Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

Tiểu luận: “Chiến lược kinh doanh và phát triển sản phẩm Men’vodka” pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.86 MB, 65 trang )

Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
1








Tiểu luận

“Chiến lược kinh doanh và phát triển sản
phẩm Men’vodka”










Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
2
Lời giới thiệu
Gia nhập WTO nền kinh tế nước ta đang hoà nhập và phát triển, tất cả các
nghành nghề đều đang tạo được thế và lực mới, những sản phẩm và dịch vụ mới


gia đời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Hiện nay nhà nước ta đang có
chính sách khuyến khích nhiều ngành phát triển để cạnh tranh với các sản phẩm
đến từ các nước trên thế giới, trong đó có ngành rượu bia nước giải khát.
Công ty cổ phần Hương Vang là một công ty hoạt động trong lĩnh vực
rượu bia nước giải khát, trong đó sản phẩm chủ đạo của công ty là sản phẩm
Men’vodka. Sản phẩm vodka của công ty đã bước đầu thâm nhập vào thị trường
tuy nhiên để phát triển sản phẩm này công ty chỉ có định hướng mà chưa có một
chiến lược cụ thể lâu dài để phát triển sản phẩm này.
Được nhà trường cử đi thực tập tốt nghiệp cuối khoá em đã xin vào thực
tập và làm việc tại công ty cổ phần Hương Vang, qua thời gian thực tập và làm
việc tại công ty được sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn em đã lựa chọn đề
tài: “Chiến lược kinh doanh và phát triển sản phẩm Men’vodka”, vì đây là
vấn đề có tính cấp thiết với công ty và gần với chương trình học của em.
Trong quá trình thực tập và làm bài em đã được sự hướng dẫn tận tình của
thầy hướng dẫn PGS, TS Nguyễn Mạnh Quân và của ban lãnh đạo công ty cổ
phần hương vang em xin chân thành cảm ơn thày và quý cơ quan.
Sinh viên

Lê Anh Đức








Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
3

1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH RƯỢU BIA NƯỚC GIẢI
KHÁT Ở NƯỚC TA VÀ TẠI CÔNG TY AROWINE.
1.1 kết qua hoạt động sản xuất kinh doanh ngành rượu bia nước giải
khát của nước ta trong 10 năm trở lại đây và phương hướng phát triển của
ngành trong những năm tới.
Ngành Rượu Bia Nước giải khát ở nước ta có quá trỡnh phỏt triển lõu dài,
từ cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Song đặc biệt 10 năm trở lại đây, do chính
sách đổi mới, mở cửa của nước ta; đời sống của các tầng lớp dân cư đó cú những
bước cải thiện quan trọng; lượng khách du lịch, các nhà kinh doanh, đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam tăng nhanh, càng thúc đẩy sự phát triển của ngành Rượu
Bia Nước giải khát Việt Nam.
Do đó, chỉ trong thời gian ngắn, ngành Rượu Bia Nước giải khát đó cú
bước phát triển quan trọng thông qua việc đầu tư khôi phục sản xuất của các nhà
máy bia, nước giải khát sẵn có và xây dựng thêm các nhà máy mới thuộc Trung
ương, địa phương, các liên doanh với nước ngoài và mở ra các cơ sở sản xuất
của cỏc thành phần kinh tế vào lĩnh vực này.
Sự phát triển này mang lại những thành tựu lớn, nhưng cũng có những
hạn chế, tiêu cực.
1.1.1.Những thành tựu phát triển của ngành
1.1.1.1 Có tốc độ tăng trưởng nhanh, đáp ứng về số lượng cho người tiêu
dựng, thay thế phần lớn nhập khẩu và nâng cao giá trị của sản phẩm chế biến
thực phẩm.
a/ Về sản xuất bia:
Có tốc độ tăng trưởng từ 1991-2000 bình quân là trên 10%/ năm. Từ chỗ
trước đây chỉ có 2 nhà máy bia là Sài Gòn và Hà Nội, thì nay cả nước có 469 cơ
sở sản xuất, với năng lực 1021 triệu lít/năm. Năm 1999 sản xuất trên 700 triệu
lít, bình quân tiêu thụ 8,5-9 lít/người/năm.
b/ Về sản xuất rượu:
Sản xuất rượu công nghiệp từ chỗ chỉ có Nhà máy Rượu Hà Nội và Nhà
máy Rượu Bình Tây cách đây trên 100 năm, thì nay có 63 cơ sở sản xuất. Năm

Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
4
1998 ước tính là 95 triệu lít/năm (theo niên giám thống kê 1998). Song phải kể
đến lượng rượu dân tự nấu quá lớn, có tới trên 200 triệu lít/năm. Như vậy bình
quân tiêu thụ tới 3,4 lớt/người/năm. Người Việt nam uống rượu vào loại nhiều
so với các nước.
c/ Về sản xuất nước giải khát
Từ chỗ năm 1938 có Nhà máy nước khoáng Vĩnh Hảo và 1952 có Nhà
máy nước ngọt Chương Dương, thì nay có 204 cơ sở sản xuất nước giải khát,
với năng lực 1008 triệu lít/năm. Năm 1999 sản xuất trên 460 triệu lít. Bình quân
tiêu thụ 5 lít/người/năm. Trong đó: nước ngọt pha chế 3,35 lít (chủ yếu là Coca -
Cola và Pepsi - Cola), nước khoáng và nước tinh lọc 1,49 lít và nước quả 0,16
lít.
Rõ ràng sự phát triển nhanh của ngành Rượu Bia Nước giải khát đó đáp
ứng yêu cầu của người tiêu dùng do kinh tế phát triển và nước ta lại có khí hậu
nhiệt đới nóng nhiều. Nó còn đẩy lùi hàng ngoại tràn vào, như bia Trung Quốc
và nhập khẩu tuy cũn nhưng sản lượng ít hơn.
1.1.1.2 Ngành đó được đầu tư cơ sở vật chất tương đối lớn với gần 10
ngà n tỷ đồng, nhiều cơ sở có thiết bị công nghệ hiện đại, tạo ra những sản phẩm
có tín nhiệm với người tiêu dùng trong cả nước hoặc khu vực, như: bia 333, bia
Hà Nội, Heineken, Halida, Carlsberg, Sanmiguel, Huda nước ngọt Coca-Cola,
Pepsi-Cola, nước khoáng Vĩnh Hảo, Lavie, Đảnh Thạnh, Thạch Bích, rượu Nếp
mới, Vang Thăng Long
1.1.1.3 Ngành hoạt động có hiệu quả, mỗi năm đóng góp cho ngân sách
Nhà nước trên 3000 tỷ đồng, giải quyết cho trên 2 vạn người có việc làm ổn
định trong các cơ sở sản xuất. Ngoài ra, còn hàng vạn người tham gia các hoạt
động cung ứng vật tư, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm.
Rượu Bia Nước giải khát phát triển cũn gúp phần thúc đẩy các ngành
khác phát triển như: nông nghiệp, giao thông, cơ khí, bao bỡ

Có đ ược những thành tựu trên nhờ có đường lối đổi mới, kinh tế-xã hội
đất nước phát triển, sản xuất kinh doanh rượu bia nước giải khát lại có hiệu quả,
nên các thành phần kinh tế tích cực đầu tư phát triển.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
5
Hai nhà máy bia Trung ương (Sà i Gũn và Hà Nội) sản xuất đó vượt công
suất tới 107% vẫn không đủ sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Nhiều quốc doanh rượu bia nước giải khát chủ lực của địa phương cũng đầu tư
phát triển khá như Công ty Bia Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Tây, Thái Bình,
Rượu Đồng Xuân (Phú Thọ), Vang Thăng Long (Hà Nội) v.v
Các thành phần kinh tế cũng tích cực đầu tư mở 575 cơ sở sản xuất (bia 400,
rượu 27, nước giải khát 148). Mặt tiêu cực sẽ được nêu dưới đây, song các cơ sở
này đó tạo sản phẩm đáp ứng tại chỗ cho người lao động, như bia hơi dần dần
trở thành nước giải khát phổ thông, nhất là ở thị xã, thị trấn, khu công ghiệp
Nhờ chính sách mở cửa, lại vừa tận dụng vốn và kỹ thuật cụng nghệ tiên
tiến, cách quản lý v.v các hãng lớn đó đầu tư vào 27 liên doanh và 100% vốn
nước ngoài (bia 6 doanh nghiệp, rượu 8 và nước giải khát 13). Trong đó có
những công ty lớn như Heineken, Carlsberg, Foster's, Huda, Coca-Cola, Pepsi-
Cola, Hiram Walker.
1.1.2. Những mặt hạn chế, tiêu cực
Bên cạnh những thà nh tựu trên đây, sự phát triển nhanh của ngành Rượu
Bia Nước giải khát dẫn đến những hạn chế tiêu cực là sự phát triển tràn lan
không theo quy hoạch; phát huy công suất thấp, đầu tư thua lỗ chất lượng sản
phẩm kém, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường không đảm bảo để người
tiêu dùng phải gánh chịu; cạnh tranh không lành mạnh, gây rối loại thị trường,
giá cao, hàng giả, nhãn mác giả v.v
Với 400 cơ sở sản xuất bia hơi, công suất mỗi cơ sở dưới 1 triệu lít/năm
của các thà nh phần kinh tế, thiết bị tự tạo trong nước, nhiều cơ sở rất thủ công
lạc hậu, nên chất lượng sản phẩm không đảm bảo, nhưng họ thường nộp thuế

thấp theo khoán thuế hoặc trốn lậu thuế nên giá hạ, dễ cạnh tranh tiêu thụ với bia
có chất lượng đảm bảo. 27 cơ sở sản xuất rượu và 148 cơ sở sản xuất nước giải
khát của các thành phần kinh tế cũng tương tự. Sự phát triển trà n lan nà y là m
quản lý Nhà nước không theo kịp, dẫn đến buông lỏng quản lý tiêu chuẩn, chất
lượng, vệ sinh môi trường và thất thu thuế.

Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
6
Điều rõ nhất của đầu tư thua lỗ là 12 nhà máy bia địa phương (10 của quốc
doanh địa phương và 2 của tư nhân), nhập thiết bị đồng bộ, tiên tiến của nước
ngoài. Mỗi nhà máy có vốn đầu tư 60-70 tỷ đồng, hoàn toàn bằng vốn vay, nâng
tổng số lên 1000 tỷ đồng. Nhưng do quy mô nhỏ (3-5 triệu lít/năm), suất đầu tư
cao, lại bất cập với kỹ thuật công nghệ, nên bia chai làm ra không tiêu thụ được,
nay chủ yếu phải tạm làm bia hơi. Doanh thu thấp, không có khả năng hoàn vốn
và trả nợ ngân hàng. các nhón hiệu bia Kaiser, Nager, Henninger, Viger,
Habada, Nada, Vida, Timer, Beyker là hậu quả của những đầu tư sai, mà khi
xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật chắc rằng đều kết luận là có hiệu quả
cao!!! còn hiện nay đang khó khăn, chưa có hướng giải quyết.
Nhiều người cho rằng sản xuất rượu bia nước giải khát hiện nay dễ tiêu
thụ, không phải hoàn toàn vậy. Hãy xem các Nhà máy bia liên doanh, có thiết bị
công nghệ tiên tiến, sản phẩm có chất lượng của những hãng có tên tuổi, quảng
cáo liên tục, đội ngũ tiếp thị đông đảo nhưng tiêu thụ không mạnh, nên công
suất phát huy thấp, mới đạt chưa đ ược 50% công suất thiết kế. Vì vậy 13 liên
doanh được cấp phép, nhưng mới 6 liên doanh bia hoạt động. Liên doanh bia Hà
Tây cũng mới xây dựng nhà xưởng để lâu chưa lắp máy. Một số liên doanh quá
lỗ, như BGI Tiền Giang, BGI Đà Nẵng phải bán cho hóng Foster's (úc) thành
100% vốn nước ngoài, còn BGI Hải Phũng phải rút giấy phép đầu tư, liên doanh
bia Khánh Hoà cũng thành 100% vốn nước ngoài và mang tên Rồng Vàng -
Khánh Hoà.

Bia địa phương và của các thành phần kinh tế bình quân cũng chỉ đạt 62%
công suất thiết kế.
Sản xuất rượu công nghiệp sử dụng công suất còn thấp hơn, chỉ đạt
38,45% (quốc doanh 30%, các thành phần kinh tế 56%, liên doanh 4%).
Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu là rượu dân tự nấu quá nhiều, giá thấp do
không nộp thuế, rượu quốc doanh, liên doanh chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, giá
cao, nên không cạnh tranh nổi, lại bị rượu ngoại nhập lậu chèn ép.
Với nước ngọt pha chế mới đ ạt 45% và nước khoáng, nước tinh lọc đạt 43%
công suất thiết kế, trừ công ty Nước giải khát Chương Dương và nước khoáng
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
7
Lavie đ ạt cao trên 90%.
Hai hóng cú vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 60% thị phần nước giải khát
có gaz là Coca-Cola và Pepsi-Cola cũng chỉ mới đạt 40% công suất thiết kế.
Do phát huy công suất thấp, nên doanh thu thấp, lợi nhuận và nộp ngân sách bị
hạn chế.
Chất lượng sản phẩm kém, ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng là
điều đáng lo ngại. 400 cơ sở sản xuất bia hơi của các thà nh phần kinh tế, thiết bị
công nghệ lạc hậu, nguyên liệu malt, Houblon, nấm men thường mua rẻ, chất
lượng kém, nguồn nước nấu bia không đảm bảo vệ sinh khâu nấu, lọc, lên men
không tốt, dẫn đến chất lượng bia hơi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm. Nhưng vì trốn lậu thuế, hoặc nộp không đủ, nên giá rẻ (2000đ /lít - 2500đ
/lít), người tiêu dùng không biết tác hại vẫn dùng. Với cơ sở sản xuất nước giải
khát, nước tinh lọc cũng tương tự.
Còn rượu dân tự nấu, chưng cất một lần, thủ công lạc hậu, nên còn nhiều
độc tố, tạp chất. Những chất Aldehyt (235mg/l), Furfurol (3,6mg/l), Metylic
(0,6%V), Alcol bậc cao là những chất độc hại, ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người. Hàng năm trên 200 triệu lít rượu dân tự nấu (92% thị phần), cần được
quản lý ngăn chặn.

Cũng chính sự phát triển tràn lan các cơ sở sản xuất Rượu Bia Nước giải
khát, nhất là của các thành phần kinh tế, chất lượng, giá cả lại không được quản
lý dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường.
Các hóng bia liờn doanh, dành kinh phí lớn vào quảng cáo, tiếp thị, tài
trợ, và cạnh tranh mạnh với bia Sài Gòn, bia Hà Nội. Ngay cả Foster's Đà
Nẵng, sau khi mua lại của BGI, đó dựng biện pháp hạ giá và tiếp thị, cạnh tranh
giành giật thị trường, làm cho công ty Bia Đà Nẵng lâm vào tình trạng khó khăn,
sản xuất giảm sút. Trên thị trường Hà Nội, các đại lý quầy, quán thường treo
biển quảng cáo "Bia hơi Hà Nội 100%" mục đích là lợi dụng uy tín của bia hơi
Hà Nội để chiêu khách, bán giá cao hơn. Các nhà máy chủ lực sản xuất bia ở các
địa phương cũng bị các cơ sở nhỏ bán phá giá cạnh tranh. Còn rất nhiều hiện
tượng sai trái khác về làm bia tươi giả, Bia Đức, bia tươi Đức, bia lên men làm
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
8
lậu v.v
Với nước giải khát, để chiếm lĩnh thị trường, cốt làm sao tiêu thụ được
sản phẩm, hai hóng nước ngọt lớn Coca-Cola, Pepsi-Cola thi nhau hạ giá bán
sản phẩm, là m "trâu bò đánh nhau hàng nội chết". Tiếp đó là hiện tượng nhón
mác "ăn theo", nào là Lavitel, Laville, Lavide hoặc Lavina, Lavierge.
Rõ ràng, bên cạnh mặt trái của cơ chế thị trường, công tác quản lý Nhà nước,
quản lý ngành còn lỏng lẻo, chưa có quy hoạch tổng thể phát triển ngành, để
phát triển tràn lan, phê duyệt luận chứng đầu tư của các nhà máy địa phương
chưa chặt chẽ nên khi bị thua lỗ mới kiến nghị Chính phủ và các Bộ, ngành hỗ
trợ xử lý. Công tác kiểm tra, xử lý các cơ sở không bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm và môi trường thiếu kiên quyết. Với rượu dân tự nấu là buông thả quản lý.
Từ trước đây, ngày 27/10/1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đó ký Pháp lệnh quy định
cấm nấu rượu trái phép. Vậy mà đến nay Pháp lệnh này không được tổ chức
quản lý chặt chẽ, để rượu dân tự nấu ngang nhiên sản xuất và tự do vận chuyển,
tiêu thụ, không một cơ quan nào thu thuế, quản lý, xét hỏi.

Về chính sách thuế cũng nên nghiên cứu, xem xét lại. Ví dụ bia hơi hiện
tại đó giảm xuống cũn 50%, nhưng vẫn cũn cao, nên địa phương và các thành
phần kinh tế không theo được, dẫn đến: treo, nợ thuế và khai giảm sản lượng để
trốn lậu thuế. Nếu đưa xuống 25% và yêu cầu thu đủ của mọi đối tượng, chắc
chắn mức thu nộp ngân sách còn cao hơn.
Với thuế rượu cũng tương tự và thu cả với rượu dân tự nấu, có chính sách
quản lý vận dụng riêng. Khi rượu sản xuất công nghiệp giảm thuế xuống, rượu
dân tự nấu có thuế, giá cả hai loại rượu gần ngang sát nhau. Đồng thời kết hợp
với tuyên truyền, hướng dẫn người tiêu dùng không nên uống rượu tự nấu có
nhiều độc hại. Khi đó rượu công nghiệp có điều kiện phát triển và người dân
được uống loại rượu bảo đảm sức khoẻ hơn.
Tóm lại sự phát triển rượu bia nước giải khát thời gian qua rất nhanh
chóng, trở thành một ngành công nghiệp đồ uống, đáp ứng yêu cầu của người
tiêu dùng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội. Song những mặt hạn chế, tiêu cực
sớm được tổ chức quản lý khắc phục trong Chiến lược Quy hoạch tổng thể phỏt
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
9
triển ngành đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, chắc chắn ngành cũn
đóng góp to lớn hơn trong sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đ ại hoá đất nước
1.1.3 Quy hoạch tổng thể và một số giải pháp phát triển ngành Rượu-
Bia-Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010( bộ kế hoạch đầu tư ), với
những nội dung chủ yếu sau đây:
1.1.3.1. Mục tiêu:
Xây dựng ngành Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam thành một ngành
kinh tế mạnh. Sử dụng tối đa nguyên liệu trong nước để phát triển sản xuất các
sản phẩm chất lượng cao, đa dạng hoá về chủng loại, cải tiến bao bì, mẫu mã;
phấn đấu hạ giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu trong
nước và có sản phẩm xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, hội nhập vững chắc
kinh tế khu vực và thế giới.

Xây dựng Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam thành tập
đoàn kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ đạo trong ngành công nghiệp sản xuất rượu
và bia; làm nòng cốt trong sản xuất nước giải khát chất lượng cao.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất nước giải khát đạt
chất lượng cao từ nguyên liệu trong nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu.
1.1.3.2. Định hướng phát triển:
a) Về công nghệ, thiết bị: Hiện đại hoá công nghệ, từng bước thay thế
công nghệ thiết bị hiện có bằng công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại của thế
giới, đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, môi trường
theo quy định của Việt Nam và quốc tế để sản phẩm có khả năng cạnh tranh
ngày càng cao trên thị trường trong và ngoài nước.
b) Về đầu tư: Tập trung đầu tư các nhà máy có công suất lớn; phát huy tối
đa năng lực của các cơ sở sản xuất có thiết bị và công nghệ tiên tiến; đồng thời
tiến hành đầu tư mở rộng năng lực của một số nhà máy hiện có. Đa dạng hoá
hỡnh thức đầu tư, phương thức huy động vốn, khuyến khích huy động nguồn
vốn của các thành phần kinh tế trong nước, phát hành trái phiếu, cổ phiếu; đẩy
mạnh việc cổ phần hoá đối với những doanh nghiệp nhà nước không cần.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
10
Để đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất bia, rượu, nước giải khát, tổng
vốn đầu tư cho ngành Bia-Rượu-Nước giải khát giai đoạn 2005-2010 là 34.690
tỷ đồng. Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước
huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu, liên doanh, liên kết;
khuyến khích các công ty cổ phần thực hiện việc niêm yết trên thị trường chứng
khoán.
Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp thông qua liên doanh, liên kết
thực hiện chuyển giao công nghệ để sản xuất thiết bị trong nước đáp ứng được
yêu cầu kỹ thuật hiện đại. Khuyến khích sử dụng thiết bị chế tạo trong nước

tương đương chất lượng thiết bị nhập khẩu cho các dự án đầu tư.
c) Về nghiên cứu khoa học và đào tạo: Quy hoạch và xây dựng các phũng
thớ nghiệm, Trung tõm nghiờn cứu; triển khai thực nghiệm gắn với việc ứng
dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất; đồng thời quy hoạch và đào tạo đội ngũ
cán bộ khoa học, công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của ngành phù hợp với tiêu
chuẩn VSATTP của nhà nước. Tổ chức kiểm tra thường xuyên về chất lượng
VSATTP, môi trường theo quy định của pháp luật.
Theo Quy hoạch tổng thể này, tiến hành cổ phần hóa Tổng công ty Bia-
Rượu-Nước giải khát Hà Nội và Tổng công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài
Gũn theo từng giai đoạn và giảm dần vốn thuộc sở hữu nhà nước. Đồng thời, sẽ
sắp xếp lại các nhà máy sản xuất bia, rượu, nước giải khát thuộc sở hữu Nhà
nước hoạt động không hiệu quả theo các hình thức sáp nhập, cổ phần hóa,
chuyển hướng sản xuất kinh doanh, bán khoán, cho thuê và các hình thức khác.
1.1.3.3. Các chỉ tiêu chủ yếu:
a) Về bia:
- Sản lượng:
Năm 2005: 1.200 triệu lít;
Năm 2010: 1.500 triệu lít.
- Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt
trong việc nâng uy tín thương hiệu bia Việt Nam, đảm bảo sản xuất và tiêu thụ
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
11
đạt tỷ trọng từ 60% đến 70% thị phần trong nước và hướng tới xuất khẩu.
- Tập trung đầu tư các nhà máy công suất lớn, sản xuất kinh doanh hiệu
quả, quản lý chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng, giá
thành được người tiêu dùng chấp nhận, cụ thể:
+ Xây dựng mới 01 nhà máy bia tại Củ Chi thuộc Công ty Bia Sài Gũn
với cụng suất 100 triệu lít/năm (giai đoạn 2002 - 2005) và có khả năng mở rộng

lên 300 triệu lít/năm trong những năm tiếp theo.
+ Sau năm 2005 xây dựng mới 01 nhà máy bia thuộc Công ty Bia Hà Nội
với công suất 100 triệu lít/năm và có khả năng mở rộng lên 200 triệu lít/năm vào
những năm tiếp theo.
- Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: thực hiện theo đúng
giấy phép đầu tư, tập trung khai thác đủ công suất thiết kế đó được phê duyệt.
Trong những năm tới, chưa xem xét cấp giấy phép thành lập liên doanh mới
hoặc tăng năng lực sản xuất của các cơ sở hiện có.
b) Về rượu:
- Sản lượng:
Năm 2005: 250 triệu lít;
Năm 2010: 300 triệu lít.
- Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt
trong sản xuất các loại rượu đặc sản truyền thống, rượu chất lượng cao để đáp
ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; có biện pháp thích hợp nhằm giảm dần
rượu nấu bằng phương pháp thủ công.
- Tăng cường quản lý nhà nước trong sản xuất và tiêu thụ rượu.
- Tập trung đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ, đẩy mạnh sản xuất rượu
công nghiệp chất lượng cao, giảm tối đa thành phần độc hại.
- Đề xuất việc hợp tác hoặc liên doanh với nước ngoài sản xuất một số
loại rượu chất lượng cao sử dụng các loại nguyên liệu trong nước, nhằm thay thế
nhập khẩu.
- Trong giai đoạn từ 2001 - 2005, Công ty Rượu Hà Nội, Công ty Rượu
Bình Tây tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị, để mỗi Công ty đạt
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
12
công suất: cồn tinh bột 5 triệu lít/năm, rượu các loại 10 triệu lít/năm và tăng
công suất lên gấp đôi ở giai đoạn sau.
c) Về nước giải khát:

Năm 2005: 800 triệu lít;
Năm 2010: 1.100 triệu lít.
- Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt
trong việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm; đồng thời, khuyến khích
các thành phần kinh tế tham gia sản xuất nước giải khát từ nguyên liệu trong
nước, trong đó ưu tiên tăng năng lực sản xuất nước quả, không đầu tư tăng năng
lực sản xuất nước giải khát có gaz pha chế từ hương liệu nhập khẩu.
1.1.4 Cơ chế chính sách phát triển ngành rượu bia nước giải khát.
1.1.4.1. Chính sách đầu tư
- Phải có qui hoạch đầu tư được chính phủ phê duyệt. Các dự án phải đảm
bảo có hiệu quả, đảm bảo môi trường không gây ô nhiễm.
- Các thành phần kinh tế đều được đầu tư nhưng qui mô nhà máy, chất
lượng sản phẩm phải có tiêu chuẩn nhà nước qui định.
1.1.4.2. Chính sách Tài Chính:
- Ngành Rượu -Bia cân đối từ nguồn tự vay chịu trách nhiệm kể cả nguồn
vốn nước ngoài
- Sản xuất nước hoa quả cần có sự hỗ trợ về mặt tài chính của nhà nước để
nhanh chóng nâng công suất thiết bị nhập ngoại, hiện đại và có chất lượng sản
phẩm cao nhằm thu hút hết sản phẩm của Nông nghiệp được nhà nước ưu tiên
phát triển theo các chương trình xoá đói, giảm nghèo
- Có chính sách Thuế tiêu thụ đặc biệt cho khối công nghiệp quốc doanh
địa phương ( giảm thuế) để các doanh nghiệp có điều kiện hoạt động sản xuất
kinh doanh không bị lỗ ( nhà nước không phải bù lỗ hoặc cho khoanh nợ). Tạo
điều kiện cho công nghiệp quốc doanh địa phương đầu tư chiều sâu nâng cao
chất lượng, cải tiến mặt hàng tiến đến sản xuất có lãi.
1.1.4.3. Chính sách nguyên liệu:
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
13
Trước mắt ngành Bia còn phải nhập nguyờn liệu ngoại như Malt,

Houblon, Hương liệu. Nhưng dần dần phải thay thế bằng nguồn nguyên liệu
trong nước đặc biệt là Malt sản xuất từ Mại mạch cần phải tập trung giải quyết
vỡ đây là loại vật tư chính sản xuất Bia có lượng tiêu thụ lớn.
Ngành nước giải khát ( giải khát từ rau quả). Phối hợp với các chương
trỡnh của nhà nước về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo, trồng
rừng 5 triệu ha trong đó có cây ăn quả, để qui hoạch các vùng nguyên liệu rau
quả tập trung, đủ các loại rau quả cho chế biến quanh năm Rau quả có chất
lượng cao để chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
1.1.4.4. Một số chính sách khác như đào tạo, thị trường, khuyến
nụng v.v.v
1.2 Phân tích môi trường ngành
1.2.1 Nhà cung ứng
Đối với các nguyên liệu đầu vào chủ yếu là gạo thì công ty hoàn toàn chủ
động được nguồn nguyên liệu do vị trí nhà máy sản xuất đặt tại khu công nghiệp
phố nối tỉnh hưng yên gần với vùng sản xuất lúa gạo của miền bắc là Thái Bình,
Nam Định, Hải Dương Công ty trực tiếp làm việc với 3 nhà cung ứng gạo để
luôn luôn chủ động trong nguyên liệu.
Khách hàng cung ứng cũng khá quan trọng nữa đó là đơn vị cung cấp vỏ
chai, trước đây công ty đặt hàng tại Trung Quốc nhưng do phía đối tác không
đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật và số lượng hiện nay công ty đã ký hợp đồng với
đối tác tại Hải Phòng để đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật cả về số lượng và chất
lượng.
Đối với các nhà cung ứng công ty tạo mối quan hệ bạn hàng theo quan
điểm hợp đồng rõ ràng và đặt ra tiêu chí đúng hạn, đúng số lượng và chất lượng
1.2.2 Khách hàng
Khách hàng của công ty rất đa dạng tất cả mọi người đều có thể dùng sản
phẩm của công ty. Tuy nhiên để định hình rõ ràng và chia khoảng một cách tốt
nhất thì đó là tầng lớp khách hàng có thu nhập mức khá trở lên trong xã hội Việt
Nam.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7

Trường Đại học KTQD
14
Mối quan hệ giữa Doanh nghiệp và khách hàng trở nên quan trọng hơn
bao giờ hết. Trong tình cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì mối quan hệ này lại
càng mong manh và dễ sứt mẻ hơn bao giờ hết. Khách hàng có rất nhiều sự lựa
chọn tương đương nhau đòi hỏi công ty luôn tục phải tăng mức chiết khấu và
đảm bảo chất lượng sản phẩm. Các chính sách sau bán hàng rất cần được quan
tâm đúng mức.
Các khách hàng của công ty có đặc trưng riêng đó là các nhà hàng mà khi
bán hàng vào đó thì khá nhiều rủi ro vì các nhà hàng có đặc trưng riêng là không
thanh toán tiền luôn mà chỉ thanh toán vào các dịp cuối tháng. Vì vậy khoảng
cách từ ngày giao hàng tới cuối tháng sẽ có nhất nhiều sự kiện sảy ra.
Tập khách hàng hiện tại của DN chủ yếu là các khách hàng nam, có thói
quen đi nhậu tại các nhà hàng tuy nhiên trong tương lai khách hàng của DN là
khá phổ thông vì hiện tại công ty có chương trình bán hàng ra các shop.
1.2.3 Các đối thủ cạnh tranh
Bảng1: danh sách các đối thủ cạnh tranh trực tiếp hiện tại của Vodka
Men’ tại miền bắc:

STT Tên sản phẩm Tên công ty Thị phần
1 Vodka Hà Nội Halico 76%
2 Vina Vodka Công ty CP Bình Tây 8%
3 Men’vodka AroWine Group 5%
4 GoldBon 1%
5 Việt Pháp Công ty Việt Pháp 1%
6 Zelka 0.5%
7 Lúa mới Công ty rượu HN 2%
8 KingBas 1%
9 Bravo Công ty Việt Uc 0.5%
10 Thủ đô HaBeCo 0.5%

11 Ba Đình Cty rượu Ba Đình 0.5%
12 Nếp mới Công ty rượu HN 2%
13 Các rượu khác 2%

Trên thị trường rượu hiện nay cạnh tranh rất khốc liệt ngoài hai đối thủ có
truyền thống hàng trăm năm là công ty rượu Hà Nội và công ty rượu Bình Tây
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
15
thì có rất nhiều đối thủ mới chào hàng như trong bảng danh sách trên. Các công
ty giành giật nhau từng đoạn thị trường nhỏ trong từng nhà hàng. Mỗi nhà hàng
hiện nay có sự xuất hiện của rất nhiều loại vodka mà ở đó khách hàng có đa
dạng sự lựa chọn cả về chất lượng và mẫu mã.
Trong tương lai còn có rất nhiều sản phẩm tiềm ẩn ra đời mà biểu hiện rõ
nhất là dòng rượu Quốc Tửu của công ty Anh Đào ra đời dự báo là một đối thủ
sẽ rất mạnh.
Trên đây là thống kê các đối thủ vodka chủ yếu trên thực tế có đến 80%
người dân Việt Nam lựa chọn sản phẩm rượu dân tự nấu, một số lựa chọn rượu
ngoại và đang có xu hướng tăng lên.
1.2.4 Sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế của rượu là Bia đây là một sự lựa chọn thay thế hoàn
toàn sứng đáng cho sản phẩm rượu. Vào mùa hè nóng lực thì người dân Việt
Nam ưu tiên sự lựa chọn cho những quán bia.
Năng lực sản xuất bia của nước ta hiện nay hoàn toàn đủ năng lực để đáp
ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đặc biệt là các công ty bia Hà Nội, Heineken,
Tiger, Việt Hà, Đại Việt, Halida . . .
Do ưu điểm của sản phẩm bia nên ngành sản xuất bia đang rất phát triển
chiếm ưu thế hoàn toàn trên thị trường đồ uống, tuy nhiên thị trường rượu cũng
không thể không phát triển vì lượng người dân sử dụng rượu là rất lớn trong
nhân dân, đặc biệt là rượu dân tự nấu. Trong tương lai khi sản phẩm rượu chất

lượng cao thay thế rượu dân tự nấu thì sẽ là cơ hội cho rượu công nghiệp, tuy
nhiên ngành rượu trong nước phải sản xuất ra các loại rượu cao cấp cạnh tranh
với các hãng rượu nước ngoài.
1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh, chiến lược kinh doanh và phát
triển của công ty AroWine
1.3.1 Giới thiệu về công ty cổ phần Hương Vang
- Các thông tin chung
Tên công ty: Công ty cổ phần Hương Vang
Tên tiếng anh : AroWine join stock company
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
16
Hình thức pháp lý: Là công ty cổ phần.
Địa chỉ: 52 ngõ 260/28 tổ26 - Quan Hoa - Cầu Giấy - Hà Nội
Văn Phòng giao dịch: 625 Kim Mã - Ba Đình – Hà Nội
Điện thoại: 047666468 Fax: 047666469
Tài khoản ngân hàng:100 143 59 Ngân Hàng cổ phần Dầu khí toàn cầu.
Mã số thuế: 0101624300
Wedside: Arowines.com.vn
Email:

Arowine được thành lập vào năm 2004 với hình thức là công ty cổ phần
lúc đầu công ty được thành lập bởi 5 cổ đông. Ban đầu khi thành lập công ty chủ
yếu là nhập khẩu và phân phối rượu vang từ các dòng rượu vang nổi tiếng trên
thế giới.
Hiện nay công ty hoạt động trên hai lĩnh vực là sản xuất rượu vodka và
phân phối rượu vang.
1.3.2 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp luôn là vấn đề quan trọng của doanh
nghiệp và được công ty luôn quan tâm tuy nhiên chưa được như ý muốn. Dưới

đây là chi tiết về danh sách toàn thể công ty:
Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc công ty là ông Phạm Kinh
Kha trình độ thạc sỹ kinh tế. Ông Kha đã có kinh nghiệm nhiều năm hoạt động
trong lĩnh vực rượu bia nước giải khát.
Chủ tịch hội đồng cảm quan là ông Phạm Tấn Tài hiện ông nguyên là
giám đốc nhà máy rượu Hà Nội. Hiện ông đang là tổng giám đốc công ty bia
rượu nước giải khát Sài Gòn.
Giám đốc bán hàng là ông Vũ Trường Giang cử nhân kinh tế, ông Giang
đã làm việc cho các công ty mỹ phẩm, sữa, thuốc lá.
Giám đốc maketing là ông Lê Trung Mạnh cử nhân kinh tế, ông Mạnh
cũng đã hoạt động trong lĩnh vực rượu bia nước giải khát nhiều năm.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
17
Người lao động hiện tại ở văn phòng công ty chủ yếu là có trình độ đại
học và cao đẳng.
Trình độ của công nhân nhà máy đã đạt tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng
sản phẩm.
Nhân viên vào làm việc tại công ty không được đào tạo và định hướng
nghề nghiệp một các đầy đủ
Các cam kết về chế độ lương thưởng, phúc lợi xã hội vẫn chưa được công
ty quan tâm một cách đúng mức vì vậy không thúc đẩy được tinh thần làm việc
và sự gắn bó lâu dài của nhân viên.
Môi trường làm việc của công ty chưa chuyên nghiệp công việc của các
phòng ban còn chồng chéo không giúp cho việc lưu thông hàng hoá.
Bảng2: thống kê trình độ lao động của công ty (11-2007)
STT Trình độ
Số
lượng
1 Thạc sỹ 2

2 Đại Học 10
3 Cao đẳng 5
4 Trung cấp 7
5 Lao động PT 48
Tổng 73

1.3.2 Nguồn lực tài chính của công ty AroWine
Nguồn vốn của công ty chủ yếu là nguồn vốn góp của các cổ đông và
nguồn vốn vay được duy trì và phát triển theo từng năm.
So với một doanh nghiệp thì qui mô nguồn vốn của công ty là tương đối
nhỏ tuy nhiên nếu so với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực rượu ban
đầu mà là độc lập với nhà nước thì như vậy cũng là rất quý giá.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
18

Bảng 3 thống kê về nguồn vốn của công ty cho đến ngày 31/3/2007.

STT Danh mục Đơn vị tính Số tiền
1 Nợ ngắn hạn VND 950,881,600
2 Nợ dài hạn VND 1,200,000,000
3
Vốn đầu tư của chủ sở
hữu
VND 2,415,346,300
4
Lợi nhuận chưa phân
phối
VND 600,425,770
5 Tổng VND 5,166,653,670


Bảng 4 thống kê về nguồn vốn của công ty cho đến 31/09/2007
STT Danh mục Đơn vị tính Số tiền
1 Nợ ngắn hạn VND 1,250,300,000
2 Nợ dài hạn VND 1,200,000,000
3
Vốn đầu tư của chủ sở
hữu
VND 6,500,750,000
4
Lợi nhuận chưa phân
phối
VND 1,250,600,400
5 Tổng VND 10,201,650,400


Ta thấy trong năm qua nguồn vốn của công ty tăng nên một cách nhanh
chóng nhờ vào việc sử dụng đồng vốn hiệu quả, và việc làm ăn của công ty đang
gặp thuận lợi.
Xang đầu năm 2008 qui mô nguồn vốn của công ty xẽ tăng nên khoảng 30
tỷ đồng từ việc tăng thêm cổ đông và tăng thêm từ nguồn vốn vay.
Rõ ràng trong các năm đầu nguồn vốn của công ty đã được sử dụng đúng
mục đích và tạo ra hiệu quả kinh doanh tuy không lớn.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
19
Xang năm 2008 với 30 tỷ đồng huy động được thì công ty xẽ có đủ tài
chính để thực hiện các mục tiêu tham vọng của mình.
1.3.4 Công cụ sản xuất
Nhà máy AROMA đặt tại khu công nghiệp phố nối tỉnh Hưng Yên, nhà

máy AROMA rộng gần 2Ha được xây dựng hết sức khang trang. Hệ thống nhà
xưởng sản xuất được xây dựng kiên cố bằng công nghệ hiện đại, hệ thống nhà
kho rộng rãi thoáng mát đạt tiêu chuẩn.
Công nghệ sản xuất rượu được nhập khẩu từ Nga và Nhật bản, những
công nghệ mới tiên tiến được đưa vào áp dụng tạo ra các sản phẩm đảm bảo chất
lượng.
Công ty trang bị được các phương tiện vận chuyển như ôtô tải, ôtô 4 chỗ,
12 chỗ phục vụ cho sản xuất và kinh doanh.
Đặc biệt công ty tìm ra được bí quyết sản xuất rượu vodka Men’ có hương
vị ngọt, thơm của gạo nếp và lọc bỏ hoàn toàn được các độc tố trong rượu.
Trụ sở của công ty đặt tại số 52 ngõ 260/28 tổ 26 Quan Hoa – Cầu Giấy –
Hà Nội, văn phòng giao dịch và làm việc của công ty đặt tại 625 Kim Mã - Ba
Đình –Hà Nội.
Công ty có kho bảo quản rượu vang với hệ thống hầm, giá treo đủ sức
chứa hàng nghìn chai rượu vang trong điều kiện tốt nhất.
Rõ ràng công ty đã tạo cho mình một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật,
phương tiện sản xuất tiên tiến hiện đại và đáp ứng được yêu cầu của yêu cầu sản
xuất kinh doanh.
1.3.5 Sản phẩm
Hiện nay công ty sản xuất ra sản phẩm duy nhất là rượu Vodka men’ đây
là sản phẩm đầu tay duy nhất. Ngoài ra công ty có nhập khẩu rượu vang từ các
nước trên thế giới về phân phối, bán.
Sản phẩm vodka men’ của công ty đã được thiết kế một cách chi tiết và có
được một hình ảnh đẹp về mẫu mã hợp với người tiêu dùng.
Tuy nhiên đây là điều đáng phải bàn đối với công ty, trong xu thế hội
nhập các công ty, các tổ chức kinh tế phải luôn đa dạng hoá sản phẩm mẫu mã
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
20
thì công ty chỉ có một sản phẩm duy nhất. Ngay cả sản phẩm duy nhất này cũng

cần phải đa dạng về mẫu mã thì công việc thâm nhập thị trường xẽ tốt hơn.
Rõ ràng là để công ty phát triển bền vững trong tương lai thì công ty phải
tìm các đa dạng hoá sản phẩm mẫu mã.
1.3.6 Thị trường
Bảng 5 thống kê các nhà hàng và số lượng tiêu thụ trung bình hàng
tháng mặt hàng rượu vang của công ty trong năm 2006.
STT Tỉnh Số lượng CH
Số lượng tiêu
thụ (VND)
1 Hà Nội 40 60 000 000
2 Hải Phòng 4 10 000 000
3 Hà Tây 5 15 000 000
4 Quảng Ninh 6 20 000 000
5

Ngh
ệ An

2

5 000 000

6 Ninh Bình 2 5 000 000
Tổng 59 115 000 000
Các cửa hàng là bạn hàng lâu năm của công ty, đây chủ yếu là các nhà
hàng sang trọng phục vụ khách cao cấp, khách du lịch nước ngoài.
Nếu xét về số lượng thì rõ ràng các khách hàng của công ty đã đạt được
một con số khá tốt vì đây là các hạt nhân của công ty. Tuy nhiên đây cũng là
một điều đáng báo động vì các đại lý này có khoảng 10% là hoạt động tốt có
chân hàng mạnh, có mối quan hệ sâu rộng. Còn lại các đại lý, các nhà phân phối

vẫn thực sự là chưa mạnh. Trong tương lai công ty phải tìm thêm các bạn hàng
mạnh thực sự sẽ làm cho khâu phân phối của công ty được tốt hơn
Bảng 6 thống kê Đại lý và số lượng tiêu thụ rượu Vodka Men’ trung
bình hàng tháng tính từ 6/2007 tới 11/2007

STT Tỉnh Tổng số đại lý

S
ố l
ư
ợng ti
êu th
ụ trung b
ình
tháng( VND)
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
21
1 Hà Nội 23 380 000 000
2

H

i Dương

2

45 000 000

3 Hưng Yên 3 100 000 000

4 Hải Phòng 2 30 000 000
5 Hà Giang 1 22 000 000
6 Bắc Ninh 1 20 000 000
7 Lạng Sơn 1 80 000 000
8

Qu
ảng Ninh

2

40 000 000

9 Thái Nguyên 1 150 000 000
10 Tuyên Quang 1 33 000 000
11
Cao Bằng – Bắc
Cạn
1 52 000 000
12 Vĩnh Phúc 1 68 000 000
13 Nam Định 1 27 000 000
14

Nam Hà

1

32 000 000

15 Hoà Bình 1 25 000 000

16 Thái Bình 1 17 000 000
17 Hà Tây 4 78 000 000
18 Ninh Bình 1 25 000 000
19 Thanh Hoá 1 200 000 000
20

Ngh
ệ An

4

1 100 000 000

21 Đà Nẵng 2 80 000 000
22 Khánh Hoà 1 15 000 000
23 TP HCM 1 10 000 000
Tổng 57

Công ty đã có quan hệ với gần 60 bạn hàng đối tác trên toàn quốc, sản
phẩm của công ty đã có mặt ở hầu hết các tỉnh phía bắc. Các bạn hàng chủ yếu
là các công ty thương mại hoặc các đại lý bán hàng tạp hoá. Đây là các chân
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
22
hàng quan trọng nhất của công ty vì từ đây sản phẩm của công ty sẽ toả đi mọi
nơi từ trong nước đến các nước trong khu vực đến tận tay người tiêu dùng.
Trong thời gian tới công ty sẽ mở rộng đại lý xuống các tỉnh khu vực phía nam,
hình thành các cụm rễ đại lý sẽ tạo thành các chân hàng vô cùng quan trọng
trong tương lai.
1.3.7 Chiến lược kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp.

Hiện tại công ty chưa có một bản chiến lược kinh doanh và phát triển nào
mà chỉ có định hướng phát triển như sau:
Với mục tiêu trở thành một công ty lớn trong lĩnh vực sản xuất rượu, bia,
nước giải khát công ty vẫn đang ra sức tổ chức các hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Trước hết với sản phẩm chủ đạo của công ty là dòng rượu Vodka Men
công ty tập trung hoàn thiện sản phẩm phát triển thương hiệu và thị trường tạo
thành một sản phẩm được mọi người biết đến tin tưởng và tiêu dùng.
Về rượu vang công ty tiếp tục tìm kiếm các dòng vang hảo hạng và mở
rộng thị trường phân phối trên toàn quốc.
Công ty đang có hướng phát triển thành một tập đoàn sản xuất rượu, bia,
nước giải khát và các lĩnh vực khác. Để thực hiện mục tiêu này trong vài tháng
tới công ty sẽ cho ra đời dòng sản phẩm nước đóng chai tinh khiết. Và xa hơn là
các loại nước giải khát trong năm tới.
Về nguồn vốn công ty sẽ huy động nguồn vốn lớn để phát triển, công ty
sẽ tiến hành định giá, và phát hành cổ phiếu ra thị trường trong vòng 2 năm tới
đây là kênh rất tốt để công ty lớn mạnh và có điều kiện trở thành một tập đoàn.
Về nhân lực công ty sẽ tuyển dụng và đào tạo trước hết là hoàn thiện bộ
máy quản trị, tuyển dụng được các nhân viên giỏi.
Công ty cũng đang có kế hoạch mở rộng nhà máy sản xuất, kho tàng cho
thích hợp với qui mô, xây dựng các công ty con.
Về mặt thị trường công ty đang có kế hoạch thâm nhập mạnh, xây dựng
thương hiệu Men’ trở thành một thương hiệu lớn mạnh trên toàn quốc và hướng
ra thế giới.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
23
Tiến hành xây dựng mạng lưới nhà phân phối, đại lý trên toàn quốc, tạo
thành các chân hàng vững chắc cho việc phát triển trong tương lai.
Định hướng của công ty cũng là khá tốt tuy nhiên với một phương hướng

phát triển như vậy thì công ty nào, tổ chức nào cũng có thể đề ra được. ở đây ta
bàn đến một chiến lược phát triển dài hạn và công ty muốn trở thành một công
ty lớn thì chiếm lĩnh thị trường thì phải xây dựng chiến lược kinh doanh một
cách khoa học đưa ra các chiến lược kinh doanh và phát triển cụ thể chứ không
thể một cách chung chung như vậy.
Trong điều kiện nhà nước đang khuyến khích phát triển, nhu cầu của thị
trường tăng mạnh, chính sách của bộ công thương là rất rõ ràng ngành rượu bia
nước giải khát hiện đang đứng trước cơ hội phát triển thì công ty nên có chiến
lược phát triển hợp lý để tận dụng cơ hội phát triển sản phẩm.
Nhưng cũng không thể không kể đến những khó khăn mà công ty phải đối
mặt, đó là các áp lực từ cạnh tranh ngành, các công ty trong nước, nước ngoài
từ các yếu kém nội tại của doanh nghiệp mà đưa ra chiến lược phát triển hợp lý
phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu.
Việc nghiên cứu và phát triển là những chi phí cho hôm nay nhưng lại là
thành quả cho ngày mai. Một DN có trỡnh độ khoa học kỹ thuật cao sẽ có nhiều
điều kiện hơn để phát triển mạnh mẽ. Do vậy, việc tỡm hiểu về vấn đề nghiên
cứu và phát triển đóng vai trũ hết sức quan trọng, đặc biệt là sự biến động của nó
theo thời gian. Một sự giảm sút về hoạt động nghiên cứu và phát triển luôn luôn
cần phải được giải thích. Ngược lại, một việc gia tăng đột ngột hoạt động này
cũng có thể ẩn dấu những chi phí không được kiểm soỏt.
Thời điểm cạnh tranh và hội nhập đang bắt đầu và quá trỡnh cạnh tranh
quốc tế chắc chắn sẽ khốc liệt hơn. Cho nên, cái khó nhất để xây dựng chiến
lược vĩ mô phát triển DN VN, đặc biệt là đối với các DN nhỏ là gia nhập được
vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện tại, thế giới phân công lao động theo hỡnh thỏi
cỏc chuỗi giỏ trị gia tăng. Trong khi đó, nhiều chỉ số cơ bản lại cho thấy hiện
VN đang đứng ở "đáy" của chuỗi giá trị, tức là chỉ chiếm giữ những phần tạo giá
trị gia tăng thấp nhất. Hiện nay, nhiều minh chứng cho thấy khả năng lan toả cơ
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
24

cấu theo đội hỡnh "đàn sếu bay" của Nhật Bản trước đây phối hợp với nguyên lý
chuỗi giá trị gia tăng đặt những nước đi sau vào tỡnh thế nan giải. DN tham gia
vào trũ chơi cạnh tranh để chiếm lĩnh vị trí cao trong chuỗi giá trị là điều hết sức
khó khăn.
Thực tế đã Chứng minh nếu không xác định được một chiến lược phát
triển đúng, nhà doanh nghiệp rất có thể tự mình lao vào những cạm bẫy không
thể rút ra được, dẫn đến tình hình kinh doanh sa sút và thậm chí phá sản. Doanh
nghiệp có thể đặt mục tiêu và quyết định đầu tư vào một lĩnh vực mới với hy
vọng phát triển, nhưng đó không đánh giá được hết đối thủ cạnh tranh, tiềm lực
của mình mà có thể dấn đến thua lỗ. Nguyên nhân dấn đến việc doanh nghiệp
ngày càng sa sút có thể rất nhiều; có thể rõ ràng hoặc còn tiềm ẩn. Có thể do
doanh nghiệp không có một bộ máy tổ chức hợp lý, quản lý nhân sự chưa hiệu
quả, chi phí quản lý quá cao, hoặc cũng có thể do sản phẩm của doanh nghiệp
không được đổi mới, thị phán ngày càng giảm, không sử dụng đúng các chiến
lược về giá, maketting
Tóm lại công ty cần phải có một bản kế hoạch kinh doanh rõ ràng, xác
định mục tiêu nhiệm vụ chiến lược trong ngắn hạn và dài hạn được xây dựng
một cách khoa học điều đó sẽ giúp công ty đi đúng hướng.
Lê Anh Đức – QTKDTH - K7
Trường Đại học KTQD
25
2. PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ PHÁT
TRIỂN SẢN PHẨM MEN’VODKA
2.1 Khái quát chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Nơi mà doanh nghiệp cố gắng vươn tới trong dài hạn (phương hướng)
Doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường nào và những loại hoạt động nào
doanh nghiệp thực hiện trên thị trường đó (thị trường, quy mô)?
Doanh nghiệp sẽ làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh
tranh trên những thị trường đó (lợi thế)?
Những nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, năng

lực kỹ thuật, trang thiết bị) cần phải có để có thể cạnh tranh được (các nguồn
lực)?
Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp (môi trường)?
Những giá trị và kỳ vọng nào mà những người cú quyền hành trong và
ngoài doanh nghiệp cần là gỡ (cỏc nhà gúp vốn)?
2.1.1Chiến lược tại các cấp độ khác nhau trong một doanh nghiệp.
Trong bất kỳ tổ chức nào, các chiến lược đều tồn tại ở vài cấp độ khác
nhau - trải dài từ toàn bộ doanh nghiêp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới
từng các nhân làm việc trong đó.
Chiến lược doanh nghiệp – liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của
doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn. Đây là một
cấp độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh
nghiệp và đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trỡnh ra quyết định chiến lược trong
toàn bộ doanh nghiệp.
Chiến lược doanh nghiệp thường được trỡnh bày rừ ràng trong “tuyờn bố
sứ mệnh”Chiến lược kinh doanh - liên quan nhiều hơn tới việc làm thế nào một
doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể. Nó liên
quan đến các quyến định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu
cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra
được các cơ hội mới v.v

×