Tải bản đầy đủ (.pdf) (49 trang)

LUẬN VĂN: KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) Ở TRUNG TÂM GIỐNG CASEAMEX – TP CẦN THƠ potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (364.83 KB, 49 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN






PHẠM THẾ HIỂN





KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) Ở TRUNG TÂM
GIỐNG CASEAMEX – TP CẦN THƠ







LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN










2009

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN





PHẠM THẾ HIỂN




KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) Ở TRUNG TÂM
GIỐNG CASEAMEX – TP CẦN THƠ





LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN






CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. DƯƠNG NHỰT LONG
KS. NGUYỄN HOÀNG THANH






2009
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
i
LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ cùng quí
Thầy Cô Khoa Thủy Sản đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện luận văn. Đặc biệt có sự hướng dẫn tận tình của thầy Dương Nhựt Long
và kỹ sư Nguyễn Hoàng Thanh.
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ Trại Cá Thực Nghiệm – Bộ Môn Kỹ Thuật
Nuôi Thủy Sản Nước Ngọt – Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện về vật chất và
tinh thần để em hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn cô cố vấn học tập và tập thể lớp Bệnh Học Thủy Sản
K31 đã đóng góp ý và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn.
Cuối cùng xin kính chúc quí thầy cô, các anh chị và các bạn luôn dồi dào sức
khỏe và thành công trong cuộc sống.














PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
ii
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu đặc điểm thành thục tuyến sinh dục của cá Tra trong quá
trình nuôi vỗ trong ao đất ở trung tâm giống Caseamex- TP Cần Thơ trong
khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2009, đồng thời cũng tiến hành
kích thích cá Tra sinh sản nhân tạo và một số thao tác kỹ thuật trong quá trình
sinh sản nhân tạo cá Tra.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuyến sinh dục của cá Tra đã có sự phát triển qua
từng tháng (cụ thể là ở tháng 1 và tháng 2 tuyến sinh dục chủ yếu là ở giai
đoạn I-II nhưng ở tháng 4 và tháng 5 đã chuyển sang giai đoạn III và IV. Đặc
biệt vào tháng 6 thì tuyến sinh dục hầu như ở giai đoạn III và IV).
Trong quá trình kích thích sinh sản thì dùng 2 kích dục tố là HCG (Việt Nam)
và HCG (Trung Quốc) với các tổng liều là 5000UI, 5500UI và 6000UI. Ở cả
hai thí nghiệm thì liều lượng HCG từ 5500UI – 6000UI thông qua 4 lần tiêm
thì cho hiệu quả sinh sản tốt nhất và HCG (Trung Quốc) có tác dụng làm cho
sức sinh sản của cá Tra tốt hơn HCG (Việt Nam). Tỷ lệ thụ tinh và tỉ lệ nở
không chỉ chịu ảnh hưởng của HCG mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố

môi trường và phôi phát triển tốt ở nhiệt độ trung bình 29,5
0
C, Oxy 4,3ppm,
NH
3
/NH
4
0,59mg/l.











PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
iii
MỤC LỤC

CHƯƠNG I 1
GIỚI THIỆU 1
Mục tiêu nghiên cứu 1
Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG II 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Tra (Pangasius hypophthalmus) 3

2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Hình thái, sinh lý 4
2.1.4 Ðặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Ðặc điểm sinh trưởng 4
2.1.6 Ðặc điểm sinh sản 5
2.2 Sơ lược về kích dục tố và sử dụng kích dục tố trong sinh sản cá Tra 6
2.1 Sơ lược về kích dục tố: 6
2.2.2 Việc sử dụng kích dục tố trong sinh sản cá Tra 8
2.3 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cá tra: 8
2.3.1 Sự phát triển của tuyến sinh dục cái: 8
2.3.2 Sự phát triển của tuyến sinh dục đực: 11
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của việc sản xuất giống cá Tra ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long 12
2.4 Sản xuất giống cá Tra chất lượng cao – hướng đi mới của ngành thủy sản
Đồng Bằng Sông Cửu Long 13
CHƯƠNG III 17
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
3.1.1 Thời gian 17
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
iv
3.1.2 Địa điểm 17
3.2 Vật liệu nghiên cứu 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ 17
3.3.2 Chọn cá bố mẹ để tiến hành cho sinh sản nhân tạo 18
3.3.3 Kỹ thuật kích thích cá tra sinh sản 18
3.3.4 Xác định thời điểm vuốt trứng và kỹ thuật thụ tinh trứng 19
3.3.5 Kỹ thuật ấp trứng 20

3.3.6 Một số chỉ tiêu theo dõi trong kỹ thuật cho cá tra sinh sản nhân tạo 20
CHƯƠNG IV 21
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Kết quả của quá trình nuôi vỗ 21
4.2 Kết quả kích thích sinh sản 22
4.2.1 Kết quả kích thích sinh sản bằng kích dục tố HCG (Việt Nam) 23
4.2.2 Kết quả kích thích sinh sản bằng kích dục tố HCG (Trung Quốc) 25
4.2.3 So sánh kết quả kích thích sinh sản giữa HCG (Việt Nam) và HCG
(Trung Quốc) 28
4.3 thụ tinh nhân tạo và ấp trứng 30
4.3.1 Thụ tinh nhân tạo 30
4.3.2 Quá trình ấp trứng 31
Phần V 34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34
5.1 Kết luận 34
5.2 Đề xuất 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 37



PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
v
DANH SÁCH BẢNG VÀ DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ các giai đoạn thành thục của cá từ tháng 01-06/2009 19
Bảng 4.2: Đường kính trứng cá tra qua các lần tiêm kích dục tố 20
Bảng 4.3: Kết quả kích thích HCG (Việt Nam) 21
Bảng 4.4: Kết quả kích thích HCG (Trung Quốc) 24

Bảng 4.5: Các chỉ tiêu môi trường trong quá trình ấp trứng 30
Bảng 4.6: Theo dõi phát triển phôi cá tra 30
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: So sánh sức sinh sản ở các nghiệm thức ứng với liều lượng
5000UI, 5500UI và 6000UI 22
Biểu đồ 4.2: So sánh tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ nở ở các nghiệm thức ứng với liều
lượng 5000UI, 5500UI và 6000UI 23
Biểu đồ 4.3: So sánh sức sinh sản ở các nghiệm thức ứng với liều lượng
5000UI, 5500UI và 6000UI 24
Biểu đồ 4.4: So sánh tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ nở ở các nghiệm thức ứng với liều
lượng 5000UI, 5500UI và 6000UI 25
Biểu đồ 4.5: So sánh kết quả kích thích sinh sản giữa HCG (Việt Nam) và
HCG (Trung Quốc) 26
Biểu đồ 4.6: So sánh tỉ lệ thụ tinh giữa sử dụng HCG (Việt Nam) và HCG
(Trung Quốc) 27
Biểu đồ 4.7: So sánh tỉ lệ thụ tinh giữa sử dụng HCG (Việt Nam) và HCG
(Trung Quốc) 28





PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
vi
DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Cá Tra 3
Hình 4.1: Vuốt trứng cá Tra 28
Hình 4.2: Vuốt tinh cá Tra 28
Hình 4.3: Hệ thống ấp bình Jar 29

Hình 4.4.1 – 4.4.15: Quá trình phát triển phôi cá tra 31

















PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Ctv: cộng tác viên
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐHCT: Đại Học Cần Thơ
KL: Khối Lượng
SSS: Sức Sinh Sản
TL: Tỉ Lệ




PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
1
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
Cá Tra là đối tượng được nuôi ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt là ở Châu Á
và ngày càng phát triển. Nguồn lợi, sản phẩm, lợi ích kinh tế do nghề nuôi cá
Tra mang lại chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngày
nay nghề nuôi cá tra phát triển rất mạnh do được đầu tư đúng mức và áp dụng
công nghệ khoa học kĩ thuật tiên tiến. Nghề nuôi cá tra chiếm tỉ lệ cao trong
nghề nuôi thủy sản và đã tạo ra một lượng sản phẩm lớn phục vụ cho nhu cầu
trong nước và đáp ứng cho xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước.
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, nghề nuôi cá Tra đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn về mặt kinh tế cũng như sự phát triển của công nghệ nuôi
mới, đồng thời đã góp phần quan trọng vào giá trị xuất khẩu của cả nước cũng
như đã giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân, góp phần cải thiện
đáng kể chất lượng cuộc sống của một bộ phận người dân. Đồng Bằng Sông
Cửu Long là trung tâm kinh tế thủy sản của cả nước, nghề nuôi cá tra đã trở
thành một bộ phận kinh tế chủ lực của vùng vì thế nó có tác động rất lớn đối
với kinh tế xã hội của toàn vùng. Không chỉ mang về ngoại tệ mà nó còn có
vai trò rất quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm
cho người dân.
Sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi cá tra đã đặt ra một đòi hỏi rất cao về
con giống, cả về số lượng cũng như chất lượng. Do vậy mà thị trường con cá
Tra giống có tiềm năng rất lớn và sự thành công của nghề sản xuất cá tra ngày
nay gần như đặt trọng tâm vào kỹ thuật sản suất để có con giống tốt.
Tuy nhiên, hiện nay do chất lượng cá tra giống quá thấp, kỹ thuật ương nuôi
còn hạn chế, nên tỷ lệ cá giống bị hao hụt rất lớn. Theo đánh giá của Trung
tâm Quốc gia Giống thuỷ sản nước ngọt Nam Bộ, hiện nay, từ cá bột lên cá
hương, tỷ lệ hao hụt tới trên 80%. Từ cá hương lên cá giống, tỷ lệ hao hụt tới

40-50%. Do đó để nâng cao được chất lượng cũng như hạn chế tỉ lệ hao hụt
trong việc sản xuất cá Tra giống thì đề tài “Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá
Tra (Pangasius hypophthalmus) ở trung tâm giống Caseamex – Tp Cần
Thơ” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài thực hiện với mục tiêu là:
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
2
Tìm hiểu kỹ thuật kích thích cá tra sinh sản nhân tạo ở trung tâm giống
Caseamex – Tp Cần Thơ đồng thời nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho sinh
viên.
Nội dung nghiên cứu: Nội dung đề tài nghiên cứu là:
Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ để tiến hành cho sinh sản nhân tạo.
Kỹ thuật kích thích kích dục tố trong quá trình sinh sản nhân tạo cá tra.



















PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
3
CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus):

Hình 2.1: Cá tra

2.1.1 Phân loại
Cá Tra có tên khoa học là Pangasianodon hypophthalmus trước đây còn có tên
là P. micronemus, là một loài cá nuôi truyền thống trong ao của nông dân các
tỉnh ĐBSCL. Ngoài tự nhiên cá sống ở lưu vực sông Me Kong (Thái Lan, Lào,
Cam-pu-chia và Việt Nam) ( Nguyễn Văn Thường,2001).
Cá tra có đặc điểm phân loại như sau:
Bộ: Cá nheo Siluriformes
Họ: Cá tra Pangasiidae
Giống: Cá tra dầu Pangasianodon
Loài: Cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878)
2.1.2 Phân bố
Cá Tra phân bố ở lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam,
Cămpuchia và Thái lan. Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mekong và
Chao Phraya. Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân
tạo, cá bột và cá giống Tra được vớt trên sông Tiền và sông Hậu. Cá trưởng
thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt nam, do cá
có tập tính di cư ngược dòng sông Mê kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
4
nhiên. Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá
ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9

hàng năm (Nguyễn Chung, 2007).
2.1.3 Hình thái, sinh lý
Cá Tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng
rộng, có 2 đôi râu dài. Cá Tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được
ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10 ), có thể chịu đựng được nước phèn
với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15
o
C, nhưng chịu nóng tới 39
o
C Cá tra
có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các lòai cá khác. Cá có cơ quan hô
hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi
trường nước thiếu oxy hòa tan. Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá Tra thấp
hơn 3 lần so với cá mè trắng (Nguyễn Chung, 2007).
2.1.4 Ðặc điểm dinh dưỡng
Cá Tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn
nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được
cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt
cá bột. Ngoài ra khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của
chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các lòai cá khác. Dạ dày của cá
phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá Tra ngắn, không gấp khúc lên
nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục. Dạ
dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt. Ngay khi vừa hết noãn
hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn
nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương. Trong quá trình
ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích
thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo. Khi cá lớn thể hiện
tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức
ăn. Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các lọai thức ăn bắt buộc
khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật. Trong ao nuôi cá

Tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau,
động vật đáy (Nguyễn chung, 2007).
2.1.5 Ðặc điểm sinh trưởng
Cá Tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều
dài. Cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10-12 cm (14-15 gam). Từ
khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ
thể. Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất ít. Cá tra
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
5
trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm. Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg
hoặc có mẫu cá dài tới 1,8 m. Trong ao nuôi vỗ, cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg
ở cá 10 năm tuổi. Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1-1,5 kg/con ( năm đầu tiên ),
những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5-6 kg/năm tùy
thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm
lượng đạm nhiều hay ít. Ðộ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và
nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ
béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản (Nguyễn Chung, 2007).
2.1.6 Ðặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục
lần đầu từ 2,5-3 kg. Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận
của Campuchia và Thái lan. Ngay từ năm 1966, Thái lan đã bắt cá Tra thành
thục trên sông ( trong đầm Bung Borapet) và kích thích sinh sản nhân tạo
thành công. Sau đó họ nghiên cứu nuôi vỗ cá tra trong ao. Ðến năm 1972 Thái
lan công bố quy trình sinh sản nhân tạo cá Tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố
mẹ thành thục trong ao đất (Nguyễn Chung, 2007).
Cá Tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn
hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái. Ở thời kỳ thành thục,
tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái
gọi là buồng trứng hay nõan sào. Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt
được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều. Các giai đọan

sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình
dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa. Hệ số thành thục
của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76-12,94 (cá cái) và từ 0,83-2,1
(cá đực) ở cá đánh bắt tự nhiên trên sông cỡ từ 8-11kg (Nguyễn văn Trọng,
1989). Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá Tra cái có thể đạt tới 19,5%.
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5-6 dương lịch, cá
có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù
hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông
của Việt Nam. Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông
Mêkông và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone,
nơi giáp biên giới Campuchia và Lào. Nhưng tập trung nhất từ Kampi đến hết
Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng. Tại đây có thể bắt
được những cá tra nặng tới 15 kg với buồng trứng đã thành thục. Cá đẻ trứng
dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica, sau
24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn (Nguyễn Chung, 2007).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
6
Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn
trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3
lần trong một năm.
Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt
đối. Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng. Sức sinh
sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái. Kích thước của trứng cá tra
tương đối nhỏ và có tính dính. Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm.
Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5-
1,6mm (Nguyễn Chung, 2007).
2.2 Sơ lược về kích dục tố và sử dụng kích dục tố trong sinh sản cá Tra:
2.2.1 Sơ lược về kích dục tố:
a.Não Thùy Thể
Người ta lấy não thùy từ những cá thuộc họ cá chép, trắm, mè, trê… đã thành

thục còn tươi sống. Ở cá chết sau vài giờ, hoạt tính kích dục chỉ còn 50 %
(Marcel, 1980).Trong cùng trường hợp và thể trọng và mức độ thành thục thì
não thùy của cá chép cái có hoạt tính của GTH II cao gấp 2 lần so với não thùy
thể cá đực cùng loài (Blannc va Abraham, 1968)
Cá chép có hệ số thành thục cao, càng gần thời điểm sinh sản thì hoạt tính kích
dục của não thùy càng cao
Ngay trước khi lấy não thùy người ta phải tiến hành giết chết cá để tránh vùng
vẫy. Não thùy thể mới lấy phải được làm sạch khỏi những mảnh vỡ, mô liên
kết, máu đông trước khi cho chúng vào lọ, cố định bằng Acetol nguyên chất.
Acetol có tác dụng khử nước và mỡ, sau một đêm ngâm não thùy, người ta
thay Acetol. Có thể làm nhue thế vài lần cho đến khi Acetol không còn biến
màu nữa. từ đó có thể bảo quản bằng cách để nguyên não thùy trong lọ Acetol
nơi mát và tránh ánh nắng. Có thể dùng cồn 96
0
thay vì Acetol
Việc định liều não thùy cho cá bố mẹ các loài tùy thuộc vào nhiều yếu tố như
chất lượng hoạt tính của não thùy, tùy thuộc vào tình thành thục, hệ số thành
thục, nhiệt độ nước, các điều kiện khác của môi trường chứa cá sau khi được
tiêm thuốc kích thích giống như các yếu tố ở bãi đẻ tự nhiên của cá.
Cá được tiêm 1 hay nhiều lần tùy thuộc từng loại cá, liều sơ bộ có tác dụng
đưa nhân noãn bào đang trên đường di chuyển ra ngoại biên, đến sát vi khổng.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
7
Tình trạng túy mầm nằm sát biên là tình trạng thành thục hoàn toàn của noãn
bào, sẵn sàng chín và rụng khi được kích thích bằng liều quyết định.
Hạn chế của việc sử dụng phương pháp tiêm não thùy để kích thích cá sinh sản
là việc phải giết chết cá đã thành thục có thể làm giảm cá bố mẹ hay làm giảm
giá trị thương phẩm của cá bị lấy não thùy, ngoài ra là sự không ổn định hoạt
tính của não và não là hồn hợp nhiều loại hormone gây phản ứng phụ có hại,
thậm chí làm chết cá bố mẹ. (Nguyễn Tường Anh, 1999).

b.HCG:
Là một glycoprotein tan trong nước, việc chiết xuất HCG từ nước tiểu phụ nữ
có thai hoặc từ nhau thai dựa vào nguyên lý tách protein tan trong nước.
HCG gây được những phản ứng oxy hóa cho các enzym chuyển hóa protein và
lipid như dehydrogenaza và estaraza của cá mè trắng tương tự như tác dụng
của não thùy cá chép trên loài này.
Có thể nói HCG là loại kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều
loài cá nhất, ngoài cá mè, các loài cá trê. HCG còn có tác dụng gây rụng trứng
cho các loài cá khác ở nước ta như cá chày, cá vền, cá trôi, cá bống, cá
vàng….(Nguyễn Tường Anh, 1999).
c.GnRH-A
Là chất tổng hợp, có thành phần là các maminoacid trên cơ bản giống với các
GnRH tự nhiên. Có 3 loại GnRH-A: mGnRH-A (Trung Quốc), Buerelin
(Đức), và Superfact nasal (Thái Lan), trong đó sGnRH- A (cá hồi) mạnh nhất
vì có ái lực thụ thể cao nhất. Ovaprim là hỗn hợp của 2 loại chất có thành phần
là 20 mg sGnRH-A và 10 mg donperidon trong khoảng 1 ml propylene glycol,
dành riêng để kích thích cá sinh sản (Nguyễn Tường Anh,1997)
GnRH- A có tác dụng gây phóng thích kích dục tố ở cá, vì thế chúng có thể
được dùng làm chất kích thích sinh sản cho tất cả các loài
Lợi thế của GnRH-A là giá rẻ, hoạt tính ổn định nếu được bào chế bảo quản
tốt, không gây phản ứng miễn dịch.Tuy nhiên cần lưu ý khi sử dụng GnRH
cho cá đó là thời gian hiệu ứng dài, ở cá bố mẹ sau khi tiêm GnRH và đã đẻ
xong thì tuyến yên không còn kích dục tố nên thời gian tái phát dục lâu
(Nguyễn Tường Anh, 1999).

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
8
d.Domperidone (DOM)
Domperidone là chất kết hợp với LnRH-A để ức chế cá tiết dopamine
(Nguyễn Tường Anh, 1999).

e.OVAPRIM
Kích thích phóng thích tố và ức chế sự tiết dopamine
2.2.2 Việc sử dụng kích dục tố trong sinh sản cá Tra
Hormone được sử dụng rộng rãi nhất để kích thích sinh sản cá tra hiện nay là
HCG. Sử dụng phương pháp nhiều lần đối với cá cái (thường 4 lần) và một lần
đối với cá đực.
Liều lượng HCG sử dụng tổng cộng cho cá tra cái từ 5000- 6000 IU, các liều
dẫn 1, 2, 3 sử dụng 400-500 IU cho mỗi liều. Khoảng cách thời gian giữa hai
liều từ 20-24 giờ. Cá đực được tiêm cùng thời điểm với liều quyết định của cá
cái. Sau khi tiêm cá được thả vào bể chứa, khoảng 8-10 giờ sau thì thăm trứng
để xác định thời điểm vuốt trứng (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
2.3 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cá tra
2.3.1 Sự phát triển của tuyến sinh dục cái
Theo Nguyễn Văn Kiểm, (2004), mô tả buồng trứng có hình ống hơi dài, màu
vàng nhạt, vách trong buồng trứng có vách ngăn ngang (tấm trứng). Phía trong
buồng trứng có nhiều mạch máu. Đoạn cuối của buồng trứng kết hợp với nhau
để tạo thành ống dẫn trứng đổ ra ngoài qua lỗ huyệt.
Giai đoạn I: buồng trứng là hai sợi chỉ nhỏ và mảnh do mô liên kết chưa phát
triển, chúng nằm sát và dọc hai bên xương sống, màu trắng trong hay trắng
xám do mạch máu chưa phát triển. Về mặt bào học thì tế bào sinh dục là
những noãn nguyên bào, các noãn nguyên bào này là nguồn dự trữ để bổ sung
cho các chu kỳ sinh dục khác nhau. Nhân tế bào rất lớn và chiếm ½ thể tích tế
bào trứng.
Giai đoạn II: Buồng trứng có hình dẹp bằng, kích thước lớn hơn rất nhiều giai
đoạn I do mô liên kết phát triển. Mạch máu tăng về sồ lượng và kích thước do
vậy buồng trứng có màu trắng hồng hoặc hồng nhạt. Về mặt tổ chức tế bào thì
đa số tế bào sinh dục thuộc thời kì sinh trưởng tuy nhiên cũng gặp các tế bào
đang phân cắt.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
9

Giai đoạn III: Thể tích buồng trứng tăng lên, bề mặt buồng trứng có màu xám
nhạt hoặc trắng hồng nhạt. Mắt thường đã phân biệt được tế bào trứng nhưng
tế bào trứng chưa tách khỏi tấm trứng. Đường kính của tế bào trứng 0,25-0,5
mm. buông trứng ở giai đoạn này có thời gian phát triển khá dài ( từ 1-3
tháng). Về mặt tổ chức tế bào học thì tế bào trứng tăng nhanh về kích thước do
quá trình tích lũy noãn hoàng xảy ra mạnh, màng dính cũng được hình thành.
Giai đoạn IV: Thể tích buồng trứng chiếm phần lớn xoang bụng, hạt trứng tròn
và căng dễ tách ra khỏi tấm trứng, màu vàng nhạt. Buồng trứng trở nên mềm.
Về tổ chức tế bào học thì tế bào trứng đã hoàn thành quá trình tích lũy noãn
hoàng, có hiện tượng phân cực của trứng, nhân di chuyển về lỗ thụ tinh.
Đường kính của tế bào trứng 0,6-0,8 mm.
Giai đoạn V: Buồng trứng đang trong tình trạng sinh sản, đại đa số tế bào
trứng đã chín và rụng. Ngoài ra buồng trứng còn chứa các nang trứng và tế
bào ở các giai đoạn I, II, III. Toàn bộ buồng trứng mềm nhão, đường kính của
tế bào 0,9-1,2 mm.
Giai đoạn VI: Buồng trứng đã đẻ xong nên mềm nhão, teo nhỏ lại. Trong
buồng trứng chứa đầy các nang trứng và một số trứng rụng nhưng không được
đẻ ra cùng với các tế bào ở giai đoạn đầu của quá trình tạo trứng.
2.3.2 Sự phát triển của tuyến sinh dục đực:
Theo Nguyễn Văn kiểm (2004), buồng tinh cá đực là hai dải nhỏ nằm sát hai
bên xương sống, bên ngoài được bao phủ bởi một lớp màng mỏng, có hình
thái bên ngoài phân làm nhiều nhánh, nhiều thùy. Một đầu dính vào lỗ sinh
dục, còn đầu kia nằm tự do trong xoang nội quan.
Giai đoạn I: Tuyến sinh dục chưa phát triển, nó như hai sợi chỉ nhỏ nằm sát
hai bên xương sống.
Giai đoạn II: Tuyến sinh dục có dạng hai dải mỏng có màu hồng nhạt.
Giai đoạn III: Tuyến sinh dục có màu trắng phớt hồng, cuối giai đoạn này có
màu trắng ngà, mạch máu phân bố nhiều.
Giai đoạn IV: Buồng tinh có màu trắng sữa, quá trình tạo tinh cơ bản kết thúc.
trong ống dẫn tinh chứa đầy các tinh trùng đã chín muồi. Ở giai đoạn này tinh

trùng rất dễ dành thoát ra ngoài.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
10
Giai đoạn V: Buồng tinh ở trạng thái sinh sản, tinh trùng chứa đầy trong ống
dẫn tinh và sẵn sàng tham gia vào hoạt đọng sinh sản.
Giai đoạn VI: Buồng tinh đã sinh sản xong, bề mặt tinh sào có màu đỏ hồng
nhạt, mềm nhão.
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của việc sản xuất giống cá
Tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long:
Hầu như tất cả các vùng nuôi đều đã xuất hiện những loại bệnh phổ biến trên
cá Tra như xuất huyết, trắng mang, trắng gan, và nhất là căn bệnh nguy hiểm
gan thận mủ… Có những vùng nuôi, tỷ lệ cá tra nhiễm bệnh gần như tới 100%
(www.fishnet.gov.vn, Anh Thi,2008).
Cá Tra ở ĐBSCL bị bệnh từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, là do cá bị nhiễm
khuẩn gây các bệnh xuất huyết, đốm trắng…, hoặc bị các loài ký sinh trùng
(trùng mặt trời, trùng bánh xe…), giáp xác ký sinh và nấm gây hại. Bên cạnh
đó, chế độ dinh dưỡng cho cá không cân đối đã gây ra hội chứng thiếu
vitamin, thiếu canxi; môi trường vùng nuôi bị ô nhiễm…
Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất chính là chất lượng cá Tra giống đã
xuống cấp đến mức đáng báo động. Hiện nay, vùng sản xuất cá tra bột tập
trung chủ yếu ở tỉnh Đồng Tháp, với khoảng 300 cơ sở, tổng diện tích sản xuất
khoảng 4.000 ha, cung ứng 65-70% cá tra giống cho toàn vùng ĐBSCL. Trong
đó, chỉ khoảng ¼ cơ sở có đăng ký kinh doanh đàng hoàng, tổ chức sản xuất
thường xuyên với diện tích lớn, sản lượng nhiều. Còn phần lớn các cơ sở còn
lại sản xuất không ổn định, khi nào giá cá giống cao thì họ làm, còn khi giá cá
giống thấp, thì nghỉ.
Theo đánh giá của các nhà khoa học, nghề làm giống cá Tra ở ĐBSCL hiện
nay khá… tự phát. Nhiều cơ sở, do chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt, nên
đang đưa vào sử dụng một số “công nghệ” nguy hiểm nhằm làm tăng sản
lượng cá giống bằng mọi giá. Trong đó, việc lạm dụng thuốc kích dục tố trở

nên khá phổ biến. Với loại thuốc này, người ta có thể ép cá đẻ tới 5-6 lứa/năm.
Vì cá phải đẻ quá nhiều, năm này qua năm khác, dẫn tới chất lượng cá tra
giống ngày càng xuống thấp.
Mặt khác, do hiện nay hầu hết cá tra giống đều có nguồn gốc từ sinh sản nhân
tạo, nên giống nhanh chóng bị thoái hoá. Theo ông Phạm Văn Khánh, trước
đây, cá giống lấy từ môi trường tự nhiên, phải từ 2,5 đến 3 năm tuổi mới bắt
đầu thành thục (sinh sản). Còn bây giờ, cá mới 5-6 tháng tuổi đã… thành thục
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
11
rồi. Điều đáng nói là nhiều trại cá giống vẫn cho những con cá thành thục quá
sớm này đẻ luôn, vì thế, chất lượng cá giống lại càng khó đảm bảo.
Do chất lượng cá tra giống quá thấp, kỹ thuật ương nuôi còn hạn chế, nên tỷ lệ
cá giống bị hao hụt rất lớn. Theo đánh giá của Trung tâm Quốc gia Giống thuỷ
sản nước ngọt Nam Bộ, hiện nay, từ cá bột lên cá hương, tỷ lệ hao hụt tới trên
80%. Từ cá hương lên cá giống, tỷ lệ hao hụt tới 40-50%. Do tỷ lệ hao hụt quá
lớn, nên hàng năm, để đảm bảo đủ lượng cá giống cho nhu cầu, ĐBSCL đang
phải cần tới một lượng cá bột khổng lồ khoảng vài chục tỷ con. Và để có được
lượng cá bột này, phải cần tới vài ngàn tấn cá bố mẹ. Trong khi đó, theo tính
toán của các nhà khoa học, nếu tỷ lệ cá bột, cá hương bị hao hụt không quá
cao như vậy, mỗi năm, ĐBSCL chỉ cần khoảng 60 tấn cá bố mẹ. Đây quả là sự
lãng phí quá lớn.
Chất lượng giống cá tra thấp ảnh hưởng lớn đến năng suất và thời vụ nuôi cá
tra hiện nay. Theo Phạm Văn Khánh (2007) cho biết, trước đây, do chất lượng
giống khá tốt, người nuôi cá tra chỉ cần 5-6 tháng là đã có cá đạt kích cỡ đúng
tiêu chuẩn xuất khẩu (khoảng 1-1,1 kg/con). Còn bây giờ, chất lượng cá giống
xuống thấp, nên để đạt được kích cỡ cá trên, người nuôi phải bỏ ra tới 7-8
tháng trời. Đây chính là nguyên nhân quan trọng làm tăng chi phí sản xuất cá
Tra hiện nay.
Tình trạng sản xuất và chất lượng cá Tra giống, có thể nói đã đến mức báo
động. Thế nhưng, đến giờ, cơ quan chức năng ở các địa phương ĐBSCL hầu

như chưa quản lý được việc sản xuất, lưu thông giống cá tra trong dân. Người
ta vẫn đang vô tư mang cá giống từ nơi này sang nơi khác mà không cần phải
qua khâu kiểm định, kiểm dịch (www.fishnet.gov.vn, Anh Thi, 2008).
2.5 Sản xuất giống cá Tra chất lượng cao – hướng đi mới của ngành thủy
sản Đồng Bằng Sông Cửu Long:
Tháng 3/2006, Trung Tâm Nghiên cứu & Sản xuất giống Thủy Sản An Giang
(TT NC&SXGTS)đã đón nhận một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu
quá trình phát triển đi lên của ngành sản xuất giống thủy sản An Giang và góp
phần tạo nên hiệu quả cho hoạt động của các Liên hợp sản xuất cá sạch trong
Tỉnh đó là các Trại và các vệ tinh sản xuất giống cá Tra, Basa trực thuộcTrung
tâm đã được công ty SGS (Mỹ) chứng nhận đạt tiêu chuẩn SQF 1000 (SQF:
Safe quality food).
Đây là đơn vị đầu tiên trong ngành sản xuất giống cá Tra, Basa ở Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) được chứng nhận đạt tiêu chuẩn Quốc tế về quy
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
12
trình sản xuất. Kết quả này là quá trình phấn đấu nỗ lực của ngành thủy sản
An Giang trong tiến trình hội nhập, tạo ra một hướng đi mới cho công nghệ
sản xuất giống cá tra, basa trong khu vực ĐBSCL .
Sau những vất vả, khó khăn do biến động giá cả thị trường và rào cản kỹ thuật
từ phía đối tác nước ngoài (rõ nhất là tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra trong
năm 2005), nghề sản xuất cá tra và basa của ngư dân ĐBSCL tưởng chừng
không thể trụ nổi nữa với những sóng gió của thị trường xảy ra bất thường và
khắc nghiệt hơn chứ không theo một chu kỳ như đã từng xảy ra, vấn đề chất
lượng sản phẩm được đặt ra và trở thành tiêu điểm chính để tất cả các nhà
trong mối liên kết bốn Nhà (Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp –
Ngư dân) cùng nhau giải quyết.
Một chủ trương mới về vấn đề này của Ban Điều hành sản xuất và tiêu thụ cá
Tra ĐBSCL đã nhanh chóng được các doanh nghiệp và ngư dân đón nhận, đó
là phải xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng từ khâu sản xuất cá giống

đến sản xuất cá thương phẩm theo một tiêu chuẩn Quốc tế, điều này cũng đồng
nghĩa với việc sản phẩm khi đã đưa ra thị trường không chỉ được 2 bên đối tác
chấp nhận mà phải có chứng nhận của một bên thứ 3.
Sản xuất thủy sản sạch là hướng đi mà ngành thủy sản cả nước nói chung và
ĐBSCL nói riêng phải vươn tới. Mô hình liên kết 5 Nhà ( Nhà sản xuất giống
– Nhà cung cấp thức ăn – Nhà cung cấp thuốc thú y thủy sản – Nhà doanh
nghiệp và ngư dân) của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL như
Navico, Agifish, Afiex, Cataco với tên gọi "Liên hợp sản xuất cá sạch" lần
lượt ra đời là một mô hình hiệu quả và bền vững đáp ứng được yêu cầu cấp
thiết của thị trường về vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm tính
cạnh tranh lành mạnh. Các Liên hợp muốn phát triển bền vững đòi hỏi từng
thành viên trong liên hợp phải giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm của mình, để cùng tạo nên một sản phẩm chất lượng hoàn toàn có
thể cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Để có được một sản phẩm cá sạch đáp ứng được tiêu chuẩn Quốc tế, người sản
xuất phải thực hiện tốt nhiều khâu từ con giống, thức ăn, phương pháp phòng,
trị bệnh cho cá đến công nghệ chế biến… Một điều dễ thấy là trong chuỗi các
yếu tố cấu thành sản phẩm thì con giống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tuy
chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong chuỗi giá trị sản xuất (khoảng 10% cơ cấu
trong giá thành) nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, sản lượng nuôi.
Chọn con giống tốt là biện pháp loại từ đầu một trong những rủi ro trong quá
trình nuôi, là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hiệu quả sản xuất.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
13
Đồng hành cùng sự phát triển về chất lượng cũng như về quy mô của các Liên
hợp sản xuất cá sạch trong tỉnh An Giang nói riêng và trong khu vực nói
chung, để có đủ tư cách tham gia các liên hợp sản xuất cá sạch, TTNC &
SXGTS An Giang đã chọn tiêu chuẩn SQF 1000 của công ty SGS để áp dụng
cho hệ thống sản xuất giống của đơn vị. Từ tháng 9/2005 Trung tâm đã xây
dựng một hệ thống quản lý chất lượng con giống cá tra và basa theo tiêu chuẩn

SQF 1000 và ban hành thực hiện chính thức vào ngày 10/01/2006 cho 2 trại
sản xuất giống và 4 vệ tinh trực thuộc Trung Tâm.
Theo đó các trại giống khi tham gia vào hệ thống này phải đáp ứng một số
điều kiện trong sản xuất giống như các yêu cầu về diện tích nuôi, nguồn nước
cấp, thoát đảm bảo vệ sinh môi trường, truy xuất nguồn gốc của đàn cá bố
mẹ… và đặc biệt cơ sở phải được chứng nhận đã qua đào tạo các lớp huấn
luyện “Kỹ năng nuôi thủy sản an toàn và chất lượng theo tiêu chuẩn SQF
1000” do Sở Nông Nghiệp & PTNT An Giang tổ chức.
Hiện nay, việc áp dụng quy trình sản xuất cá giống chất lượng cao đang được
các Trại giống và các vệ tinh thực hiện rất tốt. Cá giống của Trung tâm được
sản xuất theo quy trình sản xuất giống cá sạch, chất lượng con giống được
đảm bảo có tính vượt trội về tốc độ tăng trưởng, không mang mầm bệnh cũng
như không nhiễm các hóa chất và kháng sinh cấm, có thể truy xuất nguồn gốc
bố mẹ rõ ràng. Để vận hành tốt hệ thống quản lý chất lượng, định kỳ Ban giám
đốc cùng các cán bộ trong hệ thống họp để kiểm tra tình hình thực hiện và cứ
6 tháng triển khai đánh giá chất lượng nội bộ một lần, trên cơ sở đó để bổ sung
và khắc phục kịp thời những lỗi kỹ thuật (nếu có xảy ra). Với năng lực hiện
có, trong năm 2006, Trung Tâm có thể cung cấp cho các Liên hợp sản xuất cá
sạch trong và ngoài tỉnh từ 100 – 200 triệu con cá bột và 20 – 35 triệu cá Tra
giống chất lượng cao.
Để nhanh chóng nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng ngày càng nhiều hơn
nhu cầu con giống cá tra sạch cho các vùng nguyên liệu trong và ngoài tỉnh,
Trung tâm đã xây dựng và sẽ tổ chức thực hiện dự án “Nâng cao chất lượng
con giống cá tra và xây dựng ngành công nghệ sản xuất giống thủy sản hiệu
quả, bền vững” với 2 mục tiêu chính:
Một là, nâng cao chất lượng con giống. Trước mắt, nhanh chóng ổn định chất
lượng con giống sản xuất thông qua giải pháp sử dụng tinh trùng cá đực tốt (cá
có nguồn gốc hoang dã và cá đực thế hệ F
1
xác định rõ về di truyền) của

TTNC&SXGTS và một số cơ sở vệ tinh làm đàn cá đực cơ bản. Đảm bảo đàn
cá sản xuất không bị đồng huyết trong di truyền. Ứng dụng kỹ thuật di truyền
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
14
phân tử đánh giá hệ số tương đồng và biến dị của các quần đàn cá bố mẹ ở
Trung Tâm và các Trại vệ tinh làm cơ sở chứng nhận chất lượng cá bột cung
cấp cho nghề nuôi và phục vụ cho công tác chọn giống lâu dài của tỉnh. Tiến
hành việc đánh dấu cá bố mẹ bằng phương pháp cấy thẻ từ dưới da. Mỗi thẻ từ
có mã số riêng để truy cập, với thẻ điện tử này sẽ nắm được quá trình sinh sản
của cá, từ đó loại cá bố mẹ kém chất lượng, biết được lý lịch cá thịt có cha mẹ
là ai, xuất xứ từ trại giống nào.
Hai là, xây dựng ngành công nghệ sản xuất giống cá tra hiệu quả và bền vững .
Trung Tâm sẽ thực hiện kết hợp 2 phương pháp chọn giống hàng loạt và gia
đình trong chương trình tuyển chọn đàn giống bố mẹ hậu bị có chất lượng cao
cho ngành sản xuất giống. Đa dạng hóa nguồn gen trong di truyền thông qua
tiếp nhận cá giống đã được tuyển chọn (thế hệ F
1
) từ Viện Nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản II về nuôi thử nghiệm cùng với cá giống tuyển chọn của Trung
tâm, so sánh và đối chiếu các chỉ tiêu sinh học, tuyển chọn bổ sung làm đàn cá
bố mẹ hậu bị. Đào tạo, huấn luyện nâng cao kiến thức và kỹ năng sản xuất
giống cho các cán bộ kỹ thuật và ngư dân ở các Trại sản xuất cá bột và cơ sở
ương cá giống là các vệ tinh trực thuộc…làm nền tảng cho ngành công nghệ
sản xuất giống bền vững và hiệu quả. Thống nhất quản lý sản xuất giống theo
tiêu chuẩn SQF 1000. Kết thúc dự án đến năm 2009, Trung Tâm sẽ nâng cao
hơn nữa chất lượng con giống theo hướng tăng tốc độ tăng trưởng và đạt tiêu
chuẩn sạch bệnh. Về năng lực có thể đáp ứng đến 70% nhu cầu cá giống sạch
trong tỉnh.
Ngư dân ĐBSCL đang hết sức phấn khởi do giá cá liên tục tăng từ đầu năm
đến nay, cơ hội lại mở ra nhưng ẩn khuất phía sau chắc chắn sẽ có những

thách thức không nhỏ, do vậy sản xuất theo quy hoạch và theo tiêu chuẩn chất
lượng là con đường duy nhất để ngành thủy sản phát triển bền vững. Các liên
hợp sản xuất cá sạch trong khu vực phải thực sự đi lên như những gì đã hoạch
định là đòi hỏi mang tính cấp thiết và lâu dài để góp phần giữ vững vị trí đứng
đầu của nghề nuôi cá Tra, Basa ở ĐBSCL (www.anova.com, Lâm Thái Hòa.
22/5/2008).




PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
15
CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2009.
3.1.2 Địa điểm
Trung tâm giống Caseamex – Tp Cần thơ.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Cá bố mẹ đã thành thục để tiến hành sinh sản nhân tạo.
Kích dục tố: HCG (Việt Nam) và HCG (Trung Quốc).
Dung dịch Urea + muối (3g Urea + 4g muối).
Dung dịch Tanin (0.5 g/lit).
Bể composide để thả cá bố mẹ sau khi tiêm kích dục tố.
Hệ thống bình Jar để ấp trứng.
Băng ca để chuyển cá bố mẹ.
Kính hiển vi, kính nhín nổi, kim tiêm, lông gà, nhiệt kế, cân đồng hồ, thau, xô,
dao mổ, pen, kéo và các dụng cụ khác cần thiết cho quá trình sinh sản nhân tạo
cá tra.

3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ
Cá bố mẹ sau khi được lựa chọn sẽ được thả vào 4 ao (diện tích mỗi ao từ
1000-1500m
2
) với mật độ thả là 45-50kg/100m
2
, tỉ lệ đực cái là 2 cá đực và
1cái.
Thức ăn sử dụng cho quá trình nuôi vỗ có hàm lượng protein từ 32-36% và
cho ăn lượng thức ăn mỗi ngày bằng 1,5 % trọng lượng cơ thể, ngoài ra còn
phải bổ sung thêm các vitamin. Đặc biệt giai đoạn cuối của quá trình nuôi vỗ
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
16
thì lượng thức giảm còn 1% cơ thể cá một ngày nhưng lượng protein phải
tăng lên, trong giai đoạn này cần bổ sung thêm chất béo cần thiết cho quá trình
tạo trứng.
Cá bố mẹ khi được nuôi vỗ cần được tiến hành kiểm tra để chọn thời điểm cho
cá đẻ chính xác. Công việc kiểm tra cần làm:
Cân do vòng bụng hoặc chiều dài cá bằng thước dây để theo dõi sự phát triển
của buồng trứng và đo chỗ lớn nhất trên thân cá.
Dùng que thăm trứng (khoảng 100 trứng) để lấy trứng ra và quan sát về màu
sắc trứng, đánh giá mức độ rời và xác định độ đồng đều của trứng.
Quan sát độ béo của cá để điều chỉnh lượng thức ăn.
Đánh số cá (dùng vật cứng đánh số trên đầu), dùng số chẵn cho cá cái và số lẻ
cho cá đực, hoặc có thể cắt vi mỡ để để đánh dấu cá cái.
3.3.2 Chọn cá bố mẹ để tiến hành cho sinh sản nhân tạo
Chọn cá cái: Chọn cá khỏe mạnh không dị hình, dị tật, bụng to, mềm lỗ sinh
dục có màu hồng, hơi lồi.
Chọn cá đực: Chọn cá khỏe mạnh không dị hình, dị tật, vuốt nhẹ thấy có có

tinh màu trắng sữa chảy ra.
Cá bố mẹ được chọn có khối lượng từ 3,5-10kg/con.
3.3.3 Kỹ thuật kích thích cá tra sinh sản
Sử dụng 2 hai loại kích dục tố là HCG (Việt Nam) và HCG (Trung Quốc) với
tổng liều từ 5000, 5500 và 6000UI thông qua 3-4 lần tiêm.
Vị trí tiêm: có thể tiêm vào dưới vây ngực hoặc dọc hai bên cơ lưng.
a. Thí nghiệm sử dụng kích dục tố HCG (Việt Nam):
Thí nghiệm được chia ra làm 3 nghiệm thức với nghiệm thức 1 là sử dụng
HCG với tổng liều là 5000UI/kg cá cái, nghiệm thức 2 là sử dụng HCG với
tổng liều là 5500UI/kg cá cái và nghiệm thức 3 là sử dụng HCG với tổng liều
là 6000UI/kg cá cái. Mỗi nghiệm thức được lập lại 5 lần.

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version

×