Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa vai trò của nó đối với sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (97.26 KB, 18 trang )

Đề tài: CNH - HĐH - vai trò của nó đối với sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa ở nớc ta
---------***-------
A - Đặt vấn đề
Công nghiệp hoá hiện đại hoá là một chủ trơng lớn của Đảng, chính
phủ nớc ta hiện nay, đang thực sự trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của
các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, của mọi doanh nghiệp và của toàn xã
hội.
ở nớc ta vấn đề công nghiệp hoá nền kinh tế đợc đặt ra từ năm 1960
trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Nhng sau đó chúng ta phải
tập trung nhân, tài, vật lực cho việc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân
chủ nhân dân giải phóng miền nam thống nhất đất nớc, chống chiến tranh
phá hoại miền bắc của đế quốc mỹ, nên việc thực hiện chủ trơng công nghiệp
hoá cha đợc bao nhiêu, mặt khác trong tổ chức chỉ đạo thực hiện công nghiệp
hoá đã có những biểu hiện nôn nóng muốn đốt cháy giai đoạn, cha xuất phát
từ đặc điểm tình hình của nớc ta là một nớc nông nghiệp lạc hậu trên 90%
dân số sống ở nông thôn.
Sau khi đất nớc hoà bình thống nhất cùng đi lên CNXH, chủ trơng
công nghiệp hoá tiếp tục triển khai thực hiện đợc đợc thể hiện ở văn kiện đại
hội IV, V, VI Đảng cộng sản Việt Nam. Đặc biệt văn kiện đại hội V, đại hội
VI chỉ rõ: Tập trung sức phát triển nông nghiệp coi nông nghiệp là mật trận
hàng đầu, đa nông nghiệp một bớc lên sản xuất lớn, chủ trơng trên đánh dấu
một giai đoạn mới quá trình công nghiệp hoá nớc ta. Trong điều kiện của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, quá trình công
nghiệp hoá ở nớc ta không những thực hiện nội dung của cuộc cách mạng kỹ
thuật lần thứ nhất chuyển lao động thủ công năng suất thấp thành lao động sử
dụng máy móc có năng suất cao mà còn phải đi tắt, đón đầu ứng dụng
1
những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Vì vậy
văn kiện đại hội Đảng lần thứ VII đa ra cụm từ công nghiệp hoá, hiên đại
hoá, dến đại hội Đảng lần thứ VIII, lần thứ IX khẳng định nớc ta bớc vào thời


kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiên đại hoá đất nớc.
Vì vậy cần làm rõ tính quan trọng của quá trình công nghiệp hoá, hiên
đại hoá trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nớc ta nh thế nào cho đúng, và
công nghiệp hoá, hiên đại hoá có vai trò vị trí nh thế nào trong quá trình xây
dựng CNXH ở nớc ta.
2
B - Nội dung
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là vai trò quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng XHCN ở nớc ta
1. Khái niệm về công nghiệp hoá hiện đại hoá và các vấn đề
cơ bản
1.1Khái niệm công nghiệp hoá hiện đại hoá
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là một quá trình có tính chất lịch sử.
Tất cả các nớc công nghiệp phát triển đều trải qua quá trình công nghiệp hoá
ở các thời điểm khác nhau, với những quy mô tốc độ khác nhau trong những
điều kiện lịch sử kinh tế xh khác nhau. Với hầu hết các nớc phát triển hiện
nay công nghiệp hoá là một trong những chính sách chủ yếu và là một thách
thức lớn. Tuy nhiên, chính sách công nghiệp hoá trong giai đoạn hiên nay có
nhiều khác biệt lớn so với các nớc công nghiệp hoá giai đoạn trớc đây .
Chính điều này đã làm cho chính sách ở các nớc, ở các thời kỳ thêm đa dạng.
Kết hợp quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại và vận dụng
vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, hội nghị lần thứ VII ban chấp hành TW
Đảng khoá VII đã đa ra quan niệm mới về công nghiệp hoá hiện đại hoá và
đây cungx chính là quan niệm đợc sử dụng một cách phổ biến ở nớc ta trong
giai đoạn hiện nay. Theo t tởng này, công nghiệp hoá hiện đại hoá là qúa
trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và ph-
ơng pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ
khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao

1.2. Vai trò và những mục tiêu nhiệm vụ của công nghiệp hoá hiện đại
hoá
3
* Vai trò của công nghiệp hoá
Một là phát triển lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy
tăng trởng và phát triển kinh tế, khắc phục nghuy cơ tụt hậu ngày càng xa
hơn về kinh tế giữa nớc ta với các nớc trong khu vực và trên thế giới, góp
phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân.
Hai là, củng cố và tăng cờng vai trò kinh tế của Nhà nớc, nâng cao
năng lực tích luỹ, tạo công ăn việc làm khuyến khích sự phát triển tự do và
toàn diện của mỗi cá nhân.
Ba là, tạo điều kiện vật chất cho việc tăng cờng củng cố an ninh quốc
phòng.
Bốn là, tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc
tế.
Mục tiêu nhiệm vụ của công nghiệp hoá hiện đại hoá:
Do vị trí và tầm quan trọng của các tác dụng nói trên của công nghiệp
hoá và hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, nên qua tất cả các kỳ đại hội Đảng
ta luôn luôn xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt quá
trình quá độ lên CNXH ở nớc ta. Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản
Việt Nam lại một lần nữa xác định mục tiêu của công nghiệp hoá hiện đại
hoá là: xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiên đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sóng vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn
minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đa nớc ta cơ bản trở thành một
nớc công nghiệp.
1.3.Cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH
4

Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội đã chứng minh: mỗi phơng thức
sản xuất của xã hội chỉ có thể xác lập một cách vững chắc trên cơ sở vật chất
kỹ thuật thích ứng, và chính cơ sở này là một trong những nhân tố quan trọng
nhất xác định phơng thức sản xuất đó thuộc loại hình xã hội- lịch sử nào và
thuộc thời đại kinh tế nào.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của một phơng thức sản xuất của xã hội là
tổng thể hữu cơ các yếu tố vật chất của lực lợng sản xuất đạt đợc trong những
điều kiện lịch sử nhất định của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, dựa trên đó
lực lợng lao động của xã hội ấy sản xuất ra của cải vật chất để thoả mãn nhu
cầu vật chất của xã hội.
Do trong lịch sử xã hội đã hình thành và tồn tại những mối liên hệ tất
yếu, nên phơng thức sản xuất ra đời sau bao giờ cũng kế thừa những yếu tố
của cơ sở vật chất kỹ thuật của phơng thức sản xuất trớc đó, trên cơ sở đó
cải tạo và phát triển thành cơ sở vật chất kỹ thuật của bản thân mình
Phơng thức sản xuất TBCN tuy xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ XVI , nhng
nó chỉ trở thành phơng thức sản xuất thống trị khi đã tạo ra đợc nền đại công
nghiệp cơ khí ra đời từ cuộc cách mạng công nghiệp và quá trình công
nghiệp hoá TBCN thế kỷ XVIII IXX. Tiếp sau đó nó đợc hiện đại hoá
ngày càng cao trên cơ sở của những thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật,
nhất là những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.
Chính sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí với sản xuất ngày
càng xã hội hoá đã tự phát tạo ra tiền đề vật chất khách quan cho sự ra đời
của phơng thức sản xuất mới: phơng thức sản xuất cộng sản chủ nghiã mà
giai đoạn đầu của nó là CNXH. tính tất yếu đó đã đợc chứng minh trong sự
phát triển của lịch sử xã hội: Nớc Nga XHCN xuất hiện từ cách mạng tháng
10 năm 1917 mở đầu một thời đại mới; thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản lên
CNXH. Nh vậy, do mối liên hệ tất yếu của lịch sử, cơ sở vật chất kỹ thuật
của XHCN giai đoạn đầu của phơng thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
phải là nền đại công nghiệp cơ khí hiên đại.
5

Các Mác và Ph.Ăng ghen, Lênin đã nói nhiều về vấn đề nền đại
công nghiệp cơ khí hiện đại là cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH.
Tại đại hội III quốc tế cộng sản năm 1921 Lênin đã chỉ rõ: cơ sở vật
chất duy nhất của CNXH chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả
năng cải tạo cả nông nghiệp nhng không tghể đóng khung ở nguyên lý chung
đó. cần phải cụ thể hoá nguyên lý đó. Một nền đại công nghiệp ở vào trình độ
kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo cả nông nghiệp, đó là diện khí hoá
cả nớc. Lênin còn nói Một lần nữa tôi phải nhấn mạnh rằng cơ sở kinh tế
duy nhất có thể có đợc của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí. ai quên
điều đó ngời đó không phải là ngời cộng sản. Chúng tôi phải đặt vấn đề một
cách thực tiễn đại công nghiệp hiện đại là thế nào?Đại công nghiệp hiện đại
có nghĩa là điện khí hoá toàn nớc Nga.
Tóm lại, cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH là nền đại công nghiệp cơ
khí hiện đại có khả năng cải tạo nông nghiệp. luận điểm trên của chủ nghĩa
mác Lênin cần phải đợc vận dụng môt cách thích hợp với đặc điểm của thời
đại cách mạng khoa học kỹ thuật và đặc điểm cụ thể của mỗi nớc.
Ngày nay trong điều kiện của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
với 5 nội dung: tự động hoá đồng bộ, năng lợng nguyên tử, vật liệu mới, công
nghệ sinh học, điện tử tin học. Vận dụng phơng pháp luận của chủ nghĩa
mác Lênin cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ của Đảng
cộng sản Việt Nam khẳng định: xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là
một xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại
và chế độ công hữu về các t liệu sản xuất chủ yếu.
Do đó, cho phép chúng ta hiểu rằng cơ sở vật chất kỹ thuật của
CNXH ở nớc ta, phải là nền đại công nghiệp cơ khí ứng dụng những thành
tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào mọi lĩnh vực của
đời sống kinh tế xã hội.
6
2. Hoàn cảnh nớc ta và yêu cầu khách quan của quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá

Thời đại ngày nay là thời đại quá độ lên CNXH trên toàn thế giới, ở n-
ớc ta khi đất nớc hoà bình thống nhất cả nớc đi lên CNXH Đây là sự lựa
chọn duy nhất đúng đắn của Đảng và nhân dân ta. Nớc ta quá độ đi lên
CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu điều dó cũng có nghĩa là nớc ta bỏ
qua giai đoạn phát triển TBCN. nhng ngời ta chỉ bỏ việc xác lập phơng thức
sản xuất TBCN, chứ không thể bỏ qua việc phát triển lực lợng sản xuất. Cái
thiếu nhất của đất nớc ta là thiếu một lực lợng sản xuất phát triển. đất nớc ta
cha có một cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với CNXH. Chừng nào ch tạo ra
đợc cái cốt vật chất kỹ thuật phù hợp với CNXH thì đất nớc ta cha có
CNXH hiện thực. Quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ấy ở nớc ta
chính là quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nên kinh tế quốc dân. Văn
kiện hội nghị lầ thứ VII ban chấp hành TW khoá VII khẳng định quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta là: Quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã
hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sứ
lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại
dựa trên sự phát triển của nông nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo
ra năng suất lao động xã hội cao. Thực chất công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở
nớc ta là quá trình tạo ra những tiền đề vật chất, kỹ thuật về con ngời, công
nghệ, phơng tiện, phơng pháp những yếu tố cơ bản của lực lợng sản xuất
cho CNXH. Nội dung cốt lõi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến,
hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao. Xây dựng nền đại công
nghiệp cơ khí hiện đại cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH bằng con đ-
ờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là một tất yếu khách quan đối với nớc
ta quá độ lên CNXH xúat phát từ một nên kinh tế kém phát triển. Tính tất yếu
7

×