Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Một số vấn đề về thực trạng và hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty nhà nước.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (143.71 KB, 26 trang )

Lời nói đầu
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nớc luôn xác
định "Phát triển nền kinh tế nớc ta theo hớng nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa". Trong đó Đảng xác định
"kinh tế nhà nớc phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế". Công cuộc đổi
mới đã đem lại cho nền kinh tế nớc ta thay đổi về mọi mặt. Nền kinh tế đã
có sự tăng trởng liên tục trong nhiều năm, chúng ta đã khắc phụ đợc tình
trạng khủng hoảng về kinh tế xã hội, cơ chế kinh tế mới đã đợc xác lập.
Tuy nhiên, cơ chế mới cũng đã và đang tạ ra cho chúng ta những thuận lợi
và khó khăn đòi hỏi ddòi hỏi chúng ta phải đổi mới để khai thác những
thuận lợi và khắc phục khó khăn. Cùng với điều đó, cơ chế mới cũng đặt ra
cho các doanh nghiệp nớc ta những cơ hội và thách thức lớn, buộc các
doanh nghiệp muốn tồn tại phải biết tận dụng những cơ hội để tiến lên.
Thực tiễn từ sau công cuộc đổi mới , hàng loạt các doanh nghiệp nớc ta
không thích ứng đợc với cơ chế mới hoạt động không hiệu quả buộc phải
phá sản. Bên cạnh đó, có những doanh nghiệp vơn lên làm ăn có lãi và có
hiệu quả một cách thích ứng vững chắc với cơ chế mới. Hiện nay trong nền
kinh tế nhiều thành phần, để thực hiện đợc mục tiêu kinh tế nhà nớc giữ
vai trò chủ đạo thì một vấn đề rất quan trọng đó là đổi mới các doanh
nghiệp nhà nớc. Một trong các biện pháp đợc chính phủ tiến hành trong
thời gian qua đó là thành lập các Tổng công ty nhà nớc (TCTNN) với hai
quyết địng đợc chính phủ ban hành. Đó là quyết định 91/TTG và quyết
định 90/TTG của thủ tớng ban hành ngày 7/3/1994. Trong đó quyết định
91/TTG với việc thí điểm thành lập TCT theo mô hình tập đoàn kinh doanh
(TĐKD) gọi chung là TCT 91, quyết định 90/TTg về việc tiếp tục sắp xếp
lại các doanh nghiệp nhà nớc và thành lập công ty theo mô hình của quyết
định này gọi chung là TCT 90.
Tuy mới thành lập, các TCT đã và đang thể hiện đợc vai trò của
mình trong nền kinh tế và đạt đợc những kết quả đáng ghi nhận. Nhng
trong quá trình hoạt động của các TCTNN cũng nảy sinh nhiều tồn tại và
vớng mắc đòi hỏi phải giải quyết để tiếp tục hoàn thiện mô hình này. Để


1
làm rõ hơn vấn đề đó trong phạm vi đề án môn học này em một số nội
dung về thực trạng và hơng nâng cao hiệu quả hoạt động của TCTNN.
Tên đề tài: "Một số vấn đề về thực trạng và hớng nâng cao
hiệu quả hoạt động của Tổng công ty nhà nớc".
Nội dung của đề tài gồm 2 phần:
- Phần I: Tổng quan về Tổng công ty nhà nớc
- Phần II: Thực trạng và hớng nâng cao hiệu quả hoạt động của
TCTNN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo đã giúp đỡ em hoàn
thành đề tài này.
2
I. Tổng quan về mô hình tổng công ty nhà n ớc
1. Quá trình hình thành và phát triển
a. Sự cần thiết phải thành lập các TCT ở nớc ta
Để đổi mới nền kinh tế, với việc chuyển nền kinh tế nớc ta hoạt
động theo cơ chế thị trờng, mở cửa nền kinh tế, cùng với quá trình toàn cầu
hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp
trong việc mở rộng thị trờng, khai thác những cơ hội kinh doanh và gây ra
những thách thức về cạnh tranh, hội nhập. Trong tình hình đó, việc thành
lập các TCTNN là rất cần thiết và thoả mãn một số đòi hỏi của môi trờng
kimh doanh mới.
Trớc hết, đó là vấn đề ngành kinh tế quốc dân, một số ngành đã
đạt đợc trình độ tích tụ và tập trung nhất định, trong đó có những ngành
trọng yếu, then chốt đang cần có những giải pháp thích hợp để nhằm thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung để có thể phát huy đầy đủ hơn vai trò làm
động lực cho sự phát triển nền kinh tế. Trình độ tích tụ và tập trung sản
xuất trực tiếp phản ánh trình độ phát triển của môi trờng ngành, mỗi doanh
nghiệp thông qua đó phản ánh trình độ ngành và vị trí của chúng trong cơ
cấu nền kinh tế quốc dân.

ở nớc ta, nền kinh tế để đạt đợc những thành tựu nhất định và có
những chuyển biến lớn trong cơ cấu kinh tế, một số ngành đã đạt đợc một
số trình đọ tích tụ và tập chung hoá sản xuất cao nh Điện lực, Bu chính
viễn thông, Dầu khí, xi măng, cà phê, cao su...Những ngành này đều
chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. Điều này có ý nghĩa lớn
đối với mô hình TCT theo hình thức TĐKD bởi vì nó ra đời khi mà sự tích
tụ và tập trung đạt tới một mức độ nào đó.
Thứ hai, vấn đề nguồn vốn để đầu t phát triển sản xuất. Mặc dù
nhiều ngành đã đạt đợc mức tăng trởng cao, mức độ tập chung vốn lớn nh-
ng nhu cầu về vốn ngày càng tăng để đầu t phát triển vì thế mà hầu hết các
công ty ở một số ngành then chốt lại đang thiếu vốn. Ví dụ, để thực hiện
3
mục tiêu chiến lợc đến năm 2010 TCT Bu chính viễn thông cần khoảng
28695 tỷ đồng, Tổng công ty hàng không dân dụng có nhu cầu đầu t trong
10 năm (1996-2005) khoảng 5690 triệu USD, TCT dầu khí cần khoảng
14.165 triệu USD, TCT thép cần 6.382 triệu USD từ 1994-2010. Để đáp
ứng đợc nhu cầu về vốn lớn nh vậy thì một sự riêng lẻ rất khó khăn trong
quá trình tạo nguồn vốn. Điều này chỉ thực hiện đọc khi mô hình TCT ra
đời.
Thứ ba, xét về khả năng cạnh tranh, hầu hết các doanh nghiệp
nhà nớc trong thời là đổi mới là doanh nghiệp vừa và nhỏ, do cá sự manh
mún, phân tán và trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh trong
thị trờng nội địa và quốc tế là rất yếu, trừ một số ngành có khả năng cạnh
tranh nhng không phải do năng lực công nghệ mà do các yếu tố khác nh
độc quyền về nguyên liệu (ví dụ than) hoặc một số mặt hàng truyền thống.
Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân, thì trình độ tích tụ và tập trung
đã đạt đến một mức độ nhất định nhng xét riêng các doanh nghiệp thì trừ
một vài doanh nghiệp có quy mô lớn trang bị tơng đối hiện đại còn lại là
hầu hết có quy mô nhỏ bé. Nếu căn cứ vào 2 tiêu thức: vốn và lao động để
xem xét thì trên 2/3 số DNNN có hiệu số lao động dới 200 ngời, chỉ có

khoảng 4% số lao động trên 100 ngời. Gần 1/2 số doanh nghiệp có vốn dới
1 tỷ đồng, cha đầy 20% có vốn 5 tỷ đồng, chỉ có 1% số doanh nghiệp có,
vốn trên 20 tỷ đồng. Quy mô hạn chế do đó trình độ công nghệ cũng thấp
kém, xét trong phạm vi các doanh nghiệp nhà nớc chỉ có 18% đợc đầu t
mới. Sau năm 1996 bình quân 14-15 năm mới đổi mới trang bị. Tài sản cố
định hao mòn gần hết và cũ kỹ lạc hậu.
Mặt khác, từ khi chuyển sang kinh tế thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc, các doanh nghiệp trong các lĩnh vực hoạt động đều phải đối đầu
với sự cạnh tramh ngày càng gay gắt. Về nguyên tắc, trong cơ chế thị tr-
ờng các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trờng liên kết và cạnh
tranh với nhau. Thực tế các quan hệ kinh tế tuy đã đợc thiết lập và trong
một số trơng hợp đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho nhiều doanh nghiệp,
nhng nhìn chung, tình trạng cạnh tranh có xu hớng lấn lớt các quan hệ
kinh tế không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp nớc ngoài, doanh
4
nghiệp trong nớc thậm chí các doanh nghiệp các doanh nghiệp trong cùng
một ngành cũng cạnh tramh với nhau gây ra những bất lợi và thua thiệt
trong quan hệ kinh tế quốc tế. Tóm lại, vấn đề đổi mới công nghệ, nâng
cao khả năng cạnh tranh là rất cần thiết, nhng cùng với điều đó là vấn đề
liên kết kinh tế và cạnh tranh có trật tự cũng phải đợc quan tâm nhằm tăng
sức mạnh chung của các TCT, trong đó thành lập các TCT theo mô hình
TĐKD là một trong những công việc của quá trình đó và là một yêu cầu
cấp thiết.
Thứ t, xét về năng lực quản lý kinh tế của cơ quan nhà nớc, sự ra
đời của TCTNN theo mô hình TĐKD đã có từ lâu. Các TCT đợc thành lập
theo mô hình TĐKD đợc coi là biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nớc về kinh tế và là một trong những nội dung của cải cách DNNN
trong điều kiện cơ chế quản lý mới. Hiện nay vẫn còn tình trạng phân tán
trong quản lý các DNNN. Các DNNN do nhiều cơ quan khác nhau quản
lý. Trong số các DNNN dợc đng ký thành lập lại có tới 4573 doanh nghiệp

do địa phơng quản lývà có tơi 1971 doanh nghiệp do các bộ và cơ quan
trung ơng quản lý. Trên cùng một địa bàn lãnh thổ, các doanh nghiệp trung
ơng và doanh nghiệp địa phơng chồng chéo, trùng lắp nhau về phơng hờng
sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn trên địa bàn Hà Nội có 355 DNNN thì
235 doanh nghiệp do nhà nớc quản lý và 120 do chính quyền thành phố
quản lý. Nhng các doanh nghiệp trung ơng lại có 22 cơ quan chủ quản và
doanh nghiệp địa phơng lại có tới 13 cơ quan chủ quản khác nhau. Sự phân
tán chồng chéo đó không thể là điều kiệ tốt để nâng cao hiệu quả và hiệu
lực quản lý nhà nớc về kinh tế, cũng không thể bảo đảm phát huy sức
mạnh của toàn bộ hệ thông DNNN và hệ thống kinh tế quốc dân. Sự tồn tại
các cơ quan hành chính chủ quản đối với các doanh nghiệp đã gây nên
những cản trở cho việc thực hiện chức năng "ngời nhạc trởng" trong hoạt
động điều hành của hệ thống kinh tế quốc dân của nhà nớc, cản trở sự phất
huy và tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Thực tiễn đã cho thấy
mô hình liên hiệp xí nghiệp và TCT kiểu cũ đã phát huy đợc thế mạnh
trong thời kỳ bao cấp nhng trong thời kỳ nền kinh tế thị trờng nó bộc lộ rất
nhiều hạn chế. Nhiều liên hiệp xí nghiệp biến thành một cấp trung gian ít
5
có tác dụng giúp đỡ các doanh nghiệp có khi gây ra những khó khăn cho
hoạt động của các doanh nghiệp. Vì thế thành lập các TCT theo mô hình
TĐKD là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nớc về kinh tế. Cs thể
thấy rõ điều này qua việc các TCT ra đời, cho đến nay với việc xoá bỏ chế
độ chủ quản cơ quan hành chính đã tạo cho các doanh nghiệp quyền tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần tăng cờng quản lý nhà nớc
về kinh tế trên cơ sở đảm bảo các cơ quan nhầ nớc thực hiện đúng chức
năng, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan này.
Thứ năm, về mặt quan hệ kinh tế đối ngoại. Ngày nay xu hớng
toàn cầu hoá, hội nhập, đòi hỏi các doanh nghiệp nớc ta phải tận dụng
những cơ hội kinh doanh thuận lợi. Nền kinh tế mở cửa các quan hệ kinh
tế đối ngoại đợc phát triển mạnh đặc biệt là trong quan hệ liên doanh liên

kết. Về cơ bản hoạt động liên doanh, liên kết nhằm để học hỏi kinh
nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ để nâng cao năng lực của các
doanh nghiệp nớc ta. Nhng néu các doanh nghiệp riêng lẻ thực hiện liên
doanh liên kết sẽ gây nhiều bất lợi. Tỷ lệ vốn góp ít, khả năng tài chính
nhỏ bé và kinh nghiệm non kém sẽ bị bên đối tác nớc ngoài chèn ép vầ
phải bán phần vốn góp cho nớc ngoài khi liên doanh bị thua lỗ, đó là một
thực tế diễn ra trong thời gian qua. Việc ra đời các TCTNN theo mô hình
TĐKD là cần thiết nhằm tăng cờng tiềm lực tài chính đảm bảo cho các
hoạt động kinh tế đối ngoại có hiệu quả.
b. Chủ trơng của Đảng và nhà nớc về việc thành lập TCTNN ở nớc ta
Với mục đích phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc, vì
thế mà trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, thì vấn đề đổi mới khu
vực kinh tế nhà nớc, mà trọng tâm là các doang nghiệp nhà nớc (DNNN),
đợc coi là một trong các nhiệm vụ quan trọng và yêu cầu phải đợc xúc tiến
với nhịp độ nhanh, vững chắc và có hiệu quả. Việc ứng dụng các mô hình
quản lý mới nhằm phát huy hiệu quả của các DNNN là rất cần thiết khi mà
mô hình cũ đã bộc lộ nhiều hạn chế, xuất phatá từ hoàn cảnh đó, Đảng và
nhà nớc đã xác định chủ trơng thành lập các TĐKD thông qua việc thí
điểm thành lập các TCT theo mô hình tập đoàn kinh doanh. Ngày 7/3/1994
6
Thủ tớng chính phủ đã ra quyết định 91/TTG về "thí điểm thành lập các
TĐKD" với mục đích tạo điều kiên thúc đẩy tập trung, nâng cao khả năng
cạnh tranh. Đông thời chính phủ đa ra quyết định 90/TTG về việc sắp xếp
lại các DNNN, xoá bỏ những hoạt động có tính chất trung gian, trả lại
những nhiệm vụ có tính quản lý nhà nớc cho cơ quan quản lý ngành.
Trong chủ trơng xoá bỏ chế độ chủ quản, cấp hành chính chủ quản, tăng c-
ờng vai trò quản lý nhà nớc đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
Theo quyết định 91/TTG các đơn vị đợc lựa chọn làm thí điểm
là một số công ty lớn có mối liên hệ theo ngành và theo lãnh thổ, không

phân biệt doanh nghiệp trung ơng hay do địa phơng quản lý có vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân đảm bảo những yêu cầu cho thị trờng
trong nớc có triển vọng mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài.
Chủ trơng thành lập các TCTNN theo hớng TĐKD đã đợc nhà
nớc đề cập trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991
về việc "sắp xếp lại các liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty phù hợp với yêu
cầu sản xuất kinh doanh của cơ chế thị trờng. Xây dựng một số TCT hoặc
liên hiệp xí nghiệp có quy mô lớn, có uy tín lớn và khả năng cạnh tranh
trong quam hệ kinh tế với nớc ngoài". Hội nghị ban chấp hành trung ơng
lần thứ VII (khoá IV) của Đảng khẳng định: "Hình thành một số tổ chức
kinh tế lớn với mục đích tích tụ và tập trung cao về vốn, đủ sức cạnh tranh
trên thị trờng thế giới, từng bớc xoá bỏ chế độ bộ chủ quản cấp hành chính
chủ quản đối với nhà nớc.
Mô hình TĐKD đã tồn tại ở nhiều nớc trên thế giới từ khá lâu và
đã phát huy đợc sức mạnh của nó trong việc mở rọng thị trờng nớc ngoài
nh các tập đoàn lớn với các công ty đa quốc gia nh: Tập đoàn Misubishi
của Nhật, Genera Motor (Mỹ) và các ??? ở Hàn Quốc. Chủ trơng thành lập
các TCTNN theo hớng TĐKD là một chủ trơng lớn và cần thiết nhằm củng
cố vai trò của nền kinh tế nhà nớc trong điều kiện hiện nay.
c. Vai trò của các TCTNN.
7
Qua các TCTNN đợc thành lập có thể thấy rõ một số vai trò sau:
Thứ nhất, tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả
TCT và của từng doanh nghiệp thành viên. TCT có thể tập hợp đợc các
nguồn lực vật chất, đặc biệt là nguồn vốn đầu t phát triển, đổi mới công
nghệ, cải tiến cơ cấu sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất từ đó nâng cao
sức cạnh tranh trên tt, có điều kiện mở rộng tt đặc biệt là tt nớc ngoài.
Thứ hai, các TCT có vai trò trong việc tập trung và điều hoà các
nguồn vốn. Các TCT có thể huy động vốn từ các thành viên, hoặc từ bên
ngoài và điều hoà các nguồn vốn để thực hiên các chơng trình đầu t theo

chiều sâu, đầu t vào những ngành có triển vọng phát triển cao cần nguồn
vốn lớn và có thể hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên khi gặp khó khăn về
nguồn vốn. Việc đầu t theo chiều sâu, đổi mới công nghệ cần lợng vốn lớn
do đó phải có sự tập trung vốn lớn mới thực hiện đợc. Việc tập trung vốn
vào đầu t có trọng điểm sẽ khắc phục đợc tình trạng vốn bị phân tán.
Mặt khác, vốn có thể huy động từ các doanh nghiệp thành viên
do đó các doanh nghiệp thành viên có mối quan hệ chặt chẽ với TCT và
với các thành viên khác. Nhờ mối liên hệ này sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thống nhất các phơng hớng chiến lợc của các doanh nghiệp trong
TCT phát triển kinh doanh chống lại sự cạnh tranh của các công ty nớc
ngoài.
Thứ ba, các TCT có vai trò trong việc triển khai ứng dụng công
nghệ vào sản xuất kinh doanh. Ngoài việc tập trung các nguồn vốn, các
TCT còn có vai trò trong việc tập trung các nguồc lực về con ngời trong
triển khai nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật. Những hoạt động này
đòi hỏi một khối lợng vật chất lớn mà mỗi công ty riêng rẽ gặp rất nhiều
khó khăn. Việc tập trung các nguồn vốn sẽ có tác động tích cực trong việc
tạo điều kiện cần thiết cho triển khai nghiên cứu ứng dụng khoa học công
nghệ vào sản xuất. Các đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
đòi hỏi phải có sự phối hợp của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, các phòng thí
nghiệm, các thiết bị nghiên cứu cần thiết. Chỉ có trên cơ sở liên kết các
công ty mới tạo đợc tiềm năng to lớn đó về nghiên cứu khoa học công
8
nghệ. Mặt khác, nhờ sự liên kết của các doanh nghiệp thành viên trong
TCT có thể thực hiện trao đổi thông tin và trao đổi những kinh nghiêm
trong việc thực hiện nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ. Từ đó tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp thành viên có thể ứng dụng những thành
tựu mới nhất vào sản xuất, sử dụng những thông tin và kinh nghiệm của
các doanh nghiệp khác cho doanh nghiệp của mình.
Thứ t, TCT có vai trò trong việc giải quyết các vấn đề và định h-

ớng cho các doanh nghiệp thành viên trong quan hệ kinh tế với nớc ngoài
nh trong vấn đề chuyển giao công nghệ. Ngoài việc trao đổi thông tin
trong lĩnh vực nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ thì trong vấn đề
chuyển giao công nghệ các công ty sẽ thực hiện hiệu quả hơn do các công
ty có thể trao đổi thông tin trong lĩnh vực này, điều đó sẽ tránh cho vấn đề
trùng lắp công nghệ chuyển giao hoặc có thêm kinh nghiệm chuyển giao
công nghệ có hiệu quả.
Cuối cùng, đối với các TCTNN hiện nay, ngoài các vai trò quan
trọng nêu trên thì TCTNN còn có vai trò là công cụ vật chất của nhà nớc
trong việc quản lý nền kinh tế nhằm định hớng xã hội chủ nghĩa. Để thực
hiện đợc mục tiêu đó thì bộ phận doanh nghiệp quốc doanh phải nắm vai
trò chủ đạo và thông qua các DNNN, nhà nớc có thể tác động tới định h-
ớng phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Các TCTNN có vai trò trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ
phận kinh tế quốc doanh để kinh tế quốc doanh thực sự phát huy vai trò
chủ đạo của mình. Trên thực tế, các TCT ở nớc ta đã và đang nắm giữ
những ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nớc ta nh điện lực, bu
chính viễn thông, thép, xi măng.v.v... và những ngành có tiềm năng phát
triển và đợc u tiên phát triển cao để tạo động lực phát triển toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, các TCT hoạt động có hiệu quả sẽ có vai
trò trong việc góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng nguồn thu ngân
sách, góp phần làm ổn định chính chị xã hội trong nớc.
2. Những đặc điểm cơ bản của TCTNN ở n ớc ta hiện nay.
9
Hiện nay, ở nớc ta đang tồn tại 2 loại hình TCTNN. Đó là TCT
91 (thành lập theo quyết định 91 TTg) và TCT 90 (thành lập theo quyết
định 90 TTg). Giữa hai loại TCT này có sự phân biệt dựa trên một số vấn
đề: Quy mô vốn pháp định, số lợng doanh nghiệp thành viên, cấp có thẩm
quyền quyết định thành lập, phê chuẩn điều lệ và bổ nhiệm nhân sự của bộ
máy của TCT. Tính đến nay, cả nớc có 18 TCT 91 và 77 TCT 90 qua

những doanh nghiệp đang tồn tại hiện nay ta có thể rút ra một số vấn đề
sau:
Đối với TCT 91 thí điểm thành lập TĐKD có một số đặc điểm
đáng chú ý sau:
Thứ nhất, xét về quy mô, các TCT ở nớc ta đều có qui mô tơng
đối lớn xét trên các mặt: vốn, doanh thu và số lợng thành viên tham gia.
Điều này một phần là do quy định của chính phủ (Theo quyết định 91 TTg
của thủ tớng chính phủ thì các TCT phải có vốn pháp định từ 1000 tỷ đồng
trở lên và phải có ít nhất 7 thành viên tham gia). Theo tính toán đến ngày
31-12-1993, tổng giá trị tài sản cố định của TCT dầu khí là 180,5 tỷ đồng
và 948 triệu USD tơng đơng 10428 tỷ đồng. Doanh thu của các đơn vị đều
ở mức cao. Ví dụ TCT Bu chính viễn thông đạt doanh thu 1920,31 tỷ đồng,
TCT thép là 2693 tỷ đồng, TCT hàng không là 2320 tỷ đồng. Về số lợng
thành viên, TCT Bu chính viễn thông có 17 doanh nghiệp nhà nớc hạch
toán độc lập, 59 đơn vị thanh toán phụ thuộc, 12 đơn vị sự nghiệp. TCT
Giấy Việt Nam có 15 doanh nghiệp nhà nớc hạch toán độc lập, một đơn vị
hạch toán phụ thuộc và 2 đơn vị sự nghiệp.
Thứ hai, các TCT đều nắm giữ những vị trí trong mỗi ngành và
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vị trí trọng yếu này thể hiện rõ trên
hai mặt:
- Sản lợng sp của TCT chiếm đại bộ phận sản lợng trong toàn
ngành. Do vậy, sự phát triển của TCT có ảnh hởng to lớn đến sự phát triển
của các doanh nghiệp khác không nằm trong thành phành của TCT. Chẳng
hạn TCT thép năm 1993 chiếm 99,6% tổng sản lợng thép cả nớc, TCT xi
măng chiếm 97,9%.
10

×