Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Ứng dụng Tự học có hướng dẫn trong giáo dục trung học chuyên nghiệp nhóm ngành sức khỏe - Bài học kinh nghiệm từ 12 trường cao đẳng/ trung cấp y tế ở Việt Nam doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (258.62 KB, 8 trang )

10 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Ứng dụng Tự học có hướng dẫn trong giáo dục
trung học chuyên nghiệp nhóm ngành sức khỏe
- Bài học kinh nghiệm từ 12 trường cao đẳng/
trung cấp y tế ở Việt Nam
Lê Thò Thanh Hương (*), Phạm Phương Liên (*),
Bùi Thò Thu Hà (*), Pamela Wright (**)
Trong giai đoạn 2006-2008, Trường Đại học Y tế Công cộng (ĐHYTCC), được sự cho phép của Vụ
Khoa học và Đào tạo, đã phối hợp với 6 trường trung cấp/ cao đẳng y tế xây dựng hai cuốn tài liệu
hướng dẫn giáo viên giảng dạy hai môn học "Quản lý và Tổ chức y tế" và "Kỹ năng giao tiếp và Giáo
dục sức khỏe" cho các đối tượng học sinh trung học chuyên nghiệp nhóm ngành sức khỏe (áp dụng
các hướng dẫn của tài liệu tự học có hướng dẫn).
Nhằm hoàn thiện hai cuốn tài liệu, trong năm học 2008-2009, Trường ĐHYTCC phối hợp với 12
trường cao đẳng/ trung cấp y tế ở Việt Nam tiến hành triển khai thí điểm việc giáo viên tại các trường
này áp dụng việc tự học hai cuốn tài liệu nói trên trong quá trình giảng dạy hai môn học "Quản lý
và Tổ chức Y tế" và "Kỹ năng giao tiếp và Giáo dục sức khỏe" cho các đối tượng học sinh trung cấp
chuyên nghiệp như: Điều dưỡng, Hộ sinh, Y só, Dược só, Kỹ thuật viên Y v.v… với mục đích thu nhận
các ý kiến đóng góp từ phía người dạy và người học để chỉnh sửa hai cuốn tài liệu nói trên. Kết quả
nghiên cứu thử nghiệm cho thấy các giáo viên đánh giá rất cao hai cuốn tài liệu này, cụ thể là: các
hướng dẫn trong hai cuốn tài liệu tự học rõ ràng, cụ thể, thời gian dành cho soạn bài của họ được
rút ngắn hơn, ít gặp phải khó khăn hơn trong quá trình soạn bài. Ý kiến thu nhận từ phía học sinh
cho thấy học sinh hào hứng hơn với việc áp dụng quá trình dạy-học tích cực của giáo viên. Quá trình
thử nghiệm cũng chỉ ra được một số hạn chế của hai cuốn tài liệu như việc phân bổ thời gian giữa
các hoạt động trong các bài học chưa hợp lý, một số hướng dẫn trong các bài chưa rõ ràng. Những
ý kiến đóng góp và phát hiện này đã được chỉnh sửa kòp thời trước khi hai cuốn tài liệu này được đệ
trình lên Bộ Y tế. Tháng 10/2009, hai cuốn tài liệu này đã được Hội đồng chuyên môn thẩm đònh
sách và tài liệu dạy học trung cấp y tế của Bộ Y tế thông qua và được Vụ Khoa học và Đào tạo - Bộ
Y tế khuyến khích sử dụng trong quá trình giảng dạy hai học phần nói trên.
Từ khóa: tự học có hướng dẫn, trung học chuyên nghiệp, bài học kinh nghiệm
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 10


| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26) 11
Application of Self-Directed Learning (SDL) in
Professional Secondary Education in Health -
A case study in 12 medical colleges/ secondary
medical schools in Vietnam
Le Thi Thanh Huong (*), Pham Phuong Lien (*), Bui Thi Thu Ha (*), Pamela Wright (**)
During the period from 2006 - 2008, the Hanoi School of Public Health (HSPH), with the approval
from the Department of Science and Training, Ministry of Health, collaborated with six medical
colleges/ secondary medical schools to develop the two SDL books for teachers teaching two subjects
"Health Management and Organization" and "Health Education and Communication" for students
studying in professional secondary education in health.
In order to finalize the two SDL books, during 2008 - 2009 school year, HSPH continued working
with 12 medical colleges/ secondary medical schools in Vietnam to pilot the application of the two
SDL books. Teachers read instructions from the two SDL books and applied them into their teaching
of the two subjects "Health Management and Organization" and "Health Communication and
Education" at secondary training level for different groups of students: Nurse, Midwife, Assistant
Doctor, Pharmacist, Lab technicians, etc. The purpose of the pilot was to gain comments and to seek
suggestions for the finalization of the two SDL books. The results of the pilot showed that teachers
highly appreciated the two books. According to their opinion, with the application of the two books,
their time devoted to the preparation of the teaching lesson was shorter, and fewer difficulties in
planning the lesson were reported. From students' perspective, it was shown that students felt more
enthusiastic in their learning due to teachers' application of active teaching-learning in class.
Nonetheless, the pilot also showed some limitations of the two SDL books such as poor time allocation
between different activities in each lesson or some vague instructions in some lessons. The valuable
comments and suggestions were considered and followed before the time when two SDL books were
submitted to Ministry of Health. The two books were approved by the Technical Committee of the
Ministry of Health in October 2009. The Department of Science and Training, Ministry of Health,
has encouraged teachers in all secondary medical schools and medical colleges throughout the
country to use those books in their teaching.

Key words: self-directed learning, professional secondary education, case study.
Tác giả:
(*) Trường Đại học Y tế Công cộng:
- Ths. Lê Thò Thanh Hương, Phó trưởng Bộ môn Sức khỏe môi trường
- Ths. Phạm Phương Liên, Giảng viên Bộ môn Quản lý Dược
- PGS.TS. Bùi Thò Thu Hà, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế Công cộng
(**) Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam
- TS. Pamela Wright: Trưởng Đại diện Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam tại Việt Nam
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 11
12 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
1. Đặt vấn đề
Trong lónh vực giáo dục y học, tự học có hướng
dẫn (THCHD) được áp dụng cách đây khoảng 4 thế
kỷ và được áp dụng cho cả bậc học đại học và sau
đại học cũng như những người đã đi làm [2].
THCHD được hiểu là "một quá trình mà các cá nhân
sử dụng những biện pháp có hoặc không có sự giúp
đỡ của người khác để xác đònh nhu cầu học tập của
mình, xây dựng mục tiêu học tập, xác đònh các
nguồn lực và vật liệu để học tập, chọn lựa và sử
dụng những chiến lược học tập cũng như đánh giá
đầu ra của quá trình học tập" [4]. THCHD cũng đã
được chứng minh là hiệu quả khi áp dụng trong thời
gian dài, những học viên ở những năm học sau có
kết quả học tập tốt hơn những học viên năm đầu [5].
Quá trình "tự đònh hướng" trong THCHD được gọi
là quá trình trưởng thành trong học tập [5].
Tại Việt Nam, THCHD đã được đề cập trong
Luật Giáo dục 2005 (Điểm c, Khoản 2, Điều 45).

Khoản 4 của Điều 45 trong Luật Giáo dục 2005
cũng nêu rõ việc áp dụng THCHD cần "phát huy vai
trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học,
coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học" [1]. Nội
dung này trong Luật hoàn toàn phù hợp với các yêu
cầu về tính chất, đặc điểm của THCHD gồm: (1)
Xác đònh các mục tiêu học tập của người học [6]; (2)
Những người học có thể tự giúp nhau bằng cách đặt
những câu hỏi, thông qua đó khuyến khích được
người học đọc thêm tài liệu, khuyến khích họ tự
học, và khuyến khích họ đọc thêm những tài liệu
không bắt buộc [2]; và (3) Thiết kế các hạng mục
câu hỏi về THCHD để những người học có trình độ
sau đại học đánh giá quá trình học tập của họ cũng
như xác đònh các nhu cầu học tập của họ [3].
Nhằm đáp ứng với nhu cầu thực tế của các giáo
viên giảng dạy khối ngành trung cấp chuyên nghiệp
nhóm ngành sức khỏe của các trường cao đẳng/
trung cấp y tế về sử dụng các phương pháp dạy-học
tích cực, trong giai đoạn 2006 - 2008, Trường
ĐHYTCC phối hợp với 6 trường cao đẳng/ trung cấp
y tế triển khai xây dựng hai cuốn tài liệu tự học có
hướng dẫn dành cho giáo viên giảng dạy môn học
"Quản lý và Tổ chức y tế" và "Kỹ năng giao tiếp và
Giáo dục sức khỏe". Nội dung chính của hai cuốn tài
liệu là hướng dẫn các giáo viên cách soạn từng bài
học trong hai môn học nói trên theo phương pháp
dạy-học tích cực, mỗi bài chia thành từng hoạt động
rõ ràng, có phân bổ thời gian và hướng dẫn soạn nội
dung giảng dạy cho từng phần. Nhằm hoàn thiện hai

cuốn tài liệu trước khi phát hành rộng rãi, được sự
đồng ý của Vụ Khoa học và Đào tạo - Bộ Y tế,
Trường ĐHYTCC phối hợp với 12 trường cao đẳng/
trung cấp y tế trong toàn quốc triển khai thí điểm
việc các giáo viên áp dụng hai cuốn tài liệu này
trong giảng dạy hai môn học "Quản lý và Tổ chức y
tế" và "Kỹ năng giao tiếp và Giáo dục sức khỏe".
Bài báo này tìm hiểu sự chấp nhận của giáo
viên và học sinh trong quá trình áp dụng triển khai
thử nghiệm hai cuốn THCHD tại 12 trường cũng
như xem xét tính khả thi của việc áp dụng triển khai
hai cuốn tài liệu này trên phạm vi toàn quốc.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương
pháp đònh lượng và đònh tính, được triển khai trên
phạm vi các trường cao đẳng và trung cấp y tế thuộc
12 tỉnh thành: Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang,
Vónh Phúc, Hòa Bình, Sơn La, Khánh Hòa, Bình
Đònh, Lâm Đồng, Gia Lai, Đồng Tháp và Vónh
Long trong năm học 2008 - 2009. Các đối tượng
tham gia nghiên cứu gồm: giáo viên giảng dạy hai
môn học "Quản lý và Tổ chức y tế" (sau đây gọi tắt
là Môn 1) và "Kỹ năng giao tiếp và Giáo dục sức
khỏe" (sau đây gọi tắt là Môn 2) và học sinh thuộc
hệ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp các ngành điều
dưỡng, điều dưỡng nha khoa, dược só, y só đa khoa
và y só y học cổ truyền.
Thông tin đònh tính thu thập qua phỏng vấn sâu
với giáo viên của 12 trường (mỗi trường 2 giáo viên
tham gia giảng dạy Môn 1 và Môn 2) và thảo luận

nhóm với các nhóm học sinh tham gia và học tập hai
môn học nói trên.
Thông tinh đònh lượng thu thập qua bộ câu hỏi
phát vấn với toàn bộ học sinh tham gia học tập hai
môn học này trong quá trình triển khai thí điểm hai
cuốn tài liệu THCHD vào buổi kết thúc môn học.
Số liệu đònh lượng sau khi được thu thập được
nhập bằng phần mềm Epi-Data 3.0 và được phân
tích bằng phần mềm SPSS 14.0. Số liệu đònh tính
được gỡ băng, phân tích theo chủ đề.
3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
3.1. Thông tin chung về đối tượng tham gia
nghiên cứu
Trong số 24 giáo viên tham gia phỏng vấn sâu,
hầu hết đều có trình độ đại học (y, y tế công cộng)
trở lên. Một nửa số giáo viên đã từng tham gia giảng
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 12
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26) 13
dạy 2 môn học này trước khi quá trình thử nghiệm
diễn ra. Một số giáo viên còn rất trẻ và chưa có kinh
nghiệm giảng dạy nhiều, thậm chí có người còn
chưa từng đứng lớp trước đó.
Trong tổng số 967 học sinh tham gia trả lời phát
vấn có 503 em học Môn 1 (chiếm tỉ lệ 52,0%) và
464 em học Môn 2 (chiếm tỉ lệ 48,0%). Tỉ lệ học
sinh điều dưỡng trung cấp chiếm 57,2%, dược só
trung cấp chiếm 13,5% và y só chiếm 16,9%.
3.2. Sự ủng hộ của giáo viên đối với hai
cuốn tài liệu hướng dẫn giáo viên

3.2.1. Lợi ích của tài liệu THCHD trong việc hỗ
trợ giáo viên soạn bài trước khi lên lớp
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy mặc dù chưa
từng áp dụng tài liệu THCHD trước đó, các đối
tượng tham gia nghiên cứu đều cho rằng nội dung
của hai cuốn tài liệu này rất chi tiết và cụ thể tới
từng hoạt động của các bài học, thậm chí còn cung
cấp cả các ví dụ và nội dung soạn bài trên các slide
để giảng dạy nên dễ áp dụng. Vì vậy các giáo viên
sẽ cảm thấy dễ dàng hơn khi sử dụng hai cuốn tài
liệu này trong quá trình giảng dạy Môn 1 và Môn
2, kể cả những giáo viên trẻ, mới ra trường và ít kinh
nghiệm giảng dạy.
"Không, cuốn tài liệu này đâu có khó dùng. Các
hướng dẫn rất rõ ràng đấy chứ, nó còn được chia
thành các hoạt động và có chia cả thời gian cho từng
hoạt động còn gì. Nhờ đó, em có thể sử dụng nó
trong việc lên lớp của em" (TC5-S2).
Có một ý kiến được ghi nhận từ phía giáo viên
về hạn chế của hai cuốn tài liệu này. Do hướng dẫn
quá cụ thể, chi tiết tới từng hoạt động và mỗi hoạt
động lại được phân bổ một thời gian nhất đònh, thậm
chí các slide giảng dạy trên lớp cũng được soạn sẵn
ở phần cuối của từng cuốn tài liệu nên việc áp dụng
hai cuốn THCHD của hai môn học này sẽ làm giảm
tính sáng tạo của giáo viên. Tuy nhiên, các đối
tượng còn lại đều cho rằng đây là hai cuốn tài liệu
có giá trò, vì giáo viên trẻ, ít kinh nghiệm có thể áp
dụng trực tiếp các nội dung hướng dẫn trong đó vào
bài giảng của mình, trong khi những giáo viên có

kinh nghiệm có thể sử dụng hai cuốn sách này như
là tài liệu tham khảo, hoặc dựa vào nội dung của hai
cuốn tài liệu này để xây dựng và phát triển ý tưởng
giảng dạy của mình.
"Tôi thì tôi cho rằng nó (hai cuốn tài liệu) chỉ là
một dạng hướng dẫn thôi. Tôi thấy các thông tin
trong đó chỉ ở dạng hướng dẫn mình làm từng bước,
từng bước một. Và tôi nghó là tất cả các giáo viên nếu
sử dụng nó (hai cuốn tài liệu) có thể áp dụng kinh
nghiệm của mình trong từng bước (hoạt động) một.
Tuy nhiên, tôi nghó là sẽ dễ hơn nếu như một số em
trẻ chỉ thực hiện theo các hoạt động được viết trong
sách" (CD2 - S1).
"Bộ môn tôi có hai giáo viên trẻ. Khi hai em đó sử
dụng tài liệu này, tôi thấy các em có vẻ rất thích vì em
nó áp dụng được tất cả các hoạt động liệt kê trong đó
(hai cuốn tài liệu). Tôi cho rằng hai cuốn tài liệu này
là công cụ hữu hiệu cho các em đó nó bổ sung những
gì nó còn thiếu và cũng để giúp cân bằng giữa giáo
viên có kinh nghiệm và chưa có nhiều kinh nghiệm
trong giảng dạy hai môn học này) (TC6 - S1).
Khi được yêu cầu so sánh mức độ dễ dàng trong
quá trình soạn bài giảng trước và sau khi áp dụng
hai cuốn tài liệu THCHD trong giảng dạy Môn 1 và
Môn 2, hầu hết các giáo viên cho rằng việc sử dụng
cuốn tài liệu giúp họ cảm thấy dễ dàng hơn khi soạn
bài, đặc biệt là những phần hướng dẫn việc tổ chức
các hoạt động dạy-học tích cực như thảo luận nhóm,
các trò chơi, hay phần thực hành tư vấn (đóng vai)
trên lớp.

"Nhìn chung là tôi cảm thấy việc soạn bài trở
nên dễ dàng hơn rất nhiều, Trước đây, khi chưa có
tài liệu này, tôi gặp nhiều khó khăn trong khâu soạn
bài, vì tôi chả biết gì về thảo luận nhóm, độ dài ngắn
của cuộc thảo luận ra sao, chia nhóm như nào cho
phù hợp. Do vậy tôi chỉ thực hiện những hoạt động
mà tôi có thể làm và lờ đi những hoạt động khác. Đôi
khi một bài học cần phải tổ chức tới hai trò chơi
nhưng tôi cũng chỉ làm một là cùng. Nhưng giờ thì
khác, với cuốn sách này tôi thấy mọi thứ dễ hơn,
hướng dẫn thì cụ thể nên tôi có thể áp dụng các
phương pháp dạy-học tích cực" (CD4 - S1).
3.2.2. Nhận đònh của giáo viên về mức độ hứng thú
của học sinh khi giáo viên sử dụng hai cuốn tài liệu
THCHD vào quá trình giảng dạy Môn 1 và Môn 2
Các giáo viên tham gia phỏng vấn đều thừa
nhận các phương pháp dạy-học tích cực mà họ áp
dụng trong quá trình triển khai thử nghiệm tài liệu
làm cho học sinh trở nên hứng thú hơn trong học tập.
Theo họ, trước đây học sinh chỉ quan tâm tới các
môn học chuyên ngành mà không quan tâm tới hai
môn học bổ trợ này. Kể từ khi các giáo viên áp dụng
tài liệu THCHD trong quá trình giảng dạy Môn 1 và
Môn 2, không khí dạy và học trong lớp đã được cải
thiện đáng kể. Học sinh của họ đã được lôi cuốn vào
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 13
14 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
không khí lớp học, và các em có thể trao đổi ý kiến
của mình cũng như đóng góp vào các hoạt động của

lớp học. Sự tham gia nhiệt tình của học sinh vào các
hoạt động dạy-học chính là động lực của giáo viên
trong những buổi giảng tiếp theo.
"Tôi quan sát và thấy rằng học sinh rất hứng thú
với phương pháp này (dạy-học tích cực), điều đó có
nghóa là những gì tôi vừa áp dụng trong mấy bài học
vừa rồi đã khơi gợi sự tham gia của học sinh một
cách đáng kể. Nhìn chung tôi thấy các em rất thích
phương pháp mới này" (CD2-S2).
3.2.3. Một số điểm hạn chế của tài liệu hướng
dẫn theo quan điểm của giáo viên
Theo kết quả nghiên cứu, hai cuốn tài liệu này
còn bộc lộ một điểm hạn chế lớn là việc phân bổ
thời gian giữa các hoạt động chưa hợp lý, có hoạt
động được phân bổ dư thời gian nhưng cũng có
những hoạt động bò thiếu thời gian. Nếu theo đúng
hướng dẫn, rất có khả năng có giáo viên sẽ bò "cháy
giáo án". Các hoạt động thừa thời gian thường liên
quan tới việc trình bày ngắn, hoặc yêu cầu học sinh
đọc một số nội dung, trong khi những hoạt động
thiếu thời gian liên quan tới việc tổ chức các hoạt
động như thảo luận nhóm, thực hiện trò chơi.
Bên cạnh đó, bài "Lập kế hoạch y tế" của Môn
1 và "Lập kế hoạch một buổi truyền thông giáo dục
sức khỏe" ở Môn 2 được một số đối tượng nghiên
cứu cho rằng "phần hướng dẫn thực hiện một số
hoạt động giảng dạy chưa cụ thể".
3.3. Phản hồi của học sinh đối với việc áp dụng
phương pháp dạy-học tích cực của các giáo viên
trong giảng dạy hai môn học nói trên

Các ý kiến phản hồi của học sinh được thu thập
qua Bộ câu hỏi phát vấn. Kết quả về tỉ lệ học sinh
cảm nhận sự khác biệt về phương pháp giảng dạy
tích cực được các thầy cô áp dụng trong hai môn học
này so với các phương pháp giảng dạy truyền thống
trước đây cũng như được khuyến khích học tập được
trình bày ở Biểu đồ 1.
Kết quả Biểu đồ 1 cho thấy, hầu hết học sinh
tham gia hai môn học đều có cảm nhận khá tích cực
về phương pháp giảng dạy hai môn học mà các thầy
cô giáo áp dụng cũng như sự khuyến khích tham gia
học sinh học tập của các thầy cô giáo. Trong tổng
số 503 học sinh tham gia học Môn 1, có tới 95,2%
học sinh cảm thấy có sự khác biệt về phương pháp
giảng dạy mà các giáo viên áp dụng cho môn học
này so với môn học khác, trong khi có 91,3% học
sinh cho rằng mình được khuyến khích tham gia học
tập khi học môn học này. Trong khi đó, với tổng số
464 học sinh tham gia học Môn 2, có 91,8% số học
sinh cảm thấy có sự khác biệt về phương pháp giảng
dạy và 92,7% cảm thấy được khuyến khích tham gia
học tập.
Học sinh cũng được yêu cầu liệt kê những lý do
mà các em cảm thấy có sự khác biệt về phương pháp
dạy-học so với những môn khác cũng như những lý
do mà học sinh cảm thấy được khuyến khích tham
gia học tập ở hai môn học này. Các kết quả lần lượt
được trình bày ở Biểu đồ 2 và Biểu đồ 3.
Kết quả Biểu đồ 2 cho thấy số học sinh cảm
nhận có sự khác biệt về phương pháp dạy-học tích

cực là khá cao. 70,8% số học sinh tham gia học Môn
1 cảm thấy sự khác biệt về phương pháp giảng dạy
ở môn này so với các môn học khác mà các em đã
được học là do giáo viên áp dụng nhiều phương
pháp dạy-học tích cực như trò chơi, thảo luận nhóm,
động não, bài tập tình huống, v.v… Tỉ lệ này ở Môn
2 là 63,1%. 55,1% số học sinh cảm thấy ở môn này
có sự nhiệt tình của giáo viên cũng như môi trường
học tập thân thiện hơn. Tỉ lệ này ở Môn 2 thấp hơn
(48,9%). Bên cạnh đó, việc trao đổi giữa giáo viên
và học sinh được đánh giá là dễ dàng hơn. Ngoài ra,
Biểu đồ 1. Tỉ lệ học sinh cảm nhận sự khác biệt về
phương pháp giảng dạy và được khuyến
khích tham gia học tập ở hai môn học
Biểu đồ 2. Lý do học sinh cảm nhận có sự khác biệt về
phương pháp dạy-học của hai môn học (Môn
1 và Môn 2) so với những môn học khác.
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 14
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26) 15
một điểm khác biệt của hai môn học này so với các
môn học khác là việc giáo viên hỗ trợ sự tham gia
chủ động của học sinh trong học tập cũng được học
sinh ghi nhận (18,3% ở Môn 1 và 14,0% ở Môn 2).
Không có sự khác biệt có ý nghóa thống kê về lý do
cảm nhận có sự khác biệt giữa hai môn học.
Biểu đồ 3 trình bày các lý do chính mà học sinh
cảm thấy được khuyến khích khi tham gia học tập
hai môn học này. Hơn ½ số học sinh ở Môn 1 thấy
được khuyến khích khi tham gia học môn này do

giáo viên áp dụng các phương pháp dạy-học tích
cực, trong khi tỉ lệ này ở Môn 2 là 43,1%. Tỉ lệ học
sinh cảm thấy được khuyến khích khi tham gia học
tập bởi sự nhiệt tình của giáo viên và môi trường
học tập thân thiện là tương đương nhau ở 2 môn, lần
lượt là 45,5% ở Môn 1 và 43,8% ở Môn 2. Tỉ lệ học
sinh ở cả hai môn học cảm thấy được khuyến khích
với việc trao đổi dễ dàng với giáo viên và việc giáo
viên hỗ trợ sự tham gia chủ động của học sinh khá
thấp. Không có sự khác biệt có ý nghóa thống kê
được ghi nhận giữa tỉ lệ học sinh cảm thấy được
khuyến khích tham gia học tập bởi những lý do
tương đồng giữa hai môn học.
Thông tin đònh tính thu được từ các cuộc thảo
luận nhóm phù hợp với kết quả phân tích trên. Học
sinh cảm thấy hứng thú với phương pháp học tập
mới, nhờ đó giúp các em nhớ được nội dung chính
của bài học dễ dàng hơn. Đặc biệt, với môi trường
học tập mà các giáo viên áp dụng trong hai môn
học này, các em có thể trao đổi với giáo viên những
nội dung mà mình cảm thấy khó hiểu, điều này là
hoàn toàn khác so với những gì các em đã được học
trước đó.
"Đây là lần đầu tiên chúng em được học bằng
phương pháp mới này, và em nghó rằng phương pháp
này có thể giúp chúng em tham gia chủ động hơn
trong lớp. Chúng em cũng thấy mình có thể nhớ được
các nội dung chính của bài học. Mà trong môn học
này, chúng em thấy môi trường học tập khá thân
thiện, vì chúng em có thể thảo luận trực tiếp với các

thầy cô, trước đây bọn em không bao giờ hỏi cả, ngại
lắm. Giờ chúng em có thể hỏi các thầy cô những gì
chúng em chưa hiểu, và nhờ thế mà chúng em có thể
có kỹ năng giao tiếp tốt hơn cô ạ" (TC3-TL1).
"Khi thầy cô giảng đòi hỏi bọn em phải nghe rất
chú ý, và thầy cô cũng yêu cầu chúng em nói trước
lớp những gì chúng em nghó, cũng như hỏi thầy cô
những gì chúng em chưa hiểu" (TC1 - TL2).
Một số điểm hạn chế cũng được học sinh ghi
nhận hoàn toàn tương đồng với ý kiến của các giáo
viên. Học sinh cho rằng sự phân bổ thời gian của
một số hoạt động là một hạn chế khá rõ của hai cuốn
tài liệu. Theo học sinh, những hoạt động đơn giản
như tự đọc tài liệu trên lớp, đọc to trước lớp v.v…
không cần phân bổ quá nhiều thời gian. Trong khi
đó, một số hoạt động khác cần sự tham gia của
nhiều học sinh như thảo luận nhóm, động não… lại
cần phân bổ nhiều thời gian hơn.
"Vì thời gian ngắn quá nên không phải ai trong
lớp em cũng có cơ hội được phát biểu, những bạn
nhút nhát thì càng không ạ. Em nghó với phương
pháp học tập này thì tốt nhất là mọi người đều được
phát biểu. Đôi khi các thầy cô lại yêu cầu bọn em tự
học một số nội dung, nhưng em nghó là tất cả nên
được học trên lớp" (TC6 - TL2).
"Với cái hoạt động đó, cô giáo yêu cầu bọn em
đọc một đoạn ngắn trong vòng từ 5 đến 10 phút,
nhưng bọn em chỉ đọc có 2 đến 3 phút đã xong rồi"
(TC1 - TL2).
3.4. Khả năng áp dụng triển khai việc sử

dụng hai cuốn tài liệu THCHD cho hai
môn học "Quản lý và Tổ chức y tế" và "Kỹ
năng giao tiếp và Giáo dục sức khỏe" trên
toàn quốc
Tất cả các giáo viên tham gia phỏng vấn đều
được yêu cầu trả lời câu hỏi liệu có khả năng nhân
rộng hai cuốn tài liệu này ra phạm vi toàn quốc hay
không. Rất nhiều câu trả lời mang tính tích cực từ
phía các giáo viên đã được ghi nhận. Theo ý kiến
các giáo viên, nếu như Bộ Y tế cho phép triển khai
áp dụng hai cuốn tài liệu này trên phạm vi toàn
quốc thì sẽ rất hữu ích cho các giáo viên, bởi đây là
hai cuốn tài liệu hữu ích, đặc biệt giúp ích cho
những giáo viên trẻ khi tham gia giảng dạy hai môn
Biểu đồ 3. Lý do học sinh cảm thấy được khuyến
khích khi tham gia học tập hai môn học
(Môn 1 và Môn 2)
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 15
16 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
học này. Việc áp dụng phương pháp dạy-học tích
cực đòi hỏi một số phương tiện giảng dạy hiện đại
như máy chiếu đa chức năng, máy chiếu qua đầu,
v.v… và không phải trường nào cũng có điều kiện sử
dụng những trang bò hiện đại này. Tuy nhiên hai
cuốn tài liệu THCHD cũng đề cập tới việc sử dụng
các vật liệu thay thế, chẳng hạn như giấy khổ lớn
A0 có thể sử dụng thay cho máy chiếu đa chức năng
hoặc máy chiếu qua đầu. Do vậy, tất cả các giáo
viên tham gia phỏng vấn đều cho rằng có thể triển

khai nhân rộng việc sử dụng hai cuốn sách này trong
toàn quốc. Các giáo viên còn đề nghò việc phát triển
những cuốn tài liệu hướng dẫn giáo viên tương tự
cho những môn học khác.
"Tôi cho rằng hai cuốn sách này (tài liệu
THCHD) sẽ dễ dàng được các giáo viên chấp nhận
và ủng hộ, chắc chắn họ sẽ thích hai cuốn này vì nó
dễ sử dụng và dễ thực hiện. Tôi nghó nếu như có thể
xây dựng những cuốn tương tự như thế này cho các
môn học khác cho các giáo viên sử dụng thì sẽ tốt
biết bao" (CD2 - S1).
4. Kết luận
4.1. Sự chấp nhận của giáo viên đối với hai
cuốn tài liệu tự học có hướng dẫn dành cho
giáo viên giảng dạy Môn 1 và Môn 2
- Tài liệu THCHD của hai môn học là công cụ
hữu ích để hỗ trợ các giáo viên soạn bài trước khi
lên lớp.
- Tài liệu hướng dẫn cụ thể cách tổ chức thực
hiện một số hoạt động thường gặp trong dạy-học
tích cực như thảo luận nhóm, đóng vai, động não,
thực hiện trò chơi, v.v…
- Mặc dù hướng dẫn khá cụ thể, tỉ mỉ và phù hợp
cho những đối tượng giáo viên ít kinh nghiệm,
nhưng tài liệu không bó buộc tính chủ động, sáng
tạo của những giáo viên có kinh nghiệm hơn vì các
nội dung hướng dẫn chỉ là những gợi ý, giáo viên có
thể vận dụng kinh nghiệm của mình vào quá trình
giảng dạy.
- Giáo viên nhận đònh học sinh hào hứng hơn khi

tham gia các giờ học.
4.2. Phản hồi của học sinh đối với việc áp
dụng phương pháp dạy-học tích cực của các
giáo viên trong giảng dạy hai môn học nói
trên
- Học sinh cảm thấy có sự khác biệt giữa phương
pháp giảng dạy của hai môn học này (Môn 1 và
Môn 2) với các môn học đã học
- Học sinh cảm thấy được khuyến khích tham
gia học tập hai môn học này so với các môn học
khác do được học phương pháp dạy-học tích cực của
giáo viên và sự nhiệt tình của giáo viên cũng như
môi trường học tập thân thiện
4.3. Nhược điểm của hai cuốn tài liệu trên
quan điểm của giáo viên và học sinh
- Phân bổ thời gian giữa các hoạt động chưa hợp
lý.
- Một số hướng dẫn trong một số hoạt động chưa
cụ thể (bài Lập kế hoạch y tế ở Môn 1 và bài Lập
kế hoạch một buổi truyền thông giáo dục sức khỏe
ở Môn 2).
4.4. Khả năng nhân rộng hai cuốn tài liệu
ra phạm vi toàn quốc
- Nếu được nhân rộng trên toàn quốc, hai cuốn
tài liệu sẽ rất hữu ích cho giáo viên, đặc biệt là giáo
viên ít kinh nghiệm trong quá trình chuẩn bò bài
trước khi lên lớp.
Hai cuốn tài liệu THCHD cho giáo viên giảng
dạy Môn "Quản lý và Tổ chức Y tế" và Môn "Kỹ
năng giao tiếp và Giáo dục sức khỏe" sau khi thử

nghiệm đã tiếp thu những ý kiến đóng góp tích cực
của các giáo viên và học sinh để chỉnh sửa. Hội
đồng chuyên môn thẩm đònh sách và tài liệu dạy -
học trung cấp chuyên nghiệp của Bộ Y tế thẩm đònh
và thông qua vào tháng 10/2009 và khuyến khích
giáo viên tại các trường cao đẳng, trung cấp y tế
trong toàn quốc sử dụng trong quá trình giảng dạy
hai học phần "Kỹ năng giao tiếp và giáo dục sức
khỏe" và "Quản lý và Tổ chức y tế". Nếu có điều
kiện, Bộ Y tế nên chỉ đạo và dành một khoản kinh
phí nhất đònh để hỗ trợ các trường xây dựng những
cuốn tài liệu hướng dẫn giáo viên tương tự cho các
học phần khác trong chương trình giáo dục trung
cấp chuyên nghiệp ngành y tế.
Lời cảm ơn:
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Chính phủ
Hoàng gia Hà Lan đã tài trợ kinh phí trong quá trình
xây dựng và thử nghiệm hai cuốn tài liệu này. Xin
cảm ơn sự đóng góp, hỗ trợ về mặt chuyên môn của
Vụ Khoa học và Đào tạo (Bộ Y tế), cũng như sự
tham gia nhiệt tình của các thầy cô giáo và học sinh
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 16
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2012, Số 26 (26) 17
tại các Trường Trung cấp/Cao đẳng y tế: Quảng
Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Vónh Phúc, Hòa Bình,
Sơn La, Khánh Hòa, Bình Đònh, Lâm Đồng, Gia
Lai, Đồng Tháp, Vónh Long.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt

1. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2005). Luật Giáo
dục, 38/2005/QH11.
Tiếng Anh
2. Beckman TJ, Lee MC, Rohren CH, Pankratz, VS (2003).
Evaluating an instrument for the peer review of inpatient
teaching. Med Teach, 25(2),131-135.
3. Deans SJ, Barratt AL, Hendry GD, Lyon PM (2003).
Preparedness for hospital practice among graduates of a
problem-based, graduate-entry medical program. Med J
Aust, 178(4),163-166.
4. Knowles, M. S. (1975). Self-directed learning: A guide
for learners and teachers. Englewood Cliffs: Prentice
Hall/Cambridge, page 18.
5. Kocaman G, Dicle A, Ugur A (2009). A longitudinal
Analysis of the Self-Directed Learning Rediness Level of
Nursing Students Enrolled in a Problem-Based Curriculum.
Journal of Nursing Education, 48(5), 286-290.
6. Sanson-Fisher RW, Rolfe IE, Jones P, Ringland C, Agrez
M. (2002). Trialling a new way to learn clinical skills:
systematic clinical appraisal and learning. Med Educ,
36(11), 1028-1034.
Ytcc so 26.qxp 12/4/2012 9:55 PM Page 17

×