Tải bản đầy đủ (.docx) (84 trang)

quyền liên quan đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (671.27 KB, 84 trang )






QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM
 !




"#$%&'(
  !
QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM
)*+,) /01.234.$ ')./,) 5/67/)8.$
/'9:/;<../ +=.2/;)./
1>$?!%<.'6
2
 !


Để hoàn thành được khóa luận tốt
nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
lời đầu tiên trong khóa luận tốt nghiệp
này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn
chân thành đến cô giáo – Thạc só Hồ Thò
Vân Anh đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn,


chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực tập và thực hiện khóa luận tốt
nghiệp này.
Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô
giáo công tác và giảng dạy tại Khoa Luật
–Đại học Huế, đã tận tình truyền đạt
những kiến thức, kinh nghiệm quý báu
trong suốt quá trình học tập tại đây, đó
là hành trang vô cùng quý giá giúp em
vững vàng, tự tin trong công việc cũng như
trong cuộc sống.
Em xin được cảm ơn chú Tôn Thất Cẩm
Đoàn công tác tại Tòa Án Nhân Dân
tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện
tốt nhất cho em trong quá trình thực tập
và hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
khóa luận này.
3
Cuối cùng bằng sự biết ơn chân thành
em xin được cảm ơn sự dạy dỗ, chăm sóc,
yêu thương của cha mẹ đã tạo mọi điều
kiện để em có thể được học tập. Xin cảm
ơn các anh chò, bạn bè đã động viên,
giúp đỡ em trong quá trình học tập và
thực hiện khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày tháng
năm 2014
Sinh viên
Hoàng Thò Vinh

4
@AA
5
6
9B@CB
9D./7E>5/)57FG,)87.2/) 7HIJ5=)
Thưởng thức các giá trị nghệ thuật và làm phong phú đời sống văn
hóa, tinh thần là nhu cầu cơ bản của con người và đó cũng là một yếu tố
xuyên suốt lịch sử loài người. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi đời
sống con người ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng cao
thì nhu cầu thưởng thức đó lại càng lớn và dường như “nó”đã trở thành
món ăn tinh thần không thể thiếu đối với bản thân của mỗi con người. Tuy
nhiên, việc ghi nhận và bảo hộ quyền của những người đóng góp sáng tạo
trí tuệ của mình cho sự thỏa mãn nhu cầu cơ bản ấy dường như vẫn là một
vấn đề mới mẻ. Nếu như quyền tác giả chỉ mới lần đầu tiên được bảo hộ
trên phạm vi thế giới kể từ cuối thế kỷ XIX (với sự ra đời Công ước Berne
năm 1886) thì đối với quyền liên quan dành cho những người thể hiện
chuyển tải, các tác phẩm nghệ thuật đến công chúng, sự bảo hộ quốc tế chỉ
được thiết lập sau đó gần một thế kỷ, và cho đến nay vẫn đang là vấn đề
gây nhiều tranh luận.
Ở Việt Nam, pháp luật về sở hữu trí tuệ được hình thành từ những
thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX. Trong giai đoạn đổi mới, hội nhập
quốc tế, pháp luật về sở hữu trí tuệ nước ta đã có bước phát triển quan
trọng, thể hiện qua các quy định về sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong
các Hiến Pháp đặc biệt là Hiến Pháp năm 1992, qua các chế định trong
Bộ luật Dân sự, được cụ thể hóa qua Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009), Pháp lệnh về giống cây trồng và các nghị định,
quyết định, thông tư của Chính phủ, các Bộ, các ngành quy định chi tiết,
hướng dẫn thi hành các luật trên từng mặt, lĩnh vực cụ thể và qua việc
Nhà nước ta gia nhập và ký kết nhiều điều ước quốc tế đa phương và

song phương về sở hữu trí tuệ [25; 6]. Tuy nhiên, đối với nước ta, quyền
sở hữu trí tuệ vẫn còn là vấn đề tương đối mới mẻ và phức tạp, mà đặc
7
biệt là quyền liên quan đến quyền tác giả càng không thể là những khái
niệm quen thuộc. Có thể nói, quyền liên quan đến quyền tác giả còn
tương đối mới mẻ với phần đông ngườidân cũng như một phần các luật
gia Việt Nam.
Song, hội nhập vào một thế giới đang toàn cầu hoá mạnh mẽ đòi hỏi
pháp luật quốc gia phải tương thích với những quy tắc của luật quốc tế,
điều đó có nghĩa là chúng ta cần bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả
với mức độ và những nguyên tắc mang tính chất toàn cầu như nhiều quốc
gia khác. Mặt khác, quy định quyền liên quan đến quyền tác giả trong pháp
luật Sở hữu trí tuệ nước ta còn là đòi hỏi tất yếu từ bên trong. Bảo vệ có
hiệu quả quyền lợi chính đáng của những nghệ sĩ biểu diễn, những nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình, các tổ chức phát sóng… sẽ khuyến khích hoạt
động nghệ thuật của họ,góp phần đưa các sản phẩm trí tuệ tới xã hội, làm
nâng cao nhận thức về văn hóa, đáp ứng nhu cầu về thông tin, giải trí ngày
càng cao của xã hội. Đó cũng là điều kiện để nền văn hóa phong phú, đặc
sắc và lâu đời của dân tộc ta được giữ gìn, phát huy và giới thiệu đến thế
giới. Ngoài ra, bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền liên quan
đến quyền tác giả nói riêng còn giúp cho chúng ta những điều kiện để xây
dựng và phát triển nền kinh tế tri thức non trẻ, thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế một cách hiệu quả, bền vững.
Do vậy, pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam ngay từ khi mới hình thành đã
dành sự quan tâm đáng kể tới các quyền liên quan đến quyền tác giả bên cạnh
các quy định về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với
giống cây trồng. Tuy nhiên, với một hệ thống các quy định được cho là còn
đang trong quá trình hoàn thiện, lại đứng trước thực tế phát triển nhanh chóng
của ngành công nghiệp giải trí trong thời đại số hóa, pháp luật về quyền liên
quan đến quyền tác giả đã bộc lộ những hạn chế nhất định, xuất hiện những

vấn đề thực tiễn cần được xem xét và giải quyết, đòi hỏi không ngừng đổi mới
và hoàn thiện các quy định của lĩnh vực pháp luật này. Mặt khác, đi đôi với sự
8
phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của các chủ thể của quyền liên quan đến
quyền tác giả là các hoạt động xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác
phẩm của các chủ thể quyền này. Đặc biệt, cùng với sự bùng nổ của công
nghệ thông tin, sự phổ biến của Internet trên quy mô toàn cầu và khả năng tiếp
cận dễ dàng các sản phẩm nghệ thuật bằng các phương tiện kĩ thuật số, các tác
phẩm được truyền đạt với rất nhiều cách thức đa dạng, được sử dụng ở bất cứ
thời điểm và không gian nào, khiến vi phạm bản quyền có điều kiện phát
triển, quyền liên quan đến quyền tác giả có thể được coi là một đề tài “nóng”
của sở hữu trí tuệ hiện nay.Hơn nữa, với bối cảnh hội nhập đa chiều, đa lĩnh
vực của nước ta trong giai đoạn này cũng khiến việcnghiên cứu tìm hiểu về
quyền liên quan đến quyền tác giả càng trở nên cấp thiết.
Vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài làm khóa luận tốt nghiệp là: “Quyền
liên quan đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
9@K7ID7/.2/) 7H
Khoá luận hướng tới việc làm rõ cơ sở lý luận của quyền liên quan
đến quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam, phân tích các quy
định pháp luật hiện hành điều chỉnh quyền liên quan đến quyền tác giả
cũng như phản ánh thực tiễn áp dụng các quy định này. Trên cơ sở đó, tác
giả đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền
liên quan đến quyền tác giả, nâng cao khả năng thực thi của chúng, bảo hộ
có hiệu quả các quyền liên quan đến quyền tác giả.
?9L.//L./.2/) 7HIJ5=)
Quyền liên quan đến quyền tác giả là một khái niệm pháp lý tương đối
mới ở Việt Nam. Việc xuất hiện các quy định về quyền liên quan đến quyền
tác giả xuất phát từ việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới như
gia nhập ASEAN, APEC, WTO…sự phát triển kinh tế, xã hội kéo theo sự
thay đổi của khung pháp lý. Trước thực tế cần phải có đầy đủ các quy định

về lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền liên quan đến quyền tác
giả nói riêng chúng ta đã ban hành đạo luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ.
9
Tuy nhiên, việc nghiên cứu các quy định về quyền liên quan đến quyền tác
giả hiện nay chưa có nhiều. Có chăng là các bài viết nghiên cứu từng yếu tố
nhỏ của quyền liên quan đến quyền tác giả như quyền của người biểu diễn
như bài viết của tác giả Hoàng Hoa (2009), “Quyền của người biểu diễn”,
, Hà Nội….hay các bài nghiên cứu mang tính chất
chung với cả quyền tác giả như bài viết của Hoàng Minh Thái (2006), “Một
số quy định về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả trong Bộ
luật Dân sự và luật Sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (9); Mai
Thanh (2005), “Bàn về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên cơ sở Bộ
luật Dân sự và luật Sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,(3)
Trong khi đó, tình hình vi phạm quyền liên quan đến quyền tác giả ở
nước ta vẫn ngày một gia tăng và chưa được xử lý triệt để. Do vậy, đòi hỏi
phải có sự nghiên cứu đầy đủ, cụ thể, rõ ràng để có cái nhìn khái quát, toàn
diện đồng thời đưa ra kiến nghị về những giải pháp nhằm đấu tranh phòng
ngừa có hiệu quả nạn vi phạm quyền liên quan đến quyền tác giả ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay
!9M)50N.2,=>/OP,).2/) 7H
Quyền liên quan đến quyền tác giả là một trong bốn loại quan hệ cơ
bản thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ, do vậy đây là một
nội dung nghiên cứu tương đối rộng, bao hàm nhiều vấn đề. Tuy nhiên, một
số vấn đề ở khía cạnh nào đó lại mang nhiều tính chất hành chính, như thủ
tục đăng ký các quyền liên quan đến quyền tác giả, hoặc có thể được
nghiên cứu từ góc độ của một chế định khác trong Luật Dân sự, như hợp
đồng chuyển giao quyền liên quan đến quyền tác giả cũng là một bộ phận
của chế định hợp đồng dân sự… Do đó, trong khuôn khổ của khóa luận, tác
giả tập trung vào các vấn đề lý luận về quyền liên quan đến quyền tác giả;
các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về chủ thể, đối tượng, nội

dung, giới hạn quyền liên quan đến quyền tác giả và xem xét tình hình thực
thi trên thực tế các quy định này.
10
Với phạm vi nghiên cứu như trên, tác giả xác định đối tượng nghiên
cứu chủ yếu của khóa luận bao gồm:
- Các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành về quyền
liên quan đến quyền tác giả;
- Bên cạnh đó tác giả cũng đi vào tìm hiểu một số quy định về quyền
liên quan đến quyền tác giả của các điều ước quốc tế phổ biến và pháp luật
một số quốc gia để làm rõ thêm đối tượng nghiên cứu;
- Tình hình thực thi các quy định pháp luật về quyền liên quan đến
quyền tác giả tại Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về quyền liên quan đến
quyền tác giả.
Q9/0R.2>/*>.2/) 7H
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, khóa luận sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội nói chung, khoa
học pháp lý nói riêng, đó là các phương pháp lịch sử, hệ thống, phân tích,
tổng hợp, so sánh. Các phương pháp này được kết hợp nhằm làm rõ các
quy định của pháp luật thực định, nhìn nhận, đánh giá chúng trong mối liên
hệ với pháp luật quốc tế cũng như trong thực tiễn áp dụng.
S9T.2/UGVWVX.,=5/675)Y.7FGIJ5=)
Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về quyền liên quan đến
quyền tác giả, qua việc so sánh đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật của
các cơ quan có thẩm quyền để tìm ra những vướng mắc, thiếu sót, qua đó đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền
liên quan đến quyền tác giả, nâng cao khả năng thực thi của chúng, bảo hộ có
hiệu quả các quyền liên quan đến quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay.
Khóa luận có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

về pháp luật, làm tài liệu nghiên cứu cho công tác đào tạo đại học trong lĩnh
vực Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền liên quan đến quyền tác giả nói riêng.
Z9[M7K7\/]GVX.
11
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu
tham khảo, khóa luận gồm có 2 chương:
/0R.2 $Những vấn đề lý luận về quyền liên quan đến quyền tác
giả theo quy định của Pháp luật Việt Nam.
/0R.2$ Thực tiễn áp dụng về quyền liên quan đến quyền tác giả
tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
12
[9B^%
/0R.2 9_`aTa
b"a#bb"acde
b"fc@
9 9/*).)8PghJ.V) gG.I.ghJ.5*72)i
1.1.1.Khái niệm quyền liên quan đến quyền tác giả
theo quy định của pháp luật Việt Nam
Khái niệm quyền liên quan đến quyền tác giả được quy định tại khoản
3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 như sau: “Quyền liên quan đến quyền
tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm,
ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hóa”.
Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự (BLDS) và Luật Sở hữu trí tuệ
về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả cũng giải thích
tương tự tại khoản 2 Điều 3 về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đến
quyền tác giả theo đó quyền liên quan đến quyền tác giả được hiểu là “các
quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn;các quyền của nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình; các quyền của tổ chức phát sóng đối với chương

trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được quy
định tại Điều 745,746, 747 và Điều 748 của Bộ luật Dân sự và Điều 29, 30
và Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ”.
Như vậy, quyền liên quan đến quyền tác giả được bảo hộ cho những
cá nhân, tổ chức hoạt động trong quá trình đưa tác phẩm đến công chúng.
Đây là sự khác biệt giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác
giả. Do vậy bảo hộ quyền này là bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của
những tổ chức, cá nhân đối với những sản phẩm mà họ thực hiện mà sản
phẩm của họ không phải là tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được
13
bảo hộ với danh nghĩa là quyền tác giả.
So với những quyền liên quan đến quyền tác giả được bảo vệ ở cấp độ
toàn cầu theo các điều ước quốc tế như Công ước Rome hay Hiệp ước của
WIPO về biểu diễn và bản ghi âm năm 1996 (WPPT), khái niệm quyền liên
quan đến quyền tác giả được quy định trong pháp luật Việt Nam có phạm
vi rộng hơn, bao gồm cả quyền của nhà sản xuất bản ghi hình và quyền của
tổ chức phát sóng đối với tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
1.1.2. Khái niệm quyền liên quan đến quyền tác giả trong khoa học
pháp lý
Quyền liên quan đến quyền tác giả cũng như nhiều khái niệm khác
trong khoa học pháp lý thường được hiểu theo hai phương diện:
Thứ nhất, đó là các quyền nhân thân và quyền tài sản của các cá nhân,
tổ chức thực hiện việc chuyển tải, truyền đạt tác phẩm tới công chúng
thông qua việc biểu diễn tác phẩm; sản xuất bản ghi âm, bản ghi hình và
phát sóng tác phẩm.
Thứ hai, đó là tổng hợp các quy định pháp luật nhằm xác định và bảo
vệ các quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân, tổ chức đối với cuộc
biểu diễn tác phẩm; cá nhân, tổ chức sản xuất bản ghi âm, bản ghi hình; tổ
chức phát sóng cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, phát sóng tác phẩm.
99'6/L./5/=./,=>/*55j)k.7FG/85/M.27*7,l.mi.>/*>

VX5,JghJ.V) gG.I.ghJ.5*72)i5O))85GP
Tại Việt Nam tư tưởng về quyền tự do sáng tạo nghệ thuật, khoa học
đã được thể hiện trong các văn bản pháp luật từ Hiến pháp 1946 đến Hiến
pháp 1992. Tư tưởng này tiếp tục được ghi nhận và đồng thời khẳng định
việc Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền tác giả, Điều 60 Hiến pháp 1992
quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh,
sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê
bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác. Nhà
nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”. Văn bản pháp lý
đầu tiên quy định chi tiết về vấn đề quyền tác giả là Nghị định 142/CP ngày
14
14/11/1986. Nghị định 142/CP sau một thời gian áp dụng đã không còn phù
hợp với nhu cầu phát triển của đất nước vì vậy ngay từ năm 1990 Bộ văn
hóa thông tin nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã được giao soạn
thảo Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả để thay thế. Đến năm 1994, chúng ta
đã hoàn thành xong việc soạn thảo Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả và sau
đó được Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 2/12/1994. Pháp lệnh
gồm 7 Chương 47 Điều quy định khá chi tiết về quyền tác giả và phù hợp
với thông lệ quốc tế.
Pháp lệnh trên thi hành chưa được một năm, thì năm 1995 Bộ luật
Dân sự được ban hành, trong đó có dành riêng phần VI quy định về bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan đến
quyền tác giả. Tại BLDS năm 1995 các quy định về quyền tác giả, quyền
liên quan đến quyền tác giả được tập trung tại phần VI “Quyền sở hữu trí
tuệ và chuyển giao công nghệ”, Chương 1 “Quyền tác giả”, Mục 4
“Quyền, nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng âm
thanh, đĩa âm thanh, băng hình, băng đĩa, tổ chức phát thanh, truyền
hình”. Nhìn chung, các quy định này bao quát khá toàn diện các vấn đề, từ
định nghĩa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, tổ chức ghi
âm, ghi hình, tổ chức phát thanh truyền hình, cho đến quyền và nghĩa vụ,

địa vị pháp lý của họ.
Để hướng dẫn thi hành các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan
đến quyền tác giả tại BLDS nhiều văn bản dưới luật đã ban hành. Tuy
nhiên, sau một thời gian áp dụng thì các quy định trên bộc lộ những hạn
chế, bất cập không phù hợp với tình hình thực tiễn. Do đó, đứng trước nhu
cầu cấp bách cần phải có một hành lang pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ
đáp ứng được các quy tắc chung của thế giới, đủ điều kiện để gia nhập
WTO của Việt Nam, Bộ khoa học và Công nghệ đã được Chính phủ giao
chủ trì xây dựng Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT). Trong một thời gian
tương đối ngắn, từ ngày 27/12/2004 thành lập Ban soạn thảo liên ngành
15
đến ngày 7/2/2005 thì bản Dự thảo Luật SHTT (lần 2) đã được hoàn chỉnh
để gửi xin ý kiến. Dự thảo này gồm 14 Chương với 479 Điều điều chỉnh
toàn diện quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu
công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới. Tại kỳ họp Quốc hội
khóa X, kỳ họp thứ 10, ngày 29/11/2005 Luật SHTT (luật số
50/2005/QH10) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày
01/07/2006. Ngay sau khi Luật SHTT 2005 ra đời và đi vào thực tiễn điều
chỉnh các quan hệ có liên quan trong xã hội, Chính phủ, các Bộ và cơ quan
có liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn về việc thực hiện các quy
định của Luật SHTT 2005. Trong lĩnh vực quyền liên quan đến quyền tác
giả có các văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT 2005 như Nghị định số
100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về
quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả.
Trải qua hơn ba năm thi hành kể từ ngày có hiệu lực, một số các quy
định trong Luật SHTT 2005 đã không còn phù hợp với thực tế. Chính các
quy định đó đã gây cản trở cho hoạt động của các chủ thể liên quan tới
quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền liên quan đến quyền tác giả. Vì
vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT 2005 là cần thiết.

Do đó, ngày 19/06/2009 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT
2005 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010.
9?9n7I)kP7FGghJ.V) gG.I.ghJ.5*72)i
1.3.1. Hoạt động của các chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả
chính là hành vi sử dụng tác phẩm đã có
Đúng như tên gọi của nó, quyền liên quan đến quyền tác giả có mối
liên hệ mật thiết với quyền tác giả mà biểu hiện dễ thấy nhất là việc tác
phẩm đã được tác giả sáng tạo chính là cơ sở để các chủ thể quyền liên
quan đến quyền tác giả tiến hành các hoạt động nghề nghiệp của mình, từ
đó phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Hành vi sáng tạo nghệ thuật làm phát
16
sinh các quyền mà pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ. Ví dụ như người ca sĩ
trình bày các ca khúc đã được sáng tác bởi một hay nhiều nhạc sĩ hay với
người nhạc công đó là sự thể hiện những bản nhạc đã được viết bởi các nhà
soạn nhạc. Với diễn viên cũng vậy, dù là trong một vở kịch, một bài múa
hay trước máy quay diễn xuất của họ không thể không dựa trên một kịch
bản có sẵn từ trước, mặc dù kịch bản ấy có thể chi tiết đến từng lời thoại,
động tác hay dành rất nhiều “đất trống” cho người diễn viên tự do ứng biến
bằng khả năng diễn xuất của mình. Các nhà sản xuất băng đĩa càng không
có gì để ghi thu lại một khi không có tác phẩm nào để người biểu diễn có
thể trình bày…Điều đó cho ta thấy hoạt động của những người biểu diễn,
nhà sản xuất bản ghi hay tổ chức phát sóng không thể tách rời những tác
phẩm đã có.
“Hoạt động sử dụng những tác phẩm đã có của các chủ thể quyền
liên quan đến quyền tác giả là một dạng hoạt động sử dụng đặc thù, không
thể tìm thấy ở các chủ thể khác cũng sử dụng tác phẩm” [21; 34]. Tính đặc
thù thể hiện ở mục đích, tính chất, kết quả… của hành vi sử dụng. Công
chúng sử dụng các tác phẩm chủ yếu nhằm các mục đích tinh thần mang
tính chất cá nhân. Ví dụ như đọc sách để giải trí, để nâng cao hiểu biết của
mình, xem tranh để thưởng thức nghệ thuật hội họa hay hát một bài hát để

thư giãn, giải tỏa căng thẳng…Trong khi đó các nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản
xuất bản ghi và tổ chức phát thanh, truyền hình đều hướng tới mục đích
làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của công chúng. Những mục đích này của
họ thường mang tính lợi nhuận và nghề nghiệp. Hành vi sử dụng của họ do
đó cũng mang tính chuyên nghiệp và đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt như
chất giọng, khả năng diễn xuất, kỹ thuật ghi âm, phát sóng… Kết quả việc
sử dụng tác phẩm của các chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả cũng
là một điểm rất đặc biệt, đó là việc tạo ra những tác phẩm sáng tạo nghệ
thuật mới trên cơ sở tác phẩm đã có nhưng không thuộc phạm vi bảo hộ
của quyền tác giả, mà bản chất của nó là bước trung gian giữa tác phẩm
17
nghệ thuật của tác giả với công chúng.
Như vậy, hoạt động của chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả là
hành vi sử dụng tác phẩm đã có, đó là một sự sử dụng đặc biệt mang tính
sáng tạo nghệ thuật nhất định, tạo nên cầu nối đưa tác phẩm đến công
chúng. Do đặc điểm này, chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả được
pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền lợi bằng một nhóm những quy định
riêng biệt. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng tác phẩm các chủ thể này vẫn
phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
của tác phẩm mà họ sử dụng theo quy định pháp luật như các chủ thể có
hành vi sử dụng tác phẩm khác.
1.3.2. Đối tượng quyền liên quan đến quyền tác
giả được bảo hộ khi có tính nguyên gốc
Tính chất này của đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả được
xem xét trên hai phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, tính nguyên gốc được xác định trên cơ sở lao động sáng tạo
mang dấu ấn cá nhân của chủ thể.
Việc quyền liên quan đến quyền tác giả phát sinh trên cơ sở hành vi sử
dụng tác phẩm đã có từ trước không ảnh hưởng đến tính nguyên gốc của
các đối tượng mà nó bảo hộ. Không khó để nhận ra rằng sự trình diễn của

người nghệ sĩ là kết quả của những cống hiến nghệ thuật mang tính chất
sáng tạo của họ. Cùng là một tác phẩm, nhưng mỗi người biểu diễn sẽ thể
hiện theo cách riêng của mình, thậm chí cũng chính người nghệ sĩ ấy nhưng
mỗi lần biểu diễn lại đem đến những cảm nhận riêng cho khán giả. Chính
sự sử dụng tác phẩm một cách sáng tạo và mang đậm dấu ấn cá nhân của
chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả đòi hỏi việc sử dụng ấy cũng
phải được pháp luật bảo vệ.
Thứ hai, tính nguyên gốc của quyền liên quan đến quyền tác giả còn
được thể hiện ở việc quyền liên quan đến quyền tác giả chỉ được xác định
theo các đối tượng của quyền liên quan được tạo ra lần đầu tiên.
Việc xác định tính nguyên gốc từ góc độ này thường được áp dụng đối
18
với các bản ghi, chương trình phát thanh truyền hình. Cụ thể, quyền liên
quan đối với bản ghi âm, ghi hình chỉ được xác định cho người tạo ra bản
ghi âm, ghi hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các
âm thanh, hình ảnh khác; quyền liên quan đối với tổ chức phát sóng chỉ
được xác định cho tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng. Theo
đó, trong trường hợp: một công ty ghi âm ký hợp đồng thu âm phần biểu
diễn của ca sĩ dưới dạng đĩa CD (compact disk), sau đó một công ty khác
sao chép lại đĩa CD đó và cũng đưa ra thị trường. Như vậy, cùng một phần
trình diễn nhưng sẽ có hai dạng bản ghi âm, tuy nhiên, chỉ dạng bản ghi thứ
nhất mới được coi là có tính nguyên gốc và là đối tượng bảo hộ của quyền
liên quan đến quyền tác giả, dạng bản ghi thứ hai không đảm bảo tính
nguyên gốc và không những không được bảo hộ mà còn bị coi là hành vi
xâm phạm quyền liên quan đến quyền tác giả và tùy theo tính chất, mức độ
của sự xâm phạm mà sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tương tự,
“một tổ chức phát sóng đã đầu tư tài chính và các điều kiện cần thiết để
làm một chương trình truyền hình hoặc đã mua bản quyền phát sóng trực
tiếp một sự kiện văn hóa nào đó… thì việc phát sóng các chương trình đó
của họ được xác định là thỏa mãn điều kiện về tính nguyên gốc của đối

tượng quyền liên quan đến quyền tác giả và nếu tổ chức phát sóng nào
khác tiến hành tiếp sóng, phát sóng đồng thời hoặc phát lại chương trình
này thì việc phát sóng của tổ chức thứ hai này là không có tính nguyên gốc
và cũng như trường hợp trên, bị xác định là hành vi xâm phạm quyền liên
quan đến quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ” [20; 41].
Nếu như đặc trưng thứ nhất của quyền liên quan đến quyền tác giả
(tính chất sử dụng các tác phẩm đã có) là điểm quan trọng để phân biệt nó
với các loại quyền sở hữu trí tuệ khác, thì tính nguyên gốc của quyền liên
quan đến quyền tác giả cho phép xác định đâu là quyền liên quan đến
quyền tác giả được pháp luật bảo hộ và khi nào xảy ra sự xâm phạm quyền
liên quan đến quyền tác giả. Khi tính nguyên gốc được thỏa mãn, ta có thể
19
xác định được đối tượng được bảo hộ bởi quyền liên quan đến quyền tác
giả, chủ thể của quyền liên quan đến quyền tác giả và ngược lại, việc không
đảm bảo tính nguyên gốc đó là căn cứ để nhận định đã có hành vi xâm
phạm đến quyền liên quan đến quyền tác giả.
1.3.3. Quyền liên quan đến quyền tác giả chỉ được bảo hộ trong thời
hạn nhất định, kể cả các quyền nhân thân
Đây là một đặc điểm riêng biệt của quyền liên quan đến quyền tác giả
trong sự so sánh với quyền tác giả và cả quyền sở hữu công nghiệp. Đối với
quyền tác giả, các quyền tài sản và các quyền nhân thân có thể chuyển dịch
(quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ với thời hạn thông thường là suốt
cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết; các quyền nhân thân gắn
liền với tác giả không thể chuyển dịch được bảo hộ vô thời hạn. Đối với
quyền sở hữu công nghiệp, thời hạn bảo hộ phần lớn là xác định (có thể gia
hạn hoặc không), tuy nhiên, đối với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật
kinh doanh thời hạn bảo hộ là không xác định và sẽ kéo dài đến khi nào các
đối tượng này còn đáp ứng được các điều kiện bảo hộ. Như vậy, thông
thường thì luôn có một số đối tượng của quyền tác giả và quyền sở hữu
công nghiệp được bảo hộ với thời hạn không xác định. Tuy nhiên, đối với

quyền liên quan đến quyền tác giả, sự bảo hộ trên phạm vi quốc tế cũng
như pháp luật sở hữu trí tuệ của hầu hết các quốc gia đều giới hạn thời hạn
bảo hộ ở mức độ nhất định, thường là 50 năm kể từ khi các đối tượng (cuộc
biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng) được định hình hoặc công
bố. Theo quy định tại Điều 34 Luật SHTT thì thời hạn bảo hộ quyền liên
quan đến quyền tác giả bao gồm quyền của người biểu diễn, quyền của nhà
sản xuất bản ghi âm, ghi hình và quyền của tổ chức phát sóng là 50 năm.
1.3.4. Quyền liên quan đến quyền tác giả được bảo hộ trên nguyên
tắc không làm phương hại đến quyền tác giả
Hình thành sau khi quyền tác giả đã được bảo hộ một cách phổ biến
và rộng rãi, lại mang bản chất gắn bó mật thiết với quyền tác giả, do vậy
20
việc bảo hộ quyền liên quan bao giờ cũng được xem xét trong mối quan hệ
với quyền tác giả và dựa trên nguyên tắc không gây bất kỳ sự phương hại
nào có thể đối với quyền này.
Đặc điểm này được thể hiện rõ ràng trong nhiều điều ước quốc tế về
quyền liên quan đến quyền tác giả. Công ước Rome ngay tại Điều 1 đã quy
định: “Sự bảo hộ theo Công ước này là thống nhất và không làm ảnh hưởng
theo bất kỳ cách nào đến sự bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn
học nghệ thuật. Do vậy, không một quy định nào của Công ước này có thể
được giải thích làm phương hại tới sự bảo hộ đó”. Mối quan hệ giữa quyền
liên quan được bảo hộ theo Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi
âm (1996) với quyền tác giả cũng được giải quyết theo nguyên tắc như
trên: “Việc bảo hộ được cấp theo Hiệp ước này vẫn sẽ đầy đủ và không
ảnh hưởng tới bảo hộ bản quyền tác giả các tác phẩm văn học và nghệ
thuật. Vì vậy, không một quy định nào của Hiệp ước có thể bị cho là
phương hại đến việc bảo hộ đó”.
Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng tuân thủ nguyên tắc trên trong việc
bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả, thể hiện qua một số quy định như:
“Cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh

mang chương trình được mã hóa chỉ được bảo hộ…với điều kiện không gây
phương hại đến quyền tác giả”(khoản 4 Điều 17 Luật SHTT), hay: “Quyền
liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương
trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định
hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả” (khoản 2
Điều 6 Luật SHTT).
Đặc điểm này một lần nữa khẳng định bản chất của quyền liên quan
đến quyền tác giả: phát sinh trên cơ sở hành vi sử dụng tác phẩm đã có.
Quyền liên quan đến quyền tác giả có mối liên hệ mật thiết với quyền tác
giả. Hành vi của chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả trong việc sử
dụng tác phẩm, chuyển tải tác phẩm tới công chúng đòi hỏi cần phải có sự
cho phép của tác giả bởi lẽ các hành vi của chủ thể quyền liên quan đến
quyền tác giả nếu không được sự cho phép của tác giả có thể sẽ làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của tác giả như hình ảnh,danh dự, nhân phẩm và cả
21
quyền lợi vật chất của tác giả nữa. Mặt khác, nó đáp ứng mong muốn của
tác giả trong việc phổ biến tác phẩm của mình đến khán giả một cách rộng
rãi, cũng như đem lại một khoản thù lao xứng đáng với công sức sáng tạo
của tác giả. Nếu việc sử dụng tác phẩm không đảm bảo tôn trọng quyền tác
giả (không được sự cho phép của tác giả) thì đó bị coi là hành vi xâm phạm
quyền tác giả và hành vi này không làm phát sinh quyền liên quan đến
quyền tác giả được bảo hộ theo quy định của pháp luật.
9!9@o5pMI)J017gM75,JghJ.V) gG.I.ghJ.5*72)i
“Trên phạm vi toàn cầu, quyền liên quan đến quyền tác giả đã sớm
được quan tâm với tư cách một lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ độc lập chứ
không phải một “bộ phận” gắn liền với quyền tác giả” [21; 69]. Đến nay
đã có nhiều điều ước quốc tế riêng biệt về quyền liên quan đến quyền tác
giả mà đáng chú ý nhất là Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà
sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng (Công ước Rome 1961), Công
ước về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản

ghi âm của họ (Công ước về bản ghi âm, ký tại Geneva năm 1971), Công
ước liên quan đến việc phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền qua
vệ tinh (Công ước vệ tinh, ký tại Brussels năm 1974), Hiệp ước của WIPO
về biểu diễn và bản ghi âm (Hiệp ước WPPT, thông qua năm 1996). Bên
cạnh đó, không thể không kể đến Hiệp định về những khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) có giá trị ràng buộc
đối với tất cả các thành viên WTO.
Những điều ước quốc tế cơ bản nói trên đều là những điều ước mà
Việt Nam đã tham gia. Việc xem xét những nội dung chủ yếu nhất của
chúng không chỉ cung cấp những nhận thức về vấn đề bảo hộ quyền liên
quan đến quyền tác giả trên phạm vi toàn cầu mà còn tạo cơ sở để so sánh,
đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam về quyền liên quan
đến quyền tác giả so với sự bảo hộ các quyền này trên thế giới hiện nay.
1.4.1 Công ước Rome 1961
22
Về tính chất, Công ước Romeđược coi là một công ước “đóng” do sự
ràng buộc với các công ước về quyền tác giả: để trở thành thành viên công
ước, một quốc gia không những phải là thành viên của Liên hợp quốc và
còn phải là thành viên của Liên hiệp Berne hoặc là thành viên của Công
ước toàn cầu về quyền tác giả.
Công ước Rome quy định nguyên tắc đối xử quốc gia (Điều 2), đồng
thời xác định cụ thể những tiêu chuẩn để được hưởng sự bảo hộ của công
ước cho từng loại chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả mà chủ yếu là
tiêu chuẩn quốc tịch và tiêu chuẩn lãnh thổ, nơi thu ghi, lưu định hoặc nơi
công bố…
Nội dung quan trọng của công ước là đặt ra những tiêu chuẩn bảo hộ
tối thiểu cho các chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả. Sự bảo hộ tối
thiểu mà Công ước đảm bảo cho người biểu diễn được quy định bằng “khả
năng ngăn cấm những hành vi nhất định” được thực hiện mà không có sự
đồng ý của người biểu diễn, bao gồm: phát sóng hoặc truyền tới công

chúng một buổi biểu diễn “trực tiếp”; ghi lại cuộc biểu diễn chưa được ghi
thu, lưu định; tái tạo, nhân bản một bản ghi thu, lưu định của buổi biểu
diễn, trừ khi bản gốc được thực hiện mà không có sự đồng ý của người biểu
diễn hoặc việc tái tạo, nhân bản được thực hiện vì những mục đích mà
Công ước hoặc người biểu diễn không cho phép (Điều 7). Đối với nhà sản
xuất bản ghi âm, Công ước bảo đảm cho họ quyền cho phép hoặc ngăn cấm
việc tái tạo, nhân bản trực tiếp hoặc gián tiếp các bản ghi âm của họ (Điều
10); Công ước không quy định về quyền cho phép biểu diễn các bản ghi âm
và không dứt khoát ngăn cấm việc phân phối hoặc nhập khẩu những bản
sao ghi âm trái phép. Với tổ chức phát sóng, Công ước quy định họ có
quyền cho phép hoặc ngăn cấm phát lại đồng thời các buổi phát sóng của
họ; thu ghi, lưu định các buổi phát sóng của họ; tái tạo, nhân bản những
bản ghi các buổi phát sóng mà chưa được cho phép hoặc tái tạo, nhân bản
những bản thu ghi, lưu định hợp pháp cho những mục đích bất hợp pháp,
23
và truyền tới công chúng các buổi phát sóng truyền hình thông qua những
trạm thu mà công chúng không phải trả tiền khi tiếp nhận; tuy nhiên, quyền
truyền đạt trên không mở rộng cho các buổi phát sóng thu âm và Công ước
không bảo hộ chống lại việc phân phối các buổi phát sóng bằng cáp.
Công ước Rome cho phép một số hạn chế nhất định về các quyền
được cấp. Bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể quy định những
ngoại lệ đối với việc sử dụng cá nhân, sử dụng những trích dẫn ngắn nhằm
ghi lại sự kiện thời sự, bản thu ghi, lưu định tạm thời của một tổ chức phát
sóng được thực hiện bằng các phương tiện của họ và phục vụ cho các buổi
phát sóng của họ và cho tất cả các hình thức sử dụng chỉ nhằm mục đích
giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học (Điều 15).
Một điểm quan trọng của Công ước là quy định về thời hạn bảo hộ tối
thiểu, đó là một giai đoạn 20 năm tính từ khi kết thúc năm mà bản ghi thu,
lưu định được thực hiện, đối với cả bản ghi âm và đối với buổi biểu diễn
được thu ghi trong đó hay tính từ năm kết thúc mà buổi biểu diễn diễn ra,

đối với những buổi biểu diễn không được thu ghi trong các bản ghi âm hay
tính từ khi kết thúc năm mà buổi phát sóng diễn ra, đối với các buổi phát
sóng (Điều 14).
1.4.2. Công ước về bản ghi âm
Nếu như Công ước Rome được coi là một công ước “đóng” thì Công
ước về bản ghi âm được coi là một công ước “mở”. Do sự đấu tranh chống
lại nạn chiếm đoạt trong phạm vi rộng nhất có thể là quyền lợi mà Công
ước mở ra cho tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc hay của bất kỳ
tổ chức chuyên môn nào có quan hệ với Liên hợp quốc, hoặc các bên của tổ
chức Tòa án công lý quốc tế, mà trên thực tế là tất cả các quốc gia trên thế
giới. Công ước cũng không đề cập tới hệ thống “đối xử quốc gia” như tại
Công ước Rome mà định nghĩa rõ các hành vi bất hợp pháp mà các quốc
gia phải quy định biện pháp hữu hiệu chống lại những hành vi đó.
Về nội dung, khác với Công ước Rome, Công ước về bản ghi âm chỉ
24
yêu cầu tiêu chuẩn về quốc tịch như một điều kiện để trao bảo hộ. Phạm vi
bảo hộ cũng mở rộng tới việc chống lại sự phân phối các bản sao bất hợp
pháp và việc nhập khẩu các bản sao như vậy để phân phối. Mặt khác, trong
phạm vi này không bao gồm việc đòi tiền thù lao đối với sử dụng thứ phát
bản ghi âm. Công ước về bản ghi âm cũng quy định một thời hạn bảo hộ tối
thiểu là 20 năm kể từ khi kết thúc năm mà phần âm thanh thể hiện trong
bản ghi âm được thu ghi, lưu định lần đầu tiên hoặc từ khi kết thúc năm mà
bản ghi âm lần đầu tiên được công bố.
1.4.3. Công ước vệ tinh
Đây cũng được xem là môt công ước “mở” và không giống Công ước
Rome, vấn đề đối xử quốc gia cũng không được đề cập trong Công ước vệ
tinh. Công ước này đặt các quốc gia thành viên dưới nghĩa vụ phải tiến
hành các bước cần thiết để ngăn chặn dù chỉ một hoạt động, đó là việc nhà
phân phối bất kỳ các tín hiệu mang chương trình tới những người mà các
tín hiệu được truyền tới hoặc được truyền thông qua vệ tinh không nhằm

truyền tới họ.
Công ước vệ tinh mở rộng phạm vi bảo hộ các tổ chức phát sóng bằng
cách không giới hạn phạm vi phát sóng theo định nghĩa khái niệm này
trong Công ước Rome và cung cấp sự bảo hộ đối với cả tín hiệu nguồn
được phân phối bằng dây cáp. Một điểm cần lưu ý là Công ước vệ tinh
không bảo hộ chương trình đã được truyền phát, mà đối tượng bảo hộ là
các tín hiệu được truyền bởi trạm nguồn.Vấn đề thời hạn được Công ước
trao cho luật pháp quốc gia ấn định.
1.4.4. Hiệp ước WPPT
Hiệp ước WPPT ra đời trong bối cảnh mà sự phát triển công nghệ đã
khiến việc hướng dẫn dưới hình thức các khuyến nghị, các nguyên tắc
hướng dẫn và các quy định mẫu và các quy tắc mới mang tính ràng buộc là
không thể thiếu.
WPPT dành nhiều quy định về những vấn đề “nóng” chưa được đề
25

×