Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (237.36 KB, 27 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Lời Mở đầu
Bước sang thế kỉ 21 xu thế quốc tế hoá ngày càng mạnh mẽ, phân
công lao động ngày càng sâu sắc, hầu hết các quốc gia đều mở cửa nền kinh tế
để tận dụng triệt để hiệu quả lợi thế so sánh của nước mình.Việt Nam đang trong
giai đoạn đầu của q trình thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước thì
ngành dệt may là một ngành đóng vai trị quan trọng khơng thể thiếu trong cơng
cc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh vai trị cung cấp hàng
hố cho thị trường trong nước, ngành dệt may hiện nay đã vươn ra các thị
trường nước ngồi, ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Với tốc độ tăng trưởng và khả năng mở rộng xuất khẩu của ngành,
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy cần thúc đẩy hơn nữa xuất khẩu dệt may và
các mặt hàng khác vì đó là giải pháp tốt nhất cho nền kinh tế của nước ta. Nhà
nước đã kịp thời có những quy định nhằm tạo thuận lợi cho sản xuất hàng xuất
khẩu, cụ thể là chiến lược phát triển kinh tế theo hướng thị trường mở, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh cơng nghiệp hố-hiện đại hố đất nước. Chính
nhờ những chính sách và những quy định mới đó đã đưa lại cho ngành dệt may
những động lực và định hướng phát triển mới.
Với xu hướng phát triển không ngừng của ngành dệt may Việt Nam
trong môi trường kinh tế thế giới nhiều biến động thì đây chính là một sự kiện
đáng mừng. Trước những thành quả to lớn đáng tự hào đó, tác giả đã chọn đề
tài: "Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển ngành dệt may xuất khẩu
Việt Nam" với mục đích phân tích thực trạng của ngành dệt may Việt Nam, xu
hướng của thị trường dệt may thế giới đánh giá những thuận lơị khó khăn của
ngành dệt may trong tình hình hiện nay từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp để
nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng này.

1



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

II.nội dung.
Chương I
Khái quát về ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam

I. Vài nét về ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
1.Tầm quan trọng của ngành dệt may:Dệt may Việt Nam – mũi nhọn xuất khẩu
Kinh tế đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu ăn mặc khơng chỉ
dừng lại ở chỗ chỉ để phục vụ cho việc bảo vệ cơ thể, sức khoẻ con người mà
còn để làm đẹp thêm cho cuộc sống .Thêm nữa,dệt may là ngành “tiên phong”
trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ra thị trường thế giới, thu về cho
đất nước một lượng ngoại tệ khá lớn.Nhiều năm qua đã cho thấy đây là ngành có
đóng góp lớn và ổn định vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của cả nước.
Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn
nhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong và
ngồi nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Trong hơn 10 năm qua ngành dệt may xuất khẩu đã trở thành một ngành
công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, có những bước tiến bộ vượt
bậc trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân là 24,8%/năm,
vượt lên đứng ở vị trí thứ nhất trong cả nước về kim ngạch xuất khẩu, vượt cả
qua ngành dầu khí. Mặt hàng dệt may đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế, góp phần thúc
đẩy nhanh tự do hố thương mại. Hơn 10 năm qua ngành đã thu hút hơn nửa
triệu lao động trong cả nước. Mặt khác nhờ có sự tăng trưởng mạnh của xuất
khẩu nên đã đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đồng thời góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hoá.

2



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Vị trí của ngành dệt may xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
Chỉ số
1.GDP
2.CNN
3.Ngành dệt may
4.Tỉ lệ 3/2
5.Tỉ lệ 3/1
6. Tổng giá trị XK
7.XK dệt may
8.Tỷ lệ 7/6

Đơn vị
1995
Tỷ VNĐ 228,892
Tỷ VNĐ
34,318
Tỷ VNĐ
3,100
%
9,03
%
1,4
Triệu USD
5.449
Triệu USD
850
%

15,6

1999
339,942
70,767
7,700
10,88
1,9
11.540
1.747
15,1

2000
444,139
82,992
9,120
11,0
2,1
14.308
1.892
13,2

2001
474,340
94,780
10,260
10,8
2,1
15.810
1.962

12,4

Nguồn: Theo thống kê của Hiệp hội VITAS, năm 2001
2.Quá trình hình thành và phát triển của ngành
a.Lịch sử hình thành dệt may ở Việt Nam
Mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của ngành dệt may là vào thế
kỉ 18 khi máy dệt ra đời ở nước Anh và từ đó sức lao động đã được thay bằng
máy móc nên năng suất dệt vải tăng chưa từng thấy trong lịch sử loài người.
ở Việt Nam,trước đây, vào thời phong kiến ngành dệt may đã hình thành
từ ươm tơ, dệt vải với hình thức đơn giản thô sơ nhưng mang đầy kĩ thuật tinh
sảo và có giá trị rất cao. Sau đó ươm tơ dệt vải đã trở thành một nghề truyền
thống của Việt Nam được truyền từ đời này qua đời khác nhờ vào những đôi bàn
tay khéo léo của người phụ nữ Việt Nam. Dù những cơng việc đó rất giản đơn
nhưng đã tạo ra một phong cách rất riêng cho ngành dệt may Việt Nam ta mà
khơng một nước nào có được.
Ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam bắt đầu phát triển từ những
năm 1958 ở miền Bắc và đến năm 1970 ở miền Nam, nhưng mãi tới năm 1975
khi đất nước thống nhất, ngành dệt may mới được ổn định. Nhà máy được hình
thành ở 3 miền: miền Bắc, miền Trung và miền Nam.
Lúc đầu, các nhà máy chỉ sản xuất hàng hoá để phục vụ nhu cầu trong
nước. Sản lượng sản xuất ra khơng nhiều vì lúc đó máy móc, thiết bị cịn lạc hậu
nhập từ các nước xã hội chủ nghĩa,trình độ quản lý cũng cịn rất hạn chế,không
3


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng, mẫu mã mà còn nghèo nàn ít ỏi.
Thời kì từ năm 1975 đến năm 1985,xuất khẩu trong giai đoạn này chỉ
thực hiện trong khuôn khổ Hiệp định và Nghị định thư của nước ta kí kết với

khu vực Đông Âu - Liên Xô trước đây. Do đó ngành dệt may Việt Nam xuất
khẩu đi nước ngồi chủ yếu là sang thị trường Liên Xơ và thị trường Đông Âu.
Đến cuối năm 1990, khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa bị tan rã,
nước ta rơi vào thế hồn tồn cơ lập. Nền kinh tế nước ta trở nên đình trệ, thất
nghiệp tăng, nhiều xí nghiệp bị đóng cửa, ngành dệt may cũng khơng thốt khỏi
tình trạng này.
Cùng thời gian đó Đảng và Nhà nước ta bắt đầu chính sách đổi mới
nền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang cơ chế quản lý tự hạch toán kinh
doanh xã hội chủ nghĩa. Thời kì này, ngành dệt may gặp nhiều khó khăn phải
đối mặt với việc: thiếu vốn, thiếu công nghệ, đặc biệt thiếu đối tác đầu mối tiêu
thụ hàng hoá.
b.Sự phát triển
Giai đoạn 1990 - 1995 nhờ có chính sách phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành dệt may
Việt Nam. Mặc dù phát triển chậm hơn so với các nước láng giềng Châu á,
nhưng ngành đã tự đứng dậy vươn lên, phát triển một cách đầy ấn tượng. Bước
đầu năm 1993 kim ngạch xuất khẩu đạt 350 triệu USD và đến cuối năm 1997
xuất khẩu đạt 1,35 tỷ USD. Không dừng lại ở con số này, hàng dệt may xuất
khẩu đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam nằm
trong chiến lược phát triển CNH, HĐH của đất nước trong thời gian tới.
Đặc biệt ngày 23 tháng 4 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã phê
duyệt chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2010 theo QĐ số
55/2001/QĐ-TTg. Với chiến lược này ngành dệt may có nhiều cơ hội mới để
phát triển đó là: Chính phủ có nhiều chính sách đầu tư hỗ trợ, khuyến khích phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh như được hưởng ưu đãi về tín dụng đầu tư,
được Ngân hàng đầu tư và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh
4


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


bảo lãnh hoặc cho vay tín dụng xuất khẩu, cho vay đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh với lãi suất ưu đãi, được hưởng thuế thu nhập ưu đãi 25%. Hiện nay,
ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam đang từng bước đổi mới để hội nhập vào xu
thế tồn cầu hố của cả thế giới.

5


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Chương II .hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may
xuất khẩu Việt Nam.
I.thực trạng về ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam.
1.Thực trạng
Việt Nam hiện có hơn 1000 nhà máy dệt may, thu hút trên 50 vạn lao
động, chiếm đến 22% tổng số lao động trong tồn ngành cơng nghiệp. Sản
lượng sản xuất hàng năm tăng trên 10% nhưng quy mơ cịn nhỏ bé, thiết bị và
cơng nghệ khâu kéo sợi và dệt vải lạc hậu, không cung cấp được vải cho khâu
may xuất khẩu. Những năm qua, tuy đã nhập bổ sung, thay thế 1.500 máy dệt
không thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện có là 10.500
máy, thì cũng chỉ đáp ứng khoảng 15% cơng suất dệt.
Hình thức tổ chức sản xuất hàng dệt may xuất khẩu
Số doanh nghiệp dệt may trong tồn quốc
Quốc
Đầu tư nớc Hội viên
Tư nhân
doanh
ngồi
Vitas


Khu vực

Tổng

Phía Bắc (28 tỉnh thành)

285

140

106

39

112

2 Miền Trung (7 tỉnh thành)

58

30

19

9

27

3 Miền Nam (26 tỉnh thành)


688

61

324

303

312

1.031

231

449

351

451

1

4

Tổng

Nguồn: Thống kê của VITAS năm 2002
Doanh nghiệp dệt may tồn quốc(theo loại hình sở hữu)
Loại hình sở hữu


Tổng

Dệt

May Thương mại &dịch vụ

Quốc doanh

231

32

139

60

Tư nhân

449

229

65

FDI & Liên doanh

345

114


215

25

Tổng cộng

1.034

273

596

162
6


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Nguồn: Theo số liệu của Hiệp hội VITAS năm 2002
Doanh nghiệp dệt may toàn quốc(theo ngành sản xuất)

1
2
3
4
5

Ngành sản xuất
Tổng

Kéo sợi
99
Dệt thoi
124
Dêt kim
54
May mặc
659
Phụ liệu và các loại
150
khác

Quốc doanh
42
43
26
139

Tư nhân
17
24
9
299

FDI
40*
57*
19
221


60

65

25

Nguồn: Theo số liệu của Hiệp hội VITAS năm 2002
Ngành dệt may xuất khẩu hiện tại sản xuất hàng hố theo 3 phương
thức:
- Hình thức gia cơng xuất khẩu: Đây là hình thức phổ biến nhất hiện
nay đối với ngành dệt may xuất khẩu, 80% hàng may mặc xuất khẩu là gia công
cho các nước Nhật, EU…Thực chất đây là hình thức nhập nguyên phụ liệu,
thậm chí cả kỹ thuật của nước ngồi, thực hiện sản xuất trong nước và sau đó tái
xuất khẩu thành phẩm.
Ưu điểm là huy động được đội ngũ lao động nhàn rỗi, sử dụng được
ngành nghề truyền thống, không cần huy động vốn lớn, tiết kiệm được các chi
phí đào tạo, thiết kế mẫu, quảng cáo, tiêu thụ và tìm kiếm thị trường, khơng phải
chịu rủi ro về tiêu thụ sản phẩm.
Tuy nhiên, có nhược điểm lớn: Giá gia công rẻ mạt do vậy lợi nhuận
thu được từ gia cơng hàng cho nước ngồi là rất ít (giá gia cơng + chi phí quản
lý) so với sức lực bỏ ra.
- Hình thức mua nguyên liệu bán thành phẩm: Hình thức này càng
được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Các doanh
nghiệp nhập khẩu nguyên liệu như vải, sợi, phụ liệu cho hàng may mặc từ nước
ngồi, sau đó tự tổ chức sản xuất trên cơ sở nguyên liệu nhập khẩu về. Khi hoàn

7


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


thành sản phẩm sẽ tìm thị trường tiêu thụ. Hàng sản xuất ra sẽ được mang nhãn
hiệu sản xuất tại Việt Nam.
Hình thức này khắc phục được một số nhược điểm chủ yếu của gia
công sản xuất như: sản phẩm đưa ra thị trường, nếu gặp thuận lợi, giá cả hàng
hoá cao sẽ thu được lợi nhuận lớn, phát huy được năng lực sáng tạo của cán bộ,
tạo được tên tuổi uy tín trên thị trường thế giới.
Nhược điểm là việc nhập khẩu ngun, phụ liệu từ nước ngồi chi phí
rất tốn kém,giá cả của các loại nguyên phụ liệu này thường xuyên biến động
không ổn định và so với những mặt hàng cùng loại mà chúng ta có thể sản xuất
được ở trong nước thì tương đối đắt hơn .
- Hình thức sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước dành cho sản
xuất hàng xuất khẩu: So với 2 hình thức trên, hình thức tự cung này có ưu điểm
nhiều hơn vì tiết kiệm ngoại tệ, sử dụng nguồn nguyên phụ liệu trong nước sẽ
kéo theo rất nhiều ngành nghề khác phát triển tạo đà phát triển ngành công
nghiệp đất nước và thực hiện mục tiêu cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.
Tuy nhiên để đạt được kết quả thì địi hỏi có sự kết hợp của các bộ ngành và sự
đồn kết của các doanh nghiệp trong nước.
Ba hình thức trên đều có ý nghĩa nhất định đối với ngành dệt may Việt
Nam. Gia công xuất khẩu qua nhiều giai đoạn vẫn trở thành hoạt động chủ yếu
của ngành may mặc. Hiện tại khi đất nước còn đang nghèo, các ngành sản xuất
nói chung và ngành dệt may nói riêng vẫn cịn lạc hậu thì phương thức gia cơng
vẫn cịn có ý nghĩa rất to lớn, là bàn đạp để chúng ta thực hiện mục tiêu đến năm
2010. Nếu biết kết hợp một cách nhịp nhàng khéo léo và có hiệu quả cả 3
phương thức trên thì chắc chắn trong thời gian gần ngành dệt may Việt Nam
chúng ta sẽ đạt được mục tiêu đề ra.

Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyền
đồng bộ chuyên sản xuất một mặt hàng như dây chuyền may sơ mi, may quần


8


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

âu, quần Jean, complet, hệ thống giặt là... nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu
cầu xuất khẩu ngày càng cao. Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch cao,
nhưng chủ yếu làm gia công, ngành dệt vẫn nhập khẩu nhiều và nguyên liệu cho
sản xuất của ngành dệt hầu như hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài...
Vấn đề cần quan tâm hiện nay là khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may vào Eu được thực hiện qua các khâu trung gian như Hồng Kơng, Đài Loan,
Hàn Quốc... Vì vậy, làm sao Việt Nam có thể tiếp cận và bán hàng trực tiếp sản
phẩm dệt may, giảm bớt phụ thuộc vào các nhà đặt hàng trung gian, nâng cao
hiệu quả xuất khẩu.
Trong các mặt hàng may mặc xuất khẩu vào Eu, mới chỉ tập trung vào các mặt
hàng dễ làm như áo jacket, sơ mi... cịn các mặt hàng có giá trị, đòi hỏi kỹ thuật
cao hơn như bộ complet hay các loại áo sơ mi cao cấp thì ít doanh nghiệp có thể
sản xuất được.Lại thêm việc có nhiều ý kiến lạc quan về xuất khẩu hàng dệt may
vào thị trường Mỹ sau khi có Hiệp định thương mại Việt Mỹ.
Hiệp hội Dệt May Việt Nam với vai trò trao đổi và cung cấp thông tin; tư
vấn và xúc tiến thương mại; thay mặt các hội viên khuyến nghị với Chính phủ
về những chính sách vĩ mơ liên quan đến ngành đã và đang góp phần phát triển
nền cơng nghiệp dệt may Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
Trong nhiều năm qua Chính phủ ln quan tâm và hỗ trợ cho các doanh nghiệp
xuất khẩu nói chung và ngành Dệt may nói riêng thơng qua các chính sách về
thuế, tín dụng, xúc tiến xuất khẩu, ưu đãi đầu tư, chính sách tỷ giá và ngoại hối...
Chính nhờ có những chính sách đó của Nhà nước mà hoạt động xuất khẩu của
nước ta trong những năm gần đây có bước phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt năm
2008, cả nước đã xuất khẩu được 63 tỷ USD, tăng 29%; trong đó ngành Dệt may
đã có đóng góp đáng kể. Ngày 10 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã


9


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

có Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công
nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, được
khách hàng trong và ngoài nước biết đến như Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông,
May Sài Gòn 3, May Sài Gòn 2, Dệt Phong Phú, Dệt Thành Công, Dệt sợi Hà
Nội, May Scavi, May An Phước, May 10, May 28… sẽ có cơ hội tiếp nhận các
đơn hàng lớn.
Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi vào Việt Nam làm ăn, góp phần
tạo nên sự tăng trưởng mạnh về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may. Mặc dù
vậy,ngành may mặc xuất khẩu Việt Nam vẫn có khoản lép vế trước các đối thủ
cạnh tranh do nguyên phụ liệu trong nước chưa chủ động được bao nhiêu. Vải
nguyên liệu trong nước sản xuất mới đáp ứng được chưa đến 30% nhu cầu sản
xuất hàng may mặc xuất khẩu, nhiều loại phụ liệu thời trang chưa được đầu tư
sản xuất và khả năng thiết kế thời trang công nghiệp chưa được khách hàng chú
ý.
Từ thực tế này cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ cần có sự liên kết để cùng khai
thác thiết bị các công đoạn đầu vào và hoàn tất sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Từ
đó, sẽ hình thành tam giác xuất khẩu: doanh nghiệp dệt thuê doanh nghiệp có hệ
thống mắc hồ tốt, sản xuất vải mộc xong đưa đến cơ sở nhuộm và hồn tất để
gia cơng.
2.một số thị trường xuất khẩu triển vọng vào thời điểm hiện tại của việt
nam.
a.Thị trường Mỹ
thị trường Mỹ là một thị trường lớn và năng động nhất thế giới. Nhu

cầu tiêu dùng ở thị trường này là rất lớn. Với dân số hơn 280 triệu người, vào
năm 2001 người dân ở Mỹ tiêu thụ tới 272 tỷ USD cho quần áo, bình quân một
người Mỹ mua khoảng 54 bộ quần áo.
10


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Những hàng hiệu nổi tiếng là những sản phẩm dễ dàng được chấp
nhận ở thị trường này. Tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường Hoa Kỳ đặt ra cũng
tương đối khắt khe. Các công ty dệt may xuất khẩu cần đạt tiêu chuẩn ISO
9.000, ISO 14.000, SA 8000, WRPA…Đây là một yêu cầu hồn tồn mới đối
với phía Việt Nam.
Hiện nay, hàng may mặc Việt Nam còn đang ở mức thang điểm thấp
trong đánh giá chất lượng của người tiêu dùng Mỹ - theo đánh giá của hiệp hội
dệt may và da giầy Mỹ (AAFA).Hơn nữa, doanh nghiệp Mỹ cũng nhìn vào khả
năng cung cấp hạn ngạch xuất khẩu, các chương trình ưu đãi thuế quan, nguồn
cung cấp nguyên liệu, chất lượng lao động, sự ổn định của đồng tiền, năng lực
xuất khẩu, mức độ tuân thủ các thủ tục hải quan Mỹ, môi trường lao động...
b.Thị trường EU
EU là một thị trường lớn với 378,5 triệu dân, tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) đạt trên 8.400 tỷ euro, sức tiêu thụ vải tương đối cao 17kg/ người, mỗi
năm EU nhập khẩu bình quân 63 tỷ USD quần áo, trong đó có khoảng 35% là
nhập khẩu từ Châu á, do vậy thị trường EU là thị trường không thể bỏ qua của
các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Lúng túng của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn là thơng
tin: nên xuất gì, xuất như thế nào? Hàng Việt Nam vào thị trường này khơng chỉ
phải cạnh tranh về chất lượng mà cịn phải cạnh tranh bằng giá cả. Vì vậy, hàng
muốn bán được, phải có những ưu điểm hơn sản phẩm cùng loại
EU là thị trường lớn và truyền thống của hàng dệt may Việt Nam. Kim

ngạch xuất khẩu vào thị trường này thường chiếm 45 - 50% tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Do đó chúng ta phải có
những biện pháp để khơng bị giảm kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này
trong những năm tới.
c.Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường truyền thống của Việt Nam đối với mặt hàng
11


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

dệt may xuất khẩu. Vốn là một thị trường Châu á nên có nhiều điểm tương đồng
với thị trường Việt Nam.
Thị trường Nhật Bản có yêu cầu riêng về chất lượng của hàng hố đó
là Japan indutrial standard (JIS). Hàng hố có đáp ứng được tiêu chuẩn của JIS
đề ra sẽ dễ tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản, bởi người Nhật Bản rất tin tưởng
hàng hố có đóng dấu JIS, nếu hàng hố mà khơng có đóng dấu này thì khó mà
tiêu thụ được ở Nhật Bản.
Các hoạt động xúc tiến thương mại vào thị trường Nhật Bản của các
doanh nghiệp Việt Nam cịn rất hạn chế do chi phí khảo sát thị trường hết sức
tốn kém. Chính vì thế doanh nghiệp Việt Nam khơng nắm bắt được nhu cầu
hàng hố, thị hiếu tiêu dùng cũng như quy định về quản lý nhập khẩu của thị
trường Nhật Bản. Với một thị trường hết sức năng động, mang nhiều nét đặc thù
riêng như thị trường Nhật Bản thì việc thiếu thơng tin sẽ hạn chế khả năng thâm
nhập vào thị trường này.
II.lợi thế phát triển
Với số dân trên 83 triệu người, tỷ lệ nữ giới lại rất lớn, đó là đội ngũ
lao động rất phù hợp cho ngành dệt may, một ngành đòi hỏi sự tỉ mỉ khéo léo,
cần mẫn. Người dân Việt Nam đặc biệt là phụ nữ Việt Nam nổi tiếng là những
người siêng năng chuyên cần, thông minh, nhanh nhẹn tháo vát, là điều kiện

thuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam. ở Việt Nam giá nhân công thấp ở mức
dưới 2,5 USD/giờ (thuộc loại thấp nhất trong khu vực). Chi phí đầu tư thấp nhờ
có sẵn nhà xưởng cho thuê với giá rẻ của các tổ chức Nhà nước và tiếp cận được
nhiều chủng loại thiết bị cơ bản không đắt tiền mới cũng như đã qua sử dụng của
một số nước thì chi phí sản xuất dệt may của Việt Nam thấp chỉ là 0,08 USD.

12


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Bảng giá thành sản xuất tính theo các nước

Nước
Trung Quốc
Hồng Kơng
Thái Lan
Đài Loan
Indonesi
Việt Nam
Trung Bình

Chi phí sản xuất (USD)
(khơng gồm chi phí vận chuyển)
0,09
0,19
0,16
0,2
0,10
0,08

0,13

Xu hướng
ổn định
ổn định
Tăng
Tăng mạnh
ổn định
ổn định

Nguồn: Phân tích chi phí sản xuất SECO, 2001
Ngành dệt may là ngành khơng địi hỏi phải có nhiều vốn đầu tư lớn.
Để có thể xây dựng chỗ làm việc cho ngành dệt may thì vốn bỏ ra khơng nhiều
và thu hồi vốn cũng khá nhanh.
Ngồi ra, các cơng ty trong khu vực đóng một vai trò quan trọng trong
việc cung cấp các mối liên kết marketing thiết yếu với thị trường tiêu thụ và
cung cấp gần như toàn bộ nguyên liệu cần thiết. Các đối tác thương mại khu vực
Châu á và liên minh Châu Âu (EU) đã đem đến cho Việt Nam những cơ hội rất
lớn trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài, điều này ý nghĩa rất quan trọng
đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Một điều cần nói đến là khi Việt Nam gia nhập WTO ,ngành Dệt May
có đủ sức cạnh tranh và phát triển nếu trong môi trường cạnh tranh lành mạnh,
không cần ưu đãi. Với những điều kiện đó thì chắc chắn ngành Dệt May sẽ có 3
cái lợi là xuất khẩu không bị khống chế quota; một số thị trường đang đối xử
phân biệt về thuế, sẽ đưa thuế nhập khẩu xuống bình thường; được hưởng những
lợi ích từ mơi trường đầu tư. Nhưng xét cho cùng thì nguy cơ cạnh tranh trong
một sân chơi khơng bình đẳng của doanh nghiệp dệt may thời hội nhập là có
thật. Bởi hàng rào bảo vệ thị trường nội địa bằng thuế thu nhập sẽ giảm xuống
tới mức tối đa (thuế nhập khẩu hiện hành 40% với vải và 50% với hàng may


13


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

mặc, hàng rào này sẽ được giảm cịn bình qn khoảng 15%). Bên cạnh đó, các
rào cản của nước ngồi sẽ được dựng lên, như các vấn đề về môi trường, chống
bán phá giá…
Tuy nhiên, nói vậy khơng phải ngành dệt may của Việt Nam hồn tồn
chỉ có thuận lợi trên con đường phát triển. Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế
các nước đang bị giảm sút, thị trường bị co hẹp lại, ngành dệt may bị chịu nhiều
ảnh hưởng lớn của nền kinh tế thế giới.
III.Những khó khăn gặp phải của hàng dệt may của Việt Nam.
1.Năng lực sản xuất, công nghệ
Do trình độ cơng nghệ sản xuất chưa cao, thiết bị thiếu đồng bộ, 20%
tổng số máy trong ngành may mặc tham gia sản xuất đã cũ và lạc hậu về cơng
nghệ. Ngành dệt cũng ở trong tình trạng tương tự nên khơng có khả năng đáp
ứng đủ nhu cầu. Trước hết, năng lực sản xuất vải trong nước theo công suất thiết
kế là 800 triệu mét nhưng sản lượng sản xuất ra chỉ mới đạt 376 triệu mét, chưa
được 50% công suất thiết kế. Trong gần 600 triệu mét vải sản xuất được thì phần
lớn là đáp ứng nhu cầu trong nước, phần cung cấp cho ngành may xuất khẩu chỉ
có hơn 100 triệu mét (năm 2001).
Năng lực sản xuất của ngành dệt may

Tiêu chí
1. Kéo sợi

Máy móc
Đơn vị
Cọc sợi

OE

2.Cán bơng Chuyền
3.Dệt thoi
4.Dệt kim

Thoi
Khơng thoi
MáyDK trịn
Máy DK phản

5.May mặc Máy may

Sản xuất

Tổng máy
1.500.000
15.000
4
10.000
5.500
1290
250

Đơn vị

Năng lực

Tấn


150.000

Tấn

10.000

Triệu m
Tấn

200.000 Triệu sp

500
70.000
500

Nguồn: Thống kê của Vitas, năm 2002
14


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Không chỉ thế, ngành dệt may cịn có nhiều hạn chế khác nữa: khâu
kéo sợi thiếu sợi chải kỹ; khâu dệt thiếu máy dệt khổ rộng, các công đoạn chuẩn
bị dệt (như hồ, mắc) rất yếu, không tương ứng với hệ thống máy dệt. Khâu thiết
kế mẫu dệt còn hạn chế. Số lượng mẫu vải nghèo nàn về kết cấu mật độ sợi
ngang, sợi dọc và màu sắc. Khâu nhuộm, hồn tất cịn thiếu các công đoạn
chống co, chống nhàu… Trong khi quy mô đào tạo và chất lượng lao động chưa
được nâng cao nên ngành dệt may còn thiếu lao động do đó làm cho cơ cấu tổ
chức sản xuất khơng hợp lý dẫn đến năng suất thấp.
2.Cơ cấu sản phẩm

Trong những năm gần đây, sản phẩm dệt may đã dần được đa dạng
hoá. Trong khâu sản xuất sợi, tỷ trọng các mặt hàng polyester pha bông với
nhiều tỉ lệ khác nhau 50/50, 65/35, 83/17...tăng nhanh; các loại sợi 100%
polyester cũng bắt đầu được sản xuất; các loại sản phẩm cotton/visco,
cotton/aceylic, wool/acrilic đã bắt đầu được đưa ra thị trường.
Trong khâu dệt vải, nhiều mặt hàng dệt thoi mới, chất lượng cao đã
bắt đầu được sản xuất. Đối với mặt hàng 100% sợi bông, các mặt hàng sợi đơn
chải kỹ chỉ số cao phục vụ cho may xuất khẩu, mặt hàng sợi bơng dày được tăng
cường cơng nghệ làm bóng, phịng co cơ học…đã xuất khẩu được sang EU và
Nhật Bản. Một số mặt hàng sợi pha, các mặt hàng kate đơn màu sợi 76, 76 đơn
hay sợi dọc 76/2, các loại vải dày như gabadin, kaki, simili, hàng tissus pha len,
pha cotton và petex, pe/co/petex…tuy sản lượng chưa cao nhưng đã bắt đầu
được đưa vào sản xuất rộng rãi ở nhiều doanh nghiệp. Đối với mặt hàng 100%
sợi tổng hợp, nhờ được trang bị thêm hệ thống xe săn sợi với độ săn cao, thiết bị
comfit, thiết bị giảm trọng lượng đã tạo ra nhiều mặt hàng giả tơ tằm, giả len…
thích hợp với khí hậu nhiệt đới, bước đầu đã giành được uy tín trong và ngồi
nước. Ngồi ra mặt hàng dệt kim, 75 - 80% sản lượng hàng dệt kim từ sợi pe/co
được xuất khẩu.
3.Tình hình về cung cấp nguyên liệu, phụ liệu

15


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam cịn gặp nhiều khó khăn ở cả đầu
ra và đầu vào: đó là vấn đề nguyên phụ liệu, vốn đầu tư. Nguyên phụ liệu để
cung cấp cho ngành may xuất khẩu hầu như chưa sản xuất được đang phải nhập
khẩu với một lượng khá lớn. Nguyên nhân là ở chỗ, việc sản xuất nguyên liệu
trong nước và vùng nguyên liệu trong nước chưa được chú trọng đúng mức.

Doanh nghiệp may phần lớn là gia công xuất khẩu nên thường khách
hàng nước ngoài chỉ định nguồn nguyên phụ liệu nước ngồi vì thế ít quan tâm
khai thác vải của các doanh nghiệp dệt trong nước cho dù vải của các doanh
nghiệp dệt trong nước có cùng chủng loại khơng thua kém gì về mặt chất lượng.
Hơn nữa, mua vải của nước ngoài, ngoài yếu tố chất lượng đảm bảo, thì dịch vụ
hậu mãi của họ lại rất tốt. Nếu như lô vải mua về không đảm bảo về yêu cầu
chất lượng cũng như mẫu thì đối tác cung cấp sẽ sẵn sàng đổi lại, thậm chí bỏ cả
lơ hàng vải xấu đó, cung cấp lơ vải mới khác cho doanh nghiệp Việt Nam
Một đặc điểm nữa mà doanh nghiệp nước ta cần chú trọng là giảm chi
phí đầu vào, tăng tỷ lệ nội địa hoá của sản phẩm ngành dệt may để tăng lợi
nhuận cho ngành. Trong thời gian tới, Nhà nước ta sẽ đưa bông vào cơ cấu cây
trồng để đảm bảo cho đến năm 2010 phải có 90.000 tấn bơng xơ, trong đó chủ
động 70% nguyên liệu và tiến tới làm chủ hoàn toàn nguyên liệu trong nước là
mục tiêu của ngành dệt may.
Năm 2009: Khó khăn chồng chất khó khăn
Hồi giữa năm 2008, các giới chức Bộ Công Thương đặt chỉ tiêu 2009 cho ngành
dệt may khá cao với kim ngạch 11,5 tỷ USD. Sau các biện pháp chống lạm phát
rồi ảnh hưởng khủng hoảng tài chánh toàn cầu, các chuyên gia của Bộ Công
Thương và ngành Dệt May Việt Nam đắn đo về việc hạ chỉ tiêu vừa nói xúơng
mức 9,5 tỷ USD
Theo nhận định của các doanh nghiệp trong ngành thì dệt may Việt Nam sẽ phải
đối mặt với hai nguy cơ chính trong năm 2009:
16


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Thứ nhất, từ trước tới nay sản phẩm của Việt Nam lấy trọng tâm phát triển hàng
cao cấp khá nhiều, nhưng trong bối cảnh kinh tế suy giảm, phân khúc hàng cao
cấp cũng sẽ bị thu hẹp bởi người tiêu dùng tiết kiệm chi tiêu từ cao cấp xuống

trung cấp.
Thứ hai, là sự cạnh tranh về giá đối với những nước sản xuất lớn như Trung
Quốc, Banglades, Indonesia, Ấn Độ… Ngay với thị trường trong nước, đã có
những dự báo trong khoảng 3 – 6 tháng tới, hàng dệt may Trung Quốc sẽ được
đẩy sang Việt Nam với khối lượng tương đối lớn.
III.Giải pháp
1. Xu hướng chuyển dịch việc sản xuất hàng dệt may trong khu
vực và trên thế giới
Mặc dù đã được tự động hoá nhiều nhưng so với những ngành khác,
ngành dệt may hiện vẫn là ngành sử dụng nhiều lao động. Việc sử dụng nhiều
lao động trong điều kiện giá lao động có xu hướng ngày càng cao đang làm cho
vị trí ngành dệt may trong cơ cấu sản xuất ở các nước phát triển suy giảm. ở các
nước này, khối lượng hàng dệt may xuất khẩu giảm và khối lượng hàng dệt may
nhập khẩu tăng nhanh.
Ngành dệt ở các nước EU cải tổ sâu sắc, một mặt do thế hệ thợ già đã
rời khỏi ngành, mặt khác những nhà đầu tư thích đầu tư vốn vào các ngành dịch
vụ nhẹ nhàng hơn như du lịch, mỹ nghệ, bất động sản…Ngồi ra, do các hãng
lớn đang đẩy mạnh chun mơn hố với việc mua lại hàng hóa của các nước
ngồi biên giới Châu âu, nhất là từ những nơi có giá nhân công rẻ để hạ giá
thành sản phẩm
Hiện nay ngành dệt may Châu Âu đang diễn ra quá trình tích tụ tư
bản lớn. Nhiều hãng nhỏ bị các hãng lớn mua, tiếp theo đó là số cơng nhân trong

17


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

ngành tăng nhanh. ở Đức trước đây có 500 xí nghiệp và 320.000 chỗ làm việc
thì đến đầu năm 1992 chỉ cịn lại 137 xí nghiệp tư nhân hố với 13.000 chỗ làm

việc. Như vậy, ngược lại so với các nước đang phát triển, do mức tiền lương và
giá nhân công thấp, ngành dệt may ngày càng được đẩy mạnh ở các nước đang
phát triển và tạo cho các nước này một ưu thế đặc biệt trong cạnh trạnh.
Vào cuối những năm 1980, tất cả các nước ASEAN đều đạt mức cao
về xuất khẩu sản phẩm dệt may và vị trí của các nước này trong mậu dịch thế
giới tăng đáng kể so với trước đây. Xu hướng chuyển dịch này sẽ mở ra triển
vọng to lớn cho ngành dệt may Việt Nam nói chung và hoạt động xuất khẩu
ngành dệt may nói riêng vào thị trường thế giới.

18


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Hệ số lợi thế so sánh giữa các nước ASEAN
Tên nước

Sợi, chỉ, vải, dệt may

Quần áo

Indonesia

1,6

2,1

Malaysia

0,4


1,4

Philippines

0,4

4,4

Singapore

0,2

0,5

Thái Lan

1,2

2,2

Việt Nam

1,8

3,1

Nguồn: Báo cáo của WB đánh giá tác động của việc
Việt Nam gia nhập AFTA
2. Định hướng, mục tiêu phát triển của ngành dệt may xuất khẩu đến

năm 2010
Ngày 23.4.2001 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát
triển hàng dệt may Việt Nam đến năm 2010 với các cơ chế chính sách cởi mở
cho ngành dệt may phát triển. Theo đó, sẽ tạo điều kiện tối đa phát triển ngành
này trở thành một trong những trọng điểm công nghiệp mũi nhọn về xuất khẩu.
Bộ thương mại đang phối với Bộ Công nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư rà soát lại cơ chế điều hành hạn ngạch xuất khẩu đi EU để có sự điều chỉnh
phù hợp, tăng năng lực sử dụng hạn ngạch.

19


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Các chỉ tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010
Chỉ tiêu

Đơn vị

Đến 2010

1. Sản xuất:
80.000

-Bông xơ

Tấn

-Xơ sợi tổng hợp


Tấn

120.000

-Sợi các loại

Tấn

300.000

-Vải lụa thành phẩm

Triệu m2

1.400

-Dệt kim

Triệu SP

500

-May mặc

Triệu SP

1.500

2. Kim ngạch xuất khẩu


Triệu USD

8.000-9.000

3. Sử dụng lao động

Triệu người

4-4,5

%

>75

Tỉ đồng

30.000

Tỉ đồng

20. 000

Tỉ đồng

10.000

Tỉ đồng

9.500


Tỉ đồng

1.500

4. Tỷ lệ giá trị sử dụng nguyên phụ
liệu nội địa trên sản phẩm may xuất
khẩu
5.Nhu cầu vốn đầu tư phát triển
Vốn đầu tư mở rộng
Vốn đầu tư chiều sâu
Trong đó VINATEX
6. Vốn đẩu tư phát triển trồng bông

Nguồn : VINATEX

20



×