ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHẠM THÚY NHƯ
MÔ TẢ NGUY CƠ MẮC BỆNH LÝ TIM MẠCH
THEO THANG ĐIỂM FRAMINGHAM VÀ WHO/ISH
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
TẠI BỆNH VIỆN E NĂM 2020 – 2021
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH Y ĐA KHOA
Hà Nội – 2022
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hồn thành khóa luận này, em
đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cơ và bạn bè. Với lịng biết ơn sâu
sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược, các thầy cô giáo đã truyền
lửa, trang bị cho em kiến thức, kỹ năng trong suốt 6 năm học.
Chủ nhiệm bộ môn, PGS. TS. Vũ Thị Thơm và các thầy cô giáo Bộ
môn Y Dược học cơ sở, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ban Giám đốc Bệnh viện, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, khoa Nội tổng
hợp - Bệnh viện E.
Em xin tỏ lịng kính trọng và biết ơn tới PGS.TS. Vũ Thị Thơm và ThS.
Vũ Vân Nga, những người đã tận tâm dìu dắt, giúp đỡ, hướng dẫn em trong
suốt q trình học tập và hồn thành khóa luận.
Trân trọng cảm ơn đề tài “Hợp tác nghiên cứu kỹ thuật định lượng một
số biomarker ở bệnh nhân bị bệnh võng mạc mắt do đái tháo đường”, mã số
nhiệm vụ NĐT.69/CHN/19 – Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà
Nội; cảm ơn quỹ VIN đã ủng hộ và tạo điều kiện cho em để thực hiện nghiên
cứu này.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới cha mẹ, anh chị em trong gia
đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ với em trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Trong suốt quá trình làm khóa luận và nghiên cứu tại Bộ mơn, em đã
ln cố gắng để hồn thành khóa luận này. Song do kiến thức cịn hạn hẹp,
thời gian có hạn và nguồn tài liệu cịn hạn chế nên khóa luận của em khơng
tránh khỏi thiếu sót. Do đó em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cơ
để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
Đề tài “Mô tả nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch trong 10 năm theo thang
điểm Framingham và WHO/ISH ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh
viện E năm 2020 – 2021” là đề tài do bản thân em thực hiện dưới sự hướng
dẫn của cán bộ hướng dẫn tốt nghiệp thuộc Trường Đại học Y Dược,
ĐHQGHN.
Các số liệu trong đề tài là hoàn toàn trung thực, đã tham gia hội nghị
Khoa học Tuổi trẻ Y Dược năm 2022 do nhà trường tổ chức.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2022
Sinh viên
Phạm Thúy Như
CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACC/ AHA
Hiệp hội Tim mạch/ Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ
ADA
Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ
ASCVD
Bệnh tim mạch do xơ vữa
BMI
Chỉ số khối cơ thể
CRP
Protein phản ứng C
ĐTĐ
Đái tháo đường
eGFR
Độ Lọc Cầu Thận ước tính
ESC-EASD
Hội tim mạch và nghiên cứu đái tháo đường Châu Âu
HATT
Huyết áp tâm thu
HDL-C
Cholesterol lipoprotein tỉ trọng cao
IDF
Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế
ISH
Hội tăng huyết áp Quốc tế
JNC
Liên uỷ ban Quốc gia Hoa Kỳ
LDL-C
Cholesterol lipoprotein tỉ trọng thấp
MLCT
Mức lọc cầu thận
NCEP – ATP
Chương trình Giáo dục Quốc gia về Cholesterol tại Mỹ và
của Ủy ban điều trị tăng Cholesterol ở người trưởng thành
TNF
Yếu tố hoại tử u
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1
Nguy cơ tim mạch 10 năm theo Framingham đối với bệnh nhân
nữ
Bảng 2
Nguy cơ tim mạch 10 năm theo Framingham đối với bệnh nhân
nam
Bảng 3
Tiêu chuẩn kiểm soát mỡ máu theo khuyến cáo của ESC-EASD
2013
Bảng 3.1.1
Một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1.2
Một số đặc điểm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3.1
Liên quan của một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng với các
phân mức nguy cơ theo thang điểm Framingham
Bảng 3.3.2
Liên quan của một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng với các
phân mức nguy cơ theo thang điểm WHO/ISH
Bảng 3.4
Phân tích kappa đánh giá đồng thuận giữa hai thang điểm
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1
Cơ chế xơ vữa mạch ở bệnh nhân ĐTĐ
Hình 2
Nguy cơ tim mạch 10 năm theo WHO/ISH với bệnh nhân
mắc ĐTĐ
Hình 3
Phân tầng nguy cơ tim mạch theo WHO/ISH
Biểu đồ 2.1
Sơ đồ nghiên cứu
Biểu đồ 3.2.1 Tỉ lệ phân tầng nguy cơ theo thang điểm Framingham
Biểu đồ 3.2.2 Tỉ lệ phân tầng nguy cơ theo thang điểm Framingham theo
giới tính
Biểu đồ 3.2.3 Tỉ lệ phân tầng nguy cơ theo thang điểm WHO/ISH
Biểu đồ 3.2.4 Tỉ lệ phân tầng nguy cơ theo thang điểm WHO/ISH theo giới
tính
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN .......................................................................... 2
1.1. Vài nét về bệnh đái tháo đường ............................................................ 2
1.1.1. Khái niệm ....................................................................................... 2
1.1.2. Dịch tễ ............................................................................................ 2
1.1.2. Chẩn đoán ...................................................................................... 2
1.1.3. Biến chứng ..................................................................................... 3
1.2. Vài nét về bệnh lý tim mạch ................................................................. 5
1.2.1. Khái niệm ....................................................................................... 5
1.2.2. Dịch tễ ............................................................................................ 5
1.2.3. Một số bệnh lý tim mạch ................................................................ 6
1.3. Bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 ............................................... 6
1.3.1. Một số đặc điểm bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 ............... 6
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh ............................................................................ 7
1.3.3. Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tim mạch ở bệnh nhân
ĐTĐ typ 2 ................................................................................................ 9
1.4. Thang điểm nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm Framingham ................. 11
1.4.1. Giới thiệu ..................................................................................... 11
1.4.2. Ý nghĩa ......................................................................................... 13
1.4.3. Cách tính ...................................................................................... 13
1.4.4. Tình hình nghiên cứu bệnh tim mạch sử dụng thang điểm
Framingham ........................................................................................... 14
1.5. Thang điểm nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm theo WHO/ISH ............. 14
1.5.1. Giới thiệu ..................................................................................... 14
1.5.2. Cách tính ...................................................................................... 15
1.5.3. Tình hình nghiên cứu bệnh tim mạch sử dụng thang điểm
WHO/ISH .............................................................................................. 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 17
2.1. Phương pháp nghiên cứu: ................................................................... 17
2.1.1. Thiết kế nghiên cứu: ..................................................................... 17
2.1.2. Cỡ mẫu nghiên cứu ...................................................................... 17
2.1.3. Thời gian nghiên cứu:................................................................... 17
2.1.4. Địa điểm nghiên cứu: ................................................................... 17
2.2. Đối tượng nghiên cứu: ........................................................................ 17
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn: .................................................................... 17
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ: ...................................................................... 17
2.3. Sơ đồ nghiên cứu:............................................................................... 18
2.4. Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu: ................................................. 19
2.5. Phương pháp đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch: ................................. 20
2.5. Xử lý số liệu: ...................................................................................... 25
2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu: ...................................................... 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ .............................................................................. 26
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ......................................... 26
3.2. Đánh giá nguy cơ bê ̣nh tim mạch trong 10 năm theo Framingham và
WHO/ISH ................................................................................................. 28
3.2.1. Đánh giá nguy cơ bê ̣nh tim mạch trong 10 năm theo Framingham 28
3.2.2. Đánh giá nguy cơ bê ̣nh tim mạch trong 10 năm theo WHO/ISH .. 29
3.3. Mối liên quan giữa nguy cơ bê ̣nh tim mạch trong 10 năm với các đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng ..................................................................... 31
3.4. Đánh giá sự đồng thuận giữa thang điểm Framingham và WHO/ISH . 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ........................................................................... 35
4.1. Đặc điểm một số yếu tố nguy cơ tim mạch ......................................... 35
4.2. Đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo thang điểm Framingham,
WHO/ISH và các yếu tố liên quan............................................................. 37
4.3. Đánh giá sự đồng thuận giữa 2 thang điểm Framingham và WHO/ISH
.................................................................................................................. 39
KẾT LUẬN .................................................................................................. 42
PHỤ LỤC 1
BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2
DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ lệ ĐTĐ ngày càng tăng cùng với sự phát triển dân số, đơ thị hóa,
tình trạng béo phì, chế độ ăn khơng hợp lý, lối sống ít vận động. Tổ chức Y tế
Thế giới (World Health Organization – WHO) ước tính năm 2021 có khoảng
422 triệu người mắc ĐTĐ, tập trung phần lớn ở các quốc gia thu nhập thấp và
trung bình, đồng thời hàng năm có tới 1,6 triệu người chết vì ĐTĐ [85]. Theo
Liên đồn ĐTĐ Quốc tế (International Diabetes Federation - IDF), năm 2020
Việt Nam có 3,779,600 ca mắc ĐTĐ, với tỷ lệ người trưởng thành mắc ĐTĐ
là 5,7% [48]. Cũng theo IDF, bệnh tim mạch là nguyên nhân chính gây bệnh
tật và tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ. Đặc biệt ĐTĐ type 2 có mối liên quan đến
các yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch, làm tăng nguy cơ tử vong do các
bệnh tim mạch từ 2 đến 4 lần khi so sánh cùng độ tuổi và giới tính [18]. Theo
ước tính của WHO, năm 2019 có tới 17,9 triệu người tử vong do bệnh tim
mạch, chiếm 32% tổng số ca tử vong trên toàn cầu. 85% số bệnh nhân tử
vong do bệnh tim mạch do các nguyên nhân đau tim và đột quỵ. 3/4 trong số
đó thuộc các nước thu nhập thấp và trung bình, trong đó có Việt Nam [84].
Do vậy, chiến lược đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch nhằm có các kế
hoạch điều trị sớm giúp giảm nhẹ nguy cơ tiến triển bệnh cũng như biến
chứng là rất quan trọng. Trong số nhiề u phương pháp ước tính nguy cơ tim
ma ̣ch đang đươ ̣c sử du ̣ng trong lâm sàng hiện nay, thang điể m của Tổ chức y
tế thế giới WHO và Hô ̣i Tăng huyế t áp Quố c tế (International Society of
Hypertension) (go ̣i tắ t là thang điể m WHO/ISH) có ưu điể m là đơn giản, dễ
áp du ̣ng [61], trong khi đó thang điểm Framingham có ưu điể m là đươ ̣c xây
dựng từ những nghiên cứu do ̣c qui mơ lớn [32]. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa
có nghiên cứu đánh giá nguy cơ tim mạch dựa vào cả 2 thang điểm này trên
cùng nhóm đối tượng.
Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu:
1. Mô tả được nguy cơ bê ̣nh tim mạch theo thang điể m Framingham và
WHO/ISH
2. Đánh giá bước đầu được sự đồ ng thuâ ̣n của 2 thang điể m Framingham và
WHO/ISH ở các bê ̣nh nhân ĐTĐ type 2.
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Vài nét về bệnh đái tháo đường
1.1.1. Khái niệm
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes
Association – ADA), ĐTĐ được định nghĩa như một bệnh lý chuyển hóa, đặc
trưng bởi nồng độ đường máu cao, do thiếu hụt về tiết insulin, tác động của
insulin hoặc cả hai. Việc tăng đường máu mạn tính có liên quan đến nhiều tổn
thương ở các cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim mạch… Định
nghĩa này nhấn mạnh những biến chứng ở cơ quan đích do ĐTĐ gây ra.
Trong đó, ĐTĐ type 2 là bệnh lý mạn tính đặc trưng bởi tình trạng đường
huyết cao và đề kháng insulin. Đây là vấn đề sức khỏe nhận được sự quan tâm
lớn từ cộng đồng [53]. Có tới 90 – 95% bệnh nhân ĐTĐ thuộc type 2 [37].
Bệnh thường xuất hiện ở người lớn tuổi song đang có xu hướng trẻ hóa, do
đó, việc chẩn đốn bệnh và phát hiện sớm các tổn thương cơ quan đích là vấn
đề ngày càng được quan tâm [54].
1.1.2. Dịch tễ
Tỷ lệ ĐTĐ ngày càng tăng cùng với sự phát triển số dân, đơ thị hóa,
tình trạng béo phì, chế độ ăn khơng hợp lý, lối sống ít vận động. Ước tính số
người mắc bệnh ĐTĐ sẽ tăng mạnh qua các năm và đạt tới 592 triệu người
vào năm 2035 [71]. WHO ước tính năm 2021 có khoảng 422 triệu người mắc
ĐTĐ, tập trung phần lớn ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, đồng
thời hàng năm có tới 1,6 triệu người chết vì ĐTĐ [85]. Cũng theo WHO,
ĐTĐ là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, đặc biệt ở nam giới,
tỷ lệ này tăng 80% từ năm 2000 [10].
Theo số liệu của IDF, năm 2020 Việt Nam có 3,779,600 ca mắc ĐTĐ,
với tỷ lệ người trưởng thành mắc ĐTĐ là 5.7%. Năm 2021, tỷ lệ đó là 6% và
gánh nặng bệnh tật là 418,1 USD/người [48].
1.1.2. Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (theo ADA 2019 [89]) dựa vào một trong
các tiêu chuẩn sau:
2
- Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Bệnh nhân
phải nhịn ăn ít nhất 8 giờ. Hoặc:
- Glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose
đường uống 75g ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nghiệm pháp dung nạp
glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của WHO. Hoặc:
- HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm này phải được thực hiện
ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Hoặc:
- Glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1
mmol/L) với triệu chứng của tăng đường huyết (uống nhiều, tiểu nhiều, sụt
cân)
Nế u không có tăng đường huyế t rõ ràng, nên lă ̣p la ̣i xét nghiê ̣m để xác
nhâ ̣n kế t quả.
1.1.3. Biến chứng
Ước tính rằng một nửa số bệnh nhân ĐTĐ khơng nhận biết về tình
trạng bệnh của họ và do đó, khả năng có biến chứng cũng cao hơn. Tuân thủ
điều trị ĐTĐ có thể giảm trên 10% nguy cơ của các biến chứng mạch máu
nhỏ và mạch máu lớn [44]. Do đó, việc phát hiện sớm nguy cơ của các biến
chứng và đưa ra các phác đồ kịp thời là rất quan trọng trong việc kiểm soát
bệnh ĐTĐ.
1.1.3.1. Biến chứng cấp tính
Biến chứng cấp tính gồm có nhiễm ceton acid, tăng áp lực thẩm máu và
hạ đường huyết, thường xảy ra trên bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém.
Hạ đường huyết do những nguyên nhân như tiêm quá liều insulin, thuốc hạ
đường huyết đường uống, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng. Khi đó cần điều trị
tăng đường huyết nhanh nhất tới an tồn. Nhiễm toan ceton xảy ra khi cơ thể
có q ít insulin, tạo năng lượng thơng qua chuyển hóa chất béo, làm tăng
lượng ceton trong cơ thể quá cao, gây nên triệu chứng nơn, mất nước và có
thể hơn mê. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ
typ 2, có tỷ lệ tử vong từ 10 – 20%, gấp 10 lần so với trường hợp nhiễm toan
ceton [70].
3
1.1.3.2. Biến chứng mạn tính
1.1.3.2.1. Biến chứng mạch máu nhỏ
Việc chẩn đoán phát hiện sớm biến chứng mạch máu nhỏ, từ đó đưa ra
phác đồ theo dõi điều trị sớm là điều rất cần thiết. Một nghiên cứu về bệnh
ĐTĐ tại Anh cho thấy, những bệnh nhân có sự kiểm sốt đường huyết chặt
chẽ sẽ có ít nguy cơ mắc các biến chứng vi mạch hơn [46].
Biến chứng vi mạch thường gặp là bệnh võng mạc ĐTĐ, một trong
những nguyên nhân phổ biến nhất gây mù lòa. Các nguyên nhân gây giảm
hay mất thị lực gồm có phù hồng điểm do ĐTĐ gây nên giảm thị lực trung
tâm, bệnh võng mạc tăng sinh dẫn đến tăng tạo mạch máu mới và mô sợi, gây
nên bong võng mạc hoặc xuất huyết thủy tinh thể, xuất huyết tiền võng mạc
[37].
Tình trạng nhiễm trùng da đặc biệt nhiễm trùng bàn chân là một trong
những biến chứng thường gặp của người bệnh ĐTĐ. Nếu khơng được điều trị
và chăm sóc, tình trạng này có thể tiến triển đến bàn chân Charcot, loét bàn
chân và cuối cùng là cắt cụt chân [37]. Do vậy ADA khuyến cáo đánh giá
tồn diện bàn chân ít nhất một năm một lần để phát hiện sớm các yếu tố nguy
cơ có thể gây loét và cắt cụt chi ở bệnh nhân ĐTĐ [11].
Bệnh thận ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây nên bệnh thận mạn và
bệnh thận giai đoạn cuối [14]. Albumin niệu và eGFR là những dấu ấn sinh
học thường được sử dụng hiện nay để chẩn đoán và tầm sốt bệnh thận ĐTĐ
[37].
Biến chứng thần kinh có thể hiện diện ở đầu gần hoặc xa của sợi thần
kinh trong bệnh cảnh viêm đơn dây thần kinh, hoặc ảnh hưởng đến hệ thần
kinh soma hoặc thần kinh thực vật [19]. Các dây thần kinh bị tổn thương gây
các triệu chứng đau, mất cảm giác và đôi khi rối loạn chức năng tình dục ở
một số trường hợp.
1.1.3.2.2. Biến chứng mạch máu lớn
Tổn thương mạch máu lớn gây nên bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh động
mạch ngoại biên. Một nghiên cứu hệ thống trên hơn 4500000 bệnh nhân ĐTĐ
4
type 2 toàn thế giới từ năm 2007 đến 2017 cho thấy tỷ lệ 32,2% bệnh nhân
mắc bệnh tim mạch; cụ thể 29,1% trường hợp xơ vữa động mạch; 21,2% bệnh
tim mạch, suy tim chiếm 14,9%; 7,6% bệnh nhân đột quỵ. Bệnh tim mạch là
nguyên nhân của 50,3% ca tử vong ở người bệnh ĐTĐ [35].
Người trưởng thành mắc ĐTĐ có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch gấp 2 đến 3
lần so với người không mắc ĐTĐ. Những bệnh nhân ĐTĐ khơng có tiền sử
nhồi máu cơ tim trước đây có cùng mức nguy cơ hội chứng vành cấp so với
những bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim trước đây mà không mắc ĐTĐ
[44]. Bệnh lý động mạch ngoại biên là một trong các nguyên nhân gây nên
tình trạng loét bàn chân và cắt cụt chi, đặc trưng bởi tình trạng thuyên tắc
động mạch chi dưới, hậu quả làm giảm chức năng chi và có thể gây tàn tật
[22].
1.2. Vài nét về bệnh lý tim mạch
1.2.1. Khái niệm
Theo WHO, bệnh tim mạch là nhóm các rối loạn của tim và mạch máu
và bao gồm bệnh tim mạch vành, bệnh mạch máu não, bệnh thấp tim và các
bệnh khác. Phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao với hơn 80% trường hợp tử vong
do bệnh tim mạch là do đau tim và đột quỵ, và một phần ba số ca tử vong này
xảy ra sớm ở những người dưới 70 tuổi [84].
1.2.2. Dịch tễ
Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới.
Theo ước tính của WHO, năm 2019 có tới 17.9 triệu người tử vong do bệnh
tim mạch, chiếm 32% tổng số ca tử vong trên toàn cầu. 85% số bệnh nhân tử
vong do bệnh tim mạch do các nguyên nhân đau tim và đột quỵ. ¾ trong số
đó thuộc các nước thu nhập thấp và trung bình, trong đó có Việt Nam. Theo
thống kê của trường Tim mạch Hoa Kỳ (ACC), số người mắc bệnh tim mạch
tăng gấp đôi từ năm 1990 (271 triệu ca) và năm 2019 (523 triệu ca) [9]. Do
vậy, chiến lược đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch nhằm có các kế hoạch điều
trị sớm giúp giảm nhẹ nguy cơ tiến triển bệnh cũng như biến chứng là rất
quan trọng.
5
1.2.3. Một số bệnh lý tim mạch
- Bệnh lý mạch vành:
+ Cơn đau thắt ngực: đau thắt ngực ổn định hoặc khơng ổn định, đau
mờ nhạt khơng điển hình, gọi là cơn thiếu máu cơ tim thầm lặng.
+ Nhồi máu cơ tim: có khi phát hiện tình cờ trước dấu hiệu nhồi máu
cơ tim cũ trên điện tâm đồ, có khi là cơn đau ngực điển hình. Đơi khi chính
nhờ dấu hiệu nhồi máu cơ tim mà bệnh ĐTĐ mới được phát hiện.
- Tăng huyết áp: Tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu >
140mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg [75]. Tăng huyết áp ở BN
ĐTĐ týp 2 có thể là do sự đề kháng insulin làm tăng insulin máu. Insulin có
tác dụng giữ natri máu đồng thời kích thích tăng tiết catecholamine. Ngồi ra,
sự đề kháng insulin còn làm mất khả năng giãn mạch của insulin. Tất cả các
yếu tố này có thể gây ra tăng huyết áp.
- Bệnh lý mạch não: Nhồi máu não hoặc xuất huyết não với các biểu
hiện lâm sàng gồm liệt nửa người, liệt mặt, khó nói, khó nuốt, thất ngơn,
…Chẩn đốn xác định dựa vào hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ
sọ não.
- Bệnh mạch máu ngoại biên: Triệu chứng bao gồm đau cách hồi; chân
lạnh tím đỏ ở phần dưới, ở ngón chân; vết loét, hoại tử, có thể kèm nhiễm
khuẩn.
1.3. Bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2
1.3.1. Một số đặc điểm bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2
Theo IDF, bệnh tim mạch là nguyên nhân chính gây bệnh tật và tử
vong ở bệnh nhân ĐTĐ. Bệnh nhân ĐTĐ dễ có nguy cơ mắc các bệnh tim
mạch nguy hiểm ở độ tuổi trẻ hơn những người không mắc ĐTĐ. Đặc biệt
ĐTĐ type 2 có mối liên quan đến các yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch,
làm tăng nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch từ 2 đến 4 lần [18]. Bệnh
nhân ĐTĐ type 2 có tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh tim mạch tương đương với
người khơng mắc ĐTĐ mà đã có bệnh tim mạch trước đó [43].
6
Một nghiên cứu trên những bệnh nhân ĐTĐ không triệu chứng chưa
có chẩn đốn hoặc nghi ngờ bệnh mạch vành, được kiểm tra xạ hình tưới máu
cơ tim khi gắng sức và theo dõi lâm sàng, phát hiện 22% bệnh nhân mắc bệnh
thiếu máu cơ tim thầm lặng với 6% bệnh nhân có hình ảnh kém tưới máu ở
mức độ trung bình hoặc nặng. Các yếu tố mạnh nhất dự báo tình trạng kém
tưới máu cơ tim có bao gồm giới tính nam và thời gian mắc đái tháo đường
[82].
Mức độ kháng insulin, microalbumin niệu thấp và giới tính nữ là những
yếu tố giúp giảm sự tiến triển của bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2
trong hơn 10 năm. Nghiên cứu của Srinivasan gợi ý rằng các yếu tố này cải
thiện tiên lượng của các bệnh tim mạch [81].
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh
Tình trạng tăng huyết áp, thừa acid béo tự do và kháng insulin làm tăng
sự stress oxy hóa, dẫn đến nhiều tình trạng bệnh lý như viêm mạch, co mạch,
huyết khối lòng mạch và xơ vữa mạch máu [44]. Rối loạn chức năng các tế
bào nội mô mạch máu dẫn đến tăng tập trung bạch cầu, tăng kết dính tiểu cầu
và tăng nồng độ các chất gây co mạch. Các chất trung gian hóa học từ q
trình viêm hoạt hóa sự biểu hiện của phân tử kết dính trên tế bào nội mơ và
tăng tình trạng oxy hóa LDL cholesterol lớp dưới nội mơ [51]. Việc giảm
tổng hợp và tăng tốc độ phá hủy nitric oxide bởi các tác nhân oxy hóa làm
giảm khả năng giãn mạch máu [79].
7
Đái tháo đường type II
Tăng huyết áp
Axit béo tự do
Tình trạng kháng insulin
Stress oxi hóa
Tăng CRP
↑ NO
↑ ET-1
↑ AT11
↑ NF-kB
↑ AP-1
↑ TF
↑ PAI-1
↑ NO
↑ phân tử bám dính
↑ bạch cầu mono,
LDL, tế bào bọt
Huyết khối
Mảng xơ vữa
Hẹp lòng mạch
Tăng viêm
Hoạt hóa tiểu cầu, Tế bào bọt
Tăng huyết áp
MCP-1
Tăng cơ trơn mạch máu 1L-1, 1L-6, ICAM đơng máu
Xơ vữa mạch máu
Hình 1. Cơ chế xơ vữa mạch ở bệnh nhân ĐTĐ [44]
Do bị mất đi lớp nội mô, nội mạc không còn đủ khả năng điều hòa
trương lực thành mạch máu. Sau đó q trình tự sửa chữa mạch máu diễn ra
nhằm phục hồi sự vững bền thành mạch và từ đó bình thường hóa sức ép
thành mạch. Tổn thương tái cấu trúc tại các vi mạch có thể diễn ra từ rất sớm
ngay giai đoạn đầu của bệnh [53].
Người ta vẫn cho rằng bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ có nguyên nhân
do những bất thường ở thượng tâm mạc của mạch vành, cụ thể là do xơ vữa
gây nên tình trạng lịng động mạch vành thun tắc. Tuy nhiên một số nghiên
cứu gần đây đã chỉ ra rối loạn chức năng và tái cấu trúc vi mạch vành có thể
góp phần vào tiến triển bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ ở cả những bệnh nhân
chụp mạch vành có kết quả bình thường [53].
8
1.3.3. Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tim mạch ở bệnh nhân
ĐTĐ typ 2
1.3.3.1. Tuổi
Tuổi thọ trung bình của con người tăng thêm 6 năm qua ba thập kỷ vừa
qua, và còn tiếp tục tăng trong tương lai. Lão hóa đóng vai trị quan trọng vì
tuổi càng cao thì thời gian tiếp túc với các yếu tố nguy cơ càng lớn, đồng thời,
các bệnh liên quan đến tuổi tác khác như rối loạn lipid máu, ĐTĐ càng làm
tăng tác động xấu lên hệ thống tim mạch [59]. Nghiên cứu của Alonso và
cộng sự đưa ra tỷ lệ bệnh tim thiếu máu cục bộ, đột quỵ, suy tim đều tăng dần
mỗi 5 năm, khi so sánh với khoảng tuổi từ 35 đến 39 [17].
1.3.3.2. Rối loạn mỡ máu
Giả thuyết cho rằng lipoprotein A làm gia tăng quá trình đơng máu,
viêm, vận chuyển oxidized phospholipids tiền viêm và làm chậm quá tình tiêu
sợi huyết. Dù chưa rõ cơ chế của lipoprotein A làm xơ vữa mạch, một giả
thuyết rất được ủng hộ, gồm có việc tích lũy cholesterol liên kết lipoprotein A
trong lòng động mạch, chất trung gian phản ứng viêm, vận chuyển oxidized
phospholipids tiền viêm, làm chậm q trình tiêu sợi huyết và tăng đơng [42].
Nghiên cứu cho thấy có bằng chứng rõ ràng chỉ ra mức lipoprotein A
cao là một yếu tố độc lập dự đoán bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, từ
đó khuyến cáo trong thực hành lâm sàng nên kiểm tra mức lipoprotein A cho
những bệnh nhân này nhằm tầm soát bệnh tim mạch [28].
Nồng độ triglyceride sau ăn được cho là yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch
quan trọng hơn là nồng độ triglyceride nhanh [60]. Tăng triglyceride máu là
yếu tố nguy cơ độc lập chính của bệnh mạch vành trong các nghiên cứu về vai
trò của rối loạn lipid máu đối với sinh bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ ở khu
vực Đơng Nam Á và tây Thái Bình Dương [26].
Các nghiên cứu thấy rằng ở những bệnh nhân ĐTĐ chưa hẳn đã có
nồng độ LDL cao hơn người bình thường, nhưng thường tăng số lượng của
các hạt vi LDL. Chính những hạt vi LDL này làm tăng nguy cơ bệnh xơ vữa
cũng như bệnh tim mạch [50].
9
HDL có vai trị chống viêm, chống oxi hóa và lấy đi các mảnh
cholesterol từ các mảng xơ vữa mạch. Do đó, sự thay đổi về số lượng lẫn
thành phần của HDL ở bệnh nhân ĐTĐ có liên quan đến việc hình thành và
phát triển của các mảng xơ vữa [60]. Trước đây người ta cho rằng nồng độ
HDL cao giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch, tuy nhiên gần đây có những
nghiên cứu cho rằng nồng độ HDL cao khơng phải lúc nào cũng có lợi [38].
Theo Chương trình Giáo dục Quốc gia về Cholesterol tại Mỹ và của Ủy
ban điều trị tăng Cholesterol ở người trưởng thành III (National Cholesterol
Education Program Adult Treatment Panel – NCEP ATP III), kiểm sốt LDL
là mục tiêu chính trong kiểm sốt mỡ máu để phòng ngừa các bệnh tim mạch.
Tại Việt Nam, cục Khám chữa bệnh bộ Y tế đưa ra mục tiêu điều trị rối loạn
lipid máu cho người bệnh ĐTĐ là khống chế LDL < 100mg/dL nếu chưa có
biến chứng tim mạch và < 70 mg/dL nếu đã có biến chứng tim mạch.
1.3.3.3. Béo phì
Béo phì từ lâu đã được coi như một yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch độc
lập. Nhìn chung, chỉ số BMI cho thừa cân giao động từ 25 đến 29,9 kg/m2,
trên 30 kg/m2 được coi là béo phì. Đối với người châu Á, chỉ số này sẽ thấp
hơn, giao động từ 23 đến 24 kg/m2. Sự gia tăng tích tụ mơ mỡ trong cơ thể địi
hỏi hình thành nhiều tân mạch, từ đó kích hoạt các gen liên quan đến tăng tạo
tân mạch, chuyển hóa đường, stress oxy hóa tế bào và tăng viêm [74]. Bên
cạnh đó, người ta cho rằng giảm cân có liên quan đến sự giảm TNF và CRP,
cùng với sự gia tăng adiponectin giúp tăng nhạy cảm với insulin và giảm nguy
cơ tim mạch [23].
1.3.3.4. Tăng huyết áp
Tăng huyết áp thường gặp ở những bệnh nhân ĐTĐ và đồng thời là yếu
tố nguy cơ chính của các bệnh tim mạch. Bệnh nhân ĐTĐ kèm tăng huyết áp
có cả biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn nhiều hơn rõ rệt so với
những bệnh nhân không kèm theo tăng huyết áp [80].
Kiểm sốt huyết áp đóng vai trị đặc biệt quan trọng trong việc phòng
chống các biến chứng tim mạch ở người bệnh ĐTĐ [86]. Năm 2017, Hội Tim
mạch và Trường Tim mạch Hoa Kỳ (AHA/ACC) đưa ra khuyến cáo ở bệnh
10
nhân mắc tiểu đường và tăng huyết áp nên được điều trị bằng thuốc hạ áp
cùng với việc thay đổi lối sống, mục tiêu điều trị nhằm đưa huyết áp về dưới
130/80 mmHg, phù hợp với từng bệnh nhân [83].
1.3.3.5. Hút thuốc lá
Các nghiên cứu cho thấy những người tiếp xúc với khói thuốc thụ động
gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch, biến chứng vi mạch và giảm tuổi thọ. Ngược
lại, cai thuốc giúp giảm đáng kể albumin niệu vi thể, huyết áp, tình trạng rối
loạn lipid máu và kháng insulin [44]. Pan (2015) kết luận hút thuốc chủ động
làm tăng đáng kể nguy cơ các biến cố tim mạch và tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ,
đồng thời ngừng hút thuốc có tác động tích cực [67].
1.3.3.6. Kiểm sốt đường máu
Đường huyết tăng cao làm tăng các sản phẩm glycat hóa bền vững, gây
ảnh hưởng đến nội mơ mạch máu và biểu hiện bề mặt của các phân tử kết
dính, tăng thu hút bạch cầu đơn nhân và đại thực bào tập trung dưới mảng xơ
vữa, đồng thời tăng giải phóng cytokine. Hơn nữa, các sản phẩm glycat hóa
bền vững làm tăng endothelin-1 và giảm nitric oxide, từ đó gây tăng co mạch
và giảm giãn mạch [73].
1.3.3.7. CRP
Thực tế, trong các bệnh lý như béo phì và ĐTĐ type 2, nồng độ lưu
hành trong máu của các dấu ấn viêm như CRP, TNF và interleukin-6 đều
tăng. Các hóa chất này gây rối loạn chức năng nội mô mạch máu bởi chúng
gây tăng sản sinh gốc tự do oxy hóa đồng thời giảm hoạt tính của nitric oxide
[53]. Nghiên cứu của Cardoso và cộng sự cho thấy mức CRP nền và năm thứ
hai trên 3.0 mg/L có liên quan mạnh đến sự xuất hiện của các biến cố tim
mạch ở những bệnh nhân ĐTĐ type 2 [25].
1.4. Thang điểm nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm Framingham
1.4.1. Giới thiệu
Thang điểm nguy cơ Framingham là thang điểm thường được sử dụng
trong các nghiên cứu về bệnh tim mạch, bắt nguồn từ nghiên cứu
Framingham, đưa ra vào năm 1998.
11
Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 10 năm 1948. Trong khoảng thời gian từ
năm 1948 đến năm 1952, nghiên cứu đã tiến hành trên 5209 đàn ông và phụ
nữ trong độ tuổi 30 đến 62 từ thị trấn Framingham, Massachussets, chưa có
triệu chứng bệnh tim mạch trước đó, với các số liệu được thu thập như tiền sử
bản thân và gia đình, thăm khám lâm sàng, ECG, mẫu máu và nước tiểu.
Trong những thập kỉ tiếp theo tình nguyện viên tiếp tục được theo dõi các chỉ
số lâm sàng và cận lâm sàng, chủ yếu liên quan đến tình trạng xơ vữa mạch
máu. Kể từ thời điểm đó, nghiên cứu được tiếp tục bằng việc tiến hành trên
nhiều nhóm thuần tập khác. Năm 1971, nghiên cứu được tiến hành với 5124
thế hệ con cái của những tình nguyện viên trước đây (Framingham Offspring
Study), năm 1994 đối với nhóm Omni 1 và đến năm 2002, nghiên cứu trên
4095 người là thế hệ thứ 3 của những tình nguyện viên này (Framingham
Third-Generation Study), với mục đích đánh giá vai trị của yếu tố di truyền
đối với bệnh tim mạch và các bệnh tim mạch khác, đồng thời nghiên cứu các
yếu tố liên quan. Năm 2003, nghiên cứu trên nhóm các cặp vợ chồng và nhóm
thuần tập Omni 2 [47].
Các yếu tố nguy cơ ban đầu được đưa ra là cholesterol toàn phần, huyết
áp, tình trạng hút thuốc và béo phì. Qua thời gian, các tác giả xây dựng thang
điểm Framingham dựa vào các yếu tố như tuổi, giới tính, hút thuốc lá, huyết
áp (tâm thu, tâm trương), cholesterol tồn phần, HDL, tình trạng ĐTĐ. Tính
điểm các yếu tố nguy cơ và phân tầng nguy cơ thấp, nguy cơ trung bình và
nguy cơ cao bệnh mạch vành 10 năm tới. Năm 2001, NCEP – ATP III đưa ra
cách tính điểm Framingham cải tiến dựa trên dữ liệu của nghiên cứu
Framingham Heart Study, đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành có hoặc khơng
có tử vong sau 10 năm, phân tầng nguy cơ và mục tiêu điều trị đối với từng
mức độ. Thang điểm này tính tốn dựa vào 5 yếu tố nguy cơ tim mạch chính:
tuổi, giới, tăng huyết áp, cholesterol tồn phần, HDL-cholesterol, hút thuốc lá,
đối với mỗi yếu tố có thang điểm riêng sau đó tính tổng và ước tính nguy cơ
bệnh mạch vành 10 năm [13].
Năm 2018, nghiên cứu Framingham đưa ra cơng cụ ước tính nguy cơ
10 năm bệnh tim mạch do xơ vữa, ước tính nguy cơ tử vong do các bệnh
mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy mạch vành, đau thắt ngực, đột quỵ do thiếu
12
máu cục bộ, đột quỵ xuất huyết, cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, bệnh động
mạch ngoại vi, suy tim dựa trên phương trình đồn hệ gộp (Pooled Cohort
Equations). Các yếu tố nguy cơ là tuổi, BMI, tình trạng tiểu đường, tình trạng
hút thuốc, huyết áp tâm thu được điều trị và khơng được điều trị, cholesterol
tồn phần, HDL.
1.4.2. Ý nghĩa
Hướng dẫn của AHA về cholesterol 2018 và tăng huyết áp 2017
khuyến khích dùng các cơng cụ ước tính rủi ro tim mạch 10 năm dựa trên các
yếu tố nguy cơ truyền thống, coi đây là bước đầu tiên để lựa chọn các phương
pháp phòng ngừa bệnh tim mạch do xơ vữa [12]. Năm 2018, AHA/ACC
khuyến cáo sử dụng thang điểm ước tính nguy cơ tử vong 10 năm bệnh tim
mạch xơ vữa, từ đó có các biện pháp giảm nguy cơ bệnh tim mạch cho bệnh
nhân [24].
Dựa trên nghiên cứu của D’Agostino và cộng sự vào năm 2008, dùng
mô hình hồi quy Cox nhằm ước đốn nguy cơ bệnh tim mạch trên 8491 tình
nguyện viên trong nghiên cứu Framingham độ tuổi từ 30 đến 74 và chưa có
bệnh tim mạch. Sau hơn 12 năm theo dõi liên tục, 1174 người trong số đó đã
xảy ra biến cố tim mạch đầu tiên. Tất cả các yếu tố nguy cơ truyền thống đều
dự đoán nguy cơ tim mạch với p hiệu chỉnh đa biến < 0,0001 [32].
Thang điểm này áp dụng tốt nhất cho người Mỹ gốc Phi và người da
trắng khơng phải gốc Tây Ban Nha, tuy nhiên nó vẫn được khuyến khích cho
tất cả các chủng tộc với mục đích đưa ra một ước đốn sớm về nguy cơ bệnh
tim mạch có thể gây tử vong trong 10 năm ban đầu, từ đó xây dựng lên cho
bệnh nhân một phương án dự phòng và thay đổi lối sống cần thiết [12].
1.4.3. Cách tính
Thang điểm nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm Framingham được dùng để
đánh giá nguy cơ 10 năm các bệnh tim mạch gồm bệnh mạch vành gây tử
vong, nhồi máu cơ tim, suy mạch vành, đau thắt ngực, đột quỵ do thiếu máu
não, đột quỵ do xuất huyết não, cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, bệnh động
mạch ngoại vi, suy tim.
13
Chọn lựa bảng nam hay nữ, từ các thông số về tuổi, nồng độ HDL,
huyết áp tâm thu (HATT), tình trạng hút thuốc lá và ĐTĐ mà tính ra điểm và
từ điểm sẽ phân ra nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm. Từ đó, đánh giá mức đô ̣
nguy cơ như sau: Rấ t cao: trên 30%. Cao: 20 đế n 30 %. Trung biǹ h: 10 đế n
20 %. Thấ p: dưới 10% [32] [39].
1.4.4. Tình hình nghiên cứu bệnh tim mạch sử dụng thang điểm
Framingham
Năm 2015, Park và Kim tiến hành nghiên cứu áp dụng thang điểm dự
đoán nguy cơ bệnh tim mạch Framingham và so sánh mô hình Framingham
với mơ hình dự đốn bệnh tim mạch của Hàn Quốc trên 57393 tình nguyện
viên Hàn Quốc và đưa ra kết luận thang điểm Framingham có thể áp dụng
được với người châu Á và dự đoán được các biến cố tim mạch tương lai bất
kể có sự khác biệt về di truyền và lối sống [68]. Goh và cộng sự tiến cứu trên
4487 tình nguyện viên nữ người Úc nhận định rằng mơ hình Framingham
đánh giá q mức nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, song qua kiểm định
Hosmer-Lemeshow cho thấy thang điểm hiệu chỉnh thích hợp để dự đoán
nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch 10 năm cho dân số Úc [41].
Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu thang điểm Framingham dự
đoán nguy cơ bệnh tim mạch. Năm 2019, Đỗ Thị Quỳnh và cộng sự áp dụng
thang điểm Framingham đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch trên 306 đối tượng
nhân viên văn phòng ở Hà Nội thấy rằng nguy cơ bệnh tim mạch tăng khi xét
thêm các yếu tố nguy cơ [5]. Năm 2021, Vũ Vân Nga nghiên cứu nhóm bệnh
nhân ĐTĐ typ 2 thấy rằng chủ yếu các bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ rất cao
(chiếm tới 41,7%), nguy cơ cao (17,3%) [8]. Nghiên cứu của Trần Thừa
Nguyên (2021) trên 302 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 nhận thấy tỷ lệ các yếu tố nguy
cơ tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 còn khá cao [6].
1.5. Thang điểm nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm theo WHO/ISH
1.5.1. Giới thiệu
Đối với các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, các xét nghiệm
thường sẽ khơng đầy đủ để đánh giá nguy cơ tim mạch nên vào năm 2002,
WHO đưa ra những thông số đánh giá chỉ dựa trên tiền sử, huyết áp và xét
14
nghiệm nước tiểu chọn lọc [63]. Năm 2007, WHO đưa ra hướng dẫn đánh giá
nguy cơ các bệnh tim mạch cho các quốc gia thu nhập thấp và trung bình với
ưu điểm có thể được áp dụng ngay trong điều kiện khơng có đủ những xét
nghiệm phức tạp cho những công cụ đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch chuyên
sâu khác. Đồng thời nó cũng có thể được sử dụng ở những quốc gia chưa phát
triển một công cụ đánh giá nguy cơ chuyên biệt cho riêng quốc gia đó [61].
Năm 2011, Hiệp hội Tăng huyết áp châu Âu thành lập nhóm các nhà nghiên
cứu xem xét lại các chiến lược đánh giá nguy cơ tim mạch trong các nghiên
cứu ở các nước thu nhập thấp và trung bình, những hạn chế và ưu điểm đồng
thời đề xuất các nghiên cứu trong tương lai [63]. Năm 2012, WHO cho ra đời
công cụ đánh giá nguy cơ tim mạch cập nhật, dành cho mọi đối tượng trên thế
giới, có cả phiên bản có hay khơng có nồng độ cholesterol huyết thanh. Các
yếu tố tính điểm nguy cơ cịn lại bao gồm tuổi, giới tính, huyết áp, tình trạng
hút thuốc, ĐTĐ.
Các biểu đồ này giúp ước tính gần đúng nguy cơ bệnh tim mạch ở
những người không bị bệnh mạch vành, đột quỵ hoặc xơ vữa động mạch
khác. Được coi là công cụ giúp xác định những người có nguy cơ tim mạch
cao, từ đó giúp thay đổi hành vi, lối sống của bệnh nhân và khi cần phải sử
dụng thuốc hạ huyết áp, hạ lipid máu và aspirin.
1.5.2. Cách tính
Biểu đồ WHO/ISH phân theo tiểu vùng dịch tễ học được sử dụng để
ước tính tổng nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm. Các yếu tố như tuổi,
giới tính, tình trạng hút thuốc, HATT, có hoặc khơng mắc bệnh tiểu đường và
tổng số cholesterol huyết thanh được sử dụng để tính tổng nguy cơ bệnh tim
mạch. Biểu đồ phân chia một cá nhân thành các nhóm rủi ro thấp (<10%),
trung bình (10% đến <20%), cao (20% đến <30%) và rất cao (> 30%) [91].
1.5.3. Tình hình nghiên cứu bệnh tim mạch sử dụng thang điểm
WHO/ISH
Từ năm 2017 đến 2018, Deori và cộng sự dùng thang điểm WHO/ISH
để đánh giá nguy cơ tim mạch cho 397 cư dân thành phố Lucknow, Ấn Độ và
kết luận rằng biểu đồ này có thể dùng để dự đoán nguy cơ bệnh tim mạch ở
15
những người khơng có triệu chứng với chi phí thấp [33]. Otgontuya và cộng
sự dùng thang điểm này để nghiên cứu trên dân số 3 quốc gia châu Á, bao
gồm Campuchia, Malaysia và Mông Cổ thấy rằng thang điểm mang lại nhiều
lợi ích tuy nhiên cần hiệu chỉnh thêm một số yếu tố nguy cơ để tránh đánh giá
thấp nguy cơ tim mạch của một cá nhân, đồng thời mỗi quốc gia nên có thang
điểm chuyên biệt của riêng quốc gia đó [66].
Tại Việt Nam, năm 2015 Nguyễn Văn Trí và Nguyễn Thế Quyền sử
dụng bảng đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo WHO/ISH 2012, đánh giá
9148 bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị kết luận rằng có nhiều bệnh nhân
tăng huyết áp thuộc nhóm nguy cơ cao và rất cao, tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu
vẫn còn thấp [4]. Nguyễn Thị Ngọc Thanh và cộng sự nghiên cứu 126 bệnh
nhân tăng huyết áp được theo dõi tại Viện Tim TP.Hồ Chí Minh cho rằng
thang điểm này cung cấp biểu đồ nguy cơ cho nhiều khu vực trên thế giới
song giá trị của nó cần được kiểm chứng thêm [3]. Nghiên cứu của Hồ Anh
Hiền và cộng sự trên 938 người dân tại tỉnh Thừa Thiên Huế từ tháng 4 –
10/2015 nhận thấy những bệnh nhân mắc ĐTĐ chiếm lần lượt 22,7% và 7,5%
nhóm có nguy cơ trung bình và cao [45].
16