Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

BÁO CÁO TIỂU LUẬN " CÔNG NGHỆ VI SINH VẬT TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN " docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.46 MB, 32 trang )

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HOC

BÁO CÁO TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
CÔNG NGHỆ VI SINH VẬT TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
GVHD: Ths.Trần Thị Phương Nhung
Lớp: CDSH12
Nhóm 5
Danh sách nhóm
1. TRẦN LÊ VŨ BÌNH 10288351
2. BÙI THỊ BÉ 10265941
3. LÝ LONG ĐỈNH 10277881
4. NGUYỄN HỮU QUỲNH ANH 10242681
5. ĐẶNG THỊ THU HÒA 09212411
6. ĐẶNG THỊ THÙY TRANG 09153521
TP Hồ Chí Minh , tháng 05 năm 2013
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Ngành nuôi trồng thủy sản đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến
lược phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm gần đây,
người nuôi thủy sản đang phải "oằn mình" ra chống đỡ với các đợt đại dịch xảy
ra trên cá, tôm nuôi. Nguyên nhân chủ yếu do người nuôi sử dụng thuốc, hóa
chất tràn lan dẫn đến động vật nuôi kháng thuốc, môi trường bị suy thoái. Để
hạn chế các tác động đó thì việc nghiên cứu các ứng dụng về vi sinh vật trong
nuôi trồng thủy sản là rất cần thiết.
Như chúng ta đã biết vi sinh vật là mắt xích quan trọng trong các chu trình
chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tự nhiên, chúng tham gia vào việc gìn
giữ tính bền vững của hệ sinh thái và bảo vệ môi trường, là đối tượng lí tưởng


trong công nghệ di truyền, công nghệ sinh học… vi sinh vật tham gia tích cực
vào quá trình phân giải các phế thải nông nghiệp, phế thải công nghiệp, rác sinh
hoạt …và được sử dụng làm phân bón, thuốc trừ sâu vi sinh và các chế phẩm vi
sinh dùng trong chăn nuôi. Chúng còn tham gia vào quá trình tạo mùn, quá trình
phân giải xác hữu cơ thành dạng đơn giản và chuyển hóa chất hữu cơ thành cồn,
gas …Hiện nay đã có một số nghiên cứu ứng dụng các chủng vi sinh vật có lợi
vào nuôi trồng thủy sản nhằm cải tạo môi trường nuôi, hạn chế dịch bệnh.
Rõ ràng mối lo lắng về sự xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc từ ao nuôi trồng
thủy sản do sử dụng hóa chất, kháng sinh, có thể truyền gen kháng thuốc cho
các vi khuẩn gây hại cho người (tồn tạo ngay trong ao nuôi tôm), làm cho kháng
sinh không còn hiệu nghiệm để điều trị bệnh cho người nữa, sẽ được giải tỏa
nếu thay thế bằng biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học. Hiện nay, việc sử dụng
chế phẩm sinh học là giải pháp ưu việt nhất để có được năng suất, chất lượng,
hiệu quả và sự phát triển bền vững của thủy sản nuôi.
Sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) trong nuôi trồng thủy sản là hướng đi
có ý nghĩa thực tiển về khía cạnh bảo vệ môi trường và đảm bảo hiệu quả sản
xuất. Từ đó, góp phần đưa nghề nuôi thủy sản phát triển bền vững. Để đảm bảo
hiệu quả sử dụng men vi sinh, người nuôi cần tham khảo một số vấn đề liên
quan sau đây.
PHẦN II: NỘI DUNG
2.1.Vi sinh vật
2.1.1. Khái niệm
Vi sinh vật là tên gọi chung để chỉ tất cả các sinh vật có hình thể bé nhỏ, muốn
thấy rõ được, người ta phải sử dụng tới kính hiển vi.
Vi sinh vật không phải là một nhóm riêng biệt trong sinh giới. Chúng thậm chí
thuộc về nhiều giới (kingdom) sinh vật khác nhau. Giữa các nhóm có thể không
có quan hệ mật thiết với nhau nhưng chúng có một số đặc điểm chung (cái này
sẽ tìm hiểu ở phần sau).
2.1.2. Đặc điểm
Vi sinh vật có các đặc điểm chung sau đây :

-Kích thước nhỏ bé :
Vi sinh vật thường được đo kích thước bằng đơn vị micromet (1mm=
1/1000mm hay 1/1000 000m). virus được đo kích thước đơn vị bằng nanomet
(1nn=1/1000 000mm hay 1/1000 000 000m).
Kích thước càng bé thì diện tích bề mặt của vi sinh vật trong 1 đơn vị thể tích
càng lớn. Chẳng hạn đường kính của 1 cầu khuẩn (Coccus) chỉ có 1mm, nhưng
nếu xếp đầy chúng thành 1 khối lập nhưng có thể lích là 1cm
3
thì chúng có diện
tích bề mặt rộng tới 6 m
2
!

Light microscope : KHV quang học
Electron microscope : KHV điện tử
Most bacteria: Phần lớn vi khuẩn
Kích thước vi khuẩn so với đầu kim khâu, ba dạng chủ yếu ở vi khuẩn : trực
khuẩn, cầu khuẩn và xoắn khuẩn.

-Hấp thu nhiều, chuyển hoá nhanh :
Tuy vi sinh vật có kích thước rất nhỏ bé nhưng chúng lại có năng lực hấp thu và
chuyển hoá vượt xa các sinh vật khác. Chẳng hạn 1 vi khuẩn lắctic
(Lactobacillus) trong 1 giờ có thể phân giải được một lượng đường lactose lớn
hơn 100-10 000 lần so với khối lượng của chúng. tốc độ tổng hợp protein của
nấm men cao gấp 1000 lần so với đậu tương và gấp 100 000 lần so với trâu bò.
Lactobacillus qua KHV điện tử
-Sinh trưởng nhanh, phát triển mạnh :
Chẳng hạn, 1 trực khuẩn đại tràng (Escherichia coli ) trong các điều kiện thích
hợp chỉ sau 12-20 phút lại phân cắt một lần. Nếu lấy thời gian thế hệ là 20 phút
thì mỗi giờ phân cắt 3 làn, sau 24 giờ phân cắt 72 lần và tạo ra 4 722 366 500

000 000 000 000 000 tế bào (4 722 366. 10
17
), tương đương với 1 khối lượng
4722 tấn. Tất nhiên trong tự nhiên không có được các điều kiện tối ưu như vậy (
vì thiếu thức ăn, thiếu oxy, dư thừa các sản phẩm trao đổi chất có hại ). Trong
nòi lên men với các điều kiện nuôi cấy thích hợp từ 1 tế bào có thể tạo ra sau 24
giờ khoảng 100 000 000- 1 000 000 000 tế bào. Thời gian thế hệ của nấm men
dài hơn, ví dụ với men rượu (Saccharomyces cerevisiae) là 120 phút. Với nhiều
vi sinh vật khác còn dài hơn nữa, ví dụ với tảo Tiểu cầu ( Chlorella ) là 7 giờ,
với vi khuẩn lam Nostoc là 23 giờ Có thể nói không có sinh vật nào có tốc độ
sinh sôi nảy nở nhanh như vi sinh vật.
Vi khuẩn Escherichia
coli
Nấm men
Saccharomyces
cerevisiae
Nấm sợi
Alternaria
Vi tảo Chlorella

-Có năng lực thích ứng mạnh và dễ dàng phát sinh biến dị :
Trong quá trình tiến hoá lâu dài vi sinh vật đã tạo cho mình những cơ chế điều
hoà trao đổi chất để thích ứng được với những điều kiện sống rất khác nhau, kể
cả những điều kiện hết sức bất lợi mà các sinh vật khác tgường không thể tồn tại
được. Có vi sinh vật sống được ở môi trường nóng đến 130
0
C, lạnh đến 0-5
0
C,
mặn đến nồng độ 32% muối ăn, ngọt đến nồng độ mật ong, pH thấp đến 0,5

hoặc cao đến 10,7, áp suất cao đến trên 1103 at. hay có độ phóng xạ cao đến
750 000 rad. Nhiều vi sinh vật có thể phát triển tốt trong điều kiện tuyệt đối kỵ
khí, có noài nấm sợi có thể phát triển dày đặc trong bể ngâm tử thi với nộng độ
Formol rất cao
Vi sinh vật đa số là đơn bào, đơn bội, sinh sản nhanh, số lượng nhiều, tiếp xúc
trực tiếp với môi trường sống do đó rất dễ dàng phát sinh biến dị. Tần số biến
dị thường ở mức 10
-5
-10
-10
. Chỉ sau một thời gian ngắn đã có thể tạo ra một số
lượng rất lớn các cá thể biến dị ở các hế hệ sau. Những biến dị có ích sẽ đưa lại
hiệu quả rất lớn trong sản xuất. Nếu như khi mới phát hiện ra penicillin hoạt
tính chỉ đạt 20 đơn vị/ml dịch lên men (1943) thì nay đã có thể đạt trên 100 000
đơn vị/ml. Khi mới phát hiện ra acid glutamic chỉ đạt 1-2g/l thì nay đã đạt đến
150g/ml dịch lên men (VEDAN-Việt Nam).
Nhà máy Vedan-Việt Nam
-Phân bố rộng, chủng loại nhiều :
Vi sinh vật có mặt ở khắp mọi nơi trên Trái đất, trong không khí, trong đất, trên
núi cao, dưới biển sâu, trên cơ thể, người, động vật, thực vật, trong thực phẩm,
trên mọi đồ vật
Vi sinh vật tham gia tích cực vào
việc thực hiện các vòng tuần hoàn
sinh-địa-hoá học (biogeochemical
cycles) như vòng tuần hoàn C,
vòng tuần hoàn n, vòng tuần hoàn
P, vòng tuần hoàn S, vòng tuần
hoàn Fe
Trong nước vi sinh vật có nhiều ở
vùng duyên hải (littoral zone), vùng

nước nông (limnetic zone) và ngay
cả ở vùng nước sâu (profundal
zone), vùng đáy ao hồ (benthic zone).
Trong không khí thì càng lên cao số lượng vi sinh vật càng ít. Số lượng vi sinh
vật trong không khí ở các khu dân cư đông đúc cao hơn rất nhiều so với không
khí trên mặt biển và nhất là trong không khí ở Bắc cực, Nam cực
Hầu như không có hợp chất carbon nào (trừ kim cương, đá graphít ) mà không
là thức ăn của những nhóm vi sinh vật nào đó (kể cả dầu mỏ, khí thiên nhiên,
formol. dioxin ). Vi sinh vật có rất phong phú các kiểu dinh dưỡng khác nhau :
quang tự dưỡng (photoautotrophy), quang dị dưỡng (photoheterotrophy), hoá tự
dưỡng (chemoautotrophy), hoá dị dưỡng (chemoheterotrophy).tự dưỡng chất
sinh trưởng (auxoautotroph), dị dưỡng chất sinh trưởng (auxoheterotroph)

-Là sinh vật xuất hiện đầu tiên trên trái đất :
Trái đất hình thành cách đây 4,6 tỷ năm nhưng cho đến nay mới chỉ tìm thấy
dấu vết của sự sống từ cách đây 3,5 tỷ năm. Đó là các vi sinh vật hoá thạch còn
để lại vết tích trong các tầng đá cổ. Vi sinh vật hoá thạch cỗưa nhất đã được
phát hiện là nhữngdạng rất giống với Vi khuẩn lam ngày nay. Chúng được
J.William Schopf tìm thấy tại các tầng đá cổ ở miền Tây Australia. Chúng có
dạng đa bào đơn giản, nối thành sợi dài đến vài chục mm với đường kính
khoảng 1-2 mm và có thành tế bào khá dày. Trước đó các nhà khoa học cũng đã
tìm thấy vết tích của chi Gloeodiniopsis có niên đại cách đây 1,5 tỷ năm và vết
tích của chi Palaeolyngbya có niên đại cách đây 950 triệu năm.
Vết tích vi khuẩn lam
cách đây 3,5 tỷ năm
Vết tích Gloeodiniopsis cách
đây 1,5 tỷ năm
Vết tích Palaeolyngbya cách
đây 950 triệu năm
2.1.3. Phân bố

Vi sinh vật phân bố khắp mọi nơi trên Trái Đất. Chúng có mặt trên cơ thể
người, động vật, thực vật, trong đất, trong nước, trong không khí, trên mọi đồ
dùng, vật liệu, từ biển khơi đến núi cao, từ nước ngọt, nước ngầm cho đến nước
mặn ở biển…
Trong đường ruột của người thường không dưới 100 – 400 loài vi sinh vật khác
nhau, chúng chiếm 1/3 khối lượng khô của phân. Chiếm số lượng cao nhất trong
đường ruột người là vi khuẩn Bacteroides fragilis, chúng đạt tới số lượng 10
10

10
11
/g phân.
Ở độ sâu 10.000m của Đông Thái Bình Dương, nơi hoàn toàn tối tăm lạnh lẽo
và có áp suất rất cao người ta vẫn phát hiện thấy khoảng 1 triệu – 1 tỉ vi
khuẩn/ml (chủ yếu là vi khuẩn lưu huỳnh).
Ở độ cao lên tới 84km trong không khí người ta vẫn phát hiện thấy có vi sinh
vật. Mặt khác khi khoan xuống các lớp đá trầm tích sâu 427m ở châu Nam Cực
người ta vẫn phát hiện các vi khuẩn sống.
Về chủng loại, trong khi toàn bộ giới động vật có khoảng 1,5 triệu loài, thực vật
có khoảng 0,5 triệu loài thì vi sinh vật cũng có trên 100.000 loài bao gồm
30.000 động vật nguyên sinh, 69000 loài nấm, 23.000 vi tảo, 2500 vi khuẩn
lam, 1500 vi khuẩn…
Như nhà sinh vật học Nga nổi tiếng A.A. Imsenhetskii đã viết “Các loài vi sinh
vật mà ta biết hiện nay nhiều lắm cũng
không quá 10% tổng số loài vi sinh vật
có sẵn trong thiên nhiên”. Chẳng hạn về
nấm trung bình mỗi năm lại được bổ
sung thêm 1500 loài mới.
2.1.4. Vai trò và ứng dụng
Trong đất, các vi sinh vật sống trong nốt rễ (rhizosphere) biến nitơ thành

ammoniac bằng các enzyme của chính mình. Một số khác lại dùng phân tử khí
nitơ làm nguồn đạm cho mình, chuyển nitơ thành các hợp chất của nitơ; quá
trình này gọi là quá trình cố định đạm. Nhiều vi khuẩn được tìm thấy sống cộng
sinh trong cơ thể người hay các sinh vật khác. Ví dụ như sự hiện diện của các vi
khuẩn cộng sinh trong ruột già giúp ngăn cản sự phát triển của các vi sinh vật có
hại.
Vi khuẩn có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ một cách đáng kinh ngạc.
Một số nhóm vi sinh "chuyên hóa" đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
hình thành các khoáng chất từ một số nhóm hợp chất hữu cơ. Ví dụ, sự phân
giải cellulose, một trong những thành phần chiếm đa số trong mô thực vật, được
thực hiện chủ yếu bởi các vi khuẩn hiếu khí thuộc chi Cytophaga. Khả năng này
cũng được con người ứng dụng trong công nghiệp và trong cải thiện sinh học
(bioremediation). Các vi khuẩn có khả năng phân hủy hydrocarbon trong dầu
mỏ thường được dùng để làm sạch các vết dầu loang
Vi khuẩn cùng với nấm men và nấm mốc được dùng để chế biến các thực phẩm
lên men như phô-mai, dưa chua, nước tương, dưa cải bắp (sauerkraut), giấm,
rượu, và yoghurt. Sử dụng công nghệ sinh học, các vi khuẩn có thể được "thiết
kế" (bioengineer) để sản xuất thuốc trị bệnh như insulin, hay để cải thiện sinh
học đối với các chất thải độc hại.
Những ích lợi bắt nguồn từ các vi sinh vật và các hoạt động của chúng
Nói chung, với năng lực chuyển hoá mạnh mẽ và khả năng sinh sản nhanh
chóng của các vi sinh vật cho thấy tầm quan trọng to lớn của chúng trong thiên
nhiên cũng như trong các hoạt động cải thiện chất lượng sống của con người
nhờ hiểu biết về các hoạt động sống của chúng .
Ngoài ra, các vi sinh vật còn là đối tượng cho các nghiên cứu cơ bản của di
truyền học. Từ đó dẫn tới sự hình thành các lĩnh vực di truyền học sinh-hoá và
di truyền học vi sinh vật trong thập niên 1940, hai nền tảng chính cho sự ra đời
của di truyền học phân tử và công nghệ DNA tái tổ hợp sau này.
Những ích lợi bắt nguồn từ các vi sinh vật và các hoạt động của chúng
Trong các môi trường tự nhiên

Hoạt động Ích lợi
Phân huỷ xác hữu cơ Quay vòng các chất dinh dưỡng trong sinh quyển.
Sản xuất oxy

Các vi sinh vật (VSV) quang hợp thuỷ sinh tạo ra
khoảng một nửa oxy của khí quyển.
Ngăn ngừa dịch bệnh

Các bệnh côn trùng có thể giúp phòng trừ các dịch
bệnh phá hoại mùa màng.
Cố định nitơ

Một vài vi khuẩn biến đổi nitơ bầu khí quyển thành
ra một dạng mà thực vật có thể dễ dàng sử dụng.
Sự sống sót của các
loài nhai lại

Các vi sinh vật tiêu hoá cellulose trong ruột trâu bò,
cừu cho phép động vật sử dụng thức ăn mà nó
không thể tiêu hoá bằng cách khác.
Các chuỗi thức ăn thuỷ
sinh

Các vi sinh vật quang hợp ở nước cung cấp năng lượng
và dinh dưỡng để tự chúng duy trì và nuôi
sống các tất cả các sinh vật tiêu thụ thuỷ sinh.
Các chuỗi thức ăn
trong đất
Sự phân huỷ của VSV cung cấp các chất dinh dưỡng
cho các sinh vật quang hợp mà nó hỗ trợ các chuỗi

thức ăn thuộc đất khô. Một số động vật đất sống bằng
các sinh vật thuỷ sinh, qua đó kết nối các chuỗi thức ăn
ở nước và ở đất.
Phá huỷ các độc tố

Các sản phẩm gây độc của một số sinh vật được khử
độc một cách tự nhiên nhờ hoạt động của VSV.
Đối với ứng dụng của con người
Hoạt động Ích lợi
Lên men cồn Sản xuất bia, rượu vang và cồn
Sản xuất kháng sinh

Nhiều dược phẩm được dùng để chống lại các bệnh ở
người và các động vật khác.
Các thuốc diệt bệnh
bằng sinh học

Các VSV có khả năng đặc biệt giết côn trùng được
dùng để thay thế các hoá chất chống lại các dịch
bệnh gây hại mùa màng mà không phải giết các động
vật có ích hoặc làm ô nhiễm môi trường.
Xử lý rác thải sinh học

Các VSV được dùng để làm sạch các cặn bã dầu và
phân huỷ các độc tố và các phế liệu công nghiệp.
Công nghệ sinh học

Cho phép các nhà khoa học tạo ra các nòi VSV mới
có các đặc tính độc đáo có thể dùng trong sản xuất
insulin hoặc các chế phẩm y-sinh học khác

Sản xuất thực phẩm

Yaourt, phomat và nhiều thức ăn khác được 'rippen'
bằng sự lên men vi sinh vật.
SX hoá chất c/nghiệp Cồn, các amino acid, vitamin, các enzyme hữu ích
Protein đơn bào

Bổ sung thực phẩm hứa hẹn cứu đói khắp toàn cầu.
Các VSVsinh trưởng trên các hợp chất hữu cơ đơn giản
(thậm chí các chất thải) có thể sản xuất nhanh thực
phẩm chất lượng cao dùng trong chăn nuôi
Sản xuất các vaccine

Các vật gây bệnh sinh trưởng qua nuôi cấy như là
nguồn vật liệu ngoại lai được sử dụng ở dạng biến đổi
(không gây bệnh) để tiêm chủng cho người và kích
thích miễn dịch chống lại bệnh tương ứng.
Test Ames đối với các
hoá chất gây ung thư

Cung cấp test xác định nhanh hàng ngàn hoá chất, nhờ
sử dụng khả năng của chúng để gây các biến
đổi di truyền ở vi khuẩn như là một chất chỉ thị về tiềm
năng gây ung thư của chúng.
Khai thác mỏ đồng và
uranium

Các vi khuẩn phân huỷ đá cho phép các hoạt động khai
thác kim loại từ quặng mà bằng cách khác
hiệu quả kinh tế rất thấp. Các vi khuẩn này cung cấp

khoảng 10% lượng đồng được khai thác.
Xử lý nước thải

Hoạt động VSV giúp làm sạch nước thải và giết các
sinh vật gây bệnh trước khi đưa trả lại môi trường.
Các nguồn năng lượng

Khí methane tự nhiên và ethanol là hai sản phẩm chất
đốt của các VSV sinh trưởng bằng cách biến đổi sinh
học biến các phế thải thành nhiên liệu.
Các mô hình cho nghiên cứu cơ bản
Khám phá Các đóng góp của vi sinh vật
DNA là vật chất di
truyền
Các vi khuẩn và virus đã cung cấp công cụ cho các thí
nghiệm chứng minh vật chất di truyền là DNA.
Cơ chế biểu hiện gene

Các vi khuẩn và virus đã được dùng để tìm hiểu cách
thức thông tin mã hoá trong các gene tạo ra các protein
đặc thù mà từ đó hình thành nên tính trạng.
Mã di truyền

Các vi khuẩn cung cấp các enzyme cho các nghiên
cứu dịch mã di truyền bằng cách thiết kế các trình tự
RNA đặc thù và qua đó giải tất cả mã di truyền.
Các con đường chuyển
hoá cơ bản

Nhiều con đường sinh hoá (chu trình Krebs chẳng hạn)

mà đã được khám phá và tiến hành ở các vi
khuẩn là trung tâm của sự chuyển hoá ở hầu hết tất cả
các sinh vật (kể cả con người).
Enzyme phiên mã
ngược
Một enzyme ở các virus gây bệnh AIDS và một số
virus gây ung thư cho phép các virus RNA hợp
nhất các bản sao vật chất di truyền của chúng vào DNA
của các nhiễm sắc thể động vật.
Các enzyme giới hạn
và splicing gene

Các enzyme vi khuẩn cung cấp cơ chế mà các nhà khoa
học lợi dụng để chuyển các gene từ sinh vật này sang
sinh vật khác, qua đó mở ra cánh cửa cho kỹ thuật di
truyền và các đại lộ mới cho nghiên cứu di truyền cơ
bản.
2.2. Vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản
Các chủng vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản
Các chủng vi sinh vật được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản hiện nay được
chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1: gồm những vi sinh vật sống như vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus,
Lactobacillus, Saccharomyces người ta thường dùng trộn vào thức ăn.
Nhóm 2: gồm các vi sinh vật có tính đối kháng hoặc cạnh tranh thức ăn với vi
sinh vật gây bệnh như vi khuẩn Bacillus licheniformis, Bacillus sp, được dùng
cải thiện nền đáy ao nuôi.
Nhóm 3: gồm các vi sinh vật cải thiện chất lượng môi trường như vi khuẩn
Nitrosomonas, Nitrobacter, Actinomyces, Bacillus, Rhodobacter sp,
Rhodospirillum, Rhodopseudomonas viridis dùng xử lý nước ao và nền đáy.
Lợi ích của các chủng vi sinh vật:

+ Làm sạch nền đáy ao nuôi bằng việc phân hủy các chất hữu cơ trong ao như
thức ăn thừa, mùn bã hữu cơ, chất thải của động vật thủy sản Giúp đáy ao
không bị trơ mà luôn tơi xốp qua các vụ nuôi.
+ Phân tươi sẽ an toàn và đảm bảo được chất dinh dưỡng khi ngâm ủ bằng các
chủng vi sinh vật Nitrosomonas, Nitrobacter, Actinomyces
+ Giúp ổn định tảo và tạo được màu nước tốt cho ao nuôi là màu vỏ đậu xanh
hoặc màu lá chuối non.
+ Chuyển hóa các khí độc gây độc cho cá như NH
3
, NO
2
, H
2
S… trong ao nuôi
sang dạng không độc.
+ Một số chủng vi sinh vật khi sử dụng sẽ làm tăng hàm lượng oxy, ổn định pH
và các chỉ số môi trường trong ao nuôi.
+ Các chủng vi sinh vật như Bacillus, Lactobacillus khi sử dụng trộn vào thức
ăn sẽ tốt cho đường ruột của động vật thủy sản.
2.2.1. Thức ăn
Thức ăn tự nhiên, bao gồm thực vật phù du và động vật phù du, chúng đóng vai
trò rất quan trọng trong lưới thức ăn của thủy vực tự nhiên và góp phần đáng kể
vào việc cân bằng sinh thái của thủy vực. Ngoài ra, các nhóm sinh vật này còn
được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trường nước.

Trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở giai đoạn phát triển từ ấu trùng/cá bột lên
cá giống, thức ăn tự nhiên là thành phần không thể thiếu được của rất nhiều loài
cá, giáp xác và thân mềm nước ngọt và lợ, mặn. Ở giai đoạn này, ấu trùng/cá
bột rất nhỏ (kích thước miệng nhỏ), chưa phát triển hoàn chỉnh các cơ quan cảm
giác (như mắt, xúc giác, cơ quan đường bên) và hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh là

những yếu tố hạn chế việc chọn lựa và sử dụng thức ăn thích hợp trong suốt thời
kỳ bắt đầu ăn thức ăn ngoài.

Kích cỡ miệng của cá bột lúc bắt đầu ăn thức ăn ngoài giới hạn kích thước hạt
thức ăn vừa với miệng (có thể ăn vào được). Nhìn chung, kích cỡ miệng có liên
quan với kích thước cơ thể và phụ thuộc vào đường kính trứng, thời gian dinh
dưỡng bằng noãn hoàng.

Tình trạng phát triển của ống tiêu hóa ở cá bột bắt đầu dinh dưỡng ngoài cũng
thể hiện khả năng có thể hay không thể tiêu hóa những thức ăn của cá. Ở một số
loài cá ống tiêu hóa đã phát triển với hệ thống enzym chức năng cho phép tiêu
hóa các mảnh vụn thức ăn khi mới bắt đầu ăn. Ngược lại, ở một số loài, cá bột
không có dạ dày chức năng nhưng chỉ có ống tiêu hóa ngắn với một ít hệ enzym
chức năng vào lúc mới bắt đầu ăn ngoài. Do vậy, các loài cá bột này sẽ phải phụ
thuộc vào nguồn thức ăn: (1) dễ tiêu hóa (thức ăn phải chứa lượng lớn acid amin
tự do và oligopeptide thay vì các phân tử protein phức khó tiêu hóa), (2) chứa
hệ enzym chức năng cho phép sự thủy phân (tự phân hủy hạt thức ăn), và (3)
cung cấp đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết đòi hỏi bởi cá bột.

Thức ăn nhân tạo thường không đáp ứng được các nhu cầu này và thường dẫn
đến tăng trưởng chậm và tỉ lệ sống thấp ở một số loài cá. Trong khi đó, thức ăn
tự nhiên hầu như đáp ứng tất cả các tiêu chí cần thiết của cá ở gian đoạn này.
Tuy nhiên, để cá có thể bắt được thức ăn, trước hết nó phải được phát hiện và vì
thế mức độ phát triển của các cơ quan cảm giác như cơ quan tiếp nhận ánh sáng
(mắt), tiếp nhận hóa học (cơ quan khứu giác, nụ vị giác) và tiếp nhận cơ học
(đường bên) là yếu tố quyết định. Ví dụ như mắt của cá bột thường chỉ có tế bào
hình nón trong võng mạc làm cho khả năng nhìn kém, trong khi đó mắt của cá
giống có tế bào hình que với nhiều sắc tố thị giác trong võng mạc. Hơn nữa,
sinh vật thức ăn tự nhiên thường có mức tương phản tốt hơn thức ăn nhân tạo và
nói chung có tác động kích thích do sự chuyển động liên tục giúp tăng khả năng

nhận biết bởi cá bột. Tương tự, hoạt động bơi lội của sinh vật thức ăn tự nhiên
thường đảm bảo sự phân bố thức ăn đều trong tầng nước, tăng cơ hội bắt gặp
thức ăn của cá bột đang trong giai đoạn phát triển với khả năng di chuyển chậm
chạp.

Trong các ao nuôi thủy sản, khẩu phần ăn tự nhiên của hầu hết các loài cá, giáp
xác và thân mềm rất đa dạng bao gồm nhiều loài tảo khác nhau (tảo khuê, tảo
lục, tảo có roi…) và các nhóm động vật phù du (luân trùng, giáp xác râu ngành,
giáp xác chân chèo, ấu trùng mười chân….). Đối với các thủy vực nước ngọt,
luân trùng (nhất là giống Brachionus) và trứng nước (giống Moina) là các nhóm
thức ăn tự nhiên chiếm mật độ cao và là nguồn thức ăn quan trọng của cá ở giai
đoạn sau khi nở.
Tảo
Tảo là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của thủy vực và là nguồn thức ăn
rất quan trọng đối với các giai đoạn đầu của nhiều loài cá, giáp xác và hai mảnh
vỏ. Hiện nay có trên 40 loài tảo khác nhau đã được phân lập và gây nuôi trên
thế giới, trong đó một số giống loài được sử dụng rất phổ biến trong sản xuất
giống các đối tượng hải sản bao gồm tảo khuê Skeletonema costatum,
Thalassiosira pseudonana, Chaetoceros gracilis, C. calcitrans, tảo có roi
Isochrysis galbana, Tetraselmis suecica, Monochrysis lutheri và tảo lục
Chlorella spp.

Luân trùng (Rotifera)
Với các đặc điểm như kích thước nhỏ (100-500µm), bơi lội chậm, chịu đựng tốt
các yếu tố môi trường, tốc độ sinh sản nhanh, luân trùng trở thành một trong
những loại thức ăn tự nhiên ban đầu quan trọng của nhiều loài tôm, cá khác
nhau. Luân trùng nước lợ Brachionus plicatilis được sử dụng ở giai đoạn đầu
của trên 70 loài cá biển và 18 loài giáp xác. Rất nhiều tác giả đã chứng minh
rằng giới hạn trong sản xuất và ương giống của nhiều loài tôm, cá phần lớn liên
quan đến việc hạn chế nguồn luân trùng. Luân trùng nước ngọt Brachionus

angularis là thành phần thức ăn quan trọng cho các loài cá bột nước ngọt như cá
bống tượng, thát lát… Kết quả nghiên cứu trên cá bột bống tượng từ 1-10 ngày
tuổi cho thấy nếu cá được cho ăn luân trùng (B. angularis) thì tỉ lệ sống cao hơn
đáng kể (35%) so với cho ăn bột đậu nành và lòng đỏ trứng (19%) (Trương Ngô
Bích Ngọc, 2010).


Trứng nước (Moina sp.)
Trứng nước thuộc nhóm giáp xác râu ngành (Cladocera) là thành phần động vật
phù du chủ yếu trong các ao nuôi thủy sản nước ngọt. Trứng nước được sử dụng
phổ biến trong ương nuôi rất nhiều loài cá khác nhau ở giai đoạn từ cá hương
lên cá giống như cá trê, cá tra, cá lóc, cá rô… Trong ao mật độ trứng nước
thường cao hơn ngoài thủy vực nước chảy, nhất là ở các ao được bón phân
trước đó.


Giáp xác chân chèo (Copepoda)
Giáp xác chân chèo trong
môi trường nước mặn phần
lớn là các giống loài thuộc
bộ Calanoida là thành phần
thức ăn chủ yếu (>70%)
trong ống tiêu hóa của hầu
hết các loài cá biển. Trong
môi trường nước ngọt, các
giống loài thường gặp
thuộc bộ Cyclopoida như
Cyclops, Eucyclops… cũng
là thành phần thức ăn quan
trọng cho cá con.

Tóm lại, thức ăn tự nhiên
rất cần thiết và quan trọng
đối với cá con từ giai đoạn
phát triển cá bột lên cá
giống do kích thước và giá trị dinh dưỡng thích hợp của chúng. Tận dụng nguồn
thức ăn tự nhiên làm thức ăn cho cá con bằng cách bón phân gây màu nước
trước khi thả giống sẽ giúp gia tăng chất lượng cá giống và năng suất cá nuôi
2.2.2. Tuần hoàn vật chất trong ao nuôi
Chu trình nitơ trong ao hồ
Chu trình nitơ là một trong
những mô hình tuần hoàn vô
hình và quan trọng nhất đối
với môi trường thủy sinh.
Tôm cá và các động vật thủy
sinh trong quá trình sinh
sống chúng bài tiết ra NH
3
,
nếu ở nồng độ cao NH
3
sẽ
gây độc. Chu trình nitơ,
trong đó có quá trình amôn
hóa và quá trình nitrate hóa
diễn ra nhờ vào hoạt động
của các vi khuẩn có ích giúp chuyển hóa các chất độc thành những chất có ích
cho đời sống của thực vật thủy sinh và giúp các động vật thủy sinh không bị độc
từ chất thải do chúng bài tiết ra.

Quá trình amôn hóa

Amôn hóa là quá trình phân hủy và chuyển hoá các hợp chất hữu cơ phức tạp
thành NH
3
dưới tác dụng cuả vi sinh vật. Dưới tác dụng của enzyme phân hủy
protein (enzyme proteolytic, thường gọi là enzym proteaza) làm chất xúc tác sẽ
phân hủy protein thành các chất đơn giản hơn, các chất này tiếp tục được phân
giải thành acid amin nhờ tác dụng của enzyme peptidaza ngoại bào. Một phần
nhỏ acid amin sẽ được vi sinh vật sử dụng để tổng hợp thành protein của chúng
(protein xây dựng cấu trúc cơ thể của vi sinh vật), phần còn lại được tiếp tục
phân giải tạo ra NH
3
, CO
2
, SO
4
2-
(nếu các acid amin có chứa S) và các sản phẩm
trung gian khác. Trong nước, NH
3
sẽ được chuyển hóa thành NH
4
+
theo phản
ứng sau:

NH
3
+ H
2
O > NH

4
+
+ OH
-
(1)

Quá trình nitrate hóa
Dưới tác dụng của một số vi sinh sinh thì NH
4
+
được hình thành từ quá trình
amôn hóa sẽ được tiếp tục chuyển hóa thành NO
2
-
(nitrite) rồi thành NO
3
-
(nitrate). Trước hết NH
4
+
được chuyển hóa thành NO
2
-
bởi vi khuẩn
Nitrosomonas, sau đó vi khuẩn Nitrobacter sử dụng men nitrite oxidase để
chuyển hóa NO
2
-
thành NO
3

-
. NO
3
-
có thể được các thực vật thủy sinh sử dụng
như là một nguồn dinh dưỡng hoặc có thể bị chuyển hóa tiếp thành khí nitơ (N
2
)
qua hoạt động của các vi khuẩn yếm khí như Pseudomonas. Các quá trình
chuyển hóa NH
4
+
đều cần sự tham gia của oxy và độ kiềm của nước. Quá trình
nitrate hóa gồm 2 giai đoạn được thực hiện bởi hai nhóm vi khuẩn nối tiếp nhau.
Hai giống vi khuẩn này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chúng phân bố rộng
rãi trong tự nhiên; môi trường đất, nước. Môi trường thích hợp cho cả 2 loại này
phải có pH>6 (tối ưu ở pH=7-8).

Giai đoạn nitrit hóa: Chuyển hóa NH
4
+
thành NO
2
-
(2) bởi nhóm vi khuẩn
nitrite hóa.
NH
4
+
+ 1,5 O

2
> NO
2
+ 2H
+
+ H
2
O (2)

Vi khuẩn tham gia mạnh nhất trong quá trình nitrite hóa là vi khuẩn hóa vô cơ
tự dưỡng, là loài vi khuẩn hiếu khí bắt buộc. Khi chúng chuyển hóa NH
4
+
thành
NO
2
-
sẽ sinh ra năng lượng, năng lượng này sẽ được các vi khuẩn nitrite hóa sử
dụng cho hoạt động sống của mình. Sự có mặt của các nhóm vi khuẩn nitrite
hóa giúp loại bỏ được NH
4
+
, khi hàm lượng NH
4
+
trong nước giảm phương trình
phản ứng (1) sẽ dịch chuyển theo chiều thuận dẫn đến làm giảm hàm lượng NH
3
trong nước, làm giảm khả năng gây độc của NH
3

đối với tôm cá.

Trong tự nhiên vi khuẩn nitrite hóa hiện diện rất nhiều: Nitrosococcuseanus,
Nitrosococcus (thuộc phân lớp γ- proteobacteria),Nitrosomonas sp và
Nitrosopira sp (thuộc phân lớp β- proteobacteria), Nitrosocystis, Nitrosolobus.
Tất cả các vi sinh vật này đều giống nhau về mặt sinh lý, sinh hoá nhưng khác
nhau khác nhau về đặc điểm hình thái và cấu trúc tế bào. Tất cả đều thuộc loại
tự dưỡng bắt buộc, không có khả năng sống trên môi trường thạch.
Giai đoạn nitrat hóa: Chuyển NO
2
-
thành NO
3
-
(3) bởi nhóm vi khuẩn nitrate
hóa.

NO
2
+ 0,5 O
2
> NO
3
(3)

Sau quá trình nitrite hóa thì các vi khuẩn thuộc nhóm nitrate hóa sẽ thực hiện
giai đoạn tiếp theo, chuyển hoá NO
2
-
thành NO

3
-
(là sản phẩm cuối cuả quá trình
nitrat hóa). Các vi khuẩn tham gia vào quá trình nitrate hóa cũng là vi khuẩn
hóa vô cơ tự dưỡng, vi khuẩn nitrate hóa thường gặp (gồm có 3 chi khác nhau):
Nitrobacter vinogradskii, Nitrobacter agilis ( thuộc phân lớp α-
Proteobacteria), Nitrospina gracili , Nitrococcus mobilis (thuộc phân lớp β–
Proteobacteria).
α-Proteobacteria β–Proteobacteria
Quá trình nitrate hóa chỉ xảy ra trong điều kiện trong nước có đầy đủ oxy lúc đó
thì nồng độ của NO
2
-
không vượt quá 0,5 mg/L, nhưng khi trong nước thiếu oxy
thì NO
2
-
sẽ tồn tại nhiều và gây độc cho tôm. Trong một số nghiên cứu thì quá
trình nitrate hóa trong hồ các ao hồ nuôi thủy sản xảy ra không mạnh do vi sinh
vật phát triển chậm, khả năng nitrate hóa khoảng 25–50g/m
3
/ngày.
Ứng dụng vi khuẩn nitrate hóa trong nuôi trồng thủy sản
Hiện nay vi khuẩn nitrate hóa được sử dụng rộng rãi trong xử lý nước (nước
thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt và nước thải từ nuôi trồng thủy sản).
Trong nuôi trồng thủy sản, nhóm vi khuẩn nitrate hóa được sử dụng rất phổ biến
trong lãnh vực sản xuất giống thủy sản và nuôi thủy sản thâm canh. Quy trình
sản xuất được thực hiện thông qua hệ thống lọc sinh học tuần hoàn, nước thải từ
các bể ương nuôi tôm cá chứa hàm lượng NH
3

(do tôm cá bài tiết ra) được đưa
vào bể lọc sinh học để xử lý. Trong bể lọc sinh học, vi khuẩn Nitrosomonas sẽ
chuyển hóa NH
4
+
thành NO
2
-
(giai đoạn nitrite hóa), kế đến vi khuẩn
Nitrobacter chuyển hóa NO
2
-
thành NO
3
-
(giai đoạn nitrate hóa). Nước sau khi
xử lý qua bể lọc sinh học hoàn toàn không độc cho tôm cá và được được tái sử
dụng để ương nuôi tôm cá (đưa trở lại bể ương nuôi). Trong suốt quá trình nuôi,
nước sẽ tuần hoàn trong một hệ thống kín và hoàn toàn không thay nước, chỉ có
một lượng nhỏ nước mới được cấp thêm vào hệ thống đề bù đắp cho lượng
nước hao hụt do bốc hơi. Hệ thốc lọc sinh học tuần hoàn được mô tả qua sơ đồ
sau:
Sơ đồ hệ thống lọc sinh học tuần hoàn

Hiện nay, các nước phát triển đã ứng dụng rất thành công quy trình lọc sinh học
tuần hoàn trong sản xuất thâm canh cá trê phi, cá chình, cá hồi và cá bơn và cả
cá rô phi. Năng suất nuôi cá trê phi có thể đạt 500kg/m
3
/vụ, cá chình khoảng
600 tấn/m

3
/vụ và cá rô phi là 140 kg/m
3
/vụ. Ở Việt Nam, quy trình lọc sinh học
tuần hoàn được áp dụng phổ biến trong các trại sản xuất giống tôm càng xanh
và tôm sú, đặc biệt là các trại giống ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Những
lợi ích của quy trình sản xuất này gồm:

Quy trình sản xuất dựa hoàn toàn vào nhóm vi sinh vật tự nhiên nên không sử
dụng hóa chất, kháng sinh nên sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực
phẩm thủy sản
Do quá trình sản xuất trong hệ thống kín nên hạn chế được dịch bệnh
Không thay nước nên không gây ô nhiễm môi trường
Lượng nước sử dụng trên một đơn vị sản phẩm thấp
Chi phí công lao động thấp

Mặc dù mới chỉ mới được ứng dụng trong lãnh vực sản xuất giống, nhưng nhóm
vi khuẩn nitrate hóa (Nitrosomonas, Nitrobacter…) đã mang lại lợi ích thiết
thực cho nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam. Nhóm vi khuẩn này còn có
nhiều triển vọng cho sự phát triển nuôi thủy sản thâm canh trong tương lai.
Bể nuôi
Bể nuôi
Bể nuôi
Bể nuôi
Lọc sinh học
Bể
lắng
2.3. Ứng dụng công nghệ VS
2.3.1.Probiotic trong nuôi trồng thủy sản
Tình trạng ô nhiễm môi trường đang xảy ra

nghiêm trọng trong nuôi trồng thủy sản do phần
lớn các chất hữu cơ dư thừa từ thức ăn, phân và
các rác thải khác đọng lại dưới đáy ao nuôi.
Ngoài ra, còn các hóa chất, kháng sinh được sử
dụng trong quá trình nuôi trồng cũng dư đọng lại
mà không được xử lý. Việc hình thành lớp bùn
đáy do tích tụ lâu ngày của các chất hữu cơ, cặn
bã là nơi sinh sống của các vi sinh vật gây thối,
các vi sinh vật sinh các khí độc như amôniắc,
nitrit, hydrogen, sunphua Các vi sinh vật gây
bệnh như: Vibrio, Aeromonas, Ecoli, Pseudomonas, Proteus, Staphylococcus
nhiều loại nấm và nguyên sinh động vật.
Phần lớn các vi sinh vật gây bệnh kể trên là một phần của hệ sinh vật bình
thường trong môi trường (nước biển, ao hồ, sông rạch). Chúng được xem là tác
nhân gây bệnh thứ cấp hoặc gây bệnh cơ hội. Một khi sự cân bằng của hệ vi
sinh vật trong ao nuôi bị phá vỡ, các vi sinh vật có hại sẽ phát triển ồ ạt và sớm
cộng hưởng với các yếu tố có hại khác để gây bệnh. Hơn nữa môi trường ô
nhiễm nếu chỉ trong một thời gian ngắn sẽ tác động đến hệ thần kinh, còn nếu
trong thời gian dài sẽ làm tăng stress, dẫn đến giảm khả năng tiêu thụ thức ăn,
giảm tăng trưởng, làm tăng mẫn cảm đối với các tác nhân gây bệnh, và tất cả
các yếu tố nêu trên sẽ làm cho thủy sản chết hàng loạt trong một thời gian ngắn.
Ngày nay, chế phẩm sinh học được coi là một công cụ hữu hiệu để giải quyết
vấn đề ô nhiễm môi trường trong ao nuôi, tạo nền tảng vững chắc cho phần lớn
hoạt động nuôi trồng thủy sản trên thế giới. Chế phẩm sinh học đã được chấp
nhận rộng rãi để khống chế dịch bệnh, tăng sức đề kháng. Khác với biện pháp
hóa học và kháng sinh, chế phẩm sinh học cung cấp một phương thức an toàn
bền vững đối với người nuôi và tiêu dùng.
Probiotic trong xử lý môi trường xử lý môi trường
Trong nuôi trồng thủy sản, probiotic còn là chế phẩm xử lý môi trường. Thay
cho mục đích chủ yếu là tiêu diệt các bào tử vi khuẩn, chế phẩm sinh học được

sản xuất với mục đích chủ yếu là kích thích sự gia tăng của các vi sinh vật có lợi
trong ao nuôi.
Một thành phần khác cũng được thấy trong chế phẩm probiotic đó là tập hợp
các enzym có nguồn gốc vi sinh vật như amylase, proteose, lipase, cellulase,
chitinase, một số vitamin thiết yếu hoặc axit amin và chất khoáng nhằm kích
thích hoạt tính ban đầu của vi sinh vật của chế phẩm và xúc tác cho sự hoạt
động của enzym trong môi trường.
Mặc dù nhiều loại probiotic đã được đưa vào sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
trong vài thập niên qua, nhưng việc sử dụng các chế phẩm này chủ yếu theo
kinh nghiệm. Tuy nhiên người ta cho rằng, bất kỳ một chế phẩm sinh học nào
cũng phải đạt được 3 quá trình sau:
- Khống chế sinh học: Những dòng vi khuẩn có ích trong chế phẩm có khả
năng sinh các chất kháng khuẩn ví dụ bacteriocin để tiêu diệt các vi khuẩn gây
bệnh trong ao.
- Tạo sức sống mới: Các vi khuẩn trong chế phẩm khi đưa vào ao sẽ phát triển
mạnh mẽ cả về số lượng và hoạt tính, có khả năng tồn tại cả trong môi trường
và trong đường ruột, ảnh hưởng có lợi đối với vật nuôi.
- Xử lý sinh học: Khả năng phân giải các chất hữu cơ trong nước giải phóng
axít amin, glucose, cung cấp thức ăn có vi sinh vật có ích, giảm thiểu thành
phần nitơ vô cơ như amôni, nitrit, nitrat, giảm mùi hôi thối, cải thiện chất lượng
nước.
Việc sử dụng các vi sinh vật hữu ích nhằm cạnh tranh với các vi khuẩn gây
bệnh đã được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi, thay thế cho việc sử dụng hóa
chất, kháng sinh là một giải pháp quan trọng kiểm soát bệnh trong nuôi trồng
thủy sản.
Thành phần của chế phẩm probiotic thường là một tập hợp các chủng vi sinh vật
sống, được tuyển chọn, tối ưu hóa, làm khô bằng phun sấy, đóng khô hoặc bọc
trong alginat. Mỗi nhà sản xuất có thể chọn các loài khác nhau, tuy nhiên phổ
biến nhất vẫn là các loài bacillus, vi khuẩn lactic lactobacillus, bifidobacterium
sp, nấm men saccharomyces cerevisiae và phaffia rhodozyma.

Các vi sinh vật được lựa chọn làm probiotic phải có đặc điểm sau đây:
- Không sinh độc tố, không gây bệnh cho vật chủ và không ảnh hưởng xấu tới
hệ sinh thái môi trường.
- Có khả năng bám dính niêm mạc đường tiêu hóa và các mô khác của vật chủ,
cạnh tranh vị trí bám với các vi sinh vật gây bệnh, không cho chúng tiếp xúc
trực tiếp với các cơ quan của cơ thể.
- Có khả năng sinh các chất ức chế, ngăn cản sự sinh trưởng mạnh mẽ của các vi
sinh vật gây bệnh. Các chất này gồm nhiều loại có thể tác động đơn lẻ phối hợp
với nhau, bao gồm các chất kháng sinh, bacteriocin, siderophore, lysozym,
protease, hydroperoxit
- Có khả năng sinh trưởng nhanh, cạnh tranh thức ăn, hóa chất, năng lượng với
các vi sinh vật có hại. Ví dụ vi khuẩn probiotic có khả năng sinh siderphore, liên
kết với ion sắc, làm cho vi sinh vật gây hại không sinh trưởng được vì thiếu sắt.
- Tăng cường khả năng miễn dịch, tăng cường đáp ứng miễn dịch tự nhiên ở
tôm và khả năng tạo thành kháng thể ở cá.
- Có khả năng cải thiện chất lượng nước ao nuôi do sự hình thành hàng loạt
enzym phân giải các chất hữu cơ, làm giảm hàm lượng BOD, giảm các khí độc
như: amoniac, H2S, Không những thế, sản phẩm trao đổi chất của vi sinh vật
probiotic còn cung cấp enzyem, các nguyên tố đa, vi lượng cho vật chủ, giúp
chúng sử dụng thức ăn hiệu quả hơn và do đó tăng trưởng tốt hơn.
Rõ ràng mối lo lắng về sự xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc từ ao nuôi trồng
thủy sản do sử dụng hóa chất, kháng sinh, có thể truyền gen kháng thuốc cho
cac vi khuẩn gây hại cho người (tồn tạo ngay trong ao nuôi tôm), làm cho kháng
sinh không còn hiệu nghiệm để điều trị bệnh cho người nữa, sẽ được giải tỏa
nếu thay thế bằng biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học. Hiện nay, việc sử dụng
chế phẩm sinh học là giải pháp ưu việt nhất để có được năng suất, chất lượng,
hiệu quả và sự phát triển bền vững của thủy sản nuôi.
2.3.2.Men vi sinh trong nuôi trồng thủy sản
Sử dụng men vi sinh trong nuôi tôm
Để sử dụng men vi sinh có hiệu quả, người nuôi tôm cần chú ý một số vấn đề

sau:
Về thành phần: Trong men vi sinh có 2 thành phần chủ yếu là vi khuẩn có lợi và
các chất dinh dưỡng để nuôi vi khuẩn. Chúng gồm các loài như: Bacillus sp,
Nitrosomonas, Nitrobacter…; chất dinh dưỡng là các loại đường, muối canxi,
muối magie…
Bacillus sp Nitrosomonas Nitrobacter
Về hình thức: Men vi sinh có 2 dạng, dạng nước và dạng bột (hay dạng viên).
Thông thường men vi sinh dạng bột có chứa thành phần vi khuẩn có lợi cao hơn
so với dạng nước.
Về chủng loại: Men vi sinh có 2 loại, loại dùng để xử lý môi trường (loài vi
khuẩn chủ yếu là Bacillus sp, Nitrosomonas, Nitrobacter…) và loại trộn vào
thức ăn cho tôm, cá (loài vi khuẩn chủ yếu là Lactobacillus, các loại enzyme…).
Có 2 cách sử dụng men vi sinh trong nuôi thuỷ sản:
+ Đưa trực tiếp vào nước để vi khuẩn men vi sinh lưu trú trong nước.
+ Trộn men vi sinh vào thức ăn.
Tác dụng của men vi sinh:
Khi đưa men vi sinh vào môi trường nước ao, các vi khuẩn có lợi sẽ sinh sôi và
phát triển nhanh. Hoạt động của các vi khuẩn có lợi sẽ có tác dụng cho các ao
nuôi tôm như:
- Phân huỷ các chất hữu cơ trong nước (chất hữu cơ là một trong nhiều nguyên
nhân làm môi trường nước bị ô nhiễm), phân huỷ xác tảo chết và làm giảm sự
gia tăng của lớp bùn đáy ao.
- Giảm các độc tố trong môi trường nước (do các chất khí độc: NH3, H2S,
NO2… phát sinh), sẽ làm giảm mùi hôi trong nước, giúp tôm phát triển tốt.
- Nâng cao khả năng miễn dịch của tôm (kích thích tôm sản sinh ra kháng thể).
- Ức chế hoạt động và phát triển của vi khuẩn có hại (các loài vi khuẩn có lợi sẽ
cạnh tranh thức ăn và tranh giành vị trí bám với vi khuẩn có hại). Trong môi
trường nước, nếu vi khuẩn có lợi nhiều sẽ kiềm hãm, ức chế, lấn át sự phát triển
của vi khuẩn có hại. Hạn chế tối đa sự xuất hiện của các loài vi khuẩn có hại
trong ao nuôi tôm.

- Giúp ổn định độ pH của nước, ổn định màu nước do vi sinh vật trong men vi
sinh hấp thu chất dinh dưỡng hoà tan trong nước nên hạn chế tảo phát triển
nhiều, sẽ giảm chi phí bơm thay nước.
- Trong quá trình hoạt động, vi khuẩn trong men vi sinh có khả năng tiết ra một
số chất kháng sinh, enzyme… để kiềm hãm hay tiêu diệt mầm bệnh và tảo độc.
Ngoài ra, men vi sinh khi được trộn vào thức ăn có thể nâng cao khả năng hấp
thu thức ăn của cơ thể tôm, làm giảm hệ số tiêu tốn thức ăn và phòng, chống các
bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cho tôm nuôi.
Cách lựa chọn men vi sinh:
Thực chất có nhiều sản phẩm men vi sinh với thành
phần và định lượng “khủng”, nhưng khi xử lý tại
ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai
hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả
vẫn không như mong đợi.
Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng
chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi
trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng
sống và phạm vi hoạt động/kiểm soát của từng
loài/dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hoá của
đất và nước, tỷ lệ chất nền hữu cơ trong ao.
Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ
thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất
để bảo đảm các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự
nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định.
Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả
năng kiểm soát tốt các thành phần dinh
dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ
tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc
phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại
vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng

trong ao.
Đối với đáy ao có siphon hoặc không
có siphon cũng rất cần những dòng vi
khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy
ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao,
giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và
hơn thế nữa là có thể hình thành các
protein vi khuẩn và các floc để làm
nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì
thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản
phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để
kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.
Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và
công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi
hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng
cao và ổn định.
Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc
mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.
Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm
tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Khi đã chọn được một
sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm:
tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng
liều tuỳ theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn. Thường xuyên
theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.
2.3.4.Chế phẩm EM trong nuôi trồng thủy sản
Theo kết qủa của nhiều công trình nghiên cứu:
Một trong những nguyên nhân quyết định làm
tôm tăng trưởng chậm, giảm sức đề kháng, dễ bị
bệnh tấn công là do môi trường từ lớp bùn cặn bã
hữu cơ dơ bẩn tích tụ lâu ngày ở bề mặt đấy ao,

bắt nguồn từ thức ăn dư thừa, từ các chất mùn, vỏ
tôm các cặn bã hữu cơ co sẵn trong nguồn nước.
Chính những lớp bùn dơ bẩn đó là nguồn chứa đủ
mọi vi sinh vật gây bệnh và tạo ra các khí độc.
Trong ao nuôi có càng nhiều chất cặn bã hữu cơ
hay thực phẩm dư thừa, cung cấp và tạo điều kiện
cho vi sinh vật gây bệnh như: Vibrio, Aeromonas, E coli sinh sôi nảy nở càng
nhanh và sớm giết chất tôm nuôi trong ao. Thực chất là bản thân các vi sinh vật
có trong ao nuôi không giết chết tôm nuôi hàng loạt, nhưng chúng là nhân tố
làm suy yếu hệ thóng miễn dịch của cơ thể tôm, tạo diều kiện cho virus giết chết
tôm trong ao. Mặt khác do lạm dụng việc sử dụng các loại thuốc và hóa chất
ngăn ngừa mầm bệnh, rong tảo, đã dẫn đến việc tiêu diệt các vi sinh vật gây
bệnh và cả vi sinh vật hữu ích. Mất đi sự cân bằng sinh thái, gây ảnh hưởng rất
lớn đến môi trường oa nuôi và dễ gây ra dịch bệnh trên con tôm.

Nhằm từng bước khắt phục và cải thiện dần
môi trường phục vụ cho nghề nuôi tôm, với
mục tiêu hướng đến một môi trường nuôi tôm
bền vững, trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ đã chọn giải pháp ứng dụng
chế phẩm sinh học vào qúa trình quản lý môi
trường ao nuôi tôm và loại chế phẩm sinh học
dược sử dụng có hiệu qủa nhất là Efective
Mieroorganis gọi tắt là EM.
Qua một thời gian sử dụng thử nghiệm ban
đầu ở nhiều hộ nuôi tôm cho thấy chế phẩm
sinh học EM có khả năng ; Phân giải tốt các
chất thải hữu cơ trong qúa trình nuôi; phân
hủy chất thải hữu cơ hòa tan và không hòa
tan, đồng thời duy trì được chất lượng nước,

màu nước cho ao nuôi; ức chế khả năng phát triển của vi sinh vật gây hại như
Vibrio, Aeromonas và những mầm bệnh vi khuẩn khác; làm tăng lượng ôxy hòa
tan trong môi trường nước ao nuôi tôm và giảm thiểu lượng NH3; điều hòa
hàng loạt các yếu tố môi trường kèm theo sự phát sinh trong quá trình nuôi như
PH, ôxy hòa tan, cặn lắng, độ trong, phân giải, NH3, H2S, nitric, nitrat.
Ðặc điểm của loại chế phẩm sinh học EM, những nhóm vi sinh vật hữu
hiệu như :
- Nhóm vi khuẩn quang hợp : Rhodopreudomonas.
- Nhóm vi khuẩn Lactobacillus.
- Nhóm xạ khuẩn : Strepptomyces.
- Nhóm nấm men : Sacchamyces.
- Nhóm nấm : Aspergillus và Penicillium.

×