,
tuy nhiên do mặt ngoài bị phong hoá nên tạo bề mặt khá thô ráp. Kích thƣớc: rìu dài
10,3cm; rộng đốc 2,2cm; dài đốc 2,4cm; rộng vai 4,0cm; rộng lƣỡi 4,4cm; thân dày
1,2cm.
- Rìu đá ký hiệu 08.TB.ST: 6 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Lò Khẳm

24
Tƣ, bản Ta Bán. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực suối Quanh. Tình trạng còn nguyên vẹn
hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt hơi thô, mặt ngoài bị dòng nƣớc bào
mòn có màu nâu đen nhẵn bóng. Loại hình rìu hai vai cân, thân ngắn, mặt cắt ngang
thân gần hình chữ nhật, lƣỡi cong vồng, rìa lƣỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử
dụng. Toàn thân đƣợc mài khá chau chuốt. Kích thƣớc: rìu dài 6,8cm; rộng đốc
2,7cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 5,0cm; rộng lƣỡi 5,6cm; thân dày 1,6cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.TC.ST: 1 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Lƣơng
Văn Toán, bản Tài Chánh. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Tài Chánh (hay còn
gọi là suối Nún). Tình trạng còn nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá
basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp patin màu xám trắng. Loại hình rìu hai vai cân
hơi xuôi, thân dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, phần vai thu nhỏ hơn phần
lƣỡi, góc lƣỡi hình chữ V lệch, rìa lƣỡi sắc, có một số vết sứt mẻ lớn do sử dụng.
Rìu mài toàn thân nhƣng vẫn còn quan sát rất rõ những vết ghè đẽo tạo hình. Kích
thƣớc: rìu dài 8,6cm; rộng đốc 1,9cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 4,0cm; rộng lƣỡi
5,3cm; thân dày 1,8cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.TC.ST: 2 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Lƣơng

Văn Toán, bản Tài Chánh. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Tài Chánh. Tình trạng
còn nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ
lớp patin màu xám trắng. Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân
hình chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V lệch, rìa lƣỡi sắc. Rìu mài toàn thân nhƣng do bị
phong hoá nên bị bào mất lớp mài bóng. Kích thƣớc: rìu dài 7,7cm; rộng đốc 2,4cm;
dài đốc 2,0cm; rộng vai 3,6cm; rộng lƣỡi 4,1cm; thân dày 1,6cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.TC.ST: 3 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Lƣơng
Văn Toán, bản Tài Chánh. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Tài Chánh. Tình trạng
còn nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ
lớp patin màu xám trắng. Loại hình rìu hai vai cân, thân ngắn, mặt cắt ngang thân
hình chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V lệch, rìa lƣỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do
sử dụng. Rìu mài toàn thân nhƣng bị phong hoá nên tạo mặt ngoài hơi nhám. Kích
thƣớc: rìu dài 4,4cm; rộng đốc 2,0cm; dài đốc 1,5cm; rộng vai 4,4cm; rộng lƣỡi
4,5cm; thân dày 0,8cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 3 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Đinh
Công Điệp, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Nàng. Tình trạng còn
nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá spinite, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp
patin màu xám ngà. Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân hình chữ
nhật, góc lƣỡi hình chữ V lệch, rìa lƣỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng.
Rìu mài toàn thân khá kỹ nhƣng vẫn còn lƣu lại một số vết ghè đẽo tạo hình. Kích
thƣớc: rìu dài 8,2cm; rộng đốc 2,0cm; dài đốc 2,5cm; rộng vai 4,8cm; rộng lƣỡi
5,4cm; thân dày 2,1cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 4 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Ngân
Văn Thu, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực suối Nàng. Tình trạng còn nguyên
vẹn hình dạng, toàn thân bị nƣớc bào mòn nhẵn bóng. Rìu làm từ chất liệu đá
spinite, màu xanh, hạt mịn. Loại hình rìu hai vai, thân ngắn, mặt cắt ngang thân hình
chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V lệch, rìa lƣỡi tù do bị nƣớc bào mòn, lƣỡi có một vết
vỡ lớn do ngƣời dân mới đập để xem chất liệu. Rìu mài toàn thân. Kích thƣớc: rìu
dài 3,7cm; rộng đốc 1,9cm; dài đốc 1,5cm; rộng lƣỡi 4,1cm; thân dày 1,1cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 5 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Vi


25
Văn Thắm, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Nàng. Tình trạng còn
nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp
patin màu nâu thẫm, trên thân có một số vết rỗ. Loại hình rìu hai vai cân, mặt cắt
ngang thân hình chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V lệch, rìa lƣỡi sắc, có một số vết sứt
mẻ nhỏ do sử dụng. Rìu mài toàn thân khá kỹ. Kích thƣớc: rìu dài 5,3cm; rộng đốc
2,2cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 5,0cm; rộng lƣỡi 4,9cm; thân dày 1,0cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 6 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Vi
Văn Thắm, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực suối Nàng. Tình trạng còn nguyên
vẹn hình dạng, toàn thân bị nƣớc bào mòn nhẵn bóng. Rìu làm từ chất liệu đá
basalte, hạt mịn, màu xanh đen. Loại hình rìu hai vai cân, thân ngắn, mặt cắt ngang
thân gần hình chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V lệch. Rìu mài toàn thân. Kích thƣớc:
rìu dài 4,8cm; rộng đốc 2,8cm; dài đốc 2,0cm; rộng thân 5,2cm; thân dày 1,3cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 7 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà ông Vi
Văn Thắm, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Nàng. Tình trạng còn
nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte màu xanh đen, hạt mịn, mặt
ngoài phủ lớp patin dày màu xám trắng. Loại hình rìu hai vai cân, thân dài có dạng
hình thang, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V lệch, rìa lƣỡi có
một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng. Rìu mài toàn thân nhƣng đang trong quá trình
phong hoá nên có bề mặt thô ráp. Kích thƣớc: rìu dài 7,2cm; rộng đốc 2,0cm; dài
đốc 1,4cm; rộng vai 4,2cm; rộng lƣỡi 5,4cm; thân dày 1,0cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 8 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà bà Ngân
Thị Thiết, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Nàng. Tình trạng còn
nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá spinite, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp
patin màu xám ngà. Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân hình chữ
nhật, góc lƣỡi hình chữ V hơi lệch, rìa lƣỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử
dụng. Rìu mài toàn thân khá kỹ nhƣng vẫn còn lƣu lại một số vết ghè đẽo tạo hình.
Kích thƣớc: rìu dài 5,2cm; rộng đốc 1,8cm; dài đốc 2,0cm; rộng vai 3,2cm; rộng
lƣỡi 3,3cm; thân dày 1,4cm.

- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 9 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà bà Ngân
Thị Thiết, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực suối Nàng. Tình trạng còn nguyên
vẹn hình dạng, toàn thân bị nƣớc bào mòn nhẵn bóng. Rìu làm từ chất liệu đá
basalte, hạt mịn. Loại hình rìu hai vai cân, thân dài, mặt cắt ngang thân gần hình
chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V. Rìu mài toàn thân. Kích thƣớc: rìu dài 6,0cm; rộng
đốc 1,8cm; dài đốc 1,8cm; rộng thân 4,1cm; thân dày 1,4cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 10 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà bà Ngân
Thị Thiết, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Nàng. Tình trạng còn
nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp
patin màu xám trắng. Loại hình rìu hai vai cân, vai hơi thu lại so với lƣỡi tạo hình
gần thang cân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, góc lƣỡi hình chữ V hơi lệch, rìa
lƣỡi sắc, có một số vết sứt mẻ nhỏ do sử dụng. Rìu mài toàn thân khá kỹ. Kích
thƣớc: rìu dài 5,1cm; rộng đốc 2,0cm; dài đốc 1,5cm; rộng vai 4,9cm; rộng lƣỡi
5,5cm; thân dày 1,1cm.
- Rìu bôn đá ký hiệu 08.BN1.ST: 11 hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nhà bà Ngân
Thị Thiết, bản Nàng 1. Rìu đƣợc nhặt ở khu vực ven suối Nàng. Tình trạng còn
nguyên vẹn hình dạng. Rìu làm từ chất liệu đá basalte, hạt mịn, mặt ngoài phủ lớp
patin màu xám trắng. Loại hình rìu hai vai cân, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật,

×