Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Báo cáo " Tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế dưới góc độ của tổ chức thương mại thế giới " pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (110.19 KB, 6 trang )



nghiên cứu - trao đổi
22 - Tạp chí luật học

Ths. Phan Thảo Nguyên *
ổ chức thơng mại thế giới (WTO) ra
đời là sản phẩm của quá trình toàn cầu
hóa nền kinh tế thế giới. Chức năng chính
của WTO là tạo diễn đàn để đẩy nhanh các
quan hệ về hợp tác kinh tế, thơng mại, đầu
t, sở hữu trí tuệ ; đặt ra những quy định
pháp lí chung làm nền tảng cho các hoạt
động thơng mại quốc tế đồng thời giữ vai
trò là trọng tài phân xử các tranh chấp trong
quan hệ kinh tế quốc tế góp phần giữ bình
đẳng giữa các nớc trong các quan hệ
thơng mại. WTO gồm 136 nớc thành
viên, chiếm trên 90% tổng giá trị giao lu
thơng mại toàn cầu. Do vậy, mỗi chính
sách, quyết định của WTO không chỉ ảnh
hởng đến cán cân thơng mại của nớc
thành viên mà còn ảnh hởng mạnh đến cán
cân thơng mại thế giới. Trong các quan hệ
kinh tế quốc tế luôn tiềm ẩn các mâu thuẫn,
bất đồng về lợi ích giữa các bên liên quan.
Giải quyết đợc các mâu thuẫn, tranh chấp
này sẽ góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh
tế, thơng mại quốc tế phát triển, ngợc lại,
nó sẽ kìm hm sự phát triển của thơng mại
toàn cầu. Do tầm quan trọng của việc giải


quyết tranh chấp thơng mại nên WTO đ
thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp hữu
hiệu để thực hiện chức năng trên. Bài viết
này đề cập vấn đề tranh chấp trong quan hệ
kinh tế quốc tế và cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO.
1. Tranh chấp trong quan hệ kinh tế
quốc tế
Từ thực tiễn tồn tại và phát triển của các
quan hệ kinh tế quốc tế cho thấy trong các
quan hệ này luôn thờng trực nguy cơ xảy
ra tranh chấp giữa các bên tham gia. Đồng
thời trong các quan hệ kinh tế quốc tế luôn
chứa đựng các yếu tố tiềm tàng gây mâu
thuẫn, đó chính là mâu thuẫn về lợi ích kinh
tế của các bên. Mâu thuẫn này càng trở nên
gay gắt do tác động của các quy luật của
nền kinh tế thị trờng mà đặc biệt là quy
luật cạnh tranh. Mâu thuẫn đến mức độ nhất
định sẽ nảy sinh tranh chấp giữa các bên
chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.
Tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc
tế là một dạng tranh chấp kinh tế. Nó phát
sinh từ các quan hệ kinh tế, thơng mại
quốc tế, là biểu hiện những mâu thuẫn hay
xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà
đầu t, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc
T

* Tổng công ti bu chính viễn thông Việt Nam



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 23

thực hiện dịch vụ trên thị trờng có phạm vi
vợt ngoài biên giới lnh thổ quốc gia.
Tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế có
thể bao gồm các chủ thể đặc biệt là các
quốc gia có chủ quyền khi tham gia các
quan hệ kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, với sự
phát triển của khoa học, công nghệ hiện nay
mà đặc biệt là cuộc cách mạng trong lĩnh
vực công nghệ thông tin thì khái niệm về
quan hệ kinh tế, thơng mại vợt khỏi biên
giới, lnh thổ quốc gia không còn giữ
nguyên nghĩa về mặt không gian mà các
dịch vụ thơng mại điện tử, Internet (e-
commerce) là ví dụ điển hình. Nhng dù
tồn tại theo hình thức nào, phát sinh từ
nguyên nhân nào, chủ quan hay khách quan
thì đặc trng chung của tranh chấp trong
quan hệ kinh tế quốc tế luôn gắn liền với
các hoạt động kinh doanh, thơng mại, đầu
t của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu. Về bản chất, mỗi
tranh chấp đều phản ánh những xung đột về
lợi ích kinh tế giữa các bên. Dạng tranh
chấp nêu trên tồn tại phổ biến trong quan hệ
thơng mại quốc tế và đợc coi là tranh

chấp giữa các doanh nghiệp. Các tranh chấp
thuộc loại này đợc điều chỉnh bằng t
pháp quốc tế.
Với xu hớng phát triển kinh tế toàn
cầu hiện nay thì tranh chấp kinh tế không
chỉ đơn thuần là vấn đề của doanh nghiệp vì
đ liên quan chặt chẽ đến lợi ích của quốc
gia. Tranh chấp đó không chỉ ảnh hởng
đến quyền lợi riêng của doanh nghiệp mà
ảnh hởng đến quyền lợi của ngời lao
động trong doanh nghiệp, các lợi ích của
nhà nớc mà suy rộng hơn là ảnh hởng
đến sự tồn tại của ngành sản xuất trong
nớc, thu nhập của ngân sách nhà nớc và
ổn định x hội. Chính vì vậy, tất cả các
quốc gia đều có xu hớng bảo hộ, bảo vệ lợi
ích của doanh nghiệp trong nớc, của nền
sản xuất trong nớc, qua đó bảo vệ lợi ích
của quốc gia mình trong các quan hệ
thơng mại quốc tế. Hay nói cách khác,
tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế lúc
này đ vợt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của
t pháp quốc tế để trở thành đối tợng chịu
sự chi phối của công pháp quốc tế vì chủ
thể tham gia tranh chấp không chỉ đơn
thuần là các doanh nghiệp mà còn là các
quốc gia chủ quyền với đầy đủ các quyền
miễn trừ tài phán nêu trong công pháp quốc
tế. Trong các tranh chấp thuộc loại này, các
quốc gia thờng có xu hớng ban hành các

chính sách, quy định về thuế quan trừng
phạt, áp dụng hạn ngạch để bảo vệ. Ví dụ,
năm 1999, giữa Mĩ và EC nảy sinh tranh
chấp về chuối. EC không muốn nhập khẩu
chuối từ Mĩ mà nhập khẩu từ châu Phi, do
vậy EC đ đa ra tiêu chuẩn thuế quan ngặt
nghèo áp dụng đối với sản phẩm chuối của
Mĩ. Để đáp ứng lại, Mĩ đ đánh thuế cao
các mặt hàng thực phẩm của EC nhập vào
thị trờng Mĩ.
+ Phân loại tranh chấp trong quan hệ
kinh tế quốc tế
Nếu xét về các bên chủ thể tham gia
tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế thì
có ba loại quan hệ tranh chấp, đó là:


nghiên cứu - trao đổi
24 - Tạp chí luật học

- Tranh chấp giữa các chủ thể của luật
quốc tế (bao gồm các quốc gia và các tổ
chức quốc tế liên chính phủ) liên quan đến
việc thực hiện các điều ớc về kinh tế quốc
tế.
- Tranh chấp giữa một bên là chủ thể
luật quốc gia (pháp nhân, thể nhân) với một
bên là chủ thể của luật quốc tế liên quan
đến việc thực hiện các điều ớc về kinh tế
quốc tế.

- Tranh chấp giữa các pháp nhân, thể
nhân của các quốc gia khác nhau liên quan
đến việc thực hiện các điều ớc về kinh tế
quốc tế.
Xét về bản chất mối quan hệ pháp lí
trên mà thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc
tế đ đa ra hình thức giải quyết phù hợp
đối với mỗi loại tranh chấp quốc tế.
2. Tranh chấp thơng mại thuộc
phạm vi điều chỉnh của WTO
Nh phần trên đ phân tích, tranh chấp
trong quan hệ kinh tế thơng mại quốc tế
nếu xét về chủ thể thì có ba loại: Tranh
chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế,
tranh chấp giữa một bên là chủ thể của luật
quốc tế với một bên là chủ thể của luật quốc
gia và tranh chấp giữa các pháp nhân, thể
nhân của các quốc gia với nhau.
Điều 1 Thoả thuận về giải quyết tranh
chấp của WTO (viết tắt tiếng Anh là DSU)
quy định về nội dung và phạm vi áp dụng
nêu rõ: "Các quy tắc và thủ tục của thoả
thuận này sẽ đợc áp dụng cho những tranh
chấp chiểu theo những điều khoản về tham
vấn và giải quyết tranh chấp của những
hiệp định đợc liệt kê trong Phụ lục 1 của
Thỏa thuận này. Những quy tắc và thủ tục
của Thoả thuận này cũng đợc áp dụng cho
việc t vấn và giải quyết tranh chấp giữa
các thành viên về quyền và nghĩa vụ theo

các điều khoản của Hiệp định thành lập Tổ
chức thơng mại thế giới và của Thoả thuận
này đợc xem xét riêng hoặc cùng với bất
cứ hiệp định thuộc diện điều chỉnh nào
khác". Nh vậy, WTO sẽ giải quyết các
tranh chấp giữa các quốc gia thành viên và
nội dung tranh chấp liên quan đến việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp
định và thoả thuận của WTO. Phạm vi tranh
chấp cũng đợc giới hạn trong Hiệp định
thành lập WTO và các hiệp định và thỏa
thuận khác của WTO.
+ Đặc điểm của các tranh chấp do
WTO giải quyết là:
- Về chủ thể tranh chấp.
Chủ thể của quan hệ tranh chấp phải là
quốc gia thành viên WTO. Đặc điểm này
xuất phát từ vị trí của WTO. WTO là tổ
chức quốc tế với các thành viên là các quốc
gia độc lập có chủ quyền, cùng nhau đàm
phán, nhất trí thành lập nên thông qua việc
kí kết vào các hiệp định của WTO. Các hiệp
định này quy định về quyền, nghĩa vụ của
các quốc gia và ràng buộc trách nhiệm thực
hiện của các quốc gia. Cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO cũng là thể chế pháp lí
mà các quốc gia thành viên nhất trí xây
dựng nên và đợc coi là một trong ba chức



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 25

năng quan trọng của WTO. Chính vì lí do
đó mà WTO chỉ có thể giải quyết các tranh
chấp giữa các nớc thành viên chứ không
thể giải quyết đợc tranh chấp giữa quốc
gia thành viên và một nớc không phải là
thành viên WTO. Sở dĩ nh vậy là vì nớc
không phải thành viên WTO sẽ không phải
thực hiện và không có nghĩa vụ phải thực
hiện những quy định của WTO. Các nguyên
tắc cơ bản của công pháp quốc tế đ khẳng
định tính độc lập, chủ quyền và quyền tự
quyết của quốc gia mà đặc biệt là quyền
không thể bị xét xử tại bất kì tòa án nào,
trừ khi quốc gia đó tự nguyện từ bỏ quyền
này. Còn đối với nớc thành viên WTO khi
đặt bút kí vào văn kiện gia nhập thì quốc
gia đó đ chấp nhận và tuân theo những quy
định của WTO trong đó có cả quy định về
sự phán xét của WTO về các hành vi thơng
mại của chính quốc gia đó cũng nh thừa
nhận hiệu lực của phán quyết và các biện
pháp cỡng chế thi hành kèm theo.
Đặc điểm này cho thấy quan hệ tranh
chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO là
quan hệ thuộc lĩnh vực Công pháp quốc tế
chứ không phải là quan hệ về T pháp quốc
tế đợc giải quyết tại các tòa án, trọng tài

theo các thủ tục thông thờng trong T
pháp quốc tế. Tuy chủ thể của quan hệ
tranh chấp là các nớc thành viên WTO
nhng thực tế cho thấy các quốc gia rất ít
khi tự mình tham gia vào các quan hệ kinh
tế quốc tế. Đứng đằng sau tất cả các quốc
gia khi tham gia vào quan hệ kinh tế quốc
tế chính là các công ti xuyên quốc gia.
Tranh chấp giữa Nhật Bản và Mĩ về thị
trờng xe ô tô trớc tiên phát sinh không
phải do Chính phủ Mĩ và Chính phủ Nhật
có quan hệ buôn bán về xe ô tô mà nó phát
sinh giữa những tập đoàn xe ô tô của Mĩ và
của Nhật. Quy mô, tính phức tạp của tranh
chấp cũng nh chính sách bảo hộ nền sản
xuất trong nớc đ lôi kéo chính phủ hai
nớc can dự vào tranh chấp vốn chỉ phát
sinh giữa các tập đoàn, công ti của hai
nớc. Việc buôn bán và thâm nhập vào thị
trờng của nớc khác là công việc của các
công ti xuyên quốc gia chứ không phải là
việc làm của các chính phủ. Nhng đứng
đằng sau các công ti xuyên quốc gia đó là
sự hỗ trợ, can thiệp của các chính phủ. Khi
các chính sách hỗ trợ, can thiệp đó mâu
thuẫn với các hiệp định, thoả thuận của
WTO và bị quốc gia liên quan khiếu nại thì
sẽ phát sinh loại tranh chấp thuộc phạm vi
giải quyết của WTO. Nh vậy, có thể thấy
đợc rằng mối liên hệ giữa những công ti

xuyên quốc gia và các chính phủ trong
tranh chấp trong quan hệ kinh tế quốc tế là
rất mật thiết.
- Về nội dung tranh chấp và đối tợng
tranh chấp.
Theo Điều 1 Thỏa thuận DSU, nội dung
tranh chấp chính là việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mỗi nớc thành viên
đợc quy định trong Hiệp định thành lập
WTO và các hiệp định, thỏa thuận khác của
tổ chức này. Việc quốc gia thành viên
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
các quyền và nghĩa vụ của mình có thể trực


nghiên cứu - trao đổi
26 - Tạp chí luật học

tiếp hoặc gián tiếp xâm hại đến lợi ích của
nớc thành viên khác. Hay nói cách khác
nội dung tranh chấp chính là việc thực hiện
các quyền, nghĩa vụ theo các hiệp định,
thỏa thuận của WTO. Đối tợng tranh chấp
suy đến cùng là những lợi ích kinh tế mà
các quốc gia có đợc từ các hiệp định, thỏa
thuận của WTO.
Biểu hiện ra bên ngoài của tranh chấp là
các hành vi thơng mại của quốc gia bị coi
là đ vi phạm các nguyên tắc cơ bản của
WTO, đi ngợc lại mục tiêu của WTO hoặc

vi phạm các hiệp định, quy định, thỏa thuận
của WTO. Hành vi thơng mại của quốc gia
đợc hiểu là việc các cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền của quốc gia đó (nghị viện,
quốc hội, tổng thống, thủ tớng, các bộ )
ban hành các chính sách thơng mại hoặc
áp dụng các biện pháp thơng mại cụ thể,
thể hiện sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa
giữa các nớc thành viên (trái nguyên tắc
tối huệ quốc - MFN), phân biệt đối xử giữa
hàng nhập khẩu và hàng nội địa (trái
nguyên tắc đối xử quốc gia - National
Treatment) hay hạn chế việc tiếp cận thị
trờng của hàng hóa của nớc thành viên
khác. Chính sách và biện pháp thơng mại
có thể đợc thể hiện dới hình thức luật lệ
các biện pháp về thuế quan, kiểm dịch
Hành vi thơng mại cụ thể có thể là việc
quyết định giám định, kiểm định đặc thù
hoặc tịch thu hàng hóa của một nớc thành
viên khác và các biện pháp đó trái với các
thủ tục thông thờng mà nớc đó hiện đang
áp dụng (thể hiện sự không thống nhất
trong việc áp dụng luật pháp hoặc phân biệt
đối xử).
Nh vậy có thể thấy, đối tợng tranh
chấp trong quan hệ này không phải là các
đối tợng cụ thể nh trong các quan hệ
tranh chấp về hợp đồng mua bán ngoại
thơng, trong hoạt động xuất nhập khẩu mà

đối tợng của tranh chấp là lợi ích kinh tế
của quốc gia bị xâm hại bởi hành vi thơng
mại của nớc khác (thông qua hoạt động
của các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền
liên quan đến hoạt động thơng mại). Hành
vi đó vi phạm các quy định của WTO về
thơng mại, xuất nhập khẩu, tài chính, đầu
t, thanh toán quốc tế, sở hữu trí tuệ, mở
cửa thị trờng Đồng thời các hành vi
thơng mại đó phải gây thiệt hại hoặc có
nguy cơ gây thiệt hại cho nhiều nớc thành
viên khác và bị các quốc gia đó khiếu nại
lên WTO.
Theo Công pháp quốc tế, không quốc
gia nào, tòa án nào có quyền phán xét về
hành vi, chính sách của nớc khác và lại
càng không thể xét xử quốc gia trớc tòa án
hay trọng tài về chính sách thơng mại của
nớc đó, chỉ trừ khi quốc gia đó tuyên bố từ
bỏ quyền miễn trừ của mình hoặc khi quốc
gia đó tham gia hiệp định có ràng buộc
trách nhiệm của nhau ở cấp độ quốc gia.
Chính do vậy, các nớc thành viên WTO đ
thống nhất về các nguyên tắc chung cho
hoạt động thơng mại quốc tế bằng cách kí
kết vào các hiệp định khi gia nhập WTO tức


nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 27


là các bên kí kết đ ràng buộc trách nhiệm
và thừa nhận việc hạn chế ở mức độ nhất
định quyền miễn trừ của quốc gia đồng thời
đó cũng là văn bản cam kết thực hiện nghĩa
vụ của nớc mình trong WTO. Chính vì lí
do đó, khi chính sách, biện pháp thơng
mại của quốc gia trái với các hiệp định của
WTO tức là trái với những gì họ đ cam kết
tuân thủ thực hiện thì WTO có quyền yêu
cầu nớc vi phạm phải thực hiện những gì
họ đ cam kết trong WTO.
Nếu căn cứ rõ ràng là chính sách, biện
pháp thơng mại của quốc gia trái với các
hiệp định, thỏa thuận, nguyên tắc của WTO
và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
cho một hay nhiều nớc thành viên khác thì
những nớc đó có quyền yêu cầu WTO
buộc nớc vi phạm phải dừng ngay sự vi
phạm và thực hiện, khôi phục lại nguyên
trạng cũng nh thực hiện đúng cam kết của
họ trong WTO. Việc khiếu nại của một hay
nhiều nớc về sự vi phạm của một nớc là
điều kiện đủ để xác định có tranh chấp hay
không và nó cũng đồng thời là điều kiện
khởi đầu cho quá trình giải quyết tranh chấp
của WTO. Trong quá trình giải quyết tranh
chấp, cơ sở pháp lí quan trọng để xác định
quốc gia có vi phạm hay không là dựa trên
hệ thống các văn bản hiệp định của WTO

cũng nh các nguyên tắc và mục tiêu
thơng mại mà WTO đặt ra khi thành lập tổ
chức này.
- Phạm vi tranh chấp.
Các tranh chấp phát sinh phải nằm trong
phạm vi Hiệp định thành lập WTO và các
hiệp định, thỏa thuận khác của WTO. Hay
nói cách khác, phạm vi tranh chấp là các
vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các
hiệp định đa phơng, hiệp định nhiều bên kí
kết trong khuôn khổ WTO. Do vậy, phạm vi
tranh chấp sẽ bao gồm các vấn đề về thơng
mại hàng hóa, thơng mại dịch vụ, quyền
sở hữu trí tuệ, đầu t nớc ngoài, các
nguyên tắc của hệ thống thơng mại đa
phơng Phụ lục I của Thỏa thuận DSU
quy định rõ phạm vi các tranh chấp thuộc
phạm vi điều chỉnh của các hiệp định, thỏa
thuận sẽ đợc WTO giải quyết đó là:
a. Hiệp định thành lập Tổ chức thơng
mại thế giới.
b. Các hiệp định thơng mại đa biên
gồm:
- Các hiệp định đa biên về thơng mại
hàng hóa;
- Hiệp định chung về thơng mại dịch
vụ;
- Hiệp định về các khía cạnh của quyền
sở hữu trí tuệ liên quan đến thơng mại;
- Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục

điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp.
c. Các hiệp định thơng mại nhiều bên
gồm:
- Thỏa thuận về thơng mại máy bay
dân dụng;
- Hiệp định về mua sắm của chính phủ;
- Hiệp định quốc tế về sữa;
- Hiệp định quốc tế về thịt bò./.

×