Tải bản đầy đủ (.doc) (81 trang)

Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại công ty xây lắp và công nghiệp tàu thuỷ miền trung

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (408.96 KB, 81 trang )

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Xây lắp là ngành sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật
chất kỹ thuật cho các doanh nghiệp nói riêng, cho nền kinh tế quốc dân nói chung.
Sự phát triển, mở rộng không ngừng của các doanh nghiệp xây lắp về quy mô, chất
lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đã góp phần to lớn vào sự phát triển
kinh tế đất nước trong tiến trình hội nhập kinh tế và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Với vai trò là công cụ của nhận thức giúp cho nhà quản lý và sản xuất đạt kinh tế
cao, do vậy phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp là rất cần thiết
và có ý nghĩa quan trọng. Nó cho phép ta đánh giá đúng đắn kết quả sản xuất của
doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có cơ sở để hoàn thành các kế hoạch đã đề ra.
Xuất phát với lý do đó và thông qua quá trình trình tìm hiểu thực tế em chọn
đề tài “Phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp tại Công ty Xây
Lắp và Công Nghiệp Tàu Thuỷ Miền Trung” để phục vụ cho việc thực hiện khoá
luận tốt nghiệp đồng thời bổ sung thêm những kiến thức mà mình tiếp nhận ở
trường. Khoá luận này gồm 3 phần:
Phần I: Lý luận cơ bản về phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác
xây lắp
Phần II: Phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp tại Công
ty Xây Lắp và Công Nghiệp tàu Thuỷ Miền Trung.
Phần III: Một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao năng lực thực hiện khối
lượng công tác xây lắp tại Công ty Xây Lắp và Công Nghiệp tàu Thuỷ Miền Trung.
Vì thời gian tìm hiểu có hạn và kiến thức bản thân còn thiếu sót, khoá kuận của em
sẽ khó tránh khỏi một số hạn chế nhất định. Do vây, em rất mong nhận được những nhận
xét từ phía thầy cô và các cô chú, anh chị tại công ty Xây Lắp và CNTT Miền Trung.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Phi Sơn và các cô chú ở công ty đã
giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này!
Trang 1
Khoá luận tốt nghiệp
Phần I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC


HIỆN KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY LẮP
I. KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY LẮP.
1. Khái niệm:
Khối lượng công tác xây lắp của doanh nghiệp là khối lượng được biểu hiện
bằng các công trình và hạng mục công trình mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ
trên cơ sở các hợp đồng kinh tế đã ký kết sau khi doanh nghiệp trúng thầu hoặc
được chỉ định thầu.
2. Nội dung
Khối lựong công tác xây lắp trong doanh nghiệp bao gồm:
- Các công trình, hạng mục công trình đã bàn giao cho chủ đầu tư: Toàn bộ
giá trị khối lượng xây lắp mà công ty đã hoàn thành đầy đủ thủ tục hồ sơ và được
chủ đầu tư đã nghiệm thu nhận bàn giao.
- Các công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành chờ bàn giao: Toàn bộ
khối lượng công tác xây lắp đã hoàn thành nhưng còn thiếu thủ tục hay đủ thủ tục
nhưng chưa được chủ đầu tư nghiệm thu nhận bàn giao.
- Các công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành: Ta đi xác định các
công trình, hạng mục công trình có giá trị khối kượng xây lắp dở dang. Khối lượng
xây lắp dở dang là khối lượng xây lắp còn nằm trong quá trình xây lắp. Giá trị khối
lượng xây lắp dở dang được xác định bằng phưong pháp kiểm kê hàng tháng. Việc
tính và xác định khối lượng xây lắp dở dang phụ thuộc vào phương thức thanh toán
khối lượng công tác xây lắp hoàn thành giữa người nhận thầu và người giao thầu.
Nếu quy định thanh toán khối lượng xây lắp sau khi hoàn thành toàn bộ thì khối
lượng xây lắp dở dang là tổng số chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến thời điểm
xác định. Khi công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành được bàn giao thanh
Trang 2
Khoá luận tốt nghiệp
toán thì toàn bộ chi phí xây lắp đã phát sinh sẽ được tính vào giá thành của thành
phẩm.
Trang 3
Khoá luận tốt nghiệp

3. Ý nghĩa
Phân tích tình hình khối lượng công tác xây lắp và bàn giao công trình của
doanh nghiệp xây lắp chẳng những có ý nghĩa kinh tế doanh nghiệp mà còn có ý
nghĩa kinh tế quốc dân to lớn.
* Ý nghĩa kinh tế doanh nghiệp
Mọi diễn biến của quá trình và kết quả của việc thực hiện kế hoạch sản xuất
thi công xây lắp và bàn giao công trình đều có ảnh hưởng tới việc triển khai thực
hiện và kết quả thực hiện các kết quả khác của doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất thi công xây lắp và bàn giao công trình của doanh nghiệp
được tiến hành đúng kế hoạch tiến độ và có hiệu quả sẽ là tiền đề đảm bảo cho các
hoạt động khác của doanh nghiệp tiến hành thuận lợi và hiệu quả, đảm bảo sự tồn
tại và phát triển lâu bền của doanh nghiệp trong diều kiện cơ chế thị trường.
* Ý nghĩa kinh tế quốc dân
Tình hình hoàn thành kế hoạch sản xuất thi công xây lắp và bàn giao công
trình của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của
các ngành kinh tế quốc dân khác có liên quan.
Bàn giao công trình và hạng mục công trình xây lắp để đưa công trình, hạng
mục công trình vào sử dụng (khai thác) đúng kế hoạch góp phần nâng cao hiệu quả
kinh tế của các ngành kinh tế quốc dân sử dụng công trình.
II. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KHỐI LƯỢNG
CÔNG TÁC XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
1. Mục đích.
Mục đích của việc phân tích khối lượng công tác xây lắp là đánh giá tổng
hợp, khách quan tình hình hoàn thành kế hoạch khối lượng công tác xây lắp và bàn
giao công trình của doanh nghiệp xây lắp theo các chỉ tiêu số lượng và chất lượng
đặc trưng cho tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó có những chiến lược và quy mô để có thể tăng khối lượng công tác
xây lắp hoàn thành và bàn giao công trình kịp thời, đảm bảo chất lượng ở những kỳ
sản xuất kinh doanh sau.
Trang 4

Khoá luận tốt nghiệp
2. Ý nghĩa
Nhằm đánh giá một cách khái quát về tình hình hoàn thành kế hoạch của
doanh nghiệp xây lắp đồng thời chỉ ra sự cần thiết phải tìm ra các nguyên nhân dẫn
đến việc không hoàn thành khối lượng công tác xây lắp.
Phân tích tình hình kế hoạch công tác xây lắp của doanh nghiệp xây lắp có ý
nghĩa quan trọng trong việc đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, nó cho thấy một cách cụ thể các quá trình sản xuất ở các hạng mục,
đồng thời nó còn là cơ sở để xác định và phân tích tình hình sử dụng lao động, vật
tư cũng như máy móc, thiết bị trong quá trình xây lắp thi công.
Sau khi đi phân tích tình hình thực hiện kế hoạch công tác xây lắp trong kỳ
của doanh nghiệp thấy rõ những ưu điểm và thiếu sót của doanh nghiệp xây lắp
trong việc thực hiện khối lượng công tác xây lắp. Trên cơ sở đó có những chiến
lược để hoạch định công tác xây lắp trong thời gian tới tốt hơn.
Vì vậy, phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp của doanh
nghiệp là một trong những chuyên đề phân tích quan trọng nhất của công tác phân
tích kinh tế các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp.
3. Phương pháp phân tích:
Để đạt được mục đích và thực hiện các nhiệm vụ phân tích, cần có các phương
pháp phân tích thích hợp. Phương pháp phân tích là tổng hợp các phương thức, cách
thức cần thiết để nghiên cứu đối tượng phân tích, cho phép thực hiện nhiệm vụ phân
tích đã đề ra. Trong bài phân tích này sử dụng phương pháp so sánh để đi phân tích.
Những điều kiện cụ thể áp dụng phương pháp so sánh với mục đích đánh giá là:
- Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng hoặc hai chỉ tiêu
Các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được đó là:
+ Sự thống nhất về nội dung và phương pháp tính.
+ Thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường.
Tuỳ thuộc vào mục đích của việc phân tích mà khi sử dụng phương pháp so
sánh người ta tiến hành theo các nội dung sau:
- So sánh giữa kết quả thực tế đạt được với mục tiêu, nhiệm vu ̣(kế hoạch) đặt

ra: điều này giúp đánh giá được tình hình thực hiện kế hoạch về chỉ tiêu đang
nghiên cứu.
Trang 5
Khoá luận tốt nghiệp
- So sánh giữa kết quả đạt được kỳ này với kết quả đạt được kỳ trước và hàng
loạt kỳ trước: điều đó cho phép đánh giá sự phát triển của chỉ tiêu xem xét cụ thể là
thấy được xu hướng hay tốc độ phát triển của chỉ tiêu.
Số liệu của một kỳ được chọn làm căn cứ so sánh được gọi là kỳ gốc.
Về kỹ thuật so sánh:
- So sánh về số tuyệt đối: việc xác định chênh lệch giữa trị số của chỉ tiêu kỳ
phân tích với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc. Kết quả so sánh cho thấy sự biến động về số
tuyệt đối của hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu.
- So sánh bằng số tương đối là xác định số % tăng (giảm) giữa thực tế so với
kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích, cũng có khi là tỷ trọng của một hiện tượng kinh tế.
Kết quả cho biết tốc độ phát triển hoặc kết cấu, mức phổ biến của hiện tượng kinh
tế.
III. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC
XÂY LẮP
1. Phân tích tình hình bàn giao công trình xây lắp
1.1. Phân tích theo số lượng công trình và thời hạn bàn giao:
Hoàn thành kế hoạch bàn giao công trình, phấn đấu đưa nhanh các công trình
và hạng mục công trình xây lắp vào sử dụng thể hiện đầy đủ và tập trung kết quả
xây lắp của doanh nghiệp trong kỳ phân tích.
Công trình và hạng mục công trình xây lắp bàn giao được hiểu là công trình và
hạng mục công trình đã hoàn thành toàn bộ các công tác xây lắp theo thiết kế, đảm
bảo đưa vào khai thác (sử dụng) bình thường năng lực sản xuất (phục vụ) và đã
được giao cho chủ đầu tư theo đúng quy định hiện hành.
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch bàn giao công trình và hạng mục công
trình xây lắp hoàn thành được bắt đầu bằng việc đánh giá theo số lượng công trình
và thời hạn bàn giao.

Chỉ tiêu phân tích có thể sử dụng là:
Mức độ hoàn thành kế
hoạch bàn giao công trình =
Số công trình và HMCT xây lắp đã
bàn giao trong kỳ
Trang 6
Khoá luận tốt nghiệp
Số công trình và HMCT xây lắp cần
bàn giao trong kỳ theo kế hoạch
Chỉ tiêu trên cho phép đánh giá một cách khái quát về tình hình hoàn thành
kế hoạch bàn giao công trình của doanh nghiệp, đồng thời cũng chỉ ra sự cần thiết
phải tìm ra các nguyên nhân dẫn tới việc không thể bàn giao được các công trình và
hạng mục công trình để đưa vào sử dụng theo kế hoạch.
Trong kỳ phân tích, thông thường các công trình và hạng mục công trình có
thời hạn bàn giao theo kế hoach khác nhau. Vì vậy, ngoài việc phân tích tình hình kế
hoạch bàn giao công trình đưa vào sử dụng theo số lượng phải kết hợp phân tích về
sự đảm bảo thời hạn bàn giao và đảm bảo thời gian xây dựng các công trình bàn
giao. Trong nhiều trường hợp, trong kỳ phân tích doanh nghiệp đã bàn giao được
mặt số lượng các công trình và hạng mục công trình xây lắp đã ghi trong kế hoạch
nhưng lại chậm trễ về thời hạn bàn giao hoặc bị kéo dài thời gian xây dựng so với
kế hoạch, tất cả những biểu hiện đó khi phân tích đều không thể coi là doanh nghiệp
hoàn thành tốt kế hoạch bàn giao công trình.
Khi phân tích tình hình bàn giao công trình về khía cạnh đảm bảo thời hạn
bàn giao và thời gian xây dựng có thể so sánh thời hạn bàn giao thực tế với thời hạn
bàn giao được ghi trong kế hoạch hoặc trong hợp đồng cũng như so sánh thời gian
xây lắp thực tế với thời gian xây lắp dự kiến trong kế hoạch.
Khi phân tích về sự đảm bảo thời hạn bàn giao công trình thường gặp một số
trường hợp sau:
- Các công trình, hạng mục công trình được bàn giao đúng hoặc trước thời
hạn theo kế hoạch.

- Các công trình, hang mục công trình được bàn giao chậm hơn so với thời
hạn theo kế hoạch.
- Các công trình, hạng mục công trình có thể được bàn giao đúng hoặc trước
thời hạn quy định nhưng không đảm bảo thời gian xây dựng dự kiến
- Các công trình, hạng mục công trình bàn giao chậm so với kế hoạch nhưng
đảm bảo thời gian xây dựng theo dự kiến.
Việc không hoàn thành tốt kế hoạch bàn giao công trình của doanh nghiệp
trong thực tế có nhiều nguyên nhân khác nhau:
Trang 7
Khoá luận tốt nghiệp
- Do việc lập kế hoạch không đủ căn cứ hoặc chưa tính hết những điều kiện
thực tế của doanh nghiệp (chẳng hạn đưa vào kế hoạch bàn giao những hạng mục
công trình không đủ điều kiện thi công). Nếu do nguyên nhân này thì mặc dù doanh
nghiệp đã có nhiều cố gắng nhưng không thể hoàn thành kế hoạch đặt ra.
- Doanh nghiệp thiếu sự quan tâm tới việc thực hiện kế hoạch bàn giao, vì
thế chưa tập trung nhân lực, vật lực cho thi công dứt điểm các hạng mục bàn giao.
- Do giai đoạn chuẩn bị không tốt đã dẫn tới việc phải khởi công muộn so
với dự kiến.
Khi phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch bàn giao đưa công trình vào sử
dụng cần chú ý một số điểm sau đây:
- Đối với các công trình có nhiều hạng mục có chức năng sản xuất đồng bộ
thì khi phân tích phải kiểm tra tính chất đồng bộ của việc bàn giao các hạng mục
công trình. Nếu không chú ý đến điều này thì mặc dù doanh nghiệp có mức hoàn
thành kế hoạch bàn giao cao, đảm bảo thời hạn bàn giao và thời gian ở nhiều hạng
mục mà không đảm bảo đưa đồng bộ công trình vào sử dụng đúng thời hạn cũng
không thể coi là thưc̣ hiện tốt kế hoạch bàn giao công trình.
- Trong trường hợp doanh nghiệp xây lắp có nhiều hạng mục công trình đồng
loại thì khi phân tích tình hình đảm bảo thời gian xây lắp của các hạnh mục bàn
giao có thể so sánh thời gian xây lắp bình quân thực tế với thời gian xây lắp theo kế
hoạch theo kế hoạch và với thời gian xây lắp bình quân thực tế kỳ trước.

1.2. Phân tích theo khối lượng và năng lực công trình bàn giao:
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch bàn giao đưa công trình vào sử dụng
theo số lượng hạng mục, thời hạn bàn giao và thời gian xây lắp mới chỉ cho phép
nhìn nhận một cách khái quát về tình hình thực hiện kế hoạch này. Trong thực tế
phân tích, có những doanh nghiệp hoàn thành bàn giao công việc với mức độ cao về
chỉ tiêu số lượng hạng mục nhưng về mặt khối lượng cũng như năng lực phục vụ
của các hạng mục đó lại hoàn thành ở mức độ thấp vì những hạng mục được bàn
giao là những hạng mục công trình nhỏ, khối lượng xây lắp ít năng lực phục vụ
không lớn, trong khi đó những công trình và hạng mục công trình lớn lại chưa bàn
giao được. Điều đó cho thấy, nếu chỉ căn cứ vào mức độ hoàn thành kế hoạch bàn
giao công trình về mặt số lượng có thể dẫn tới sự đánh giá phiến diện về tình hình
Trang 8
Khoá luận tốt nghiệp
thực hiện kế hoạch bàn giao (vì chỉ tiêu này chưa phản ánh được quy mô của các
đối tượng bàn giao cũng như ý nghĩa kinh tế của nó).
Để đánh giá chi tiết hơn tình thình thực hiện kế hoạch bàn giao đưa công
trình vào sử dụng của doanh nghiệp xây lắp, sau khi phân tích theo số lượng cần
phải phân tích mức độ hoàn thành kế hoạch về mặt khối lượng và năng lực của các
hạng mục bàn giao.
Chỉ tiêu phân tích là:
Mức độ hoàn thành
kế hoạch bàn giao
công trình về mặt
Giá trị dự toán của các hạng mục
đã bàn giao trong kỳ
*100%
Giá trị dự toán của các hạng mục
cần bàn giao trong kỳ theo kế
hoạch
Đánh giá theo giá trị khối lượng công tác hoàn thành ở các hạng mục công

trình bàn giao chỉ rõ số vốn đầu tư đã được phát huy tác dụng trong nền kinh tế
quốc dân như thế nào. Ngoài ra cách đánh giá như vậy cho thấy quy mô của các
hạng mục bàn giao đồng thời cũng có thể cho thấy ở một chừng mực nhất định sự
quan tâm của các doanh nghiệp vào việc hoàn thành bàn giao các công trình và
hạng mục công trình quan trọng có quy mô lớn.
1.3. Phân tích theo phương thức sản xuất thi công xây lắp:
Để đánh giá đúng sự cố gắng và nổ lực của doanh nghiệp xây lắp trong việc
thực hiện kế hoạch bàn giao đưa vào sử dụng còn cần phân tích tình hình thực hiện
kế hoạch này theo phương thức sản xuất thi công xây lắp.
Các công trình, hạng mục công trình bàn giao trong kỳ phân tích có thể thi
công bằng chính lực lượng của doanh nghiệp xây lắp hoặc bằng lực lượng của các
đơn vị nhận thầu phụ. Nếu như không hoàn thành kế hoạch bàn giao ở các hạng
mục do chính doang nghiệp xây lắp thi công thì rõ ràng thiếu sót thuộc về doanh
nghiệp xây lắp. Những thiếu sót có thể là:
• Thiếu đồ án thiết kế thi công.
• Thiếu các biện pháp tổ chức kỹ thuật phù hợp.
Trang 9
Khoá luận tốt nghiệp
• Thiếu sự đôn đốc, kiểm tra.
• Không huy động đầy đủ và kịp thời vật tư, nhân lực.
Nếu không hoàn thành kế hoạch ở các hạng mục do các đơn vị thầu phụ
thực hiện thì thiếu sót có thể thuộc về đơn vị thầu phụ, nhưng cũng có thể thuộc về
doanh nghiệp xây lắp như doanh nghiệp xây lắp không tạo ra đầy đủ các điều kiện
cho đơn vị thầu phụ thực hiện các công tác theo hợp đồng đã ký kết, thiếu sự phối
hợp chặt chẽ cộng tác của doanh nghiệp xây lắp.
2. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp trong kỳ
của doanh nghiệp:
2.1. Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác
xây lắp trong kỳ của doanh nghiệp:
Hoàn thành kế hoạch khối lượng công tác xây lắp trong kỳ là điều kiện cần

thiết cho việc hoàn thành kế hoạch bàn giao đưa công trình vào sử dụng. Hoàn
thành khối lượng công tác xây lắp còn có ảnh hưởng quan trọng đến sự hoàn thành
kế hoạch khác của doanh nghiệp như: Kế hoạch lao động và tiền lương, kế hoạch
giá thành, kế hoạch lợi nhuận…
Tổng khối lượng công tác xây lắp của doanh nghiệp trong kỳ bao gồm:
+ Khối lượng công tác xây lắp thực hiện bằng chính lực lượng của doanh
nghiệp.
+ Khối lượng công tác xây lắp được thực hiện bằng lực lượng thầu phụ.
Để đánh giá khái quát tình hình hoàn thành công tác xây lắp trong kỳ của
doanh nghiệp xây lắp trước hết cần đánh giá tình hình chung thực hiện tổng kế
hoạch công tác của doanh nghiệp xây lắp, sự đánh giá này được tiến hành bằng cách
so sánh tổng khối lượng công tác đã được thực hiện trong kỳ so với kế hoạch dự
kiến.

Trang 10
Khoá luận tốt nghiệp
2.2. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp
trong kỳ:
Theo mức độ hoàn chỉnh của sản phẩm xây lắp, khối lượng công tác xây lắp
hoàn thành trong kỳ gồm:
+ Khối lượng xây lắp ở các hạng mục và giai đoạn công tác đã kết thúc và
bàn giao cho chủ đầu tư.
+ Khối lượng công tác xây lắp dở dang.
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp trong kỳ
của doanh nghiệp xây lắp theo từng bộ phận cho phép đánh giá tính hợp lý trong
việc thực hiện kế hoạch cũng như tạo ra cơ sở cho việc phân tích các nguyên nhân
ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn cơ bản đánh giá tình hình hoàn thành kế hoạch khối lượng công
tác xây lắp trong kỳ là kết quả thực hiện kế hoạch vừa phải đảm bảo đẩy mạnh tốc
độ hoàn thành kế hoạch bàn giao vừa phải duy trì khối lượng thi công dở dang hợp

lý.
2.3. Phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch khối lượng công tác xây
lắp của doanh nghiệp theo hạng mục công trình và đơn vị thực hiện:
Hoàn thành kế hoạch khối lượng công tác xây lắp theo các hạng mục công
trình là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp xây lắp.
Phân tích tình hình hoàn thành khối lượng công tác xây lắp ở các hạng mục
cho phép đánh giá cụ thể hơn tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp, cho
phép đánh giá mức độ tập trung của doanh nghiệp vào thực hiện kế hoạch ở các
công trình và hạng mục công trình trọng điểm, cho phép kiểm tra tình hình thực
hiện tiến độ thi công chung của doanh nghiệp xây lắp.
Phân tích theo đơn vị thực hiện cho phép nhận định được các đơn vị tốt hay
xấu trong quá trình thực hiện kế hoạch giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp có phương
hướng chỉ đạo, lãnh đạo phù hợp.
Để phân tích tình hình kế hoạch khối lượng công tác xây lắp theo hạng mục
và đơn vị thực hiện, có thể so sánh giá trị khối lượng công tác xây lắp ở từng hạng
mục cũng như do từng đơn vị thực hiện kế hoạch hoàn thành kế hoạch.
Trang 11
Khoá luận tốt nghiệp
2.4. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp
hoàn thành theo các loại công tác chủ yếu:
Chỉ tiêu giá trị khối lượng công tác xây lắp trong một số trường hợp không
hoàn toàn phản ánh một cách đúng đắn khối lượng sản phẩm xây lắp, bởi vì chỉ tiêu
này chịu ảnh hưởng của cơ cấu công tác hoàn thành và giá cả các yếu tố đầu vào khi
tính toán cả chi phí. Để đánh giá đầy đủ hơn tình hình thực hiện khối lượng công tác
xây lắp của doanh nghiệp cần kết hợp phân tích theo chỉ tiêu giá trị với hiện vật.
Khối lượng hiện vật của công tác xây lắp được biểu thị bằng các đơn vị đo hiện vật
thích hợp.
Phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch khối lượng công tác xây lắp theo
các loại công tác chủ yếu được tiến hành bằng việc so sánh trực tiếp khối lượng đã

thực hiện trong kỳ so với khối lượng đã ghi trong kế hoạch của từng loại công tác
tương ứng. Để kiểm tra sự đảm bảo cơ cấu công tác cũng như đánh giá toàn diện
tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp cần phải phân tích kết hợp
với chỉ tiêu giá trị của từng loại công tác giữa thực tế với kế hoạch.
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp theo các
loại công tấc chủ yếu là điều kiện để kiểm tra sự đảm bảo cơ cấu công tác kế hoạch,
vạch ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình hoàn thành kế hoạch khối lượng
công tác xây lắp của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch công tác xây lắp của doanh nghiệp
theo các công tác chủ yếu có ý nghĩa trong việc đánh giá kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở để xác định và phân tích tình hình sử dụng
lao động, vật tư cũng như máy móc, thiết bị trong quá trình sản xuất thi công.
2.5. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp
theo thời gian:
Để xây dựng một công trình, trước hết trước hết phải lập kế hoạch thi công
qua nhiều kỳ thi công. Trong từng thời kỳ thi công thì phải lập kế hoạch cụ thể cho
từng quý, tháng rồi mới tổng hợp khối lượng xây lắp của các công trình trong năm
ấy. Chính vì vậy, để đảm bảo kế hoạch năm cũng như đảm bảo thực hiện kế hoạch
tiến độ thi công đối với từng công trình, thì việc thi công đúng tiến độ, nhịp nhàng
Trang 12
Khoá luận tốt nghiệp
về thời gian là một yêu cầu rất quan trọng đối với công tác tổ chức và quản lý xây
lắp ở doanh nghiệp xây lắp.
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp theo thời
gian nhằm nghiên cứu đánh giá quy trình xây lắp theo thời gian có nhịp nhàng,
đồng bộ hay không? Từ đó tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng và rút ra những
biện pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ thi công, đảm bảo hoàn thành công trình theo
đúng dự kiến.
Quá trình thi công xây lắp được coi là nhịp nhàng khi khối lượng xây lắp
thực tế tương ứng với kế hoạch quy định trong từng thời gian nhất định. Như vậy,

để phân tích cần phải dựa vào kế hoạch khối lượng xây lắp lập chi tiết cho từng quý,
từng tháng được lập ra trên cơ sở tổng hợp các kế hoạch thi công của các công trình
làm tiêu chuẩn đánh giá.
3. Phân tình tình hình đảm bảo chất lượng công tác xây lắp của doanh nghiệp
trong kỳ.
Bên cạnh việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng
công tác xây lắp và tình hình bàn giao công trình, để đánh giá đúng toàn diện kết
quả hoạt động thi công xây lắp của doanh nghiệp cần phân tích về sự đảm bảo chất
lượng các công tác xây lắp.
Chất lượng sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu vô cùng quan trọng. Để nâng cao
được chất lượng sản phẩm xây lắp thì phải có sự kết hợp đồng bộ ở những khâu,
những giai đoạn từ khi chuẩn bị xây lắp đến khi bàn giao công trình, cũng như khi
công trình được đưa vào sử dụng. Trong đó giai đoạn có ý nghĩa quyết định cùng
với khảo sát và thiết kế là giai đoạn thi công công trình. Chính vì vậy doanh nghiệp
xây lắp cần phải quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm của mình. Do vậy, phân
tích chất lượng công tác xây lắp là rất cần thiết.
Với vai trò quan trọng cùng với tính đặc thù của sản phẩm xây lắp thì không
được phép có công trình, hạng mục công trình không đảm bảo chất lượng theo yêu
cầu thiết kế - dự toán. Nhưng trong quá trình thi công thực tế vẫn có thể phát sinh
những khối lượng công trình cần phải sửa chữa hoặc những khối lượng cần phá đi
làm lại.
Trang 13
Khoá luận tốt nghiệp
Để đánh giá khả năng về chất lượng xây lắp của doanh nghiệp thường được
tiến hành nghiên cứu thông qua các biên bản nghiệm thu, đánh giá chất lượng các
công trình mà doanh nghiệp đã thi công hoàn thành và bàn giao cho các đơn vị giao
thầu trong một thời kỳ tương đối dài. Cần lưu ý phân biệt các công trình có kết cấu
phức tạp yêu cầu kỹ thuật cao với các công trình có yêu cầu kỹ thuật bình thường.
Nếu doanh nghiệp đã từng thi công hoàn thành và bàn giao công trình có kết cấu
phức tạp, yêu cầu kỹ thuật cao và nếu như số lượng các công trình loại này càng

nhiều thì chứng tỏ chất lượng xây lắp của doanh nghiệp càng cao.
Để phân tích chất lượng sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp người ta có thể
tổng hợp các biên bản xác nhận những sai phạm kỹ thuật trong kỳ. Tiến hành phân
loại những sai phạm trong kỹ thuật thành hai mức độ: sai phạm phải phá đi làm lại
và sai phạm phải sửa chữa. Sau đó tính số thiệt hại về các vụ sai phạm.
Mức thiệt hại bao gồm:
+ Giá trị khối lượng công tác xây lắp phải phá đi làm lại
+ Những chi phí do phải phá đi làm lại
+ Những chi phí để sửa chữa, gia cố những khối lượng cần phải sữa chữa
Tất cả những thiệt hại trên trong dự toán các công trình xây dựng cơ bản
không xác định cho số thiệt hại này. Vì vậy không thể có kế hoạch về mức thiệt hại.
Mặt khác, do sản phẩm có tính đơn chiếc, quá trình sản xuất lại không ổn định cho
nên không cho phép so sánh mức thiệt hại kỳ này với kỳ trước. Vì vậy, để phân tích
đánh giá về chất lượng sản xuất sản phẩm xây lắp trong kỳ ta có thể sử dụng chỉ
tiêu: tỷ lệ thiệt hại do không đảm bảo chất lượng xây lắp.
Tỷ lệ thiệt hại phát sinh trong khâu sản xuất có thể tính riêng cho từng loại
công trình, hạng mục công trình gọi là tỷ lệ thiệt hại cá biệt (tg)
Tỷ lệ
thiệt hại
cá biệt
=
Chi phí thi công công trình,
HMCT phá đi làm lại
+
Chi phí sửa chữa
gia cố
x100%
Chi phí sản xuất trong kỳ
Nếu tính chung cho toàn bộ công trình người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ thiệt
hại bình quân (Tg)

T
g
= ∑ Cti
∑ Ci
Trong đó: Cti là chi phí thiệt hại phát sinh trong quá trình xây lắp.
Trang 14
Khoá luận tốt nghiệp
Ci là chi phí xây lắp trong kỳ
Tti: Là tỷ trọng chi phí của từng công trình trong tổng số chi
phí của các công trình
* Phương pháp phân tích:
∆Tg = Tg
1
- Tg
0
∆tg = tg
1
- tg
0
Trong đó: Tg
1
là tỷ lệ thiệt hại bình quân ở kỳ thực tế
Tg
0
là tỷ lệ thiệt hại bình quân ở kỳ kế hoạch
tg
1
là tỷ lệ thiệt hại cá biệt ở kỳ thực tế
tg
0

là tỷ lệ thiệt hại cá biệt ở kỳ kế hoạch
Nếu ∆Tg > 0 thì tỷ lệ thiệt hại bình quân chung tăng.
Nếu ∆Tg < 0 thì tỷ lệ thiệt hại bình quân chung giảm
Nếu ∆Tg = 0 thì tỷ lệ thiệt hại bình quân chung không đổi
Nếu ∆tg > 0 thì chất lượng xây lắp trong kỳ giảm
Nếu ∆tg < 0 thì chất lượng xây lắp trong kỳ tăng
Nếu ∆tg = 0 thì chất lượng xây lắp trong kỳ không đổi.
* Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tỷ lệ thiệt hại bình quân
chung:
Có hai nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thiệt hại bình quân chung:
+ Tỷ trọng chi phí xây lắp của từng hạng mục công trình.
+ Tỷ lệ thiệt hại cá biệt.
Ảnh hưởng của tỷ trọng chi phí xây lắp:
∆t = ΣT
1i
* tg
0i
- Tg
0
Ảnh hưởng của tỷ lệ thiệt hại cá biệt:
∆gt = Tg
1
-ΣT
1i
* tg
0i

Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:
∆Tg = ∆t +∆tg
Trang 15

Khoá luận tốt nghiệp
IV. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TÌNH HÌNH THỰC
HIỆN KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY LẮP.
1. Các nhân tố ảnh hưởng tới tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp
Tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp của doanh nghiệp trong kỳ
chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau. Khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng
trước hết cần phân loại chúng vì không phải mọi nhân tố ảnh hưởng đều có khả
năng tác động như nhau bằng các chính sách của mình. Có 3 cách phân loại:
- Phân loại dựa vào khả năng và mức độ tác động của doanh nghiệp, các
nhân tố ảnh hưởng chia làm 2 loại: nhân tố bên trong và bên ngoài.
+ Nhân tố bên ngoài được hiểu là những nhân tố ảnh hưởng tới tình hình
thực hiện khối lượng công tác xây lắp của doanh nghiệp nhưng không phụ thuộc
vào bản thân doanh nghiệp như:
 Công tác đền bù giải phóng mặt bằng
 Sự thay đổi thiết kế của chủ đầu tư trong quá trình thi công
 Điều kiện thời tiết, khí hậu.
+ Nhân tố bên trong là những nhân tố phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp
ảnh hưởng tới tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp của doanh nghiệp
gồm các nhân tố như:
 Trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khả
năng điều hành thi công trên công trường
 Trình độ tay nghề của công nhân
 Mức dộ trang bị TSCĐ cho công nhân.
- Phân loại dựa vào vai trò của các nhân tố trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp gồm các yếu tố:
+ Tuyển dụng và sử dụng lao động sản xuất trực tiếp
+ Cung ứng và sử dụng vật liệu
+ Cơ cấu bộ máy quản lý doanh nghiệp
+ Trình độ lập kế hoạch và điều hành sản xuất thi công theo kế hoạch
+ Trình độ hoạch toán kiểm tra và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

của bộ máy quản trị doanh nghiệp.
Trang 16
Khoá luận tốt nghiệp
- Phân loại dựa vào tính chất tác động của các nhân tố, các nhân tố ảnh
hưởng bao gồm 2 loại :
+ Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng công tác xây lắp là những nhân
tố liên quan tới việc sử dụng số lượng và thời gian lao động, ảnh hưởng trực tiếp tới
kết quả thi công xây lắp.
+ Nhân tố ảnh hưởng gián tiếp tới khối lượng công tác xây lắp là những nhân
tố liên quan tới sự đảm bảo năng suất lao động, ảnh hưởng gián tiếp tới kết quả thi
công xây lắp.
2. Phân tích tình hình quản lý và sử dụng lao động:
Phân tích tình hình quản lý và sử dụng lao động là đánh giá sự biến động về
số lượng lao động, cơ cấu lao động. Xem xét việc bố trí và sử dụng lao động, năng
suất lao động của doanh nghiệp như thế nào? Có đảm bảo phù hợp với quan hệ
cung cầu hay không? Đảm bảo sử dụng lao động tiết kiệm hớp lý và triệt để hay
không? Từ đó đánh giá tổng thể về trình độ quản lý của doanh nghiệp.
2.1. Phân tích cơ cấu và sự biến động của lực lượng lao động:
Phân tích cơ cấu lao động là xem xét đánh giá tìm hiểu nguyên nhân tác
động và xu hướng biến động của tỷ trọng từng loại lao động trong tổng số. Nó còn
giúp cho nhà quản lý đánh giá hiệu quả quản lý lao động cũng như việc phân bổ lao
động ở các bộ phận là hợp lý hay chưa?
a. Để phân tích cơ cấu lao động người ta dùng chỉ tiêu :

i
=

i
* 100%


Trong đó: Tđi là tỷ trọng từng loại lao động trong tổng số

i
là số lao động loại i
LĐ là tổng số lao động
Phương pháp: Dùng phương pháp so sánh để so sánh tỷ trọng từng loại lao
động trong tổng số giữa kỳ thực tế với kế hoạch từ đó xác định nguyên nhân dẫn
đến sự biến động đó và nó làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất như thế nào?
∆Tđ
1
= Tđ
1
- Tđ
0

1
là tỷ trọng từng loại lao động trong tổng số ở kỳ thực tế

0
là tỷ trọng từng loại lao động trong tổng số ở kỳ kế hoạch
Trang 17
Khoá luận tốt nghiệp
Trong đó:
Tt
1
=

1
* 100%


1
Tt
0
=

0
* 100%

0
b. Phân tích sự biến động lao động
Đánh giá việc tăng hay giảm số lượng lao động đó có hợp lý hay không đồng
thời xác định nguyên nhân tăng giảm và tác động của nó đến quá trình sản xuất của
doanh nghiệp xây lắp. Nhưng nếu xét đến sự biến động của số lượng lao động trực
tiếp ngoài việc xem xét sự biến động của lao động thực tế so với kế hoạch cần phải
xem xét. Đánh giá số lượng lao động này trong sự biến động của giá trị sản lượng
xây lắp để thấy được việc sử dụng số lao động này là tiết kiệm hay lãng phí.
Cụ thể :
LĐ(+,-) = Lđ
1
– Lđ
0
* Gs1
Gs
0
Trong đó : LĐ(+, -) : là số lao động tiết kiệm hay lãng phí

1
, Lđ
0
: Số lao động thực tế sử dụng, kế hoạch đặt ra

Gs
1
, Gs
0
: Là giá trị sản lượng xây lắp thực tế, kế hoạch
LĐ(+. -) < 0 : Thì doanh nghiệp tiết kiệm tương đối lao động
LĐ(+. -) > 0 : Thì doanh nghiệp lãng phí tương đối lao động
- Nguyên nhân ảnh hưởng tới sự biến động này là:
+ Do sự biến động về số lượng khối lượng xây lắp trong kỳ
+ Do máy móc thiết bị phục vụ là hiện đại hay lạc hậu
+ do giá lao động trên thị trường thay đổi
2.2. Phân tích các chỉ tiêu năng suất lao động
Năng suất lao động là một chỉ tiêu có tính chất tổng hợp nhất để đánh giá kết
quả sử dụng lực lượng sản xuất. Năng suất lao động là hiệu quả có ích của lao động
sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay thời gian để sản xuất ra một kết quả cụ
thể có ích với một chi phí nhất định.
Trang 18
Khoá luận tốt nghiệp
Với doanh nghiệp xây lắp mức năng suất lao động được đo bằng khối lượng
sản phẩm xây lắp theo giá dự toán hoặc giá trúng thầu tính cho một lao động làm
công tác xây lắp và sản xuất phụ được tính trên bảng quyết toán của các tổ chức xây
lắp.
Phân tích chung tình hình năng suất lao động là xem xét đánh giá tình hình
biến động năng suất lao động giờ, ngày, năm đồng thời tìm ra những nguyên nhân
ảnh hưởng đến sự biến động đó nhằm xác định trọng tâm phân tích, để tìm ra biện
pháp nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động.
3. Phân tích tình hình trang bị và sử dụng TSCĐ
TSCĐ trong doanh nghiệp xây lắp phản ánh năng lực sản xuất hiện có của
doanh nghiệp. Tuy nhiên năng lực sản xuất hiện có được thể hiện ở máy móc thiết
bị sản xuất chứ không phải là TSCĐ chờ xử lý. Chỉ tiêu cho phép đánh giá hiệu quả

sử dụng TSCĐ là hiệu suất sử dụng được tính theo:
Hs = Gs(LN)
NG
Trong đó: Hs : là hiệu suất sử dụng TSCĐ
Gs(LN) : giá trị sản lượng xây lắp hoàn thành (LN)
NG : Nguyên giá bình quân TSCĐ
Hs cho biết bình quân 1 đồng TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản lượng xây lắp hoặc lợi nhuận. Hs càng
lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao và ngược lại.
4. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố vật tư cho sản xuất:
Đảm bảo tốt công tác cung ứng và sử dụng tiết kiệm vật liệu, chi tiết cấu kiện
cho sản xuất thi công xây lắp là nhân tố quan trọng đảm bảo cho các quá trình thi
công xây lắp được liên tục, đẩy nhanh tốc độ thi công xây lắp, tạo điều kiện nâng
cao năng suất lao động, chất lượng công tác xây lắp hạ giá thành xây lắp công
trình.
Để đảm bảo cho quá trình thi công xây lắp được liên tục đòi hỏi doanh
nghiệp phải có kế hoạch cung ứng vật tư sát thực và thực hiện tốt kế hoạch đó, mặc
khác đòi hỏi phải quản lý chặt chẻ vật tư cung ứng và sử dụng tiết kiệm trên cơ sở
Trang 19
Khoá luận tốt nghiệp
định mức tiêu hao vật tư đã được xác lập. Thực hiện tốt tình hình cung ứng vật tư có
ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì sản xuất thường xuyên, liên tục, góp phần tăng
tốc độ luân chuyển vốn.
Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình cung ứng và sử dụng vật tư của
doanh nghiệp đồng thời cũng là những nhân tố ảnh hưởng tới tình hình thực hiện
khối lượng công tác xây lắp. Vì vậy, thực chất của việc phân tích ảnh hưởng của
nhân tố vật tư tới khối lượng công tác xây lắp hoàn thành là việc phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch cung ứng và sử dụng vật tư của doanh nghiệp .
4.1. Phân tích tình hình cung ứng vật tư.
Đánh giá chung tình hình cung ứng vật tư được thực hiện trên cơ sở so sánh

giá trị vật tư dự trữ thực tế với giá trị vật tư dự trữ theo kế hoạch. Đảm bảo lượng
vật tư cung ứng theo kế hoạch nhưng không thực hiện tốt kế hoạch dự trữ vật tư
cũng có thể ảnh hưởng xấu tới sự đảm bảo sản xuất liên tục trong kỳ.
Phân tích chi tiết tình hình cung ứng vật tư thường được kiểm tra xem xét,
đánh giá tình hình cung ứng những loại vật tư chủ yếu về mặt hiện vật theo các khía
cạnh:
+ Đảm bảo cung ứng kịp thời và đồng bộ
+ Đảm bảo chất lượng vật tư cung ứng
+ Đảm bảo lượng vật tư dự trữ cần thiết.
Kiểm tra và đánh giá sự đảm bảo tính đầy đủ của việc cung ứng vật tư có thể
thực hiện trên cơ sở so sánh khối lượng vật tư thực tế cung ứng trong kỳ với kế
hoạch cung ứng vật tư trong mối quan hệ với tình hình hoàn thành khối lượng công
tác xây lắp và sử dụng vật tư thực tế.
Để đánh giá sự đảm bảo tính chất kịp thời của việc cung ứng vật tư cần so
sánh thời hạn vật tư đến công trường thực tế với thời hạn đã dự kiến và so sánh
lượng vật tư từng lần cung ứng với yêu cầu theo kế hoạch .
Khi phân tích tính đồng bộ của việc cung ứng vật tư cần kiểm tra sự cung
ứng các vật liệu sử dụng đồng thời trong khoảng thời gian theo yêu cầu của tiến độ
thi công và đảm bảo được chất lượng vật tư cần cung ứng. Sự đảm bảo được chất
lượng vật tư theo theo yêu cầu thiết kế sẽ quyết định chất lượng của công trình.
Trang 20
Khoá luận tốt nghiệp
Phân tích tình hình dự trữ vật tư trên cơ sở so sánh lượng vật tư hoặc thời
gian dự trữ giữa thực tế và kế hoạch dự trữ. Tuy nhiên sự tăng giảm khối lượng
công tác xây lắp sử dụng vật tư tiết kiệm hay lãng phí so với kế hoạch đều làm cho
số lượng vật tư cần thiết phải dự trữ có thay đổi. Nên ta so sánh trong mối quan hệ
với mức tiêu hao vật tư bình quân hằng ngày. Ta có công thức sau:
V
DT
= V

1
TKBQ
- V
0
TKBQ
*
M
1
v
(1)
M
0
v
V
1
TKBQ
: Lượng vật tư tồn kho bình quân thực tế
V
0
TKBQ
: Lượng vật tư tồn kho bình quân kế hoạch
V
TKBQ
: (Tồn đầu kỳ + Tồn cuối kỳ) /2
M
1
v : Mức tiêu hao vật tư bình quân hàng ngày thực tế
M
0
v : Mức tiêu hao vật tư bình quân hàng ngày kế hoạch

Mv = Nhu cầu vật tư trong kỳ / Số ngày làm việc trong kỳ theo kế hoạch.
Nếu ∆V
DT
≥ 0: Doanh nghiệp đảm bảo được lượng vật tư dự trữ theo kế
hoạch.
Nếu ∆V
DT
< 0 : Doanh nghiệp không đảm bảo được lượng vật tư dự trữ
theo kế hoạch.
Nếu ∆V
DT
≅ 0: Doanh nghiệp dự trữ vật tư hợp lý nhất.
Có thể đánh giá tình hình dự trữ vật thông qua việc đánh giá đảm bảo thời
gian dự tữ vật tư theo kế hoạch. Từ (1) ta có thể biến đổi thành:
DV
DT
=
V
1
TKBQ
-
V
0
TKBQ
* M
1
v
M
1
v M

1
v
Hay ∆V
DT
= (T
1
DT
– T
0
DT
)* M
1
v
Trong đó: T
DT
là thời gian dự trữ vật tư bình quân tính bằng ngày
T
1
DT
là thời gian dự trữ vật tư bình quân tính bằng ngày ở kỳ thực tế.
T
0
DT
là thời gian dự trữ vật tư bình quân tính bằng ngày ở kỳ kế hoạch
Nếu T
1
DT


T

0
DT
thì doanh nghiệp đã đảm bảo được lượng vật tư dự trữ theo
kế hoạch.
Nếu T
1
DT
<

T
0
DT
thì doanh nghiệp không đảm bảo được lượng vật tư dự trữ
theo kế hoạch.
Các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tới tình hình cung ứng vật tư của doanh nghiệp :
Trang 21
Khoá luận tốt nghiệp
- Kế hoạch thi công không chính xác nên việc tính toán nhu cầu vật liệu
không đúng khi lập và chỉnh kế hoạch cung ứng.
- Thi công không đúng tiến độ gây khó khăn cho công tác cung ứng vật tư.
- Công tác cung ứng vật tư có nhiều khó khăn về nguồn, về giá cả, phương
tiện vận chuyển, kho bãi
c. Phân tích nhân tố máy móc thiết bị thi công
Máy móc thiết bị thi công là bộ phận chủ yếu và quan trọng của doanh
nghiệp xây lắp vì chúng là tài sản cố định trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
thi công xây lắp. Cũng tương tự như nhân tố lao động, việc đảm bảo số lượng và
chất lượng máy, thời gian hoạt động có hiệu quả của máy và năng suất máy theo kế
hoạch ảnh hưởng trực tiếp đế́n khối lượng công tác xây lắp hoàn thành của doanh
nghiệp. Vì vậy khi phân tích ảnh hưởng của nhân tố máy móc thiết bị thi công tới
khối lượng công tác xây lắp hoàn thành cần phân tích tình hình sử dụng máy về mặt

số lượng, thời gian và năng suất.
• Phân tích tình hình đảm bảo số lượng máy móc thiết bị thi công
Sự đảm bảo số lượng máy thi công của doanh nghiệp xây lắp được thể hiện ở
đặc trưng sau:
- Đảm bảo về số lượng máy và chất lượng máy
- Đảm bảo tính kịp thời và đồng bộ trong việc bố trí máy móc, thiết bị thi
công ở công trường theo đúng tiến độ.
Khi phân tích tình hình đảm bảo số lượng máy cần so sánh số lượng và công
suất máy giữa thực tế và kế hoạch để đánh giá mức độ đảm bảo.
• Phân tích tình hình sử dụng máy móc thiết bị về mặt năng suất.
Năng suất của máy được biểu thị bằng khối lượng công tác xây lắp thi công
bằng máy đạt được trong một đơn vị thời gian.
Để đánh giá tình hình sử dụng máy thi công về mặt năng suất, so sánh năng
suất máy thực tế với kế hoạch hoặc với định mức.
 Các nhân tố ảnh hưởng tới tình hình sử dụng máy móc thiết bị thi
công
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tình hình sử dụng máy móc thiết bị thi công
của doanh nghiệp . Những nhân tố chủ yếu là:
Trang 22
Khoá luận tốt nghiệp
 Tình trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị thi công: Chất lượng
công tác bảo dưỡng, duy tu máy thường xuyên cũng như sửa
chữa máy thi công ảnh hưởng tới tình trạng kỹ thuật của máy và
do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng máy.
 Trình độ tay nghề của công nhân điều khiển máy.
 Tình hình cung ứng vật tư cho sản xuất thi công
 Sự hợp lý của các giải pháp thiết kế công trình.

Trang 23
Khoá luận tốt nghiệp

Phần II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KHỐI LƯỢNG
CÔNG TÁC XÂY LẮP TẠI CÔNG TY XÂY LẮP VÀ
CÔNG NGHIỆP TÀU THUỶ MIỀN TRUNG
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY XÂY
LẮP VÀ CÔNG NGHIỆP TÀU THUỶ MIỀN TRUNG.
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ
CỦA CÔNG TY XÂY LẮP VÀ CÔNG NGHIỆP TÀU THUỶ MIỀN TRUNG:
1. Quá trình hình thành và phát triển:
Công Ty Xây Lắp & Công Nghiệp Tàu Thuỷ Miền Trung trước đây với tên
cũ là Công ty Điện Chiếu sáng Đà nẵng, được thành lập theo quyết định 239/QĐ-
UB, ngày 22/3/1993 của Uỷ ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, giấy phép
đăng ký số 106921 của Sở kế hoạch đầu tư trên cơ sở xác nhập hai đơn vị:
- Xí nghiệp Điện Chiếu sáng thuộc công ty công trình đô thị thành lập năm
1992.
- Xí nghiệp Cơ Khí 2/9 được thành lập từ năm 1975.
Ngày 6/9/1993, theo nghị định 338/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là
chính phủ), công ty được thành lập lại doanh nghiệp Nhà Nước theo quyết định
1396/QĐ-UB của của Uỷ ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng uỷ quyền cho
Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Đà Nẵng trực thuộc quản lý.
Đầu năm 1997, thực hiện nghị quyết của Quốc Hội tỉnh Quảng Nam và
thành phố Đà Nẵng trực thuộc Sở Giao Thông Công Chính thành phố Đà Nẵng từ
tháng 2/1997.
Căn cứ quyết định số 711/2003/QĐ - BGTVT ngày 18/3/2003 của Bộ trưởng
Bộ GTVT v/v đổi tên Công Ty Điện Chiếu Sáng Đà Nẵng làm đơn vị thành viên
của Tổng Công Ty Công Nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam.
Căn cứ quyết định số: 305b/QĐ - TC ngày 30/4/2003 của Công Ty Công
Nghiệp Tàu Thuỷ Việy Nam v/v đổi tên Công Ty Điện Chiếu Sáng Đà Nẵng thành
Công Ty Xây Lắp & Công Nghiệp Tàu Thuỷ Miền Trung .
Trang 24

Khoá luận tốt nghiệp
Khi mới thành lập công ty đã gặp nhiều khó khăn nhưng nhờ xác định đúng
hướng và đầu tư hợp lý với công nghệ cao, đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng địa
bàn hoạt động trong phạm vi cả nước, lại được sự ủng hộ của quý cấp từ Trung
Ương đến địa phương cũng như khách hàng trong và ngoài nước công ty đã tự
khẳng định mình và phát triển rất tốt.
Tuy công ty mới đổi tên chưa được một năm nhưng các chứ năng của công ty
vẫn không thay đổi.
Công ty có tên giao dịch quốc tế là:
MIDLE AREA CONSTRUCTION AND SHIPBUILDING INDUSTRY
COMPANY
Tên viết tắt: MACSHINCO
Những thành tựu của công ty trong những năm qua
* Về lĩnh vực khảo sát thiết kế, lập dự án: Công ty có đơn vị thành viên là
công ty tư vấn thiết kế và quảng cáo đã tham gia lập dự án và khảo sát thiết kế hầu
hết các công trình điện chiếu sáng trên địa bàn TP Đà Nẵng và các tỉnh lân cận,
khảo sát thiết kế một số công trình đường dây cao hạ thế và trạm biến áp, điện động
lực cho các nhà máy sản xuát công nghiệp của các tỉnh. Công ty đã thiết kế trụ
chiếu sáng cao đến 55 mét, đặc biệt là trụ cao 30 met nâng hạ tự động bằng thuỷ lực
đã đưa vào sản xuất thành công được các nghành chức năng đánh giá cao, thiết kế
các máy công nghiệp như: máy cán tôn sóng các sản phẩm do công ty thiết kế
đèo đảm bảo tính kỹ thuật, chất lượng và thẩm mỹ cao.
* Về lĩnh vực thi công xây lắp công trình:
Riêng trong lĩnh vực điện chiếu sáng, tín hiệu giao thông, điện cao hạ thế
công ty chúng tôi đã thi công rất nhiều công trình trên pham vi toàn quốc. Một số
công trình điển hình: lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng với 12 trụ cao 30 mét tại cảng
Container Tân Thuận Thành Phố Hồ Chí Minh ( trụ do công ty tự sản xuất và nhúng
kẽm ) được khách hàng nước ngoài đánh giá cao về kỹ thật và mỹ thuật. Công trình
điện chiếu sáng đường Nguyễn Chí Thanh - Xô Viết Nghệ Tĩnh tại Thành Phố Hồ
Chí Minh, công trình chiếu sáng Quốc lộ 1A Đoạn ngã ba Hoa Cầm đến Liên

Chiểu, công trình chiếu sáng đường Liên Chiểu Thuận Phước và phần lớn công
Trang 25

×