Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

TIỂU LUẬN: Tình Hình Xuất Khẩu Cà Phê Của Việt Nam - Những Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp Phát Triển pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (297.89 KB, 15 trang )




z













TIỂU LUẬN:

Tình Hình Xuất Khẩu Cà Phê Của Việt
Nam - Những Vấn Đề Đặt Ra Và Giải
Pháp Phát Triển











A/ Lời mở đầu

Với chính sách đa phương hoá các hoạt động kinh tế quốc tế và thực hiện
chủ trương khuyến khích xuất khẩu của Đảng và nhà nước, hoạt động xuất khẩu
thời gian qua đã có những bước tiến vượt bậc. Đến nay sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 150 nước thuộc khắp các
châu lục. Đặc biệt, trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê đã đạt được những kết quả khả
quan. Cà phê trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam
sau gạo, khối lượng xuất khẩu tăng với tốc độ khá nhanh, là một trong những mặt
hàng chủ lực của cả nước. Sự phát triển của ngành cà phê đã đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Nó mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn,
tạo vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần
vào quá trình phủ xanh đất trồng, đồi trọc, chuyển đổi tích cực cơ cấu cây trồng
…Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì tình hình xuất khẩu cà phê của Việt
Nam còn có những khó khăn và hạn chế nhất định.
Vì vậy, em đã chọn đề tài:
“Tình Hình Xuất Khẩu Cà Phê Của Việt Nam - Những Vấn Đề Đặt Ra
Và Giải Pháp Phát Triển”















B/ Nội dung
I/ Khái Niệm Về Xuất Khẩu:
Xuất khẩu là hoạt động buôn bán kinh doanh nhưng phạm vi kinh doanh
vượt ra khỏi biên giới quốc gia hay là hoạt động buôn bán với nước ngoài trên
phạm vi quốc tế. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ
thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm
mục tiêu thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định
và từng bước nâng cao đời sống kinh tế của nhân dân. Thông qua hoạt động xuất
khẩu có thể đem lại những lợi nhuận to lớn cho nền sản xuất trong nước. Xuất
khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại những hiệu quả đột biến nhưng có thể
gây thiệt hại vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các
chủ thể trong nước tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế được.
II/ Vai Trò Của Hoạt Động Xuất Khẩu :
1. Tạo nguồn vốn chủ yễu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
2. Thúc đẩy sản xuất phát triển.
3. Tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống
của nhân dân.
4. Là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta.
III/ Khái Quát Về Tình Hình Xuất Khẩu Cà Phê Của Việt Nam Trong
Thời Gian Qua:
1. Tình hình xuất khẩu chung:
Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong số những mặt hàng nông sản
có thế mạnh hàng đầu Việt Nam. Vào cuối những năm 80 thị trường xuất khẩu cà
phê của Việt Nam được phân bố khá đều giữa các nước Châu Âu, Châu á(chiếm
31, 8%), Châu Mĩ mà chủ yếu là thị trường Mĩ chiếm 16, 67%. Chúng ta cả nước
mới có 20. 000 ha, với sản lượng không quá 10. 000 tấn vào thời gian này. Nhưng

đến năm 2000 là 516000 ha và 66 000 tấn và đến nay có khoảng 600000 ha và
khoảng 688000 tấn. Với kết quả sản xuất như vậy, Việt Nam cùng Braxin,
Côlômbia là 3 nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới.



Việt Nam sản xuất cà phê chủ yếu là để xuất khẩu, nhu cẩu tiêu dùng trong
nước không đáng kể, chiếm khoảng 10% sản lượng cà phê. Trong những năm
qua, khối lượng xuất khẩu cà phê tăng với tốc độ khá nhanh. Vụ 1992-
1993:135500 tấn, vụ 1993-1994:15852tấn, vụ19941995:212038tấn, vụ 1995-
1996:233000 tấn, vụ 1996-1997:346000 tấn, vụ 1997-1998:395000 tấn Vụ 1998-
1999:410000 tấn, vụ 1999-2000:660000 tấn, đạt tốc độ tăng 72, 7% đứng thứ hai
về xuất khẩu cà phê sau Braxin. Sản lương xuất khẩu cà phê trong 4 năm từ 1996-
2000 đã tăng gấp 3 lần, chiếm 13, 05% tổng sản lượng cà phê xuất khẩu toàn thế
giới.
Về thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam, trước những năm 1990 chủ yếu là
xuất khẩu sang Liên Xô cũ và các nước Đông Âu theo hiệp định và phải xuất
khẩu qua nước trung gian, chủ yếu là Singapo chiếm 68, 69% lượng cà phê của
Việt Nam, Đức, Pháp, Balan, Italia…Từ cuối năm 1993, Mĩ bỏ cấm vận kinh tế
đối với Việt Nam, xuất khẩu cà phê sang Singapo giảm dần chỉ chiếm 3, 63% và
xuất khẩu sang thị trường Mĩ tăng mạnh. Ngành cà phê đã có vị trí nhất định và
uy tín ngày càng tăng trên thị trường khu vực và thế giới. Thị trường xuất khẩu cà
phê của Việt Nam ngày càng mở rộng, đến nay cà phê của Việt Nam đã có mặt tới
khoảng 64 nước trên thế giới. Một số thị trường lớn có quan hệ thương mại, nhập
khẩu cà phê của Việt Nam là :EU, Mĩ, Nhật Bản, ASEAN, Châu Phi, Trung Cận
Đông, Trung Quốc, Canada
Đức, Singapo là thị trường trọng điểm của Việt Nam qua trong cà phê xuất
khẩu.
2. Điều tiết của nhà nước trong xuất khẩu cà phê ở Việt Nam :
Những năm qua, Nhà nước đã có vai trò quan trọng trong điều tiết các mặt

hàng nông sản xuất khẩu và đã mang lại những thành công đánh kể, đặc biệt là
đối với mặt hàng xuất khẩu cà phê.
2. 1 Nhà nước đã lập quỹ hỗ trợ sản xuất, đây là một việc làm đúng, phù
hợp. Bởi vì trong điều kiện sản xuất ít thuận lợi, gặp sự thay đổi giá cả trên thị
trường khiến người nông dân lo ngại trong sản xuất cà phê, thậm chí chặt phá cà



phê. Do vậy lập quỹ này, không phải là biện pháp mang tính bao cấp, mà là biện
pháp cần có trong nền kinh tế thị trường, giúp họ an tâm sản xuất.
2. 2 Chính phủ đã phê duyệt dự án phát triển cà phê chè 40000 ha trong 5
năm (1997-2000) bằng vốn trong nước và vốn vay ưu đãi của quỹ phát triển Pháp
(CFD). Đây là một biện pháp nhằm mở rộng thêm diện tích cà phê chè ở Việt
Nam.
2. 3 Nhà nước đã ban hành nhiểu chủ trương chính sách để hỗ trợ nông dân
phát triển sản xuất. Đặc biệt phải kể đến là việc Nhà nước cho các hộ nông dân
vay trực tiếp vốn từ các ngân hàng nhà nước mà trước năm 1990 nông dân không
được tham gia ở các nguồn này. Chính những chủ trương trên của Nhà nước đã
thực sự giúp nông dân, tiếp thêm sức mạnh cho họ có vốn đầu tư vào sản xuất.
Và cuối năm 2000 đầu năm 2001, Chính phủ đã chỉ đạo cho các doanh
nghiệp được vay vốn ngân hàng 0% lãi suất để thu mua tạm trữ 60000 tấn cà phê,
tiếp đó lại quy định giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, và ngày 13-2-2001 Chính
phủ có quyết định 140, tiếp tục thu mua tạm trữ 90000 tấn nâng tổng số 150 000
tấn cà phê đưa ra khỏi lưu thông. Quyết định này đã giúp nông dân hạn chế bán cà
phê ra, gia cà phê trong nước đã vững lên và có phần tăng giá, giá chào bán cà
phê ổn định từ 440-450 USD/tấn FOB. Đây là việc làm cần thiết của Nhà nước,
giúp nông dân yên tâm, tin tưởng vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Ngành
ngân hàng cũng đã có những quy định khoanh nợ và tiếp tục cho nông dân cũng
như các doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn. Đó cũng chính là biện pháp tiếp thêm
ngành năng lượng cho nguồn cà phê phát triển.

2. 4 Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ giá trợ cước vận chuyển một số
mặt hàng thiết yếu và vật tư sản xuất, cho vay vốn để phát triển sản xuất, đối với
các hộ nghèo vay vốn qua ngân hàng được giảm lãi xuất từ 15-30%.
2. 5 Quỹ hỗ trợ xuất khẩu được ban hành, có chức năng hỗ trợ về lãi xuất, tài
chính có thời hạn đối với các mặt hàng xuất khẩu bị lỗi do thiếu sức cạnh tranh
hoặc gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan và thưởng về tìm kiếm, mở rộng thị
trường xuất khẩu. Như vậy, việc Nhà nước ban hành và sử dụng quỹ hỗ trợ xuất
khẩu là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp, góp phần thúc đẩy xuất khẩu của cả nước.



2. 6 Văn phòng Chính phủ cũng đã có văn bản số 1158/CP-KTTH ngày 21-
12-2001, nêu ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ cà phê sau tạm giữ.
Cho phép sử dụng nguồn ngân sách đã bố trí để hỗ trợ 70% khoản lỗ do xuất khẩu
cà phê tạm trữ, nhưng không vượt quá số lỗ kinh doanh chung của doanh nghiệp
sau khi bù trừ các khoản hỗ trợ của Nhà nước đối với cà phê xuất khẩu trong năm
2001.
Nhìn chung, thực trạng điều tiết của Nhà nước đối với mặt hàng cà phê xuất
khẩu thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan. Chính sách thương mại
đã được thay đổi căn bản :Từ độc quyền chuyển sang tự do hoá lưu thông với
nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia mua bán kinh doanh cà phê đã làm sống
động thị trường. Tự do lưu thông với đặc trưng là thị trường không bị chia cắt
theo địa giới hành chính, tình trạng ngăn sông cấm trợ bị xoá bỏ, thị trường cà
phê với nhiều thành phần kinh tế cạnh tranh trong kinh doanh, giá cả được hình
thành trên cơ sở tương quan cung cầu. Nhà nước đã xoá bỏ việc chỉ định đầu mối
xuất khẩu và cho phép mỗi doanh nghiệp, mỗi cá nhân đều có thể trực tiếp xuất
khẩu cà phê nếu có đủ điều kiện theo quy định và một số chính sách hỗ trợ khác
của Nhà nước rất thành công.
IV/Những Khó Khăn Và Hạn Chế Trong Xuất Khẩu Cà Phê Ơ Việt Nam
1. Cà phê xuất khẩu, những điểm yếu cần khắc phục

Chất lượng cà phê xuất khẩu ở nước ta đang chứa đựng nhiều bất cập, nên
trong mấy năm đổ lại đây hiệu quả kinh tế trong xuất khẩu cà phê bị giảm trầm
trọng, nhiều nơi đã phá cây cà phê để chuyển sang trồng loại cây khác có lợi ích
cao hơn. Tình trạng này được gây ra bởi nhiều yếu tố.
1. 1 Ngay từ khâu giống đã tồn tại nhiều bất cập. Giống cà phê ở nước ta từ
trước đến nay vẫn chủ yếu là do bà con nông dân tự chọn, ươm giống và trồng
nên không đảm bảo chất lượng. Cây phát triển kém, hạt nhỏ, tỷ lệ đồng đều giữa
các hạt thấp. Đầu tử trong lĩnh vực thuỷ lợi để tưới cho cà phê đạt thấp. Nhiều
vùng vào mùa khô hạn không đủ nước tưới ảnh hưởng xấu đến tình hình sinh
trưởng của cây. Thêm nữa ở nước ta vẫn thu hái theo kiểu tuốt cành là phổ biến,



quả xanh chín lẫn lộn, dẫn đến chất lượng cà phê chế biến thấp, tỷ lệ tổn thất sau
quy hoạch cũng cao.
1. 2 Trong khâu chế biến, nước ta hiện vẫn đang sử dụng hai phương pháp,
chế biến khô và chế biến ướt. ở nuớc ta phương pháp chế biến khô đang được
dùng phổ biến. Phương pháp này hương vị cà phê không bằng chế biến ướt. Mặt
khác, lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, tốn nhiều công phơi đảo, đòi hỏi
diện tích kho và sân phơi lớn. ở nước ta hiện nay chế biến cà phê vẫn chủ yếu ở
quy mô gia đình. Vì thế tính đồng bộ kém, thiết bị chế biến đơn giản, chủ yếu là
các máy xát nhỏ. Hiện cả nước mới có 50 dây chuyền chế biến công nghiệp, trong
đó có 14 dây chuyền nhập ngoại, số còn lại được chế tạo trong nước với tổng
công suất 100000 tấn nhân/năm.
Từ những thực tế trên đây, mặc dù chất lượng vốn có của cà phê vối trồng ở
nước ta được đánh gia cao, loại kích thước hạt 45-60% đạt tiêu chuẩn loại 1, chất
lượng thử nếm :có 35% rất tốt, 50% tốt, 10% ở mức trung bình và chỉ có 5% là
loại trung bình kém. Song trên thực tế, chất lượng cà phê nhân xuất khẩu của Việt
Nam lại không thể hiện được những chỉ tiêu trên. Mờy năm gần đây, tỷ lệ cà phê
xuất khẩu loại một của nước ta chỉ đạt ở mức 20%.

1. 3 Sự đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch chưa tương xứng với tốc độ tăng
nhanh của sản lượng.
1. 4 Giá thành sản xuất cà phê ở nước ta so với các nước khác là tương đối
cao. Giá thành sản xuất tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Cà phê Việt
Nam là khoảng 13-15 triệu đồng /tấn, ở khu vực tư nhân giá thành khoảng dưới
10 triệu /tấn. Có thực tế này là do khấu hao cơ bản và xây dựng hạ tầng chiếm tỷ
trọng lớn trong giá thành. Chi phí về chế biến có sự dao động lớn phụ thuộc vào
quy mô, loại hình và mức độ trang bị.
1.5 Vấn đề đánh giá chất lượng cà phê của nước ta cũng có sự bất cập với
các tiêu chuẩn quốc tế gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả xuất khẩu. Cách
tính lỗi của tiêu chuẩn Việt Nam quy định theo %, trong khi tiêu chuẩn thị trường
kì hạn London tính lỗi theo cách đếm. Tiêu chuẩn Việt Nam quy định kích cỡ hạt



trên sàng số 16 trong khi nhiều khách hàng nước ngoài lại yêu cầu cà phê loại
kích thước trên sàng là số 18.
Đây là những cơ chế mà người sản xuất cũng như các doanh nghiệp cần
khắc phục trong thời gian tới. Giải quyết điều này mới mong cây cà phê đem lại
những hiệu quả kinh tế tương ứng với vị thế nước xuất khẩu cà phê có tiếng tăm
trên thế giới.
2. Những khó khăn tồn tại ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của cà phê
Việt Nam.
2. 1 Hạt cà phê của Việt Nam chưa đồng đều. Theo các quan chức của
VINACAFE thì hiện nay Việt Nam có trên 80 tổ chức xuất khẩu cà phê, vì vậy
chất lượng cà phê xuất khẩu của các công ty và tổ chức kể cả nhà nước và tư nhân
khó đảm bảo một cách đồng đều và ổn định. Từ đó giá xuất khẩu cà phê của Việt
Nam biến động lớn và thường thấp hơn giá các nước sản xuất lớn.
2. 2 Chúng ta còn thiếu hệ thống kho, hệ thống tổ chức thu mua chuyên
nghiệp, nhất là chúng ta thiếu vốn dự trữ, thông tin còn yếu kém, cạnh tranh chưa

lành mạnh vẫn còn tình trạng tranh mua tranh bán nên chúng ta rất bị động trong
xuất khẩu mặt hàng cà phê, làm tổn thất cho lợi ích của cộng đồng những người
sản xuất, chế biến, xuất khẩu và lợi ích chung của xã hội.
2. 3 Chưa có kinh nghiệm thuê tàu buôn, chưa có nhiều kinh nghiệm trong
thương mại và giao dịch với thị trường cà phê thế giới, trình độ tiếp thị, quảng cáo
còn sơ đẳng. điều này giải thích tại sao chúng ta xuất khẩu vẫn phải thông qua thị
trường trung gian.
2. 4 Công nghệ chế biến có quy mô nhỏ, các cơ sở chế biến phần lớn trong
tình trạng sử dụng thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu. Thiết bị
chế biến chủ yếu phơi trên sân đất, phần lớn chưa có sân xi măng. Sản xuất cà phê
còn trong tình trạng tự phát, kĩ thuật chăm sóc kém. Bên cạnh đó còn có những hộ
gia đình pha trộn cà phê chè với cà phê vối nhằm kiếm lời. điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến uy tín của nhà xuất khẩu, một yếu tố rất quan trọng trong kinh
doanh xuất nhập khẩu.



2. 5 Chúng ta chưa có được hệ thống cơ sở hạ tầng vững mạnh để hỗ trợ cho
sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê, tái chế, dự trữ trong kho, để có nhiều mặt
hàng phong phú cho cà phê như cà phê tan, cà phê ở dạng uống giải khát, cà phê
rang, cà phê cô đặc…Hoặc sử dụng các sản phẩm phụ của quả cà phê như thịt quả
làm rượu vang, vỏ quả làm phân hữu cơ.
2. 6 Cần có tổ chức đủ mạnh, có đủ tư cách pháp nhân, có trách nhiệm khép
kín trong thu mua cà phê để xuất khẩu để quản lý ngành xuất khẩu.
2. 7 Tốc độ phát triển của các loại cà phê còn chưa được đồng đều. Cà phê
chè phát triển thua xa cà phê vối vì cà phê chè có chất lượng cao nhưng khó trồng
lại bị hạn chế do sâu bệnh và một số điều kiện khó khăn khác mà nay ta chưa
khắc phục được.
3. Những hạn chế trong sự điều tiết của Nhà nước.
Trong sự điều tiết của Nhà nước cũng tồn tại những hạn chế. Chẳng hạn như

vai trò của quỹ xuất khẩu, có thể nói rằng tỷ lệ quỹ này dành cho cà phê thời gian
qua trong tổng thực chi là tương đối lớn. Bởi vì trong điều kiện ngân sách của nhà
nước còn hạn hẹp thì việc chi đã được xem xét đã hợp lý chưa ? Vấn đề là làm thế
nào để có được cách thức và mức độ hỗ trợ hợp lý của Nhà nước trong điều kiện
hội nhập kinh tế và thương mại quốc tế, trong điều kiện mà sự bảo hộ đối với
nông sản đang có xu hướng tăng trên thị trường thế giới, kể cả đối với các nước
phát triển. Và chính sách hỗ trợ còn dàn trải, thiếu chọn lọc, gây tâm lý ỷ lại. Các
chính sách hầu như tập chung nhiều vào hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm xuất khẩu,
chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và quy mô của quỹ này còn quá nhỏ, nguồn thu
ít. Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu còn tồn tại vấn đề là nợ quá hạn quá cao,
cơ chế cho vay ưu đãi triển khai quản lý chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng sử dụng
vốn không hiệu quả. Nhìn chung chính sách đưa ra còn chưa đồng bộ, chưa toàn
diện và tính hiệu quả chưa cao. Và tình trạng các công ty sản xuất kinh doanh của
Việt Nam còn thiếu vốn, không có đủ khả năng tài chính để giữ hàng lại cũng là
vấn đề cần chú trọng. Nhà nước chưa có chính sách chỉ đạo quản lý chặt chẽ
ngành cà phê, chưa có chính sách đầu tư hữu hiệu vào khâu chế biến sản phẩm,
mà đây là công đoạn rất quan trọng. Nếu chế biến mà không tốt thì dù các công



đoạn trước có tốt đến mấy thì không thể nào cho ra được những lô hàng đạt chất
lượng tốt.
V/Phương Hương Và Giải Pháp
1. Một số giải pháp:
1. 1 Trong tình hình hiện nay giá cà phê đang giảm mạnh chúng ta không
nên trồng thêm cà phê mà tập trung chăm sóc tối đa để cải tiến chất lượng, giảm
giá thành. Mặt khác nên tập trung giảm diện tích cà phê già đã hết tuổi kinh doanh
cà phê tái sinh cho năng suất chất lượng thấp, cà phê tại những khu vực có điều
kiện thời tiết không thuận lợi nên năng suất thấp.
1. 2 Đẩy mạnh công nghiệp chế biến. Cần có kế hoạch dài hạn phát triển

công nghiệp chế biến cà phê, đầu tư xứng đáng mau chóng đối với công nghệ.
1. 3 Mở rộng thị trường toàn cầu, tăng uy tín và vị thế cà phê Việt Nam. Để
thực hiện điều này chúng ta cần phải triển khai nội dung sau cuảng cố thị trường
hiện có mở rộng vào các thị trường mới bằng nhiều hình thức như các kênh phân
phối gián tiếp, tổ chức hội chợ triển lãm thương mại quốc tế
1. 4 Tăng lượng cà phê tinh chế, giảm tỷ lệ cà phê nhân xuất khẩu, thực hiện
dấu hiệu hàng hoá thống nhất.
1. 5 Nhà nước quy định giá sàn và tăng cường hoạt động tạm trữ dưới nhiều
hình thức khác nhau thông qua tổng công ty hoặc công ty xuất nhập khẩu.
1. 6 Nhà nước nên giảm mức thuế đối với những sản phẩm cà phê trên thị
trường nội địa. Miễn thuế buôn cho các hộ kinh doanh trên thị trường nội địa
1. 6 Ngân hàng nên cho những người trồng cà phê vay vỗn trong thời gian
dài để hỗ trợ giữ được cây cà phê, tránh tình trạng chặt hết như cây ca cao. Chặt
hết, giá giảm đến khi giá phục hồi lại bắt đầu trồng mới gây lãng phí
2. Một số biện pháp nâng cao sức cạnh tranh của ngành cà phê Việt
Nam.
2. 1 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giữ vững diện tích và sản lượng hợp lý
Có thể nói, thị trường cà phê thế giới đã đạt tới ngưỡng cung vượt cầu, vì vậy nên
hạn chế việc tiếp tục trồng mới. Nhu cầu của người tiêu dùng đòi hỏi những loại
sản phẩm cà phê mới tốt hơn, ngon hơn, cà phê đặc biệt. Chính vì vậy, về phía



cung phải có được loại cà phê chất lưọng cao, ít sử dụng hoá chất trong sản xuất,
giá thành hạ để sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Đó chính là mục tiêu của một
nền sản xuất cà phê bền vững.
2. 2 Mục tiêu về sản lượng :Con số an toàn nhất là 10 triệu bao cà phê tức là
600000 tấn/năm. Về cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm cà phê chè và vối trên thế giới là 67-
70/40-30. Song với điều kiện tự nhiên của Việt Nam tỷ lệ này vẫn là 25:75, tức là
hàng năm sản xuất ra khoảng 150000 tấn cà phê chè và 450000 tấn cà phê vối.

2. 3 Về diện tích :Tổng diện tích giữ ở mức 450000 ha. Trong đó :Cà phê vối
350000 ha, năng suất 1, 2-1, 3 tấn /ha, cà phê chè 100000 ha, năng suất 1, 5
tấn/ha. Điều chỉnh diện tích hiện có cho phù hợp với mục tiêu :Theo thống kê,
hiện nay cả nước có 520000 ha cà phê, trong đó có tới 500000 ha cà phê, trong đó
có tới 500000 ha cà phê vối. Trong 500000 ha cà phê vối, đã có khoảng 100000
ha do dân tự phát trồng trên đất xấu kém, nên năng suất thấp, giá thành sản xuất
quá cao cần huỷ bỏ để trồng cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn, và chuyển
60000 ha cà phê vối ở những vùng có điều kiện thích hợp với cà phê chè hơn. Cà
phê chè hiện đã có 20000 ha, cần trồng mới 20000 ha và 60000 ha do chuyển đổi
cơ cấu giống từ cà phê vối sang, để có tổng cộng 100000 ha. Duy trì, chăm sóc
350000 ha cầ phê vối, 100000 ha cà phê chè, cộng thêm 10% dự tính trồng mới để
thay thế luân phiên các vườn đã đến tuổi già cỗi, thường xuyên ta có xấp xỉ
500000 ha cà phê.
2. 4 Đối với cà phê vối :So với các nước khác trồng loại này trên thế giới, thì
cà phê vối của Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng để cạnh tranh. Để những tiềm
năng này trở thành hiện thực thì trong thời gian tới cần :
- Chuyển đổi những diện tích cà phê vối đã trồng ở những nơi qua xa nguồn
nước tưới, nguồn nước ngầm không đảm bảo, trên những loại đất không thích
hợp, đất có độc tố quá lớn sang trồng các loại cây ca cao, điều…tuỳ theo từng loại
đất
- Chuyển đổi một số diện tích cà phê vối ở những nơi có điều kiện sinh thái
thích hợp sang trồng cà phê chè



- Thay thế những cây cà phê vối có năng suất thấp, quả bé, dễ nhiễm bệnh gỉ
sắt bắng cách cưa bỏ để ghép với những tinh dòng có năng suất cao, cỡ hạt lớn và
chống được sâu bệnh.
- áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật canh tác, hạn chế việc sử dụng
phân bón khoáng, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, tiết kiệm nước tưới và chỉ sử

dụng khi cần thiết nhằm giảm chi phí sản xuất, đảm bảo vườn cây phát triển bền
vững
- Cần xây dựng chính sách thu mua theo hướng kích thích người sản xuất tự
nâng cao chất lượng.
- Cần tổ chức lại các đầu mối làm nhiệm vụ xuất khẩu cà phê, khuyến khích
một số đơn vị có đủ về vỗn để đầu tư mua sắm tranh thiết bị nhằm tái chế tạo ra sản
phẩm ổn định, đồng thời có đủ vốn cố định để kịp thời thu mua, dự trữ sản phẩm cà
phê của dân, tránh tình trạng bị động, đối phó khi thị trường có sự biến động
2. 5 Đối với cây chè
- Chỉ mở rộng diện tích trồng mới ở khu vực có đủ điều kiện về môi trường
phù hợp với loại cây này. Như vậy đòi hỏi công tác quy hoạch, thử nghiệm các
vùng trồng mới phải được tiến hành trước một bước nhằm xác định cơ cấu giống
phù hợp, thực hành khuyến nông giúp cho nhân dân làm quen dần, tiến tới nắm
chắc các vấn đề kinh tế –kỹ thuật –công nghệ trong sản xuất cà phê chè
- Cần đầu tư và quan tâm thích đáng cho việc phát triển cây cà phê chè ở các
tỉnh miền núi, chủ yếu là ở các tỉnh phía Bắc, nhằm góp phần khắc phục tình
trạng phát triển không đều ở các vùng cà phê trong cả nước.
3. Một số giải pháp tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước
3. 1, Về sự ra đời của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu và phát triển thời gian qua đã có
những tác dụng không thể phủ nhận. Tuy nhiên cũng cần có sự tổng kết, đánh giá
thực tiễn của các quỹ này từ sau khi vận dụng để có những điều chỉnh kịp thời
nhằm phát huy có hiệu quả hơn trong việc sử dụng quỹ
3. 2, Thúc đẩy nhanh việc xây dựng và phát triển quỹ bảo hiểm cà phê, có
như vậy mới đủ khả năng mua hàng, dự trữ hàng, khi có biến cố thất thường xảy
ra như giá cà phê thế giới xuống thấp …Và đó cũng là cái cốt vật chất để tập hợp



các nhà kinh doanh cà phê. Đồng thời, Nhà nước cần quan tâm hỗ trợ sản xuất và
đời sống của người dân trồng cà phê hơn, có như vậy mới tạo được tâm lý yên

tâm trong sản xuất, khiến họ tập trung toàn tâm, toàn lực gắn bó với ngành cà phê,
hạn chế một số nông dân về bỏ không chăm sóc, đốn chặt cây cà phê…khi giá cà
phê xuống thấp.
3. 3, Nhà nước cần có biện pháp cụ thể hỗ trợ mở rộng thị trường. Các cơ
quan tham tán kinh tế, đại diện thương mại của các nước có vai trò to lớn trong
việc xúc tiến xuất khẩu cung cấp thông tin về thị trường, hỗ trợ nghiên cứu thị
trường quốc tế đối với cà phê xuất khẩu. Đây là vấn đề cần được quan tâm, vì thị
trường quốc tế về nông sản nói chung vag cà phê nói riêng. Thường xuyên biến
động phức tạp. Do vậy, nhà nước nên thành lập các trung tâm xúc tiến xuất khẩu
nông sản để hỗ trợ giúp các nhà sản xuất, chế biến và kinh doanh xuất khẩu nông
sản.
3. 4, Chính phủ cần quan tâm hơn cho phát triển công nghiệp phát triển cà
phê, có thể nói đây là nhiệm vụ quan trọng của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ngành cà phê. Cần phải sử dụng thêm nhiều cụm chế biến công nghiệp
bao gồm công nghiệp chế biến ướt và khô, hệ thống sấy, xay xát, đánh bóng, nhà
kho …Nhà nước cần có chính sách chú trọng đầu tư nghiên cứu hơn nữa vào công
nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến sâu nghiên cứu chiến lược thị trường và
thương mại.
3. 5, Nhà nước cần thực hiện những ưu đãi về thuế để khuyến khích các
công ty của Việt Nam lập chi nhánh hoạt động ở nước ngoài, nhằm tăng cường
khả năng xuất khẩu trực tiếp. Cần có chính sách thuế hỗ trợ và thúc đẩy xúc tiến
thương mại
3. 6, Nhà nước cần có chính sách tăng cường đầu tư vào công tác đào tạo
công nhân kĩ thuật lành nghề, chuyên gia về công nghệ chế biến và cán bộ chuyên
trách …nhằm đáp ứng cho nền công nghiệp hiện đại và tăng trưởng chung của
nền kinh tế. Đặc biệt nhà nước cần hỗ trợ việc đào tạo và hướng dẫn hệ thống
kiểm soát chất lượng cà phê xuất khẩu để người sản xuất và chế biến hiểu được
yêu cầu chất lượng, nhằm đầu tư đúng hướng và tăng cường chất lượng đồng bộ.









Kết luận

Với những điều kiện thuận lợi và nỗ lực phát triển, Việt Nam đến nay đã trở
thành một trong những nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới không chỉ về số
lượng mà chất lượng cũng ngày càng được nâng cao. Nhưng để có thể duy trì
được vị trí hiện nay và tiến tới những mục tiêu cao hơn trong tương lai thì không
phải là điều dễ dàng vì trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thì
các đối thủ cạnh tranh sẽ gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn, trở ngại. Vì vậy,
chúng ta cần phải tiếp tục phát huy những thế mạnh của mình đồng thời nâng cao
hơn nữa chất lượng các loại cà phê, tiến hành những biện pháp tìm hiểu thị
trường, cập nhập thông tin để đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của thị trường cũng
như cần mở rộng khai thác sang các thị trường mới, tìm một chỗ đứng riêng cho
mình





Tài liệu tham khảo

Quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thương mại quốc tế.
Báo ngoại thương số 23-8-2003
Internet : hppt:\\vnexpress. net
Nghiên cứu ngoại thương số 308 tháng 1-2004

Ngoại thương số 7 ngày 10-3-2004


×