Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

luận văn:Mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (839.48 KB, 89 trang )



1




LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Mở rộng cho vay đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Sở giao
dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam.”
















2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT



DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHNo & PTNT VN
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
TCTD Tổ chức tín dụng
SGD Sở giao dịch

















LỜI MỞ ĐẦU



3
Năm 2007 là năm đánh dấu sự chuyển mình của nền kinh tế Việt
Nam, là năm Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương
mại thế giới WTO và Mỹ bình thường hoá quan hệ vĩnh viễn với nước ta.
Những nhân tố đấy đã góp phần đưa nền kinh tế Đất nước hoà mình vào
dòng chảy chung của nền kinh tế thế giới, phát triển theo xu hướng toàn
cầu hoá, đa phương hoá và đa dạng hoá. Nền kinh tế tăng trưởng mạnh, đạt
được nhiều kết quả khởi sắc và những thay đổi to lớn. Góp phần không nhỏ
vào sự thay đổi đó là sự nỗ lực vươn lên và phát triển mạnh mẽ của các
doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế. Đối với một nước đang phát triển
như nước ta thì loại hình DNNVV chiếm đa số và hoạt động trên tất cả các
lĩnh vực, ngành nghề kinh tế. Cùng với sự nhạy bén linh hoạt của mình các
DNNVV đã vượt qua những khó khăn, thử thách ban đàu và ngày càng
khẳng định vai trò vị trí của mình trong nền kinh tế. Góp phần thúc đẩy tốc
độ tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho lượng lao động dồi
dào nhưng trình độ thấp ở nước ta hiện nay và đồng thời hỗ trợ, thúc đẩy
các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên,
trong thực tế hoạt động của các DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là
khó khăn về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và về việc tiếp cận
ngân hàng để vay vốn của họ lại càng khó khăn hơn.
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế, các NHTM sẽ có nhiều cơ hội
và thách thức hơn trong quá trình hoạt động.Trước áp lực cạnh tranh, các
NHTM sẽ phải ngày càng mở rộng hoạt động của mình theo cả chiều sâu
và chiều rộng, vừa phải đa dạng hoá dịch vụ, đa dạng hoá khách hàng của
mình, đồng thời phải xác định được đâu là đối tượng khách hàng tiềm năng
và là khách hàng mục tiêu của mình để từ đó có được những chính sách kế
hoạch cho hoạt động của mình có hiệu quả hơn. Trong các NHTM đó thì
SGD NHNo & PTNT VN đã xác định được các DNNVV là khách hàng
tiềm năng và mục tiêu của họ, do đó trong những năm gần đây họ đã có



4
nhiều chính sách cho việc mở rộng cho vay các DNNVV nhưng kết quả mở
rộng chưa cao.
Từ thực tế đã nêu và những thông tin tìm hiểu được tại SGD NHNo
& PTNT VN, đề tài “Mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam” được lựa chọn nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo, nội dung chính của chuyên đề được kết cấu theo 3
chương:
Chương 1: Lý luận về mở rộng hoạt động cho vay của ngân
hàng đối với DNNVV.
Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng đối với DNNVV tại Sở giao
dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNNVV tại Sở
giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.


















5
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA.
1.1 CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Theo Luật các Tổ chức Tín dụng số 07/1997/QHX của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có
liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng
bao gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư,
Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng
khác”. Trong đó Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về
quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trung gian tài chính, là chiếc
cầu nối chu chuyển những khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội đến tay những
người có nhu cầu và khả năng đầu tư. NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ,
mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với
trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Nếu đứng trên phương diện
những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp, ngân hàng là các tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt
là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Luật các Tổ chức tín dụng 07/1997/QHX qui định: “Hoạt động ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch vụ thanh toán”. Trước tiên, để hiểu xem một ngân hàng hoạt

động như thế nào, ta hãy xem xét bản quyết toán tài sản của ngân hàng đó.





6
Tài sản Nguồn vốn
Các khoản mục về ngân quỹ
- Tiền dự trữ
- Tiền mặt trong quá trình thu
- Tiền gửi ở các ngân hàng
khác
Các chứng khoán
- Chứng khoán chính phủ
- Chứng khoán công ty
- Hùn vốn dưới các hình thức
khác
Các khoản tiền cho vay
- Thương mại và công nghiệp
- Bất động sản
- Tiêu dùng
- Cho vay giữa các ngân hàng
- Các khoản tiền cho vay khác
Các tài sản Có khác.
Tiền gửi
- Tiền gửi thanh toán
- Tiền gửi có kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm
- Các hình thức huy động khác





Các khoản tiền đi vay
- Vay Ngân hàng Trung ương
- Vay các ngân hàng khác
Vốn chủ sở hữu
- Vốn điều lệ
- Các quỹ và lợi nhuận chưa
phân phối
Cân đối Cân đối

Như vậy, các ngân hàng thu lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ
có một số đặc tính (một kết hợp riêng về tính lỏng, rủi ro và lợi tức) và
dùng tiền thu được để mua những tài sản có một số đặc tính khác. Các ngân
hàng cung cấp một dịch vụ chuyển một loại tài sản này thành một loại tài
sản khác cho công chúng. Quá trình chuyển các tài sản và cung cấp một
loạt dịch vụ (thanh toán séc, ghi chép sổ sách, phân tích tín dụng ) giống
bất cứ quá trình sản xuất khác của một hãng kinh doanh. Nếu ngân hàng tạo
ra những dịch vụ hữu ích với chi phí thấp và có được doanh thu cao nhờ


7
vào tài sản có của mình, thì ngân hàng thu được lợi nhuận, nếu không, thì
ngân hàng này chịu tổn thất.
Hoạt động cơ bản của một NHTM được qui định trong Nghị định 49
của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, bao gồm:
1.1.1 Huy động vốn.
NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:

- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại
tiền gửi khác.
Đây là nghiệp vụ rất đặc trưng, cơ bản của ngân hàng. Thông thường
vốn tự có chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong toàn bộ vốn kinh doanh, nên để có
nguồn vốn để cho vay các NHTM phải huy động một lượng vốn từ các
nguồn tiền nhàn rỗi và tiền tiết kiệm trong dân chúng. Số vốn huy động
thường gấp nhiều lần so với vốn tự có. Tiền gửi là bộ phận chủ yếu trong
tổng nguồn vốn của NHTM. Vốn tiền gửi có thể trả lãi, có thể không phải
trả lãi, ngân hàng dùng số tiền này để hình thành các tài sản mang lại thu
nhập. Tuy nhiên ngân hàng không thể sử dụng toàn bộ số tiền gửi để cho
vay và đầu tư mà phải dành một tỷ lệ nhất định dự trữ thường xuyên để
đảm bảo chi trả cho người gửi đến rút và ký quỹ bắt buộc tại Ngân hàng
Nhà nước (NHNN).
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để
huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khi được Thống
đốc NHNN chấp thuận.
- Vay vốn của các Tổ chức tín dụng (TCTD) khác hoạt động tại Việt
Nam và của TCTD nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của NHNN.
Trong quá trình kinh doanh hoạt động, ở cùng một thời điểm có
TCTD thừa vốn, có TCTD thiếu vốn, họ có thể vay qua lại lẫn nhau tại thị
trường liên ngân hàng. Chúng cũng có thể vay từ NHNN trong trường hợp


8
thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, do thiếu vốn trong các hoạt động thời vụ
hay do khó khăn tài chính. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng có thể vay
vốn thông qua phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán…
- Vốn ngân hàng và các hình thức huy động khác.

Để có thể thành lập một ngân hàng thông thường, chủ sở hữu phải có
một số vốn nào đó lớn hơn số vốn mà pháp luật quy định, gọi là vốn pháp
định. Mức góp vốn của các chủ sở hữu ngân hàng được chấp nhận ghi vào
Điều lệ hoạt động gọi là vốn điều lệ. Vốn tự có của ngân hàng bao gồm
trong đó số vốn điều lệ thực góp cộng với các quỹ trích từ lợi nhuận ròng
hàng năm như: Quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ phát triển kỹ
thuật nghiệp vụ…
1.1.2 Hoạt động tín dụng.
NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức
cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê
tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
Về hoạt động cho vay, NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn
dưới hình thức cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ đời sống; cho vay trung và dài hạn để thực hiện các dự
án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Trong đó,
NHTM chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất, kinh doanh khả thi, có hiệu
quả và có khả năng trả nợ để cho vay.
Về hoạt động bảo lãnh, NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh
toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo
lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối
với người nhận bảo lãnh theo quy định của NHNN.
Đồng thời, NHTM được chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và
các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. NHTM được hoạt động cho thuê tài chính
nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính.


9
1.1.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quĩ.
NHTM phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở
chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định; được

mở tài khoản tại ngân hàng khác trong nước theo quy định của NHNN.
Về dịch vụ thanh toán, NHTM được:
- Cung ứng các phương tiện thanh toán;
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng;
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ;
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép;
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng;
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh
toán liên ngân hàng trong nước.
1.1.4 Các hoạt động khác.
NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần
của các doanh nghiệp và các TCTD khác; được tham gia thị trường tiền tệ.
NHTM cũng được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh
vực liên quan đến hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, NHTM còn được cung
ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có
giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác. Đặc biệt, NHTM không
được trực tiêp kinh doanh bất động sản.
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA.
1.2.1 Khái niệm.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một bộ phận cấu thành không
thể thiếu được của nền kinh tế, có mối quan hệ tương hỗ không thể tách rời
với các chủ thể khác. Việc phân chia DNNVV dựa vào tiêu thức quy mô
doanh nghiệp. Theo tiêu thức này doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp
lớn, DNNVV. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm DNNVV
nhưng khái niệm chung nhất về DNNVV có nội dung như sau:


10
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những cơ sở sản xuất, kinh doanh có tư
cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp

trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh
thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng
quốc gia.
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé
về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba loại
cũng căn cứ vào quy mô đó là: doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và
doanh nghiệp siêu nhỏ.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu
nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp
nhỏ có số lượng lao động từ 10 người đến 50 người, còn doanh nghiệp vừa
có từ 50 người đến 300 lao động.
Mỗi nước đều có tiêu chí riêng để xác định DNNVV ở nước mình.
Ở Việt Nam, khái niệm DNVVN được đưa ra ở điều 3, Nghị định
90/2001/NĐ – CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa: “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sảng xuất, kinh doanh độc
lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không
quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động hằng năm không quá 300 người.”
Theo điều 4 các DNVVN bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP
ngày 03 tháng 02 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.


11
Như vậy có rất nhiều tiêu thức để phân loại DNNVV. Một số tiêu thức
như vốn, lao động, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng được dùng khá phổ
biến trên thế giới cũng giống như ở Việt Nam. Trong đó, hai tiêu thức được

sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô vốn và lao động.
Cơ sở xác định qui mô vốn và lao động:
- Vốn đăng kí: đối với doanh nghiệp Nhà nước là vốn điều lệ được
Nhà nước cấp, đối với doanh nghiệp còn lại là vốn ghi trên đăng kí kinh
doanh, giấy phép đầu tư.
- Lao động trung bình hàng năm là số lao động bình quân mà doanh
nghiệp đã dăng kí với cơ quan quản lý lao động và có tham gia đóng bảo
hiểm xã hội (không bao gồm số lao động doanh nghiệp kí hợp đồng thời
vụ, hợp đồng công việc).
Tuy nhiên, mỗi một nước, mỗi một nền kinh tế lại lựa chọn các tiêu
chuẩn khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
 Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước: Thông thường
các nước có trình độ phát triển càng cao thì quy định về chỉ tiêu quy mô
vốn cũng như lao động cao hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp.
Ví dụ như ở Nhật Bản doanh nghiệp có số vốn dưới 1 triệu USD và lao
động dưới 300 người được coi là DNVVN, nhưng ở các nước chậm phát
triển như Việt Nam hay là Lào, Campuchia thì đó lại là doanh nghiệp lớn.
Các giới hạn tiêu chuẩn này thay đổi theo thời gian sao cho phù hợp
với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn. Khi nền kinh tế
tăng trưởng, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp mở rộng thì giới hạn
tiêu chuẩn sẽ được điều chỉnh lại. Hoặc khi nền kinh tế suy thoái, các
doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, một số doanh nghiệp phá sản hoặc
bị sáp nhập, giải thể, số lượng các doanh nghiệp giảm. Lúc đó tiêu chuẩn


12
để phân loại DNVVN cũng sẽ thay đổi tỷ lệ với tốc độ tăng trưởng quy mô
của các doanh nghiệp.
 Theo ngành nghề khác nhau: do mỗi ngành nghề có tính chất, đặc
trưng riêng nên việc phân biệt quy mô vốn cũng như lao động sử dụng

riêng cho từng ngành nghề cũng khác nhau. Chẳng hạn như ở Nhật Bản,
các doanh nghiệp ở khu vực sản xuất phải có số vốn dưới 1 triệu USD và
dưới 300 lao động, trong khi đó thương mại- dịch vụ có số vốn dưới
300.000USD và dưới 100 lao động thì đều thuộc DNVVN. Ở Việt Nam,
đối với doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nhỏ có vốn từ 1 tỷ đồng
trở xuống và số lao động từ 50 người trở xuống, còn các doanh nghiệp
thương mại và dịch vụ số lao động dưới 30 người.
Đường lối, chính sách, chiến lược và khả năng hỗ trợ của mỗi quốc
gia. Với mục tiêu phát triển ổn định và bền vững kinh tế - xã hội, các nước
đều đưa ra những tiêu thức phân loại DNVVN dùng làm căn cứ thiết lập
những chính sách phát triển và hỗ trợ DNVVN. Điều này hết sức quan
trọng, ảnh hưởng tới tổng thể nền kinh tế vì các DNVVN thường chiếm tỷ
lệ lớn.
Như vậy, việc xác định rõ các tiêu thức để phân loại DNVVN có ý
nghĩa rất quan trọng. Đó là cơ sở để xác định cơ chế quản lý với những
chính sách ưu tiên thích hợp và xây dựng cơ cấu tổ chức, quản lý có hiệu
quả đối với hệ thống các doanh nghiệp này.
Xác định tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với phát
triển kinh tế đất nước theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, 6 năm trở lại
đây, Chính phủ có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức
cao nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại
hình kinh tế này. Chính vì vậy số lượng DNVVN tăng lên đáng kể.


13
1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.2.1 DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ bé
Phần lớn các DNNVV đều có quy mô nhỏ bé. Thực chất thì đặc điểm
này do chính tiêu chí phân loại DNNVV của Nghị định 90/NĐ-CP quy
định, đó là các doanh nghiệp có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ

đồng và lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Như vậy thì
chính quy mô về nguồn vốn và lao động kéo theo khó khăn về mặt bằng
sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ và năng lực quản lý hạn chế, thiếu
thông tin gây ra nhiều yếu kém trong sản xuất mà trong đó thiếu vốn là đặc
điểm nổi bật.
1.2.2.2 Quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
DNNVV thấp
Hầu hết các DNNVV được thành lập có nguồn vốn dựa vào nguồn
vốn tích lũy cá nhân cộng với tích lũy của gia đình. Do đó, những người
điều hành doanh nghiệp hầu hết có thế mạnh về vốn nhiều hơn là có thế
mạnh về năng lực quản lý. Còn các DNNVV của nhà nước thì lại có nhiều
nhà quản lý yếu kém về trình độ điều hành nên cũng chưa đáp ứng được
nhu cầu quản lý doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh gay gắt của cơ
chế thị trường như hiện nay, gây khó khăn trong việc đảm bảo cho doanh
nghiệp đứng vững và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, số người của DNNVV có trình độ, được đào tạo còn ít.
Khó khăn của các doanh nghiệp này là không thu hút được nhiều các cán
bộ kỹ thuật cũng như các nhà quản lý giỏi, những công nhân có tay nghề
cao. Từ đó, dẫn đến năng suất lao động thấp, hiệu quả sử dụng vốn kém
ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả vốn vay và bảo toàn vốn thấp. Chính điều
này sẽ dẫn tới khả năng tiếp cận vốn của các ngân hàng của các doanh
nghiệp này bị hạn chế.
1.2.2.3 Sức cạnh tranh của DNNVV còn thấp


14
Do các DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn đầu tư
cho hoạt động sản xuất kinh doanh còn ít làm cho hoạt động sản xuất kinh
doanh gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm như: chất
lượng chưa cao, sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ còn yếu… do đó

không mở rộng được thị trường, ngày càng khó tiêu thụ hàng hóa. Chính
điều này sẽ dẫn đến doanh thu thấp và lợi nhuận cũng thấp, cản trở việc sản
xuất kinh doanh, dễ có những hành vi gian lận thương mại, kinh doanh trái
với quy định của pháp luật.
1.2.2.4 Môi trường kinh doanh bên ngoài có ảnh hưởng lớn đến
hoạt động của DNNVV
Chính những đặc trưng về quy mô nguồn vốn và lực lượng lao động
đã phần nào nói lên sự phụ thuộc của các DNNVV vào môi trường kinh
doanh. Các tác động từ bên ngoài tới doanh nghiệp cũng đã gây ra không ít
khó khăn cho các doanh nghiệp này. Trước hết, sự tác động quản lý của
nhà nước về hoàn thiện Luật doanh nghiệp, các chính sách thuế, chính sách
tín dụng, thương mại, chính sách khoa học công nghệ, lao động và việc
làm… có nhiều bất cập. Tác động quản lý của nhà nước đối với doanh
nghiệp trong khâu tổ chức còn nhiều bức xúc. Sự thiếu hụt và rối loạn thị
trường như: thị trường vốn, thị trường thông tin, thị trường dịch vụ và nạn
hàng giả, hàng lậu tràn lan gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của DNNVV.
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế
DNVVN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước. Ở
nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển DNVVN luôn là
nền tảng của nên kinh tế, là bộ phận cấu thành không thể thiếu được của
nền kinh tế. Chính phủ các nước cũng xác định vai trò quan trọng, lâu dài
của DNVVN.


15
1.2.3.1. Góp phần tăng trưởng và ổn đinh kinh tế - xã hội.
Trước hết, các DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, thậm
chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp. Sự phát triển nhanh của các
DNNVV cả về số lượng và chất lượng đã đóng góp quan trọng vào GDP. Ở

các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, DNNVV chiếm
90% số lượng doanh nghiệp, đóng góp từ 25%-33% giá trị GDP hàng năm.
Vì vậy, việc phát triển DNNVV đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Vì DNNVV có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hoạt động. Các
doanh nghiệp này thường hoạt động rất năng động và linh hoạt trong nền
kinh tế nên kéo theo nền kinh tế năng động theo. Sự góp mặt đáng kể của
các doanh nghiệp này khiến cho các doanh nghiệp lớn cũng phải điều chỉnh
theo, tạo đà cho nền kinh tế ngày càng phát triển.
Hoạt động đa năng và bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế,
DNNVV đã và đang cung cấp một khối lượng lớn hàng hoá, dịch vụ đáng
kể cho nền kinh tế. Với những ưu thế về ngành nghề, tính nhạy cảm thị
trường cao, các DNNVV có nhiều lợi thế trong việc cung ứng các sản
phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước và ngoài nước. Các DNNVV
cũng đóng góp một phần vào kim ngạch xuất nhập khẩu. Ở các nước đang
phát triển, một số ngành nghề có lợi thế xuất khẩu như: nông sản, thủ công
mỹ nghệ, chế biến thủy hải sản, dệt may…thì đều do các DNNVV sản xuất.
Từ đó, tạo nguồn thu nhập ổn định cho dân cư.
1.2.3.2. Phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
Về tiềm lực vốn: Các DNNVV có thể thành lập và hoạt động mà
không cần quá nhiều vốn. Điều này đã thu hút được đông đảo người dân
tham gia đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Hơn nữa, lợi
thế của các DNNVV là có thể dễ dàng huy động được vốn từ người thân,
bạn bè…và biến các khoản tiền này thành các khoản đầu tư có hiệu quả.


16
Về nguồn lao động: Chiếm ưu thế về số lượng, DNNVV đã và
đang thu hút một lượng lớn lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Thông thường nguồn lao động chiếm tỷ lệ từ 60 – 80% trong tổng

số lao động trong nền kinh tế. Các DNNVV chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực
thương mại- dịch vụ nên nhu cầu lao động nhiều. Một đặc điểm là lao động
trong khu vực này thường là lao động đơn giản, không mất nhiều thời gian
đào tạo, chỉ cần bồi dưỡng ngắn ngày là họ có thể tham gia sản xuất được.
Đặc biệt, đối với những nước đang phát triển, nguồn lao động tay nghề và
trình độ thấp nhiều. Chính các DNNVV là nơi vừa tạo công ăn việc làm
cho họ, vừa tận dụng nguồn lao động sẵn có mà chi phí nhân công lại rẻ.
Mặt khác, nhiều doanh nghiệp lớn hoạt động kinh doanh không có hiệu
quả, việc giảm biên chế là không thể tránh khỏi nhằm giảm bớt chi phí hoạt
động. Do vậy, lượng lao động dư thừa từ các doanh nghiệp lớn lại chính là
nguồn cung lao động cho các DNNVV.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, cùng với xu thế chung, các
DNNVV cũng xuất hiện nhiều hơn. Mà đứng đầu là các chủ doanh nghiệp.
Đây là lực lượng rất cần thiết để góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển. Ngày nay, nhiều gương mặt trẻ tài năng đã tự mình thành lập và
vận hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Chính từ đây mà đội ngũ
cán bộ, nhà kinh doanh có trình độ, kỹ năng đã ra đời. Với khả năng am
hiểu thị trường, trình độ quản lý chyên nghiệp, cùng với sự năng động và
linh hoạt, họ đã và đang khẳng định vai trò to lớn của DNNVV trong nền
kinh tế thị trường.
Về tài nguyên thiên nhiên: Các DNNVV khai thác, phát huy các
nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của địa phương hiệu quả. Phân bố phân tán
giúp cho DNNVV có thể tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương.


17
1.2.3.3. Phân phối thu nhập có hiệu quả trong nền kinh tế.
Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải
có nguồn lao động. Sự phát triển vượt bậc của các DNNVV cả về số lượng
và chất lượng đã góp phần không nhỏ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tạo

công ăn việc làm cho xã hội. Nếu như các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ
sở tại các trung tâm kinh tế lớn của đất nước thì các DNNVV lại có mặt ở
các địa phương. Khả năng sản xuất phân tán, sử dụng lao động tại chỗ đã
góp phần làm giảm thất nghiệp, một bài toán xã hội nan giải.
DNNVV tạo nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư,
góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập cho các bộ phận dân cư. Từ đó,
tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các vùng miền khác nhau và
cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau.
1.2.3.4. DNNVV có mối liên hệ chặt chẽ với các chủ thể khác trong
nền kinh tế.
DNNVV có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại tất
yếu khách quan trong nền kinh tế của mỗi nước. Nó là một bộ phận hữu cơ,
gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp lớn thường tập
trung vào những đoạn thị trường có quy mô lớn và không thể bao quát
được toàn bộ thị trường. Trong khi đó thị trường mục tiêu của các DNNVV
lại tập trung vào những “ thị trường ngách” nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp
lớn trong việc tiếp cận thị trường, cân đối cung cầu trong xã hội. Với vai
trò là một kênh phân phối có hiệu quả, các DNNVV vừa cung cấp các yếu
tố đầu vào vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Có thể nói với số vốn hoạt
động không nhiều, một số DNNVV hoạt động trên thị trường nguyên vật
liệu trở thành những vệ tinh cung cấp các yếu tố đầu vào cho các doanh
nghiệp lớn. Một số DNNVV khác lại trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm
cho các doanh nghiệp lớn ví dụ như mua máy móc, thiết bị, vật tư cần
thiết… phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.


18
Sự tham gia của các DNNVV trên thị trường làm cho số lượng và
chủng loại hàng hóa, dịch vụ không ngừng tăng lên. Với khả năng tiếp cận
và đổi mới công nghệ, cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế, các

DNNVV buộc phải đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hoá sản phẩm,
tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành… Điều này
dẫn đến tính chất cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt. Đứng trước
thách thức này, các doanh nghiệp lớn cũng phải thường xuyên đổi mới và
nâng cao năng lực hoạt động nhằm tạo ra những lợi thế nhằm tăng cường
khả năng cạnh tranh với các DNNVV. Những yếu tố đó có tác động lớn
làm nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn.
1.3 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA
1.3.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Cho vay là một hoạt động kinh tế, đó là quan hệ chuyển nhượng tạm
thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng giữa hai bên cùng có lợi. Cho
vay là một giao dịch bằng tiền giữa bên cho vay (Ngân hàng) và bên đi vay
(Doanh nghiệp, cá nhân) trong đó theo thỏa thuận bên cho vay sẽ chuyển
giao tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, còn bên vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi
đến hạn thanh toán. Như vậy bản chất của cho vay là:
- Người đi vay chỉ được sử dụng tiền trong một thời gian nhất định
theo thỏa thuận và phải hoàn trả vô điều kiện khi đến hạn.
- Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay.
Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình
hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc
đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
Hoạt động cho vay là lĩnh vực sử dụng vốn chủ yếu của các NHTM ở Việt
Nam hiện nay. Không chỉ là nguồn chính mang lại thu nhập cho các


19
NHTM, tín dụng cũng đóng vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp
vay vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, vì

đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động có hoàn trả và có lợi tức khi
sử dụng vốn vay. Mặt khác, như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một hiện
tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động tín dụng đối với ngân
hàng còn là vũ khí cạnh tranh sắc bén có hiệu quả giữa các NHTM với
nhau, bởi khi ngân hàng nâng cao khả năng cấp tín dụng thì sẽ thu hút được
nhiều khách hàng đến với ngân hàng, nâng cao được uy tín của ngân hàng
đối với thị trường, mở rộng thị phần và nhờ đó cải thiện khả năng thu lợi
nhuận.
1.3.2 Phân loại về tín dụng ngân hàng
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại các khoản cho vay khi
đứng trên từng giác độ xem xét. Việc phân loại các khoản cho vay nhằm
mục đích quản lý các khoản vay có hiệu quả nhất.
 Theo thời hạn khoản vay:
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng
như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân
thành:
 Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay dưới 12 tháng, tài trợ cho
tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh
nghiệp, hộ sản xuất. Phương thức cho vay này được áp dụng trong các
trường hợp sau: Ngân hàng cho Nhà nước vay để đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của nhà nước, hình thức phổ biến là mua trái phiếu do Kho bạc Nhà nước
phát hành; Cho vay đối với các tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty tài
chính quỹ tín dụng…nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản, hình thức cho
vay có thể là trực tiếp (trên thị trường liên ngân hàng) hoặc gián tiếp thông
qua nắm giữ chứng khoán; Đối với doanh nghiệp, ngân hàng cho vay nhằm
tài trợ cho nhu cầu vốn tăng thêm cho sản xuất kinh doanh.


20

 Tín dụng trung hạn là những khoản cho vay từ trên 1 năm đến 5
năm, còn tín dụng dài hạn là trên 5 năm. Loại hình tín dụng này nhằm tài
trợ cho các doanh nghiệp có nhu cầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải
tiến kỹ thuật, mua công nghệ…; cho Nhà nước để đầu tư phát triển, cho
người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền
như nhà cửa, phương tiện vận chuyển. Hình thức cho vay chủ yêu là mua
trái phiếu, cho vay theo các dự án…
 Theo phương thức cho vay:
 Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người
vay chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi. Tuy nhiên, các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ phải chịu
lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức này. Đây là hình thức cho vay
tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán, thủ tục
đơn giản, phần lớn không có đảm bảo, do đó chỉ áp dụng với những khách
hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
 Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến của ngân
hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có
điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Theo đó, vốn của ngân hàng chỉ
tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc
và lãi. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể
kiểm soát từng món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản
đảm bảo.
 Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân
hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, hạn mức này có thể
tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức
tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và



21
nhu cầu vay vốn của khách hàng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho
những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường
xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng
không ấn định trước ngày trả nợ. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt
thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng
từng lần vay
 Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân
chuyển của hàng hóa. Ngân hàng có thể cho vay khi doanh nghiệp mua
hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Vì việc cho vay dựa trên
luân chuyển của hàng hóa nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải
nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quỹ trong
thời gian tới. Trong đó, người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho
người bán và mọi khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền
vay trước khi được trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng. Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho khách hàng vì thủ tục vay chỉ
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay, khách hàng được đáp ứng nhu cầu
vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
 Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho
phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa
thuận. Số tiền trả mỗi lần sẽ được tính toán sao cho phù hợp với khả năng
trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thu
nhập hàng kỳ của người tiêu dùng). Hình thức này rủi ro khá cao do khách
hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ
thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất
cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất của ngân
hàng.
 Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức
trung gian như tổ, đội, hội, nhóm…Các tổ chức này thường liên kết các

thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo


22
vệ quyền lợi cho mỗi thành viên. Trong hình thức cho vay này, ngân hàng
có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung
gian như thu nợ, phát tiền vay. Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua
người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất, việc cho vay này
sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền vay sai mục đích. Như vây, hình thức
cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món
cho vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Cho vay qua trung
gian nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng.
 Theo hình thức đảm bảo:
Phân theo hình thức đảm bảo, các khoản vay bao gồm cho vay có bảo
đảm và cho vay không có bảo đảm.
Trong đó, các biện pháp bảo đảm tiền vay đối với các khoản vay có
bảo đảm có thể là cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo
lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn
vay. Cụ thể hơn, nếu phân loại theo tính chất an toàn, các tài sản đảm bảo
có thể chia thành loại 1 và loại 2.
Theo đó, loại 1 là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của
khách hàng, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba cho khách hàng của ngân hàng.
Những đảm bảo này không được hình thành từ khoản tín dụng của chính
ngân hàng. Do đó, tài sản đảm bảo loại 1 thường an toàn hơn cho ngân
hàng, song lại gây khó khăn cho cả ngân hàng lẫn khách hàng trong việc
định giá, bảo quản, khiến thời gian phân tích tín dụng bị kéo dài, trì trệ.
Ngược lại, loại 2 là những tài sản đảm bảo được hình thành từ nguồn
tài trợ của chính ngân hàng. Đây là biện pháp cuối cùng nếu ngân hàng
muốn hạn chế việc người vay bán tài sản từ món vay. Tuy nhiên tài sản loại
2 thường không đảm bảo an toàn cho ngân hàng vì khi người vay không có

khả năng trả nợ, phần lớn các tài sản này cũng bị giảm giá, khó bán. Do đó,
tài sản loại 2 thường chỉ áp dụng trong trường hợp người vay không có
hoặc không thể dùng tìa sản đảm bảo loại 1.


23
Đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm, ngân hàng sẽ chủ
động lựa chọn khách hàng đủ điều kiện để cho vay. Thông thường các
khoản vay này được thực hiện thông qua chỉ định của Chính phủ hoặc của
NHNN Việt Nam. Đối với các khách hàng vay không có tài sản đảm bảo
cần đạt được một số điều kiện nhất định, đó là sử dụng vốn vay có hiệu
quả, có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có
khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đặc biệt các khách hàng
này phải cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm tài sản theo yêu cầu của đơn
vị trực tiếp cho vay nếu xảy ra trường hợp sử dụng vốn vay không đúng
cam kết trong hợp đồng tín dụng.
 Theo đối tượng khách hàng:
Đây là hình thức phân chia khá mới mẻ, phù hợp với nội dung nghiên
cứu của đề tài này. Theo nhóm khách hàng, hai đối tượng chủ yếu của các
ngân hàng hiện nay là các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế lớn. Tuy nhiên không có một sự phân biệt hoàn toàn rõ ràng
giữa hai nhóm khách hàng này. Mục tiêu đặt ra khi phân biệt như vậy nhằm
quản lý tốt việc cho vay đối với từng đối tượng.
Các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế (nhóm khách hàng lớn) thường
có nhu cầu vay các món lớn, thời hạn vay thường ngắn và có tính ổn định
cao. Do đó, mỗi khoản vay đều đòi hỏi một quy trình thẩm định, phân tích
nghiêm ngặt, chặt chẽ bởi vì bất kỳ một sự sai sót nhỏ nào đều có thể dẫn
tới hậu quả nghiêm trọng, không chỉ đối với ngân hàng mà đối với cả khách
hàng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra hàng đầu của ngân hàng đối với nhóm khách
hàng này là cần tạo dựng mối quan hệ hiểu biết lâu dài và liên tục. Trong

hình thức cho vay này, người đến xin vay ngân hàng là người đại diện hợp
pháp cho tổ chức, doanh nghiệp và mang tư cách pháp nhân của một tổ
chức.
Ngược lại, đối với các khách hàng cá nhân (nhóm khách hàng nhỏ) thì
các khoản vay thường là nhỏ lẻ, phân tán, không thường xuyên và không


24
ổn định do hầu hết chúng đều xuất phát từ nhu cầu tức thời của người dân.
Tuy nhiên khi cho vay những món như vậy, điều thuận lợi đối với ngân
hàng là có thể phân tán được rủi ro thông qua cho vay nhiều khách hàng
với nhiều món vay nhỏ. Một điều rõ ràng là người trực tiếp đến ngân hàng
xin vay trong trường hợp này chính là cá nhân có nhu cầu vay vốn, mang tư
cách cá nhân, vì vậy ở đây có mối quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng và
người xin vay.
1.3.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Có thể khẳng định rằng, tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn
vốn quan trọng nhất không chỉ đối với các DNNVV mà đối với mọi doanh
nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Các NHTM là một tổ chức tài chính trung
gian với khả năng huy động vốn từ nhiều nguồn nhỏ, lẻ khác nhau thành
một nguồn vốn tập trung, do đó các ngân hàng luôn có đủ khả năng cung
cấp các nguồn tài trợ cho doanh nghiệp. Trong các hình thức tài trợ cho
doanh nghiệp thì hoạt động tín dụng ngân hàng với những ưu điểm của
mình vẫn là nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp quan trọng nhất. Như
vậy,vấn đề đặt ra không phải là khả năng cho vay của các NHTM mà chính
là khả năng tiếp cận nguồn vốn này của các DNNVV:
 Thứ nhất: Tín dụng NHTM là một kênh cung cấp vốn quan trọng
đối với DNV&N
Có thể nói, trong các nguồn huy động vốn cho hoạt động sản xuất

kinh doanh của các DNV&N thì nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò quan
trọng nhất do những ưu điểm của nó. Phần lớn DNNVV là thiếu vốn, trình
độ sản xuất công nghệ thường yếu kém… nên nhu cầu đối với nguồn vốn
vay ngân hàng để đầu tư sản xuất theo chiều sâu hay mở rộng quy mô hoạt
động sản xuất kinh doanh càng bức thiết. Muốn đầu tư vào chiều sâu doanh
nghiệp dựa trên nguồn tích lũy nội bộ thì thường cần một thời gian lâu dài,


25
trong khi đây là những yêu cầu bức thiết đặt ra cho mỗi doanh nghiệp trong
môi trường kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay.
Ngoài ra, nhu cầu vay vốn để doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh như: mua mới trang thiết bị, mở rộng nhà xưởng, tăng số
lượng lao động… là rất lớn so với khả năng tài chính của doanh nghiệp. Và
nhu cầu này có thể được thỏa mãn bằng cách sử dụng nguồn vốn vay ngân
hàng.
 Thứ hai: Tín dụng NHTM làm tăng khả năng cạnh tranh và uy tín
của các DNNVV
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khả năng cạnh tranh mang tính
chất sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt với các DNNVV thì
ngoài việc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng mức thì nó còn phải
chịu một áp lực cạnh tranh rất lớn từ phía các công ty lớn, các tổng công ty
hay các tập đoàn trong và ngoài nước. Do đó, bài toán về khả năng cạnh
tranh và đứng vững trên thị trường luôn là vấn đề bức thiết đối với các
DNNVV. Doanh nghiệp phải cạnh tranh cả về chất lượng sản phẩm, giá cả
hàng hóa, công nghệ… Tất cả đều nhằm mục tiêu tạo ưu thế về sản phẩm
dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường.
Bên cạnh đó, DNNVV tại Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh
tranh từ một số lượng không nhỏ hàng nhập lậu, hàng giả, hàng nhái… Các
mặt hàng nhập lậu, hàng giả thường có giá cả thấp hơn khá nhiều so với

hàng trong nước cũng như hàng hóa nhập qua hải quan cho nên nó tạo ra
một sự cạnh tranh gay gắt về mặt giá cả đối với các doanh nghiệp. Chính
những lý do này đòi hỏi các DNNVV phải luôn khẳng định chỗ đứng của
mình thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ,
giảm giá thành sản phẩm, quảng bá thương hiệu… Với nguồn vốn vay từ
ngân hàng, các doanh nghiệp có thể sử dụng một cách linh hoạt để thực
hiện các dự án đầu tư vào máy móc công nghệ, đào tạo nâng cao tay nghề
công nhân… để từ đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành sẩn phẩm, tạo

×