Tải bản đầy đủ (.pdf) (30 trang)

Lạm phát ở Việt Nam thực trạng và giải pháp.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1020.29 KB, 30 trang )

Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
1
LỜI NÓI ĐẦU

Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay
của nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế
thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi
nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các
doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền
kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề
nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát.
Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết
sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn
đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà
doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng toàn
bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở
nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,
cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng
cao đời sống nhân dân.
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan
tâm, nghiên cứu và đề xuất các phương án khác. Đã từ lâu tiền giấy xuất
hiện và chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm
phát. Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả
của hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng
giảm nhanh.
Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20 ở nước
ta lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của nó là do hậu
quả nặng nề của chiến tranh, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài. Lạm phát đã
phá vỡ toàn bộ nền kinh tế, phương hại đến tất cả các mối quan hệ kinh tế


trong nền kinh tế- xã hội.
Bài viết này với đề tài: “ Lạm phát ở Việt Nam”
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc
biệt thấy được tầm quan trọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức
còn hạn chế, em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp
để hiểu nó một cách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
2


NỘI DUNG

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT

I/ Định nghĩa lạm phát
Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ, hầu hết quảng đại quần chúng
đều có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát ở những mức độ khác
nhau. Nhưng hiểu chính xác lạm phát là gì không phải dễ. Ngay cả các nhà
kinh tế học cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa lạm phát.
- Quan niệm cổ điển cho rằng “Lạm phát là phát hành tiền vượt quá
số lượng tiền cần thiết trong lưu thông”. Tuy nhiên định nghĩa này không
giải thích được hiện tượng lạm phát chi phí đẩy (xuất hiện trên thế giới từ
những năm 70 hoặc ở Việt nam năm 2005) do loại lạm phát này vẫn có thể
xảy ra trong khi cung tiền tăng ổnđịnh. Nếu chỉ coi là lạm phát khi sự tăng
giá là kết quả của việc tăng mạnh cung tiền thì sẽ dẫn đến coi thường các
nguy cơ lạm phát có thể xảy ra.
- Một quan điểm phổ biến khác cho rằng: Lạm phát là hiện tượng tăng
lên của mức giá chung (mức giá bình quân, mức giá tổng hợp) theo thời

gian. Tuy nhiên không phải mọi sự tăng lên của mức giá đều đáng lo ngại.
Nếu giá cả chỉ tăng tạm thời,trong ngắn hạn, chẳng hạn như dịp gần Tết
Nguyên đán ở Việt nam, sau đó lại giảm xuống thì đó là kết quả của những
biến động cung cầu tạm thời, nhiều khi có tác dụng tích cực hơn là tiêu cực
tới nền kinh tế. Những trường hợp như vậy mà đã coi là lạm phát thì sẽ dẫn
đến sự cường điệu hoá nguy cơ lạm phát.
- Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là
Milton Friedman đã định nghĩa “lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh
và liên tục trong một thời gian dài”. Theo trường phái này, sự tăng lên của
mức giá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất
của lạm phát được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá đó: đó là sự tăng giá
với tốc độ cao và kéo dài. Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này
đến thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát. Cũng vì
vậy, cái gọi là tỷ lệ tăng giá hàng tháng mà chúng ta có thể nghe trên đài,
báo hay vô tuyến chỉ cho biết mức giá cả đã thay đổi bao nhiêu phần trăm so
với tháng trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát. Đó có thể chỉ
là sự thay đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ không kéo
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
3
dài. Chỉ khi nào tỷ lệ tăng giá vẫn duy trì cao trong thời gian dài thì mới
được coi là biểu hiện của lạm phát cao.
Định nghĩa này cũng được các nhà kinh tế học theo trường phái
Keynes ủng hộ. Định nghĩa này cũng đặc biệt thích hợp với các nhà điều
hành chính sách tiền tệ vì Ngân hàng trung ương chỉ có thể điều chỉnh giá cả
trong dài hạn chứ không thể điều chỉnh trong ngắn hạn. Những cố gắng điều
chỉnh giá cả trong ngắn hạn thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ sẽ
chỉ làm cho diễn biến giá cả thêm phức tạp.
II/ Phân loại lạm phát


1) Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm
phát dưới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương
đối. Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của
người lao động ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện: giả cá tăng lên chậm,
lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra với tình trạng mua bán và tích trữ
hàng hóa với số lượng lớn…
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ
trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoản
thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
2) Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh
với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm. Ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả
chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng
được chỉ số hóa. Lúc này người dân tích trữ hàng hóa, vàng bạc, bất động
sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường. Loại này khi
đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
3) Siêu lạm phát : xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao
vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông
tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế
bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác,
các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng
rối loạn. Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xảy ra.
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát
triển thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và
trầm trọng hơn. Vì vậy các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại.
Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50%
một năm ; siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%
một năm.



Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
4

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY


I/ Lịch sử của lạm phát ở Việt Nam

Câu chuyện lạm phát ở Việt Nam không phải là mới. Đã từng có thời
kỳ tỉ lệ lạm phát lên đến 3 chữ số
Đổi tiền và lạm phát năm 1986 gọi là lạm phát năm 1986 vì đó là năm
có tỉ lệ tăng cao nhất, nhưng lạm phát thực sự đã xuất hiện từ nhiều năm
trước đó. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1981-1985 lần lượt tăng là: 70%,
95%, 50%, 65% và 92%. Chỉ có điều lúc đó không ai thừa nhận có lạm phát
trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, không ai dám đưa vấn đề ra để phân tích,
bàn luận công khai. Không có giải pháp tổng thể nào được đưa ra trong một
thời gian dài cho đến khi xảy ra cuộc đổi tiền vào năm 1985.Có lẽ có quan
niệm cho rằng đổi tiền sẽ khôi phục lại giá trị đồng bạc Việt Nam và lạm
phát sẽ chấm dứt nên mới có qui định “Sức mua của đồng tiền mới bằng 10
lần sức mua của đồng tiền cũ” (Quyết định 01/HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985).
Nhưng sau đổi tiền, CPI năm 1985 tăng đến 92%, năm 1986 lên tới 775%,
nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài
trong 2 năm tiếp theo. Phải đến cuối năm 1988 và qua năm 1989, nhiều biện
pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát mới được đưa ra. Một trong những
quyết định quan trọng ghi nhận được lúc đó là việc lần đầu tiên mạnh tay nới
lỏng tỷ giá USD/VND vào cuối năm 1988 và tiếp tục cơ chế linh hoạt đến
năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ năm 1992.

Trước tháng 12/1988, tỷ giá do ngân hàng Vietcombank công bố thường
thấp hơn thị trường tự do hàng chục lần. Các công ty xuất khẩu lẩn tránh
việc đưa ngoại tệ vào ngân hàng bằng cách nhập khẩu hàng hóa quay vòng.
Vào tháng 12/1987, Vietcombank công bố tỷ giá ngoại tệ là 3.000
đồng/USD. Đây là bước tăng vọt so với tỷ giá 368,2 đồng công bố từ đầu
năm, tuy vẫn còn thấp hơn mức giá 4.300 đồng ở thị trường tự do. Trong các
tháng tiếp theo, tỷ giá được điều chỉnh với biên độ chênh lệch khoảng 10%
so với giá thị trường. Sự thay đổi tỉ giá đã có tác động rất mạnh đến cán cân
thương mại. Nếu chỉ xét trong khu vực giao dịch bằng USD, xuất khẩu trong
giai đoạn từ 1989 đến 1992 bình quân tăng 50% mỗi năm. Tỉ lệ nhập siêu so
với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gần
như cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990.
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
5
Đến cơn sốt tín dụng đầu thập kỷ 1990. Năm 1989, với cơ chế rất
thoáng trong việc thành lập quỹ tín dụng, hàng loạt quỹ tín dụng ra đời để
huy động vốn, cho vay lòng vòng, sau một thời gian thì đổ bể. Lãi suất tiết
kiệm năm 1989 cực kỳ cao, có lúc lên đến hơn 12%/tháng cùng với cơ chế
rất thoáng. Lãi suất cho vay đầu năm 1989 là 10,5%/tháng, cuối năm giảm
xuống còn xấp xỉ 4%/tháng và duy trì ở mức trên dưới 3%/tháng trong các
năm từ 90 đến 92. Tình hình kinh tế xã hội vào lúc đó cũng còn hết sức gay
gắt, mặc dù lạm phát đã giảm mạnh so các năm 86-88. Tỷ giá VND/USD
tăng vọt lên trên 13.000 VND/USD trong tháng cuối năm 1991, giảm đột
ngột còn 11.000 VND/USD đến năm 1992, sau đó và được neo giữ ở mức
thấp trong suốt nhiều năm từ 1992 đến 1996 trong khoảng từ 10.500 đến
11.000 VND/USD.
Tình trạng lỗ lãi, nợ nần mà không có cơ chế phá sản làm cho hàng
loạt công ty đang hoạt động hết sức khốn đốn. Chính phủ đã ra quyết định

lập Ban thanh toán công nợ quốc gia để thanh toán chéo nhưng kết quả
không đáng kể. Nội lực của nền kinh tế bị thương tổn nghiêm trọng. Tăng
trưởng kinh tế của VN từ 1992 đến 1996 đạt đến 9% năm, nhưng từ 1997 thì
giảm dần. Một số báo cáo cho rằng do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
châu Á. Đó là cách lý giải mà ngay từ lúc đó cũng không có sức thuyết phục.
Dấu ấn của chính sách tỷ giá, tiền tệ các năm đó lớn hơn là ảnh hưởng từ
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Chính là cơ chế cứng nhắc cùng với tỷ
giá đồng nội tệ cao đã làm mất đi cơ hội của đất nước khi mà dòng FDI thế
giới đang hướng mạnh vào.

Thâm hụt thương mại do tỷ giá và cũng được giải
quyết bởi tỷ giá

Kết quả kỳ diệu của cơ chế tỷ giá năm 1997. Đồng nội tệ đã bị đánh giá
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
6
cao cùng với tỷ giá bị cố định cứng trong khoảng thời gian dài từ 1992 đến
1996 đã thúc đẩy nhập khẩu ồ ạt. Do vậy, thâm hụt thương mại liên tục tăng
để lên đến đỉnh cao hơn 45% vào năm 1995. Năm 1997, lần đầu tiên cơ chế
xơ cứng của tỷ giá được điều chỉnh và kết quả thật kỳ diệu. Liên tục trong 4
năm thâm hụt thương mại giảm mạnh để chỉ còn -1% vào năm 2000. Các
năm 1999-2000 chỉ số giá chỉ tăng 0,1% và -0,6%. Tăng trưởng của GDP
cũng thấp: 4,8% năm 1999 và 6,7% năm 2000. Giải pháp được đưa ra lúc
này là kích cầu tăng trưởng thông qua gia tăng chi tiêu công và đầu tư của
các doanh nghiệp nhà nước. Chi tiêu của Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ
5% năm 2000 lên trên 8% từ sau năm 2005. Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP cũng tăng
lên đến 34% năm 2000 và đến 40% từ năm 2004 đến nay (2007). Từ đây các
nhân tố lạm phát được nuôi dưỡng.


Tốc độ tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và
ước tính cho 2008

Đến hôm nay lạm phát quay trở lại. Năm 2004 đã xuất hiện những dấu
hiệu của cuộc lạm phát mới và được xác nhận lại vào năm 2005 nhưng đã
không có những giải pháp thoả đáng. Thậm chí đến giữa năm 2007 dấu hiệu
trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyên bố
mạnh mẽ “lạm phát không thể đến mức hai con số”. Nếu nhìn lại trong vòng
3 thập kỷ qua, tính chu kỳ của nền kinh tế bộc lộ rõ hơn: cứ 10 năm lặp lại
một lần. Suy thoái diễn ra vào các năm x7, x8 sau khi đạt được đỉnh tăng
trưởng trong các năm x4, x5, x6. Tuy nhiên, đến nay liệu chúng ta đã có đủ
kinh nghiệm để không bị cuốn theo chu kỳ? Kiểm chứng về chính sách từ
lạm phát và hậu lạm phát năm 86 đến nay, cho thấy những lúc khó khăn nhất
thì có nhiều tiếng nói và có sự lắng nghe hơn, xuất hiện những cải cách
mạnh mẽ. Nhưng vào những lúc nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao
dần thì nhiều quyết định được đưa ra rất bất ngờ, ít được tham vấn, tiếng nói
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
7
đóng góp cũng ít xuất hiện. Phải chăng đây là căn bệnh cố hữu không thể
vượt qua?
II/Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi xảy ra lạm
phát

Cuộc chiến chống lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giúp phát hiện
hai vấn đề: Một về cơ cấu và một về điều hành kinh tế vĩ mô.
Về cơ cấu, nền kinh tế của chúng ta đang đối mặt với một vấn đề
nghiêm trọng về sung dụng tài nguyên. Sung dụng tài nguyên không hiệu

quả đã làm lãng phí đồng vốn, lãng phí nhân lực, lãng phí tài nguyên thiên
nhiên trong một thời gian dài. Hệ số ICOR cao (4,5) cho thấy nền kinh tế
Việt Nam là một trong những nền kinh tế có đầu tư kém hiệu quả nhất trong
khu vực, và có năng lực cạnh tranh rất thấp. Những hệ quả tiếp theo của nó
càng ngày càng lộ rõ như thâm hụt cán cân thương mại ngày càng nghiêm
trọng (chỉ riêng năm tháng đầu năm 2008, con số này đã lên đến 14,4 tỉ
USD), khiếm hụt ngân sách luôn được duy trì ở mức 5% GDP trong nhiều
năm, và kết quả tất nhiên của nó là tốc độ lạm phát của nền kinh tế ngày
càng gia tăng (theo một ước lượng đáng tin cậy, nếu loại trừ tác động tăng
giá của thị trường thế giới như giá dầu và giá lương thực, tốc độ lạm phát do
tác động nội tại của nền kinh tế mà chủ yếu xuất phát từ vấn đề sử dụng tài
nguyên không hiệu quả, đã lên đến từ 8- 10%/năm). Tuy nhiên, giải quyết
vấn đề cơ cấu là một việc làm lâu dài, đòi hỏi một quyết tâm chính trị rất
cao. Bài toán về cơ cấu là bài toán không thể có lời giải một sớm một chiều,
nhưng đó là một bài toán phải kiên trì giải quyết ngay từ bây giờ, vì rằng đó
là bài toán sinh tử, quyết định tương lai phát triển và cường thịnh hay không
của nền kinh tế Việt Nam.
Về điều hành kinh tế vĩ mô, chúng ta đang gặp phải các vấn đề trong
chính sách ngân sách và chính sách tiền tệ. Nếu mục tiêu của chính sách
ngân sách vẫn là duy trì một mức khiếm hụt lên đến 5%/GDP tiếp tục trong
thời gian dài, những nỗ lực kiểm soát lạm phát nhằm ổn định kinh tế vĩ mô
sẽ rất khó thành công. Mục tiêu cân bằng ngân sách cần phải là một mục tiêu
được hướng tới kể từ bây giờ. Những nỗ lực chống lạm phát trước hết phải
được thể hiện bởi một quyết tâm từ phía Chính phủ, cụ thể hóa bởi các hành
động tiết kiệm ngân sách: tinh giản bộ máy hành chính, tiết kiệm công chi,
giảm đầu tư công. Tất cả những điều đó sẽ giúp cho việc sung dụng tài
nguyên quốc gia trở nên hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích phát triển
đầu tư tư nhân trong và ngoài nước ngay trong các lĩnh vực cần nguồn vốn
lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng. Một ngân sách cân bằng sẽ có tác dụng tích
Tiểu luận tài chính tiền tệ


A3 - TCQTB - K46
8
cực hai mặt: giảm thiểu tốc độ lạm phát và tăng cường hiệu quả của việc
sung dụng tài nguyên.
Về chính sách tiền tệ, chúng ta đang lúng túng giải quyết bài toán lãi
suất và tỷ giá. Sự lúng túng này đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng
và các doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm hơn là nó làm xói mòn niềm tin và
tâm lý lạc quan đã có trước đây của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một
năm trước đây, kỳ vọng lạc quan đã là động lực thúc đẩy đầu tư và sự tăng
trưởng của các thị trường: thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị
trường bất động sản, thị trường chứng khoán. Tâm lý lạc quan thái quá có
thể tạo ra sự tăng trưởng bong bóng của một số thị trường nhưng một thái độ
lạc quan vẫn luôn luôn cần thiết để duy trì không những sự tăng trưởng kinh
tế mà cả sự ổn định.

III/ Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam

Lạm phát bên cạnh việc làm méo mó giá cả, nó còn làm sói mòn tiết
kiệm và không khuyến khích đầu tư, hạn chế tăng trưởng kinh tế, gây ra
những bất ổn chính trị và xã hội. Chính vì vậy, lạm phát được xem như một
căn bệnh nguy hiểm buộc chính phủ các nước phải kiềm chế nó bằng mọi
giải pháp. Do vậy, lạm phát đã có xu hướng giảm từ cuối những năm của
thập kỷ 80 trở lại đây, nhất là đối với những nền kinh tế mới nổi (xem bảng
sau):

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát gia tăng: Như sự
biến động bất thường về giá cả của một số mặt hàng nhiên liệu, lương thực,
thực phẩm do những cú sốc tiêu cực của cung - ví dụ như sự bất ổn chính trị
trên thế giới vừa qua làm tăng giá dầu, hoặc cú sốc đột biến của cầu - ví dụ

như nhu cầu thép tăng đột ngột của Trung Quốc v.v, còn có những nguyên
nhân từ yếu tố tiền tệ. Trường phái tiền tệ mà điển hình là Milton Friedman
đã nhận định rằng “lạm phát là một hiện tượng tiền tệ “. Nhận định này được
rút ra trên cơ sở các chứng cứ thực nghiệm nghiên cứu về sự tăng trưởng
tiền tệ kéo dài gắn với sự gia tăng lạm phát (lạm phát và sự tăng trưởng tiền
tệ tại Mỹ la tinh 1980-1990 và siêu lạm phát ở Đức 1921-1923 v.v). Bên
cạnh đó, những phân tích quan điểm lạm phát của trường phái Keynes cho
thấy rằng, sự gia tăng lạm phát có thể xuất phát do những cú sốc về cung
hoặc cầu, nhưng nếu cung tiền không tăng theo hay không thay đổi thì chỉ
trong một thời gian ngắn, kết quả ròng của cú sốc cung (cầu) sẽ làm dịch
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
9
chuyển cả đường tổng cung lẫn đường tổng cầu và đưa mức giá về mức ban
đầu. Do vậy những cú sốc về cung (cầu) không phải là nguồn gốc của lạm
phát cao (nhưng là nguồn gốc làm tăng mức giá trong ngắn hạn).
Trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát do yếu tố tiền tệ, theo
tổng kết của IMF thường xuất phát từ chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ (CSTT): Sự thâm hụt ngân sách kéo dài được bù đắp bằng việc in tiền,
và/hoặc sự chi tiêu quá mức và thất thoát lớn trong xây dựng cơ bản của
chính phủ sẽ là nguyên nhân gây ra lạm phát, hoặc CSTT quá nới lỏng, dẫn
tới tăng cung tiền, tăng đầu tư tín dụng quá mức v.v. cũng là nguyên nhân
gây lạm phát. Do vậy, để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu luôn đòi hỏi sự
phối hợp rất chặt chẽ trong điều hành CSTT và chính sách tài khóa.
Xét trong giác độ điều hành CSTT để kiểm soát lạm phát (lạm phát
được coi là mục tiêu cuối cùng của CSTT), tùy điều kiện kinh tế, mức độ
phát triển của thị trường tiền tệ, khả năng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng
Trung ương (NHTW) mà NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau
để kiểm soát lạm phát. Thực tế hiện nay cho thấy, đối với những nước phát

triển, là những nước có thị trường tiền tệ, thị trường vốn phát triển, đặc biệt
là những nước theo đuổi khuôn khổ CSTT hướng tới mục tiêu lạm phát
(Inflation targeting), NHTW thường không quan tâm đến sự gia tăng của
cung tiền (Money supply-M2), mà chỉ quan tâm đến sự thay đổi của lãi suất
có ảnh hưởng như thế nào đến sự gia tăng lạm phát, qua đó họ điều chỉnh lãi
suất chỉ đạo của NHTW nhằm đạt được lạm phát mục tiêu. Nhưng đối với
những nước đang phát triển, thị trường tài chính phát triển ở mức độ thấp,
thì việc kiểm soát lạm phát thường thực hiện thông qua việc kiểm soát cung
tiền.
Đứng trên giác độ cung tiền là nhân tố tác động làm gia tăng lạm
phát, thì để kiểm soát được cung tiền cần kiểm soát được những nhân tố làm
tăng cung tiền. Xét về mặt lý thuyết M2=k.MB (tiền cung ứng của NHTW),
có nghĩa là M2 tăng lên khi NHTW phát hành tiền cho nền kinh tế và/ hoặc
hệ số tạo tiền tăng lên. Nói một cách cụ thể hơn (qua bảng cân đối tiền tệ
toàn ngành), khi MB tăng lên sẽ làm tăng và/hoặc tín dụng nền kinh tế, tài
sản có ngoại tệ, cho vay chính phủ ròng, qua đó làm tăng M2. Đối với nền
kinh tế bị đôla hoá, M2 tăng lên ngoài nhân tố do MB tăng lên, còn do
nguồn ngoại tệ huy động trong dân tăng hoặc dòng vốn đầu tư nước ngoài
vào nhiều. Do vậy, đối với nền kinh tế đôla hoá, NHTW kiểm soát M2 sẽ
gặp nhiều khó khăn hơn nhiều so với nền kinh tế không bị đôla hoá.
Tình hình giá cả và lạm phát ở Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là
những biến động bất thường trong năm 2004 đẩy chỉ số giá hàng tiêu dùng
(CPI) lên 9,5% (trong khi chỉ số này của năm 2003 là 3%), vượt xa con số
5% theo kế hoạch đề ra, đã buộc công luận phải lên tiếng. Để giải tỏa những
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
10
bức xúc của dân chúng và các nhà sản xuất kinh doanh, đã có nhiều buổi tọa
đàm, cuộc hội thảo được tổ chức và được các phương tiện thông tin đại

chúng loan tải. Qua đó đã toát ra nhiều vấn đề còn tranh cãi về quan điểm về
lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, cách tính chỉ số lạm phát, các giải pháp
nhằm khắc phục lạm phát. Dưới đây là các nguyên nhân lạm phát ở Việt
Nam hiện nay.

Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có vị trí quan trọng hàng đầu trong
điều hành chính sách của mỗi một quốc gia. Đây cũng là một ttrong hai mục
tiêu mà Ngân hàng Trung ương các nước đều hướng tới. Khái niệm chung
về lạm phát được khoa học kinh tế đưa ra là sự tăng giá chung theo thời
gian, khi đó mặt bằng chung về giá cả hàng tiêu dùng trên thị trường tăng
lên. Còn lạm phát tiền tệ hoặc lạm phát giá cả được gọi theo cách nhìn nhận
ở góc độ nguyên nhân của lạm phát. Theo lý thuyết kinh tế học hiện đại, lạm
phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí đẩy và quá thừa mức tiền cung ứng
trong lưu thông. Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát gia tăng còn do một số
nguyên nhân nữa, thí dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối trong cơ cấu
đầu tư...
Lạm phát tiền tệ được hiểu là mức tiền cung ứng cho lưu thông vượt
quá mức cần thiết, biểu hiện là sự mất giá của đồng bản tệ.
Lạm phát giá cả được hiểu là giá cả hàng hóa và dịch vụ nói chung
tăng lên do cầu lớn hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hóa
và dịch vụ tăng lên (chi phí đẩy).
Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xảy ra cùng một lúc, mà
thường hoặc là lạm phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền tệ.
Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu về biến động của giá cả và lạm phát ở Việt Nam,
chúng tôi cho rằng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua (đặc biệt là năm
2004) là do những nguyên nhân sau:
1. Về phương pháp tính
Phương pháp tính chỉ số CPI của các nước khác với Việt Nam. Một là,
các nước thường loại trừ giá lương thực, dầu mỏ ra khi tính toán...; Hai là,

giá đó là giá giao dịch mua buôn, bán buôn trên thị trường hàng hóa của các
nhà kinh doanh, còn giá bán lẻ cho người tiêu dùng đối với nhiều mặt hàng
thì vẫn ổn định; Ba là, các mặt hàng đó chiếm tỷ trọng nhỏ trong các nhóm
hàng hóa và dịch vụ tính CPI.
Ở Việt Nam theo phương pháp tính CPI hiện nay, giá cả của nhóm hàng
lương thực, thực phẩm chiếm quyền số lớn nhất, tới 47,9% trong rổ hàng
hóa tính CPI. Trong các năm trước đây, mặc dù nhiều nhóm mặt hàng khác
có biến động tăng đáng kể, nhưng nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm,
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
11
nhất là giá lúa gạo, giá cao su, cà phê, hạt điều, thịt lợn, rau hoa quả biến
động thất thường. Trong các năm 1991, 1993, 1994, 1998, ... giá lương thực
và thực phẩm tăng rất cao, kèm theo đó là chỉ số giá chung cũng tăng cao.
Ngược lại, trong các năm 1997, 1999, 2000, ... các mặt hàng lương thực,
thực phẩm có giá bán giảm thấp, khó tiêu thụ, nên đã làm cho CPI ở mức rất
thấp, thậm chí là âm. Nhưng năm 2004 nhóm mặt hàng này đã tăng tới 15%;
trong đó giá lương thực tăng 12,5% và giá thực phẩm tăng 16,8%, đã tác
động mạnh làm gia tăng cao chỉ số CPI nói chung. Do đó nếu loại bớt được
sự tăng giá đột biến gây những cú sốc trong tính toán, thì rõ ràng chỉ số lạm
phát không cao như đã công bố.
2. Điều tiết vĩ mô kém
Một thực tế cần phải thừa nhận là điều tiết vĩ mô của chúng ta trước
những biến động bất thường cả từ trong và ngoài nước để nhằm bình ổn thị
trường trong nước là còn nhiều bất cập. Thí dụ, đến khi giá thuốc tân dược
leo thang hàng ngày và được bán ở mức rất cao, gây rối loạn thị trường
thuốc chữa bệnh, lúc đó chúng ta mới nghĩ đến vấn đề dự trữ quốc gia về
thuốc tân dược; Các quyết định quản lý được đưa ra để điều tiết thị trường
thường là chậm trễ, vì thế hiệu quả điều tiết kém. Thí dụ: việc điều chỉnh

giảm thuế thép, phôi thép mặc dầu được kiến nghị từ tháng 1/2004 nhưng
đến tháng 3/2004 mới được thực hiện, vào lúc này giá phôi thép đã tăng lên
480-500 USD/tấn và giá thép xây dựng đã tăng lên tới 500-520 USD/tấn. Do
vậy các doanh nghiệp khi nhập khẩu tại thời điểm này khó có khả năng cạnh
tranh với các doanh nghiệp đã nhập phôi thép trước đó; Tình trạng độc
quyền, đầu cơ trục lợi vẫn còn phổ biến dẫn đến thao túng, gây rối loạn thị
trường; Cũng do quản lý kém đã dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí
trong đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn. Hệ lụy tất yếu của những tình trạng
trên là thị trường trong nước thêm rối loạn; Khi chỉ số lạm phát gia tăng
nhanh chóng trong những tháng đầu năm 2004, mặc dù tổng phương tiện
thanh toán trong nền kinh tế là phù hợp với các chỉ số kinh tế vĩ mô (sẽ được
phân tích ở phần dưới đây), nhưng dưới sức ép của dư luận, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam lại thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm mức
cung ứng tiền tệ. Như vậy Ngân hàng Nhà nước đã khắc phục bất hợp lý này
bằng một bất hợp lý khác. Hệ quả của nó là đẩy lãi suất lên cao, tăng chi phí
đầu tư, hạn chế đầu tư, kìm hãm sản xuất và tăng thất nghiệp.

3. Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Tổng phương tiện thanh toán, bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi
tại ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (nội và ngoại tệ). Nhân tố này
về nguyên lý là thường tác động có độ trễ, tức là tổng phương tiện thanh
toán tăng lên trong kỳ này, thì ảnh hưởng của nó phát sinh ở kỳ sau, trong
Tiểu luận tài chính tiền tệ

A3 - TCQTB - K46
12
ngắn hạn là 6 tháng, trung và dài hạn thường là từ 1 năm trở lên. Trong 14
năm qua, mức tăng tổng phương tiện thanh toán bình quân 23%-26%/năm,
phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và không thấy tác động rõ rệt về lạm
phát, cũng như giảm phát. Năm 1999 tổng phương tiện thanh toán tăng cao

nhất, tới 39,25%, nhưng các năm 1999, 2000 và 2001 tốc độ tăng chỉ số CPI
ở mức thấp, thậm chí năm 2000 còn giảm 0,6%. Các năm 1994, 1995, 1998,
chỉ số CPI tăng cao, nhưng các năm đó và năm trước đó tốc độ tăng tổng
phương tiện thanh toán vẫn ở mức trung bình nhiều năm. Năm 1998, tổng
phương tiện thanh toán tăng thấp nhất, chỉ có 20,33%, nhưng CPI lại tăng tới
9,2%. Trong 6 tháng đầu năm nay tổng phương tiện thanh toán tăng 7,26%,
thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2003 là 8,28%. Song chỉ số tăng giá trong 6
tháng đầu năm 2004 đã là 7,2%. Còn trong năm 2004, tổng phương tiện
thanh toán, tốc độ tăng trưởng vốn huy động và tăng dư nợ cho vay, ... đều
thấp hơn mức cùng kỳ năm ngoái, nhưng CPI đã là 9,5%. Tất nhiên như đã
nói ở trên là có độ trễ về mặt thời gian, thường từ 6 tháng đến 1 năm.
Như vậy có thể khẳng định, lạm phát ở Việt Nam trong hơn 14 năm
qua nói chung và năm 2004 nói riêng không phải là lạm phát tiền tệ.
4. Do cầu kéo
Trong những năm qua, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hàng
hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước dồi dào, đa dạng và phong phú. Do
đó hầu như không có tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trường dẫn tới
tăng giá một hay một số mặt hàng nào đó. Song trong năm 2004, do ảnh
hưởng của dịch cúm gia cầm xẩy ra trên diện rộng và kéo dài, đã làm giảm
mạnh nguồn cung sản phẩm gia cầm, trong khi nhu cầu thực phẩm tiếp tục
tăng lên, làm cho giá cả mặt hàng gia cầm nói riêng tăng đột biến. Đồng thời
nhu cầu của người tiêu dùng được chuyển sang các mặt hàng thực phẩm
khác nên đã làm cho nhóm hàng thực phẩm nói chung tăng cao, tới 16,8%
trong 9 tháng đầu năm 2004. Mặt khác, do biến động mạnh của bất động sản
từ cuối năm 1999, do vậy nhu cầu xây dựng tăng cao, dẫn đến giá cả của vật
liệu xây dựng, sắt thép, các mặt hàng trang trí nội thất đồng lọat tăng lên.
Một diễn biến khác cũng xét từ nhân tố cầu kéo, có thể thấy do giá xuất
khẩu gạo của Việt Nam được cải thiện và khối lượng gạo xuất khẩu tăng, thị
trường xuất khẩu thủy sản ổn định và được mở rộng. Do đó giá của các mặt
hàng lương thực, thủy hải sản tăng lên.

5. Do chi phí đẩy
Nhân tố này chủ yếu là do giá cả các mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu
trên thị trường thế giới tăng lên, tập trung là giá xăng dầu, phôi thép, nguyên
liệu nhựa, phân đạm Urê, bột giấy, thuốc chữa bệnh, vật phẩm y tế..., làm
cho giá bán lẻ trong nước cũng tăng lên. Chỉ riêng mặt hàng xăng dầu trong
năm 2004 đã được điều chỉnh tăng 4 lần. Tình hình đó làm cho chi phí của

×