Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

Nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (437.55 KB, 71 trang )

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng vươn lên phát triển mạnh mẽ. Cùng với
việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (gọi tắt là
WTO – World Trade Organization), con đường phát triển của nước ta đã mở rộng
trước mắt, với nhiều cơ hội cũng như thách thức mới. Cơ hội khi Việt Nam có thể
giao lưu kinh tế với các bạn nước ngoài, tăng cường sự ảnh hưởng của mình trên các
diễn đàn quốc tế và đặc biệt quan trọng khi nước ta có thể thu hút vốn lớn từ bên
ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội
trên thì thách thức đặt ra cũng rất lớn. Việc thu hút vốn một mặt tạo cơ sở vật chất
cho nước ta, nhưng mặt khác đặt ra điều kiện mới khi nước ta phải đảm bảo việc sử
dụng vốn một cách có hiệu quả, không chỉ vốn nội lực mà còn có cả vốn vay nước
ngoài, bởi sử dụng hiệu quả vốn làm tiết kiệm thời gian cũng như tiền của, tạo điều
kiện cho kinh tế phát triển. Hơn nữa, nâng cao uy tín của nước ta, thu hút hơn nữa các
nhà đầu tư nước ngoài. Thách thức trên bắt buộc Việt Nam cần có những biện pháp
thích hợp nhằm kiểm soát, giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư. Công tác giám
sát, đánh giá dự án đầu tư sẽ là công cụ trợ giúp đắc lực cho nhà nước trong việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Chuyên đề này nhằm tập trung viết về chất
lượng giám sát, đánh giá đầu tư của nước ta trong thời gian gần đây, qua đó đưa ra
một số kiến nghị nhằm góp phần cải thiện chất lượng công tác này. Chuyên đề có tên
“Nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm định
và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư” gồm 2 chương:
- Chương I: Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm
định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Chương II: Kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh
giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Việc hoàn thành được chuyên đề này, ngoài sự nỗ lực của bản thân có sự hướng
dẫn tận tình chu đáo của thầy giáo Tiến sỹ Từ Quang Phương - Chủ nhiệm Bộ môn
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kinh tế đầu tư - Trường đại học Kinh tế quốc dân. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành


tới thầy Phương cùng sự giúp đỡ của Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế
hoạch đầu tư là đơn vị nhận em vào thực tập trong thời gian qua. Chuyên đề là kết
quả của việc tổng hợp, phân tích các số liệu và kiến thức có được trong suốt quá trình
thực tập tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư và 4 năm đại học tại Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, ngoài ra có sự tham khảo một số sách chuyên đề.
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương I: Thực trạng công tác Giám sát và Đánh giá đầu tư tại
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
I.Một vài nét về Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư
1.Chức năng - Nhiệm vụ - Cơ cấu tổ chức
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư được thành lập từ năm 1974, tuy nhiên lúc đó
vụ có tên là Văn phòng Thẩm tra nhiệm vụ thiết kế và báo cáo kinh tế - kỹ thuật - Uỷ
ban kế hoạch Nhà nước. Tới năm 1984-1985, Vụ có tên là Vụ xây dựng cơ bản - Uỷ
ban kế hoạch Nhà nước. Đến năm 1992, Vụ chuyển thành Văn phòng thẩm định - Bộ
Kế hoạch và Đầu tư. Cho đến năm 1995 và tới bây giờ, Vụ có tên chính thức là Vụ
thẩm định và Giám sát đầu tư thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư.
1.1.Chức năng - Nhiệm vụ
a) Chủ trì tổ chức thực hiện công tác thẩm định, thẩm tra các quy hoạch phát
triển ngành, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng lãnh thổ, các dự
án đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài do
Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc cho phép đầu tư và các dự án đầu tư
thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Tham gia với các Vụ liên quan trong Bộ xem xét để Bộ có ý kiến đối với các
dự án đầu tư, các dự án quy hoạch thuộc thẩm quyền quyết định của các bộ,
ngành, địa phương và doanh nghiệp.
b) Làm nhiệm vụ Thường trực của Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án
đầu tư ; tổ chức thẩm định các dự án đầu tư quan trọng quốc gia theo quy chế
làm việc của Hội đồng.
c) Làm đầu mối tổ chức thực hiện công tác giám sát tổng thể đầu tư trong phạm

vi toàn quốc ; giám sát, đánh giá các dự án đầu tư trong nước do Thủ tướng
Chính phủ quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc Thủ tướng giao ; phối hợp
với các đơn vị trong Bộ thực hiện đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế
quốc dân.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
d) Tham gia nghiên cứu, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư ;
chủ trì soạn thảo các văn bản quy phạm cụ thể trong lĩnh vực thẩm định và
giám sát đầu tư ; hướng dẫn nghiệp vụ thẩm định, giám sát đầu tư cho các bộ,
ngành và địa phương.
e) Tổng kết, đánh giá, báo cáo về công tác thẩm định, giám sát các dự án đầu tư ;
cung cấp thông tin cần thiết cho mạng thông tin của Bộ.
f) Phối hợp với Văn phòng Bộ quản lý và sử dụng lệ phí thẩm định theo quy
định của Nhà nước.
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao
1.2.Cơ cấu tổ chức
Tính đến đầu năm 2006, tổng số cán bộ có 21 người, trong đó gồm 4 lãnh đạo
(1 vụ trưởng, 3 vụ phó), 17 chuyên viên (có 2 công chức dự bị). Vụ Thẩm định và
Giám sát đầu tư có cơ chế hoạt động khá đặc biệt: 1 chuyên viên có thể làm việc
cùng 1 lúc với cả 3 vụ phó.
2.Một số nhiệm vụ chính của Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư về Đánh giá
và Giám sát đầu tư
• Hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác
giám sát, đánh giá đầu tư trong toàn quốc
• Tổ chức thực hiện đánh giá tổng thể đầu tư trong phạm vi toàn quốc theo từng
thời kỳ kế hoạch hoặc theo yêu cầu của Chính phủ và tổng hợp báo cáo đánh
giá tổng thể đầu tư hàng năm của các Bộ, ngành và địa phương để báo cáo
Thủ tướng Chính phủ
• Chủ trì và phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ quản lý ngành
và địa phương liên quan thực hiện giám sát, đánh giá các dự án quan trọng

quốc gia, các dự án nhóm A Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư trên phạm
vi toàn quốc.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuỳ theo từng dự án cụ thể, Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu các Bộ, ngành,
địa phương liên quan cử các cán bộ, chuyên gia tham gia giám sát, đánh giá dự án
dưới hình thức thành lập các Tổ công tác liên ngành.
• Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện giám sát, đánh giá các dự án
nhóm A do Bộ tổ chức hoặc chủ trì tổ chức thực hiện.
• Kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ hoặc với các Bộ, ngành, địa phương liên
quan (theo thẩm quyền) về các giải pháp nhằm khắc phục những vướng mắc
trong hoạt động đầu tư của các ngành, các địa phương hoặc đối với các dự án
nhóm A để đảm bảo tiến độ và hiệu quả đầu tư.
• Xem xét, có ý kiến hoặc giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của
Bộ khi có yêu cầu của các Bộ, ngành khác, địa phương và chủ đầu tư.
3.Phương thức thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm định và
Giám sát đầu tư
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư là đơn vị được Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân
công làm đầu mối thực hiện các nhiệm vụ về giám sát, đánh giá đầu tư của Bộ, phối
hợp với các Bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư, cung cấp thông tin, hướng dẫn
nghiệp vụ và xử lý các vấn đề về giám sát, đánh giá đầu tư. Phương thức thực hiện
giám sát, đánh giá đầu tư của Vụ như sau
1. Tổ chức theo dõi, tổng hợp, phân tích tình hình đầu tư:
• Thực hiện nhiệm vụ theo dõi, phân tích, đánh giá tình hình thực
hiện đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư trên cơ sở các thông tin,
báo cáo định kỳ theo hệ thống và chế độ quy định.
• Tổ chức mạng thông tin liên thông để thu thập và cập nhật thông
tin, phối hợp theo dõi và đánh giá tình hình đầu tư
2. Kiểm tra, xem xét thường xuyên:
• Thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư bằng việc kiểm tra, xem xét

thường xuyên hoạt động đầu tư thuộc phạm vi trách nhiệm của
mình
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Yêu cầu chủ đầu tư báo cáo hoặc tiến hành giám sát tại chỗ về vấn
đề cần tìm hiểu trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm các
quy định về quản lý đầu tư, những khó khăn vướng mắc trong quá
trình thực hiện dự án hoặc có những vấn đề chưa rõ trong Báo cáo
giám sát, đánh giá đầu tư của chủ đầu tư
3. Tổ chức đánh giá hoạt động đầu tư:
• Thực hiện nhiệm vụ đánh giá tổng thể đầu tư hoặc đánh giá dự án
(đánh giá đầu tư) vào thời điểm cần thiết theo yêu cầu của cơ quan
cấp trên hoặc của người quyết định đầu tư.
• Nhiệm vụ, nội dung và thời điểm đánh giá tổng thể đầu tư hoặc
đánh giá dự án đầu tư do cơ quan cấp trên hoặc người có thẩm
quyền quyết định đầu tư xem xét quyết định.
II.Thực trạng công tác giám sát và đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm
định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
A-Chế độ báo cáo và nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ
1.Nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư
1.1. Đánh giá tổng thể đầu tư
Đánh giá tổng thể đầu tư bao gồm:
a) Đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế, ngành và địa phương, vùng lãnh thổ
Vụ có nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và kết quả đầu tư của
nền kinh tế, ngành, địa phương theo các chỉ tiêu phản ánh quy mô, tốc độ, cơ cấu,
tiến độ và hiệu quả đầu tư. Qua đó xác định các yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng
tới tình hình và kết quả đầu tư ; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư
trong kỳ hoặc giai đoạn kế hoạch sau ; Đánh giá tính khả thi của các quy hoạch,
kế hoạch được duyệt.
6

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Việc đánh giá tổng thể đầu tư toàn bộ nền kinh tế được thực hiện hàng năm, 5
năm hoặc theo yêu cầu của Chính phủ.
b) Đánh giá tổng thể về quản lý đầu tư
Đánh giá tổng thể về quản lý đầu tư nhằm đánh giá tình hình thực hiện các
quy định về quản lý đầu tư ở các Bộ, ngành và địa phương, phát hiện những
sai phạm, những vướng mắc để kịp thời chấn chỉnh hoạt động đầu tư ở các
Bộ, ngành, địa phương và xử lý kịp thời về mặt cơ chế, chính sách cho thích
hợp với tình hình thực tế
1.2.Giám sát, đánh giá dự án đầu tư
Giám sát, đánh giá dự án đầu tư theo các giai đoạn gồm
a) Giám sát chuẩn bị đầu tư:
Vụ tiến hành việc giám sát chuẩn bị đầu tư nhằm
• kiểm tra sự đảm bảo các quy định về pháp lý trong việc chuẩn bị đầu tư ; kiểm
tra nội dung quyết định đầu tư theo quy định nêu tại Điều 30 Nghị định
52/CP ; đánh giá sự phù hợp của quyết định đầu tư với quy hoạch, kế hoạch,
chương trình đầu tư của ngành ; địa phương ; thẩm quyền và trình tự ra quyết
định đầu tư đối với dự án
• Đánh giá tổng thể về tính khả thi của quyết định đầu tư theo những yếu tố chủ
yếu của dự án
• Đánh giá về năng lực của Chủ đầu tư
b) Giám sát, đánh giá quá trình thực hiện dự án đầu tư
• Theo dõi, kiểm tra thường xuyên quá trình tựhc hiện dự án
• Kiểm tra việc áp dụng và chấp hành các chính sách, chế độ quy định của Nhà
nước, của ngành và địa phương áp dụng đối với dự án
• Đánh giá năng lực của Ban quản lý dự án theo phương thức thực hiện đầu tư
đã lựa chọn
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu (khối lượng, tiến độ, chất

lượng, giải ngân) ảnh hưởng về môi trường và xã hội trong quá trình thực hiện
đầu tư.
• Trên cơ sở theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện dự án phát hiện
những vấn đề phát sinh, các sai phạm hoặc bất hợp lý, những khó khăn, vướng
mắc về cơ chế, chính sách cần giải quyết.
• Đề xuất các giải pháp, kiến nghị người có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc
cơ quan liên quan xem xét, giải quyết để đảm bảo tiến độ đầu tư.
c) Đánh giá sau thực hiện dự án đầu tư
• Đánh giá kết thúc quá trình đầu tư
Nhằm tổng hợp, đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư một cách toàn
diện từ khâu chuẩn bị đến khâu hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
• Đánh giá quá trình khai thác, vận hành dự án
Nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư, phân tích tác động đối với dự án về các mặt
chính sách, sử dụng đất đai …và đề xuất các biện pháp để đảm bảo khai thác, vận
hành dự án có hiệu quả.
2.Báo cáo về giám sát đánh giá đầu tư
2.1.Chế độ báo cáo
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư có nhiệm vụ trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư để
báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm và từng thời kỳ
kế hoạch theo yêu cầu của Chính phủ ; tổng hợp báo cáo về giám sát tổng thể đầu tư
6 tháng một lần ; báo cáo tổng hợp, giám sát, đánh giá dự án nhóm A trong phạm vi
toàn quốc một quý một lần
2.2.Thời hạn báo cáo định kỳ
• Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm trong
tháng 2 năm sau
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Báo cáo quý về giám sát đánh giá dự án đầu tư nhóm A trong tháng đầu của
quý sau.
B- Công tác tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư

tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư giai đoạn 2003-2006
1.Quy định về giám sát, đánh giá dự án đầu tư của nước ta
Công tác giám sát và đánh giá đầu tư từ lâu đã được Chính phủ coi là công việc
vô cùng quan trọng. Cùng với việc thẩm định dự án đầu tư, giám sát và đánh giá đầu
tư luôn được tiến hành thường xuyên, định kỳ đối với các dự án đầu tư, đặc biệt là
các dự án đầu tư quan trọng cấp quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia và các
dự án nhóm A. Tuy nhiên, trong một quá trình dài Chính phủ Việt Nam chưa có
những văn bản quy định cụ thể về trách nhiệm cũng như nhiệm vụ đối với các cơ
quan quản lý nhà nước trong việc giám sát, đánh giá dự án. Do vậy, tình hình trên đã
gây ra những phiền phức cũng như những hậu quả không đáng có do việc quản lý dự
án chất lượng kém như: dự án chất lượng kém, chậm tiến độ, thời gian thi công kéo
dài, các thiệt hại gây hậu quả nghiêm trọng tới tài sản xã hội chủ nghĩa không quy
được trách nhiệm …
Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ và nâng cao
chất lượng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật ; cải tiến mạnh mẽ phương
thức xây dựng nhằm đảm bảo ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết thi hành
Luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội thông qua năm 2005.
Liên quan đến hoạt động đầu tư, trong năm 2006 Chính phủ đã ban hành các
Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật đầu tư năm
2005 ; Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật Đấu
thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng ; Nghị định số 101/2006/NĐ-
CP ngày 21/9/2006 Quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng
nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật
Doanh nghiệp và Luật Đầu tư ; Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 ban
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Nghị định số
112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 về sửa đổi bổ sung một số đièu của Nghị định số
16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Liên Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tài Chính đã ban hành

Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006
hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng.
Năm 2007, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ xây dựng Luật về quản
lý đầu tư các dự án sử dụng vốn Nhà nước không nhằm mục đích kinh doanh (Luật
Đầu tư công) nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý đầu tư sử dụng
vốn Nhà nước. Ngoài ra, trong phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của mình, các
Bộ, ngành, địa phương qua công tác rà soát đánh giá các văn bản pháp quy, đã tiếp
tục bổ sung, hoàn chỉnh hoặc ban hành những văn bản pháp quy mới để tăng cường
quản lý đầu tư và xây dựng có hiệu quả hơn. Điển hình như: Bộ Công nghiệp có Chỉ
thị số 06/CT-BCN ngày 28/03/2006 về tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây
dựng nhằm chống thất thoát, lãng phí và các tiêu cực trong thực hiện đầu tư ; Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 18/2006/TT-BNN ngày
20/3/2006 hướng dẫn một số nội dung quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình
do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quản lý ; Uỷ ban nhân dân Thành phố
Hải Phòng ban hành Chỉ thị số 21/2006/CT-UBND ngày 14/9/2006 về việc tăng
cường biện pháp chỉ đạo và xử lý các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản đối với ngân
sách cấp huyện và xã ; Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Chỉ thị số
12/2006/CT-UBND ngày 10/4/2006 yêu cầu các đơn vị kiểm tra các dự án đầu tư (sử
dụng vốn Nhà nước) để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những sai phạm, thiếu sót, lãng
phí, nhằm chấn chỉnh, khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý, xử lý
nghiêm những sai phạm theo quy định, Chỉ thị số 34/2006/CT-UBND ngày
27/10/2006 về tổ chức công tác giám sát đàu tư cộng đồng ; Ủy ban nhân dân tỉnh
Khánh Hoà ban hành Chỉ thị số 28/2006/CT-UBND ngày 29/9/2006 về việc triển
khai thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư trên địa bàn tỉnh ; Uỷ ban nhân dân
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tỉnh An Giang, Đồng Tháp và một số địa phương khác có các Quyết định quy định
trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh và tăng cường công
tác giám sát, đánh giá đầu tư.

Các Luật và các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư đã có tác dụng rõ rệt
trong việc huy động nguồn lực đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, phân cấp phát huy
tính chủ động của địa phương, từng bước đưa việc giám sát, đánh giá đầu tư qua đó
đưa quản lý đầu tư vào nề nếp, tháo gỡ nhiều khó khăn cho các đơn vị thực hiện quản
lý đầu tư.
2.Tổ chức thực hiện công tác giám sát và đánh giá dự án đầu tư giai đoạn
2003-2006
Số liệu tổng hợp giai đoạn 2003-2006 gửi tới Bộ Kế hoạch và đầu tư từ các Bộ
chủ quản, các ngành, địa phương và các Tổng Công ty đều đặn và chính xác hơn qua
các năm. Số đơn vị nộp báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư có số liệu cụ thể
ngày càng tăng. Điều này chứng tỏ các đơn vị ngày càng chú trọng hơn, nghiêm túc
hơn trong công tác giám sát và đánh giá đầu tư.
2.1.Báo cáo giám sát, đánh giá chung các dự án đầu tư từ các đơn vị
Theo báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư từ các cơ quan, đơn vị gửi về
Bộ kế hoạch và đầu tư, tổng số các đơn vị gửi về qua các năm có tăng lên. Năm
2003, số đơn vị gửi báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư mới chỉ là 55 đơn vị
(thấp nhất giai đoạn (2003-2006). Đến năm 2004, con số này tăng lên 95 đơn vị (cao
nhất trong giai đoạn 4 năm 2003-2006) và trong 2 năm 2005-2006, số đơn vị gửi báo
cáo về dao động từ 93(2005) xuống 90(2006). Như vậy, số đơn vị gửi báo cáo tăng
lên mạnh nhất giai đoạn 2003-2004 từ 55 đơn vị lên đột biến 95 đơn vị (tăng 72,7%).
*Nguyên nhân: giải thích cho việc tăng đột biến là do:
+Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 03/2003/TT-BKH ngày 19 tháng
5 năm 2003 hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư cho các đơn vị quản lý Nhà
nước về đầu tư cũng như các chủ đầu tư có dự án đầu tư đang triển khai.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+Quốc hội đã ra Nghị quyết và Thủ tướng có Chỉ thị quy định về công tác giám sát
đánh giá đầu tư. Do vậy, quy định trách nhiệm và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý
và chủ đầu tư tăng lên, bắt buộc những đơn vị này phải có trách nhiệm báo cáo tình
hình thực hiện dự án đầu tư lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

+Ban hành Thông tư trên cùng với việc phân cấp ngày càng mạnh mẽ cho các địa
phương.
Do vậy, công tác giám sát đánh giá dự án ngày càng được cải thiện. Giai đoạn
2004-2006, các đơn vị gửi báo cáo đều đặn hơn và không năm nào số đơn vị gửi báo
cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư dưới con số 90 đơn vị. Điều này cho thấy, các
văn bản pháp luật của Chính phủ có tính khả thi cao, các đơn vị ngày càng tuân thủ
nhiệm vụ quản lý đầu tư của mình.
Bảng 1: Tổng hợp đơn vị nộp báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư
Năm
Số đơn vị nộp báo cáo giám
sát đánh giá tổngthể đầu tư
2003 2004 2005 2006
55 95 93 90
% 43% 69.90% 68.90% 68.70%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư-Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tuy nhiên, tính đến năm 2006 số đơn vị gửi báo cáo vẫn chỉ dao động dưới
mức 70%, chưa năm nào vượt qua mức này (năm cao nhất là 2004 đạt 69,9%). Đây là
mức vẫn còn thấp so với yêu cầu. Tỷ lệ nộp báo cáo thấp này gây cản trở tới việc
tổng hợp thông tin, số liệu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, qua đó giúp Thủ tướng
thấy rõ được tình hình thực hiện quản lý đầu tư để có các biện pháp chấn chỉnh kịp
thời. Như vậy, tình hình chấp hành chế độ báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương và
các Tổng Công ty mặc dù có sự cố gắng và cải thiện nhiều qua từng năm nhưng nhìn
chung vẫn chưa nghiêm túc, thiếu sự cố gắng.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.Tình hình tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư giai
đoạn 2003-2006
2.2.1.Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư chung của cả nước
giai đoạn 2003-2006
Giai đoạn 2003-2006, công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư của cả nước có

những điểm chính sau:
+Năm 2003, số dự án thực hiện đầu tư của cả nước thấp nhất, đạt 5432 dự án. Năm
2004 tăng 278% lên 20515 dự án. Các năm tiếp theo số dự án tiếp tục tăng với tốc độ
năm 2005 là 19% và năm 2006 là 12%. Các dự án thực hiện đầu tư đều tăng trong
từng năm cho thấy tình hình đầu tư của nước ta có sự phát triển, đặc biệt phát triển
mạnh mẽ từ năm 2004 trở đi. Như vậy, xét chung cho cả dự án đầu tư trong nước lẫn
dự án đầu tư từ nước ngoài, các nhà đầu tư đã ngày một tin tưởng vào chính sách ưu
đãi đầu tư của Việt Nam nên ngày càng thực hiện nhiều dự án đầu tư hơn. Qua đó
cho thấy chính sách đầu tư cũng như môi trường đầu tư của Việt Nam đã có sự cải
thiện đáng kể (từ năm 2004 trở đi), có tiềm năng thu hút đầu tư mạnh mẽ.
+Số dự án đầu tư kết thúc đưa vào hoạt động trong năm 2005 chiếm tỷ lệ cao nhất
trong tổng số dự án thực hiện đầu tư với tỷ lệ 40,76%. Các năm còn lại đều dao động
quanh mức trên dưới 36%. Tỷ lệ này còn quá thấp, chưa vượt qua mức 50% cho thấy
công tác giải ngân còn chậm. Đây cũng là vấn đề tồn tại của thực trạng đầu tư nước
ta trong nhiều năm liền. Việc giải ngân chậm làm cho dự án đầu tư đưa vào hoạt
động bị trì hoãn, một mặt không tạo thêm tài sản cho nền kinh tế quốc dân, mặt khác
dự án lâu ngày không được sử dụng hoạt động sẽ bị hao mòn vô ích (không phải hao
mòn do sử dụng trong hoạt động sản xuất), hư hỏng gỉ sét trong khi vẫn phải mất
diện tích lớn cho những công trình này khiến nhiều dự án khác không có đất để triển
khai, làm giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư nước ta. Giải ngân chậm cũng
là nguyên nhân làm Việt Nam trong nhiều năm liền không được nhà đầu tư nước
ngoài tin tưởng đầu tư.
+Tỷ lệ số dự án được giám sát đánh giá tăng trong giai đoạn 2003-2004, 2005-2006
và giảm giai đoạn 2004-2005. Năm 2004 tỷ lệ số dự án này cao nhất (60,53%) là năm
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công tác giám sát, đánh giá dự án thực hiện tốt nhất trong cả nước. Năm 2005, việc
thực hiện nhiệm vụ này giảm sút mạnh, chỉ còn 45,78%. Năm này công tác thực hiện
kém nghiêm túc nhất trong toàn giai đoạn 2003-2006. Sang năm 2006, công tác này
được chấn chỉnh, do đó số dự án được giám sát, đánh giá đã tăng lên.

+Số dự án vi phạm đầu tư tăng lên với tốc độ rất nhanh, cùng với sự tăng lên của số
dự án thực hiện đầu tư. Năm 2003 mới chỉ có 1,4% số dự án thực hiện đầu tư vi
phạm thủ tục đầu tư. Các năm sau, số dự án vi phạm tăng cả về tuyệt đối lẫn tương
đối. Từ năm 2005, tốc độ tăng số dự án vi phạm thủ tục đầu tư có chiều hướng giảm
đi mặc dù vẫn tăng do có sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ trong công tác
giám sát và đánh giá dự án đầu tư. Trong số các nguyên nhân gây ra vi phạm thủ tục
đầu tư, các nguyên nhân như không phù hợp với quy hoạch được duyệt, không đúng
thẩm quyền và ký hợp đồng không đúng quy định trong năm 2003 không có hiện
tượng này xảy ra, tuy nhiên sang các năm sau đều phát sinh. Nguyên nhân chậm tiến
độ vẫn là nguyên nhân cơ bản chính. Tỷ lệ chậm tiến độ chỉ giảm giai đoạn
2003-2004 (về mặt tương đối) mặc dù vẫn tăng (về mặt tuyệt đối).Các năm khác tỷ lệ
này đều tăng (cả về tuyệt đối lẫn tương đối)
+Dự án phải điều chỉnh trong cả nước có xu hướng tăng về số lượng, trong đó điều
chỉnh về vốn đầu tư tăng mạnh nhất. Đáng chú ý và đáng mừng là số dự án hoạt động
không hiệu quả chiếm tỷ lệ rất ít (trên tổng số các dự án thực hiện đầu tư).
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2: Tổng hợp báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư giai đoạn 2003-2006
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và đầu tư

m
Số dự án
thực hiện
đầu tư
Tổng
Số dự án
kết thúc
đưa vào
hoạt
động đầu

tư trong
năm
Số dự án
đã thực
hiện
GS,ĐG
đầu tư
trong
năm
Số dự án
có vi phạm về thủ tục đầu tư
Số dự án phải điều chỉnh
Tổng
Không
phù
hợp với
quy
hoạch
Không
đúng
thẩm
quyền
Không
thực
hiện
đầy đủ
trình tự
thẩm
tra,
thẩm

định dự
án
Đấu
thầu
không
đúng
quy
định
Bỏ giá
thầu
không
phù
hợp
Phê
duyệt
không
kịp
thời

hợp
đồng
không
đúng
quy
định
Chậm
tiến độ
Chất
lượng
xây

dựng
thấp

lãng
phí
Tổng
Nội
dung
đầu tư
Tiến
độ đầu

Vốn
đầu tư
Số dự
án
phải
ngừng
thực
hiện
vì các
lý do
khác
nhau
Số dự
án
đưa vào
hoạt
động
nhưng

không
có hiệu
quả
200
3 5432 2057 2840 39 0 0 4 1 4 18 0 144 18 26 451 102 127 326 66
1
37.90% 52.30% 1.40% 0.00% 0.00% 0.10% 0.00% 0.10%
0.60
% 0.00% 5.10%
0.60
%
0.90
% 15.90% 3.60% 4.50%
11.50
% 2.30%
0.00%
200
4 20515 7344 12418 779 8 1 119 9 6 12 72 954 11 6 1347 341 454 892 267
3
35.80% 60.53% 3.80% 0.04% 0.00% 0.58% 0.04% 0.03%
0.06
% 0.35% 4.65%
0.05
%
0.03
% 6.57% 1.66% 2.21%
4.35
% 1.30%
0.01%
200

5 24364 9931 11155 2534 16 5 31 4 4 68 14 2346 55 28 2838 1019 1628 2126 217
1
40.76% 45.78%
10.40
% 0.07% 0.02% 0.13% 0.02% 0.02%
0.28
% 0.06% 9.63%
0.23
%
0.11
% 11.65% 4.18% 6.68%
8.73
% 0.89%
0.00%
200
6 27340 9754 14044 3660 26 5 7 41 15 27 6 3595 14 8 4576 1023 2991 2992 481
6
35.68% 51.37%
13.39
% 0.10% 0.02% 0.03% 0.15% 0.05%
0.10
% 0.02%
13.15
%
0.05
%
0.03
% 16.74% 3.74%
10.94
%

10.94
% 1.76%
0.02%
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.2.Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư của các Bộ -Cơ quan
ngang bộ, Cơ quan Chính phủ, các địa phương và các Tổng Công ty 91
a) Giám sát, đánh giá chung các dự án đầu tư của của các Bộ -Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan Chính phủ, các địa phương và các Tổng Công ty 91
*Thực hiện chế độ báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư
Công tác giám sát đánh giá dự án đầu tư được triển khai trên toàn đất nước.
Không chỉ thực hiện đối với các Thành phố lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng mà còn sát sao đến tận các tỉnh vùng sâu địa đầu Tổ quốc như Hà Giang, Lào
Cai … Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan Chính phủ cũng như các Tổng Công ty
đã chấp hành việc thực hiện chế độ báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư để đảm bảo
kịp thời tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình quản lý đầu tư của cả
nước trong từng năm, từ đó có kế hoạch định hướng đầu tư cho những năm tiếp theo.
Báo cáo gửi về Bộ Kế hoạch đầu tư bao gồm cả báo cáo có số liệu cụ thể lẫn báo cáo
không có số liệu cụ thể. Ta có bảng số liệu sau đây:
Bảng 3: Báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư giai đoạn 2003-2006
Năm
Cơ quan
2003 2004 2005 2006
Tỉnh, Thành phố
27(61) 47(64) 53(64) 54(64)
44.26% 73.44% 82.81% 84.38%
Tổng Công ty 91
10(20) 17(19) 14(19) 8(19)
50% 89% 73.68% 42.11%
Bộ, Cơ quan ngang Bộ

10(29) 24(36) 20(36) 20(36)
34.48% 67% 55.56% 55.56%
Cơ quan Chính phủ
8(15) 7(17) 6(17) 4(17)
53.33% 41.18% 35.29% 23.53%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Qua bảng 2 trên đây cho thấy:
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+Các tỉnh, thành phố: tỷ lệ nộp báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư đạt
cao nhất năm 2006 (84%) và thấp nhất là vào năm 2003 (chỉ đạt 44%). Số liệu trên
chỉ ra các địa phương nộp báo cáo tăng cả về số lượng tuyệt đối lẫn tương đối. Chỉ
trong giai đoạn 2003-2006, số địa phương nộp báo cáo tăng gấp đôi, từ 27 tỉnh, thành
phố lên 54 địa phương. Như vậy, số lượng địa phương nộp tăng theo chiều hướng
tích cực, tăng đều qua các năm và có xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Giai
đoạn về sau 2005-2006 số địa phương nộp báo cáo tăng chậm. Theo giải thích trên
đây, việc những năm sau năm 2003 các tỉnh thành phố nộp báo cáo tăng lên là do Thủ
tướng, Chính phủ đã ban hành nhiều quy chế, thông tư quy định trách nhiệm, nhiệm
vụ ngày càng tăng cho các địa phương. Hơn nữa, việc phân cấp quản lý ngày càng
mạnh, các địa phương ngày càng được giao nhiệm vụ trọng trách nặng nề hơn, quản
lý nhiều dự án lớn với mức vốn lớn nên công tác giám sát đánh giá được Chính phủ
quản lý chặt chẽ, tránh gây ra các hậu quả thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, của
công dân.
+Bộ và Cơ quan ngang Bộ: Số lượng các báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể
đầu tư do các Bộ và Cơ quan chủ quản gửi về có gia tăng về số lượng cũng như chất
lượng báo cáo, cho thấy các Bộ đã có ý thức chấp hành nghiêm túc các Nghị quyết
của Quốc hội và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Bảng số liệu trên cho thấy, các Bộ
tiến hành gửi báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư ngày càng đều đặn hơn. Trong 2 năm
liên tiếp 2005-2006, số đơn vị gửi báo cáo không thay đổi, duy trì được tỷ lệ 20 đơn
vị. Năm 2003 số đơn vị nộp báo cáo chỉ có 34% trên tổng số Bộ và Cơ quan ngang

Bộ. Đến cuối năm 2006 và tính đến đầu tháng 4/2007, con số này lên mức 56%, tăng
1,5 lần so với năm 2003. Tuy nhiên cần phải thấy rằng, mặc dù có tăng lên nhưng số
đơn vị nộp vẫn chiếm tỷ lệ thấp, chưa đạt yêu cầu. Đặc biệt, năm 2004 có 24 Bộ, Cơ
quan ngang Bộ nộp xong tới những năm sau giảm xuống chỉ còn 20. Đây là điều cần
xem xét vì số Bộ, Cơ quan ngang Bộ của năm 2004 đều bằng với năm 2005, 2006
nhưng số đơn vị nộp lại cao hơn. Như vậy, xét về tổng thể giai đoạn 4 năm thì các
Bộ, Cơ quan ngang Bộ có xu hướng thực hiện chế độ báo cáo giám sát đánh giá
nghiêm túc hơn. Trong giai đoạn tới, Thủ tướng Chính phủ cần phải có các quy định
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cũng như chỉ thị cụ thể yêu cầu các Bộ, Cơ quan ngang Bộ chấp hành nghiêm chỉnh
hơn nữa chế độ báo cáo giám sát đánh giá đầu tư, bởi đây là những cơ quan Nhà
nước quản lý các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, nếu không thực hiện nghiêm
túc thì khó có thể quản lý được tình hình thực hiện đầu tư trong các ngành kinh tế của
đất nước.
+Tổng Công ty 91: Năm 2003, số Tổng Công ty 91 nộp báo cáo giám sát đánh
giá tổng thể đầu tư chỉ khiêm tốn ở con số 10/20 đơn vị (50%). Trong đó, các Tổng
Công ty lớn như Tổng Công ty than, Tổng Công ty điện (nay là Tập đoàn điện lực
Việt Nam), Tổng Công ty ximăng, Tổng Công ty công nghiệp đóng tàu không có báo
cáo giám sát đánh giá. Đây là những Tổng Công ty mũi nhọn của Việt Nam, có tác
dụng định hướng phát triển nền kinh tế và chiếm tỷ trọng các dự án thực hiện đầu tư
rất lớn. Do vậy, số liệu báo cáo tổng hợp trình lên Thủ tướng là số liệu không đầy đủ,
không phản ánh đúng thực tế hoạt động đầu tư trong năm. Giai đoạn sau, tình hình
nộp báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư của các Tổng Công ty này có sự cải
thiện rõ rệt. Các năm 2004, 2005 Tổng Công ty điện đều có báo cáo nộp Bộ Kế
hoạch và Đầu tư. Năm 2004, có 17/19 Tổng Công ty nộp báo cáo (chiếm 89%), tăng
đột biến so với năm 2003. Năm 2005 giảm chỉ còn 14/19 Tổng Công ty và giảm
mạnh nhất là vào năm 2006 chỉ có 8/19 đơn vị (chỉ chiếm 42%). Như vậy, sau khi
tăng mạnh vào năm 2004, năm 2006 số Tổng Công ty 91 thực hiện chế độ báo cáo lại
xuống thấp hơn (mặc dù số lượng Tổng Công ty 91 không hề giảm), do đó có thể

thấy tình trạng nộp báo cáo của những đơn vị này thực hiện không nghiêm túc, cần
được chấn chỉnh hơn nữa.
+Cơ quan Chính phủ: Các Cơ quan Chính phủ có số đơn vị nộp báo cáo ngày
càng giảm qua các năm. Cao nhất số báo cáo các Cơ quan Chính phủ gửi về là năm
2003 với 8/15 đơn vị gửi (53,33%), trong đó Tổng Cục thống kê là đơn vị chấp hành
nghiêm chỉnh nhất (4 năm từ 2003-2006 đều có báo cáo giám sát đánh giá tổng thể
đầu tư có số liệu cụ thể). 3 năm về sau, số đơn vị gửi báo cáo về giảm dần, trong khi
số Cơ quan Chính phủ lại tăng lên (từ 15 năm 2003 lên 17). Như vậy, số lượng Cơ
quan Chính phủ gửi báo cáo giảm về cả số lượng tuyệt đối lẫn tương đối. Mặt khác,
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các báo cáo gửi về giảm trong hoàn cảnh số đơn vị tăng lên cho thấy việc chấp hành
chế độ báo cáo ở các Cơ quan Chính phủ chưa nghiêm túc.
*Tình hình cụ thể công tác giám sát, đánh giá đầu tư ở các Bộ - Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan Chính phủ, Tỉnh - Thành phố và các Tổng Công ty 91
Ta có bảng số liệu sau đây:
Bảng 4: Tổng hợp số liệu các dự án đầu tư giai đoạn 2003-2006
STT Năm
Cơ quan
Số dự án thực hiện đầu tư
Tổng Nhóm A Nhóm B Nhóm C
Số dự án
quyết
định
đầu tư
Số dự án
kết thúc
đưa vào
hoạt
động đầu

tư trong
năm
Số dự án
đã thực
hiện
GS,ĐG
đầu tư
trong
năm
1 2003
TỈnh,Thành phố
3018 9 284 2725 2024 1279 1011
0.30% 9.41% 90.29% 67.06% 42.38% 33.50%
Tổng công ty 91
1700 22 275 1403 389 627 1386
1.29% 16.18% 82.53% 22.88% 36.88% 81.53%
Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
511 16 199 296 58 79 248
3.13% 38.94% 57.93% 11.35% 15.46% 48.53%
Cơ quan CP
203 2 41 160 116 72 195
0.99% 20.20% 78.82% 57.14% 35.47% 96.06%
2 2004
TỈnh,Thành phố
7942 56 1172 6631 3920 2532 3555
0.71% 0.71% 0.71% 0.71% 0.71% 0.71%
Tổng công ty 91
6316 91 581 5644 1767 1243 5918
1.4% 9.2% 89.4% 28.0% 19.7% 93.7%

Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
6008 125 799 5083 1926 3508 2755
2.08% 13.30% 84.60% 32.06% 58.39% 45.86%
Cơ quan CP
249 3 84 162 83 61 190
1.20% 33.73% 65.06% 33.33% 24.50% 76.31%
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3 2005
TỈnh,Thành phố
12165 73 1971 9966 4693 4462 5331
0.60% 16.20% 81.92% 38.58% 36.68% 43.82%
Tổng công ty 91
4727 71 610 3891 1558 2293 4450
1.50% 12.90% 82.31% 32.96% 48.51% 94.14%
Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
7357 279 1907 5160 1507 3136 1322
3.79% 25.92% 70.14% 20.48% 42.63% 17.97%
Cơ quan CP
115 3 58 54 38 40 52
2.61% 50.43% 46.96% 33.04% 34.78% 45.22%
4 2006
TỈnh,Thành phố
17371 88 2065 15218 5957 6583 10538
0.51% 11.89% 87.61% 34.29% 37.90% 60.66%
Tổng công ty 91
2245 11 432 1802 974 1242 1920
0.49% 19.24% 80.27% 43.39% 55.32% 85.52%

Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
7606 202 1366 6038 2993 1901 1542
2.66% 17.96% 79.38% 39.35% 24.99% 20.27%
Cơ quan CP
118 1 33 84 39 28 44
0.85% 27.97% 71.19% 33.05% 23.73% 37.29%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Báo cáo của các địa phương, các Bộ-Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan Chính phủ
cũng như các Tổng Công ty gửi về nhìn chung có số liệu cụ thể về tình hình quản lý
dự án đầu tư nhóm A, B, C, cho thấy
- Về các dự án nhóm A, B, C:
*Ở các tỉnh, thành phố: Số dự án nhóm A thực hiện trong kỳ của các địa
phương trong 4 năm đạt tỷ lệ thấp. Năm 2003 chỉ có 9 dự án nhóm A được thực hiện,
chiếm 0.3% trong tổng số dự án thực hiện trong kỳ. Liên tục trong 4 năm, dự án
nhóm A chỉ tăng lên với tốc độ chậm, lên 0.71% vào năm 2004. Tuy nhiên, từ năm
2004 trở lại đây số dự án nhóm A thực hiện trong kỳ có xu hướng giảm. Nhìn chung,
dự án nhóm A có xu hướng tăng nhưng không nhiều, chưa có năm nào tăng vượt quá
tỷ lệ 1%. Số dự án nhóm A chiếm tỷ trọng rất ít trong tổng số các dự án thực hiện
trong kỳ chứng tỏ các dự án thực hiện đầu tư có vốn lớn chiếm ít, các dự án nhóm B,
C ít vốn hơn chiếm tỷ trọng lớn. Tổng số các dự án nhóm C chiếm nhiều nhất. Trong
4 năm, dự án nhóm C chiếm ưu thế hơn hẳn các dự án nhóm A, B mặc dù tỷ trọng
các dự án nhóm C có xu hướng giảm qua các năm. Năm 2003, số dự án nhóm C là
2725, đạt tỷ lệ 90.29% cao nhất trong 4 năm. Các năm 2004, 2005 và 2006 dao động
trên dưới 85% và chưa trở lại mức cao nhất năm 2003. Trong khi các dự án nhóm C
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
giảm thì các dự án nhóm B lại có xu hướng tăng, mạnh nhất vào năm 2005 đạt 1971
dự án (chiếm tỷ lệ 16.2%).
*Ở các Bộ, Cơ quan Ngang Bộ: Tỷ trọng các dự án nhóm C cũng chiếm ưu thế

trong số các dự án thực hiện đầu tư theo số liệu báo cáo từ các Bộ, cơ quan ngang bộ.
Số liệu cho thấy, dự án nhóm A ở các Bộ có mức độ dao động về tỷ lệ phần trăm
không lớn, dao động từ 2,08%(mức thấp nhất năm 2004) tới 3,79% (mức cao nhất
năm 2005) nhưng về số lượng tuyệt đối thì dao động mạnh qua các năm, thấp nhất
chỉ có 16 dự án nhóm A trong năm 2003 (mặc dù chiếm tới 3,13% tổng số dự án thực
hiện đầu tư năm này) lên 125 dự án vào năm 2004 và cao nhất là 279 dự án năm
2005. Như vậy, số lượng các dự án nhóm A có xu hướng tăng xét về tổng thể giai
đoạn 4 năm.
*Ở các Tổng Công ty 91, số lượng dự án nhóm A rất ít, chỉ đạt cao nhất về số
lượng là 91 dự án vào năm 2004. Trong đó, Tổng Công ty điện là đơn vị liên tục 2
năm 2004-2005 có số dự án nhóm A cao nhất lần lượt là 51 và 61. Đây đồng thời
cũng là đơn vị có số dự án thực hiện đầu tư lớn nhất trong số các Tổng Công ty 91,
năm 2004 đạt số lượng dự án nhóm A cao nhất là 3559 dự án.
Như vậy, với số liệu trong bảng 2 có thể thấy, xu hướng các dự án lớn và vừa
(nhóm A và nhóm B) có xu hướng tăng theo thời gian, mặc dù với tốc độ chậm
nhưng phản ánh các dự án có vốn đầu tư lớn đang tăng dần, thể hiện nền kinh tế các
địa phương đang ngày càng phát triển, ngày càng tạo ra nhiều tài sản cho nền kinh tế
quốc dân.
-Về số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ:
*Ở các Tỉnh, Thành phố: Theo các báo cáo trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng
số các dự án thực hiện đầu tư trong kỳ ở các địa phương tăng qua các năm. Nếu như
năm 2003, số dự án đầu tư thực hiện chỉ là 3018 dự án thì đến năm 2006 đã tăng lên
gấp gần 6 lần là 17371 dự án. Như vậy, số các dự án được thực hiện đầu tư tại các địa
phương tăng lên rất nhanh trong 4 năm, cho thấy tình hình triển khai các dự án đầu tư
được các địa phương tích cực giúp đỡ, cấp giấy phép thực hiện nhanh chóng. Các địa
phương đã rất tích cực hỗ trợ chủ đầu tư thực hiện dự án thông qua cơ chế ngày càng
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thông thoáng, thời gian cấp phép thực hiện đầu tư ngày một rút ngắn. Đồng thời, số
dự án thực hiện đầu tư tăng lên cũng phản ánh sự phát triển của nền kinh tế đất nước

ngày càng tăng mạnh mẽ trong giai đoạn 2003-2006.
*Ở Tổng Công ty 91: Số dự án thực hiện đầu tư của các Tổng Công ty 91 thấp
nhất vào năm 2003, chỉ có 1700 dự án. Tăng mạnh nhất năm 2004 khi có tới 6316 dự
án thực hiện đầu tư (tăng 370% so với năm 2003). Sở dĩ giai đoạn này có sự tăng đột
biến vì số lượng các dự án đầu tư của các Tổng Công ty tăng mạnh do nhu cầu mở
rộng sản xuất của các đơn vị này.
*Đối với các Bộ và Cơ quan ngang Bộ, số dự án đầu tư thực hiện có xu hướng
tăng rất nhanh và mạnh. Năm 2003 mới chỉ có 511 dự án (thấp nhất trong vòng 4
năm) thì sang năm 2004 đã tăng 11 lần lên 6008 dự án và cao nhất hiện nay là năm
2006 (7606 dự án). Điều này được lý giải cũng là do nhu cầu mở rộng sản xuất của
các doanh nghiệp, các đơn vị khi nền kinh tế đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập với
khu vực và thế giới. Mặt khác, do các dự án thực hiện đầu tư ở các địa phương tăng
nên việc các dự án của Bộ và Cơ quan ngang Bộ thực hiện đầu tư tăng là việc dễ hiểu
(do các Bộ quản lý dọc chuyên ngành của mình còn các địa phương thực hiện việc
giám sát các dự án xây dựng ở địa phương mình).
Nhìn chung, các Bộ ngành, địa phương, Tổng Công ty 91 đều có xu hướng tăng
số lượng các dự án thực hiện đầu tư trong giai đoạn 2003-2006.
*Các Cơ quan Chính phủ: Có số lượng các dự án thực hiện đầu tư ít nhất trong
số các đơn vị. Số dự án chỉ dao động thấp nhất 115 năm 2004 và cao nhất chỉ là 249
dự án. Tuy nhiên, do số lượng báo cáo gửi về của các Cơ quan Chính phủ thấp nên
con số trên có thể chưa chính xác.
- Về số dự án kết thúc đưa vào hoạt động trong năm:
*Ở các Tỉnh, Thành phố:có xu hướng giảm ở các địa phương. Cao nhất là năm
2003 khi số dự án đưa vào hoạt động 42,38% trên tổng số dự án thực hiện đầu tư.
Các năm sau đều giảm, thấp nhất vào năm 2004 chỉ có 2532 dự án (chiếm 31,88%).
Số dự án kết thúc đưa vào hoạt động chỉ đạt tỷ lệ thấp như vậy (chưa năm nào vượt
quá 50%) chứng tỏ tình trạng giải ngân chậm. Theo báo cáo từ các địa phương, các
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tỉnh như Bà Rịa Vũng Tàu, Bắc Cạn, Đồng Tháp, Sơn La, Sóc Trăng, Tiền Giang, Hà

Giang nhiều năm liền đều không thể giải ngân được, do vậy, dự án đầu tư kết thúc
xong không thể đưa ngay vào hoạt động, làm mất tính cạnh tranh của dự án, gây thiệt
hại không chỉ cho chủ đầu tư mà còn cho cả các tỉnh trên. Điều này phần nào cho
thấy các tỉnh trên có tốc độ phát triển kinh tế kém hơn so với các tỉnh lân cận khác.
Nhìn vào bảng số liệu trong bảng 2 cho thấy mặc dù thấp về tương đối (tỷ lệ phần
trăm giữa số dự án đưa vào hoạt động trong kỳ so với số dự án đầu tư thực hiện)
nhưng số dự án dự kiến (gồm cả nhóm A, B và C) kết thúc đưa vào hoạt động đầu tư
trong kỳ trong các năm về mặt tuyệt đối có tăng lên. Năm 2003 con số này là 1279 dự
án, đến năm 2004 đã tăng gấp đôi lên 2532 và lần lượt các năm 2005 và 2006 là 4462
và 6583 dự án kết thúc đầu tư đưa vào hoạt động trong năm. Các địa phương cũng đã
có nhiều cố gắng tập trung các nguồn lực về nhân lực, về tài chính và cải tiến các quy
định quản lý, nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư, huy động nhanh và có hiệu quả các
nguồn lực cho phát triển, rút ngắn thời gian đầu tư, nhanh chóng đưa dự án vào sử
dụng. Điển hình như Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bằng việc chỉ đạo sát
sao, kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện đầu tư thực tế, trong quý 4 năm 2006 đã cắt
giảm vốn kế hoạch của 15 dự án, công trình đầu tư với kinh phí trên 67 tỷ đồng để
điều tiết, bổ sung cho các dự án có khả năng sử dụng hết vốn nhằm đẩy nhanh tiến độ
thi công, sớm hoàn thành công trình đưa vào sử dụng. Tình trạng giải ngân chậm diễn
ra trong ngành giáo dục gây không ít khó khăn. Nguồn vốn công trái giáo dục nhìn
chung giải ngân chậm, kế hoạch năm 2005 phải hoàn thành mục tiêu kiên cố hoá
trường học, nhưng đến hết tháng 8 năm 2005 chương trình này mới giải ngân được
68,4% so với tổng vốn Trung ương đã chuyển cho các địa phương. Các tỉnh giải ngân
chậm trong nhiều năm là Bắc Kạn, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Thanh
Hoá, Đắc Lắc, Bình Định, Lâm Đồng. Theo kế hoạch của Chính phủ, chương trình
kiên cố hoá trường lớp học phải kết thúc cuối năm 2005, tuy nhiên cho đến cuối năm
2006 thì vẫn còn gần 28% số phòng học cần xây dựng nhưng vẫn chưa được triển
khai.
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*Ở các Tổng Công ty 91: Số lượng các dự án kết thúc đưa vào hoạt động trong

năm ở các Tổng Công ty 91 thấp nhất vào năm 2003 chỉ có 627 dự án (chiếm 36,88%
trên tổng các dự án thực hiện đầu tư) và cao nhất vào năm 2005 là 2293 dự án. Giai
đoạn 2003-2004 tăng mạnh nhất 98% (năm 2004 so với năm 2003).
*Ở các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, số dự án kết thúc đưa vào hoạt động trong kỳ
thay đổi thất thường, năm 2006 chỉ có 1901 dự án. Con số này thấp hơn rất nhiều so
với năm 2005 là 3136, tương tự năm 2004 cao nhất là 3508 dự án. Điều này cho thấy
số dự án kết thúc đưa vào hoạt động ngay trong kỳ ở các Bộ có xu hướng giảm.
Tựu chung lại, việc huy động dự án vào sử dụng ngay trong kỳ ở cả địa
phương, Bộ Cơ quan ngang bộ và Tổng Công ty đều thấp, tính trung bình thời gian
thực hiện dự án dài, nhiều khi có các dự án kéo dài hơn chục năm. Tài sản không phát
huy được tác dụng cho nền kinh tế gây thiệt hại lớn.
*Tại các Cơ quan Chính phủ, dự án đưa vào hoạt động đầu tư trong năm có xu
hướng giảm qua các năm, cao nhất là 72 dự án năm 2003 (35,47%) và xuống thấp
nhất là năm 2006 chỉ còn 28 (chiếm 23,73%) trên tổng số 118 dự án thực hiện đầu tư
trong năm này.
-Về số dự án đã thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư trong năm:
*Ở các Tỉnh, Thành phố: Qua bảng số liệu trên cho thấy, trong tổng số các dự
án thực hiện đầu tư, số dự án đã thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư trong năm ở các
địa phương chiếm tỷ lệ không cao lắm. Thấp nhất là vào năm 2003 khi số dự án thực
hiện giám sát đánh giá đầu tư chỉ đạt 1011 dự án (chiếm 33%). Tuy nhiên, con số này
tăng dần qua các năm. Năm 2006 đạt cao nhất, thể hiện ở số dự án thực hiện giám sát
đầu tư tăng gần gấp đôi so với năm 2005, đạt 10538 dự án (chiếm 61%). Điều này
cho thấy công tác thực hiện giám sát đánh giá đầu tư ngày càng được cải thiện, rõ nét
hơn trong các năm về sau. Năm 2004 tăng gấp hơn 3 lần năm 2003, năm 2005 tăng
1,5 lần năm 2004. Như vậy, về mặt tuyệt đối tăng rất nhanh (về mặt tương đối trong
2 năm 2004, 2005 tăng không nhiều do số dự án thực hiện đầu tư cũng tăng theo). Do
đó, công tác giám sát đánh giá được các địa phương chú trọng hơn giai đoạn trước.
Đồng thời, đây cũng là kết quả của việc Chính phủ đã có chủ trương đúng đắn, nhanh
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

chóng ban hành các Nghị định, quy định về công tác giám sát đánh giá kịp thời trong
giai đoạn hiện nay khi các dự án đầu tư trong và ngoài nước ngày càng tăng lên.
*Ở các Tổng Công ty 91: Tuy nhiên có thể thấy, công tác giám sát, đánh giá dự
án đầu tư thực hiện ở các Tổng Công ty lại rất tốt. Chưa có năm nào ở các đơn vị này
số dự án đã thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư trong năm đạt tỷ lệ dưới 81%, chỉ
thấp nhất năm 2003 là 1386 dự án (81,5%). Các năm sau, số dự án thực hiện đầu tư ở
các Tổng Công ty giảm nên số lượng dự án thực hiện giám sát đánh giá trong năm
cũng giảm theo. Qua đây cho thấy các đơn vị này có ý thức rõ rệt về kết quả đầu tư
do hiện nay xu hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp tăng mạnh, các Tổng Công ty 91
phải tăng cường năng lực cạnh tranh trước sức ép to lớn của các tập đoàn hùng mạnh
thế giới chuẩn bị thâm nhập thị trường Việt Nam khi Việt Nam đã chính thức trở
thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO.
*Ở các Cơ quan Chính phủ Các dự án đã thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư
trong năm tại các Cơ quan Chính phủ đạt tỷ lệ rất cao vào năm 2003 khi đạt mức 195
trên tổng số 203 dự án thực hiện đầu tư (96,06%), tuy nhiên sang năm 2004 giảm
2,5% còn 190 dự án (chiếm 76,3% do số dự án thực hiện đầu tư tăng lên 249 dự án
trong năm này). Các dự án thực hiện giám sát, đánh giá giảm cả về mặt tuyệt đối lẫn
tương đối.
b)Phân tích các nguyên nhân gây vi phạm thủ tục đầu tư
Báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho
thấy, các dự án thực hiện đầu tư đều vướng mắc phải các vi phạm về quy định đầu tư
hiện nay do Nhà nước ban hành. Số lượng các dự án có vi phạm về thủ tục đầu tư,
dự án phải điều chỉnh, dự án phải ngừng thực hiện vì các lý do khác nhau đều có
trong các báo cáo của các Tỉnh, Thành phố cũng như các Bộ -Cơ quan ngang Bộ, Cơ
quan Chính phủ và các Tổng Công ty 91.
25

×