Tải bản đầy đủ (.doc) (85 trang)

thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng đồng bằng sông cửu long đến năm 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (538.68 KB, 85 trang )

Lời mở đầu
Nớc ta có nhiều khả năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi
miền đất nớc: cả nuôi biển, nuôi lợ và nuôi nớc ngọt. Đồng Bằng Sông Cửu
Long là một vùng giàu tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản nhất và cũng có thể nói
đây là một trong những vùng có nhiêù lợi thế cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản
nhất thế giới.
Nuôi trồng thuỷ sản của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long những năm gần
đây đã cho thấy là một ngành kinh tế có hiệu quả rất cao, đầy tính hấp dẫn. Xét
về tổng sản lợng ngành thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long luôn chiếm
trên 50% sản lợng thuỷ sản cả nớc, riêng sản lợng nuôi trồng chiếm 2/3 sản lợng
nuôi trồng của cả nớc. Thời gian qua nuôi trồng thuỷ sản của vùng phát triển với
tốc độ nhanh, đạt đợc hiệu qủa kinh tế xã hội đáng kể, từng bớc góp phần thay
đổi cơ cấu kinh tế các vùng, đặt biệt các vùng ven biển, nông thôn, giải quyết
việc làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo. Do vậy nuôi trồng thuỷ sản đã
thu hút đợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc và mọi tầng lớp nhân dân. Sản suất
thuỷ sản của vùng đã phát triển mạnh, chuyển dần từ sản xuất tự túc tự cấp sang
sản xuất mang tính hàng hoá.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi cơ cấu theo tinh thần Nghị Quyết số 09/
2000/NQ- CP của Chính Phủ ngày 15 tháng 6 năm 2000, một số địa phơng nhất
là các địa phơng vùng ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long đã diễn ra một cách
quá nhanh, vợt quá khả năng về cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có cũng nh trình độ
và công nghệ quản lý; quy hoạch cho tất cả các vùng nuôi trồng thuỷ sản triển
khai không đồng bộ, chậm, còn nhiều lúng túng; đầu t cơ sở hạ tầng cha nhiều,
cha tập chung; hệ thống thuỷ lợi đáp ứng cha đủ yêu cầu cấp thoát nớc; hệ thống
giống nuôi trồng thuỷ sản chậm đợc điều chỉnh sắp xếp phù hợp với cung cầu;
tổ chức quản lý về nuôi trồng thuỷ sản bị sáo trộn và hoạt động hoạt động hạn
chế, Vì thế sản suất phát triển nuôi trồng mang tính tự phát, đầu t tràn lan, dịch
bệnh phát triển, hiệu quả kinh tế không tơng xứng với việc phát triển nuôi trồng
thuỷ sản của vùng và ảnh hởng đến các ngành sản xuất khác nh nông nghiệp,
lâm nghiệp.
Chính vì vậy em đã chọn đề tài Thực trạng và một số giải pháp chủ


yếu phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đến
năm 2010 làm luận văn tốt nghiệp. Ngoài phần nói đầu, kết luận và phụ lục đề
tài đợc bố cục thành ba chơng chính:
Chơng I: Sự cần thiết phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long
Chơng II: Thực trạng phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long giai đoạn 1996-2002.
Chơng III: Một số giải pháp chủ yếu phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long đến năm 2010.
Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận đợc sự giúp đỡ rất nhiệt tình của
cô giáo Nguyễn Thị Hoa, cán bộ Phùng Giang Hải và các cán bộ Viện kinh tế và
Quy hoạch Thuỷ sản-Bộ Thuỷ sản. Đây là đề tài nghiên cứu vấn đề bức xúc và
không kém phần quan trọng do thực tiễn đặt ra. Với trình độ và thời gian có hạn
chắc chắn em không thể tránh khỏi những sai sót trong đề tài này. Em rất mong
nhận đợc ý kiến nhận xét từ cô giáo và cơ quan thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sv: Hoàng Thị Vân.
Chơng I
Sự cần thiết phát triển nuôi trồng thuỷ sản
vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
I. Một số vấn đề cơ bản về nuôi trồng thuỷ sản.
1. Các quan điểm và đặc điểm nuôi trồng thuỷ sản.
1.1. Các quan điểm.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: nuôi trồng thuỷ sản là một hoạt
động sản suất sử dụng các yếu tố nguồn lực tài nguyên thiên nhên đất và nớc để
thúc đẩy sự tăng trởng và phát triển của các loài thuỷ sản tạo ra nguyên liệu thuỷ
sản cho quá trình tiêu dùng thực phẩm thuỷ sản, hoạt động xuất khẩu và nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến thuỷ sản.
Theo quan điểm của các nhà sinh học: nuôi trồng thuỷ sản là hoạt động
tạo ra các điều kiện sinh thái phù hợp với sự sinh trởng và phát triển của các loài

thuỷ sản để thúc đẩy chúng phát triển qua các giai đoạn của vòng đời.
Trong đề tài này quan niệm về nuôi trồng thuỷ sản đợc hiểu theo quan
điểm của các nhà của các nhà kinh tế học, nó sử dụng các đầu vào nh con giống,
tài nguyên đất, nớc và các công cụ sản xuất khác để tạo ra sản lợng thuỷ sản cho
các hoạt động tiêu dùng của nó.
1.2 Đặc điểm của nuôi trồng thuỷ sản.
a. Nuôi trồng thuỷ sản là hoạt động sản xuất liên quan trực tiếp đến tài
nguyên thiên nhiên đất và nớc.
Nuôi trồng thuỷ sản sử dụng tài nguyên nớc làm môi trờng sống cho các
loài thuỷ sản. Do đó chất đất sẽ ảnh hởng đến môi trờng nớc (nhiệt độ, độ PH, độ
cứng, hàm lợng các chất dinh dỡng) và ảnh hởng tới quá trình sinh trởng và phát
triển của thuỷ sản. Ngợc lại, nuôi trồng thuỷ sản cũng tác động trực tiếp đến môi
trờng nớc và đất xung quanh bằng các chất thải hữu cơ (các chất thải từ cơ thể
con vật và thức ăn tơi sống d thừa), chất thải hoá học (thức ăn công nghiệp, các
chất khử tẩy môi trờng và phòng bệnh cho thuỷ sản ).
Đặc điểm này cho thấy nuôi trồng thuỷ sản là một ngành kinh tế rất nhạy
cảm với môi trờng thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản và môi trờng luôn có sự tác
động qua lại với nhau. Do vậy phải có kế hoạch về sử dụng tài nguyên môi trờng
để đảm bảo vừa phát triển nuôi trồng thuỷ sản vừa đạt mục tiêu bảo vệ môi trờng
sinh thái.
b. Nuôi trồng thuỷ sản có liên quan đến các giống loài thuỷ sản- một tài
nguyên có thể tái tạo đợc.
Nuôi trồng thuỷ sản truyền thống thờng đánh bắt các con giống từ môi tr-
ờng tự nhiên để thả vào nuôi trong các ao, đầm. Đây là một hình thức sản xuất
tiên tiến của con ngời so với thời kỳ vợn ngời nguyên thuỷ trong quá trình vơn
lên thống trị tự nhiên. Tuy nhiên, do sự bùng nổ về dân số mà nuôi trồng thuỷ
sản truyền thống đến nay đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên này, do khai thác một
cách bừa bãi và cờng độ khai thác lớn hơn khả năng tự tái sinh của thuỷ sản, một
số loài đã và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hậu quả của việc khai thác quá
mức nguồn tài nguyên thuỷ sản lại tác động ngợc lại với cuộc sống của con ngời.

Do đó việc quản lý vấn đề sử dụng tài nguyên có thể tái tạo đợc này là rất cần
thiết.
c. Nuôi trồng thuỷ sản là một hoạt động kinh tế mà quy trình sản xuất của
nó phụ thuộc rất lớn vào tính sinh học của con giống.
Do đặc điểm này mà nuôi trồng thuỷ sản cần có thời gian khá dài để con
giống phát các giai đoạn theo chu kỳ sinh học của nó. Đồng thời nó cũng phụ
thuộc vào mùa, khí hậu từng vùng.
Nuôi trồng thuỷ sản bị chi phối lớn từ quá trình phát triển sinh học của vật
nuôi. Nhng con ngời có thể khắc phục đặc điểm này để tiến hành hoạt động sản
xuất bằng cách áp dụng khoa học công nghệ vào quy trình nuôi nh : tạo ra môi
trờng nuôi công nghiệp, thức ăn nuôi công nghiệp lai tạo giống có thời gian sinh
trởng ngắn, tăng trọng nhanh, phù hợp với mục tiêu kinh tế của con ngời.
2. Các phơng thức và hình thức nuôi trồng thuỷ sản.
2.1. Các phơng thức nuôi trồng thuỷ sản.
a. Nuôi quảng canh thô sơ.
Nuôi quảng canh thô sơ là hình thức nuôi dựa vào nguồn lợi thuỷ sản tự
nhiên sẵn có mà ngời nuôi khoanh vùng, đắp bờ đầm để giữ thuỷ sản.
Diện tích đầm nuôi quảng canh thờng lớn, giao động từ 1- 4 ha. Mỗi đầm
thờng có một cống để vừa lấy nớc, con giống, vừa thu hoạch. Tự nhiên là yếu tố
quyết định đến kết quả nuôi quảng canh, từ việc cung cấp con giống cho đầm
nuôi đến cung cấp thức ăn có sẵn trong đầm cho con giống sinh trởng và phát
triển.
Nuôi quảng canh thô sơ là hình thức cần hạn chế trong tơng lai. Nó thờng
mang lại giá trị kinh tế thấp và ảnh hởng tiêu cực đến môi trờng. Chỉ sau vài vụ
nuôi môi trờng đất, nớc bị thoái hoá nhanh sẽ làm giảm năng suất nuôi và tác
động đến các tài nguyên đa dạng sinh học ở vùng đất ngập nớc ven biển, sông.
Đặc biệt là việc nuôi quảng canh thô sơ trong các rừng ngập mặm đã dẫn đến
chặt phá rừng ngập mặn để làm thoáng mặt đầm.
b. Nuôi quảng canh cải tiến.
Nuôi quảng canh cải tiến là hình thức nuôi mà ngời nuôi đã cải tiến phơng

pháp nuôi từ hình thức nuôi quảng canh thô sơ bằng cách thu hẹp diện tích, sửa
chữa quy cách cống, làm bờ đầm chắc, mua thêm con giống để thả và bổ xung
thức ăn cho con giống nuôi.
Diện tích ao nhỏ từ 0,2- 2 ha, diệt hết các loài có hại cho con giống nuôi.
Mật độ nuôi thấp. Có chế độ chăm sóc quản lý, cho ăn thức bổ sung và phân
bón.
c. Nuôi bán thâm canh.
Nuôi bán thâm canh là hình thức nuôi trồng thuỷ sản đợc tiến hành trên
một diện tích nhỏ. Mật độ nuôi cao và sử dụng thức ăn hỗn hợp. Quy trình nuôi
có áp dụng khoa học kỹ thuật.
Hình thức nuôi thâm canh phù hợp với điều kiện kinh tế còn đang phát
triển và trình độ hiểu biết về khoa học kỹ thuật cha cao. Hình thức này cần đợc
mở rộng để xoá bỏ phơng pháp nuôi quảng canh và tạo ra tiềm lực về kinh tế cho
đầu t vào phơng pháp nuôi tiên tiến hơn.
d. Nuôi thâm canh.
Nuôi thâm canh là hình thức phát triển lên cao của hình thức bán thâm
canh. Thuỷ sản đợc nuôi với mật độ cao trong các hệ thống khép kín, phần lớn
trong các bể hoặc trong các ao nuôi nhân tạo, lồng và các hầm có các dòng nớc
lu thông để cung cấp dỡng khí và chuyển tải thức ăn. Các loài thuỷ sản đợc nuôi
ở các khu vực khác nhau tuỳ theo tuổi của chúng. Các hệ thống này thờng dùng
thức ăn công nghiệp và điều khiển môi trờng theo yêu cầu nghiêm ngặt.
e. Nuôi công nghiệp.
Nuôi công nghiệp là phơng pháp nuôi hiện đại, sử dụng một tạp hợp các
máy móc và thiết bị để tạo ra cho các đối tợng nuôi có một môi trờng sinh thái
và các điều kiện sống khác tối u.
Nuôi công nghiệp có diện tích mặt nớc nhỏ, thờng nuôi trong các bể nhân
tạo, mật độ thả cao, chu kỳ nuôi ngắn, việc sinh trởng và phát triển của thuỷ sản
không bị hạn chế bởi thời tiết và mùa vụ.
2.2. Các hình thức nuôi trồng thuỷ sản.
a. Nuôi nớc mặn.

Hình thức này đợc tiến hành nuôi trong các lồng bè và nuôi ở trong đăng
quầng trong các đầm phá, vịnh, các vùng có biển có dòng chảy không quá mạnh
hoặc quá yếu. Các đối tợng nuôi nh : tôm hùm, cá song, cá hồng, cá cam.
b. Nuôi nớc lợ.
Nuôi nớc lợ là hình thức nuôi thuỷ sản trong các ao, đầm trong mô hình
khép kín, nuôi trong ruộng ( vụ tôm + vụ lúa ) và nuôi trong rừng ngập mặn. Đối
tợng nuôi chủ yếu là tôm sú, tôm he, tôm bạc thẻ, tôm nơng, tôm rảo.
Hình thức nuôi này hiện nay chủ yếu vẫn là nuôi quảng canh, nuôi bán
thâm canh và thâm canh ít.
c. Nuôi nhuyễn thể.
Đối tợng chính là ngao, nghêu, sò huyết, trai cấy ngọc. Hình thức nuôi
nhuyễn thể chủ yếu là nuôi quảng canh cải tiến tiến tới nuôi thâm canh ở vùng
cửa sông bãi ngang và nuôi bằng lồng ở eo vịnh biển.
d. Nuôi cua biển.
Hình thức nuôi gồm nhiều dạng: nuôi cua thịt, nuôi cua vỗ béo và nuôi
cua lột. Cua thờng đợc nuôi thả theo phơng thức nuôi quảng canh tự nhiên, nuôi
xen với ghép với tôm trong vụ phụ ở các ao nuôi tôm quảng canh tự nhiên.
e. Nuôi thuỷ sản ao hồ nhỏ nớc ngọt.
Là hình thức nuôi mà ngời dân củng cố hệ thống ao đầm bằng cách kiên
cố hoá bờ ao và củng cố hệ thống xử lý nớc. Việc nuôi trồng thuỷ sản ở các ao
hồ nhỏ thờng phát triển mạnh ở các trang trại qui mô gia đình theo mô hình VAC
( vờn- ao chuồng ) hoặc mô hình VACR ( vờn- ao- chuồng- rừng).
Đối tợng nuôi chủ yếu là :cá mè, cá trắm, cá chép, lơn, ếchHình thức
nuôi là bán thâm canh và thâm canh.
f. Nuôi thuỷ sản ruộng trũng.
Sự phát triển ổn định về công nghiệp cùng với xu hớng phát triển của
nông nghiệp sạch với sự quản lý theo hệ thống IPM đang đợc phổ biến rộng rãi
là những thuận lợi để có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản rộng rãi trên các khu
ruộng trũng.
Các hệ thống canh tác ruộng trũng là:

- Nuôi thuỷ sản nớc ngọt kết hợp với trồng lúa: một phần diện tích của ruộng
lúa sẽ đợc sử dụng nh chỗ chú ẩn của các đàn cá, tôm. Đối tợng nuôi chính là cá
rô phi, trôi, chép, cá quả, cá sặc, tôm càng xanh.
- Nuôi thuỷ sản một vụ, cấy lúa một vụ: đợc dành cho những khu ruộng trũng
có một mùa ngập nớc sâu, còn một mùa có thể tháo ra. Hệ thống nuôi cá này th-
ờng là bán thâm canh vì bên cạnh nguồn thức ăn tự nhiên, ngời nông dân thờng
sử dụng thức ăn bổ sung cho các đàn cá.
- Cải tạo các vùng trũng thành các vùng chuyên thả cá kết hợp với việc trồng
cây ăn quả trên bờ: mô hình này càng ngày sẽ càng đợc phát triển do lợi thế của
nuôi trồng thuỷ sản so với trồng lúa bấp bênh trên một diện tích canh tác.
g. Nuôi thuỷ sản các mặt nớc lớn.
Mặt nớc lớn bao gồm các hồ tự nhiên, hồ thuỷ lợi, hồ thuỷ điện và các
mặt sông. Hồ chứa và mặt nớc lớn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng trung đợc và miền núi.
Hình thức nuôi các hồ chứa và sông ngòi thờng đợc sử dụng:
-Thả cá vào các hồ chứa để gia tăng năng suất tự nhiên của các hồ chứa
nhằm tạo ra lợng cá trong sông và trong hồ tăng khả năng khai thác tự nhiên của
các cộng đồng ng dân sống dựa vào các mặt nớc lớn và tăng nguồn tái tạo nguồn
lợi thuỷ sản cho các dòng sông hồ chứa, các vùng đồng bằng ngập nớc.
- Nuôi cá lồng bè trên các mát nớc lớn: đây là hình thức trang trại đợc giao
một diện tích nhất định ở trong các mặt nớc lớn để tổ chức nuôi lồng bè. Đối t-
ợng nuôi là các loại cá có giá trị kinh tế cao ( cá basa, cá bống tợng, cá rô phi, cá
quả ) và các loại cá dễ nuôi cho năng suất cao (cá trắm cỏ, cá chép ).
- Nuôi cá trong các eo ngách của các hồ chứa: đây là hình thức nuôi theo
kiểu trang trại. Một số các eo ngách trong các hồ chứa đợc chắn lại bằng các bờ
tờng lới tạo thành các khu nuôi bán thâm canh có diện tích rộng lớn đem lại hiệu
quả kinh tế khá cao cho ngời nuôi.
3. Vai trò của nuôi trồng thuỷ sản đối với phát triển kinh tế xã hội.
Nuôi trồng thuỷ sản là một hoạt động kinh tế do đó sự phát triển của lĩnh
vực này sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Ta có

thể thấy đợc sự đóng góp của lĩnh vực này với nền kinh tế qua các vai trò của nó
với phát triển kinh tế xã hội nh sau:
Thứ nhất, cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu nội địa.
Những năm tới xu thế đời sống nhân dân ngày một khá lên, mức tiêu dùng
thực phẩm sẽ tăng. Do vậy cá và sản phẩm gốc là thuỷ sản làm thực phẩm chiếm
phần quan trọng. Trong đó cá nuôi cung cấp tại chỗ, ít chi phí vận chuyển bảo
đảm đợc tơi sống càng có vai trò quan trọng hơn. Nhiều nớc đang phát triển đã
đẩy mạnh việc nuôi cá và coi đó nh là một chính sách quốc gia để giải quyết nhu
cầu đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân.
Thứ hai, cung cấp nguyên liệu cho chế biến thuỷ sản xuất khẩu.
Nuôi trồng thuỷ sản là hớng đi tất yếu để cung cấp nguyên liệu cho chế
biến thuỷ sản khi nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên trái đất bị hạn chế. Nguyên
liệu cho chế biến thuỷ sản đợc đáp ứng từ hai nguồn chính là khai thác và nuôi
trồng thuỷ sản. Nguồn lợi tự nhiên về hải sản trong các đại dơng thế giới không
phải là vô tận và luôn có chiều hớng suy giảm do nhiều tác động nh đánh bắt quá
mức, ô nhiễm môi trờng, ngăn chặn các dòng sông làm thuỷ lợi, thuỷ điện và
thuỷ lợi hoá ruộng đất để phát triển nông nghiệp. Hơn nữa việc khai thác biển và
các đại dơng thế giới hiện nay đã đợc báo động đạt đến mức giới hạn ( khả năng
khai thác đại dơng thế giới vào khoảng 150 triệu tấn đã khai thác khoảng 120
triệu tấn). Càng ngày việc khai thác tự nhiên càng phải đối mặt với các khó khăn
thực tế trong công nghệ và giá thành khai thác. Chính vì thế nuôi trồng thuỷ sản
càng có vai trò quan trọng cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu trong
thời gian tới.
Thứ ba, giải quyết việc làm và tăng thu nhập.
Nuôi trồng thuỷ sản là một cơ hội làm giàu, là lĩnh vực có thể tạo thêm
nhiều công ăn việc làm ở nông thôn.
Nuôi trồng thuỷ sản đã thu hút một số lợng lớn ngời lao động vào hoạt
động sản xuất. Mức giải quyết việc làm hàng năm của lĩnh vực nuôi trồng thuỷ
sản góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự trị an. Do đó nó có tác
động tích cực đến việc đạt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Đặc

biệt, lợng lao động mà nuôi trồng thuỷ sản thu hút phần lớn đều ở nông thôn, ven
biển có mức sống thấp và cơ hội tìm việc thấp. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản còn
là giải pháp để làm giảm sức ép di dân về thành phố.
Thu nhập từ nuôi trồng thuỷ sản đã góp phần nâng cao đời sống sinh hoạt
của ngời lao động nghèo từ đó nâng cao trình độ văn hoá xã hội của họ. Điều đó
có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, thực
hiện sự phát triển toàn diện và công bằng xã hội. Chính vì thế phát triển nuôi
trồng thuỷ sản là một trong những hoạt động chiến lợc để phát triển nông thôn,
miền núi, ven biển làm giảm khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giữa các
vùng kinh tế và làm giảm xung đột chính trị trong xã hội
Thứ t, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Góp phần tăng trởng kinh tế.
Là một bộ phận trong cơ cấu ngành thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản ngày
càng phát triển mạnh theo hớng sản xuất hàng hoá, gắn với chế biến tiêu thụ,
tăng nhanh tỷ trọng trong cơ cấu sản xuất của ngành thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ
sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tích cực, đúng hớng, tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Nuôi trồng thuỷ sản
cũng là một trong những lĩnh vực giúp hội nhập vào thế giới, mở rộng thị trờng.
Qua đó nuôi trồng thuỷ sản thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Thứ năm, mở ra lĩnh vực mới cho các hoạt động khoa học.
Một trong những vai trò quan trọng tiềm tàng cuả nuôi trồng thuỷ sản là
nó mở ra một lĩnh vực mới cho các hoạt động khoa học. Phải nói rằng công nghệ
sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản cha theo kịp đợc những tiến bộ mà nền công
nghiệp hiện đại đã tạo dựng đợc. Do vậy cần nghiên cứu và ứng dụng công nghệ
sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản sẽ có ý nghĩa rất lớn, nhất là các lĩnh vực
chọn giống, chọn gen, cải tạo gen, công nghệ thực phẩm và xử lý nớc.
II. Một số yếu tố thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ
sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
1. Tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long.
1.1. Điều kiện tự nhiên.

a. Vị trí địa lý.
Vị trí địa lý là một tiềm năng vật chất và lợi thế quan trọng để phát triển
kinh tế nói chung và một ngành sản xuất nói riêng.
Đồng Bằng Sông Cửu Long có vị trí vào khoảng 80
0
40-11
o
0 vĩ độ Bắc
và 104
0
8- 106
0
50 độ kinh Đông. Phía bắc giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía
tây bắc giáp Căm- pu-chia, phía tây nam giáp biển Tây ( thuộc vịnh Thái Lan),
phía đông và phía nam giáp biển Đông. Đồng Bằng Sông Cửu Long có độc
quyền kinh tế rộng lớn, gần 360.000 km
2
chiếm 37,1% tổng diện tích đặc quyền
kinh tế của cả nớc. Là một vùng có trên 750 km bờ biển và chiếm khoảng 23,4%
tổng chiều dài bờ biển toàn quốc.
Đồng Bằng Sông Cửu Long nằm trong vùng phát triển kinh tế tơng đối
năng động. Mặc dù số đô thị trong vùng cha phát triển nhng dân c ở vùng này có
truyền thống và thói quen tiêu dùng vào việc ăn uống cao hơn nhiều so với các
khu vực miền Bắc và miền Trung. Điều đó tạo điều kiện thuận và mở ra một thị
trờng lớn cho các sản phẩm thuỷ sản. Cùng với một hệ thống đô thị đang hình
thành, sự phát triển mạng lới giao thông đã tạo ra cho các tỉnh vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long tiếp cận đợc với một trung tâm đô thị lớn nhất Việt Nam là
Thành Phố Hồ Chí Minh với gần 5 triệu dân, tập trung sự phát triển công nghiệp
và thơng mại và là nơi hội tụ của các du khách, các nhà đầu t, làm cho nhu cầu
thực phẩm từ thuỷ sản rất lớn. Nền công nghiệp chế biến, đặt biệt là chế biến

thuỷ sản ở Nam Bộ phát triển nhất, dân chúng lại a dùng thực phẩm chế biến,
điều kiện giao thông thuỷ bộ cũng thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá thuỷ
sản của cả vùng .
b. Địa hình.
Địa hình đóng vai trò quan trọng trong việc lu trữ, lan toả, thâm nhập của
các nguồn tài nguyên nớc, là yếu tố quan trọng đối với nuôi trồng thỷ sản. Địa
hình Đồng Bằng Sông Cửu Long là một lợi thế thuận lợi đối với sự phát triển
nuôi trồng thuỷ sản của cả vùng.
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm 12 tỉnh, trong đó có 8 tỉnh ven
biển (Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,
Kiên Giang ) và 4 tỉnh nội đồng ( Cần Thơ, Đồng Tháp , Vĩnh Long, An Giang).
Toàn vùng đồng bằng có địa hình tơng đối bằng phẳng, có địa hình lòng chảo,
cao dần ra phía bờ biển (cao nhất xấp xỉ 1,81 m ở các vùng giồng cát cửa sông),
còn đa số địa hình thấp (khoảng 0,2- 0,4 m ). Vì vậy ảnh hởng của thuỷ triều có
thể vào rất sâu, thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nớc lợ. Hai bờ
Tây và Đông (Biển Đông và vịnh Thái Lan ) cao và thoải dần vào phía trung tâm.
Với sự chênh lệch thuỷ triều giữa biển Đông và biển Tây rất lớn càng làm cho
việc đa mặn vào sâu rất thuận lợi, tạo lên một vùng nớc lợ rộng lớn trong đất
liền. Đây là lợi thế cho phát triển nuôi tôm nói riêng và nuôi hải sản nói chung,
hiếm thấy trên thế giới.
c. Đất đai và thổ nhỡng.
Đồng Bằng Sông Cửu Long có diện tích dất tự nhiên 3,97 triệu ha, trong
đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 2,912 triệu ha, đất lâm nghiệp 308600 ha,
đất cha sử dụng 436000 ha ( Đất Việt Nam Hội khoa học đất Việt Nam, nhà
xuất bản Nông nghiệp, năm 2000 ).
Khu địa lý thổ nhỡng vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 8 loại đất khác
nhau, trong đó có năm nhóm đất chính: đất phèn, đất mặn, đất phù xa, đất xám
và đất cát. Trong đó chủ yếu là các nhóm đất phèn, đất phù xa, đất mặn và chúng
chiếm một tỷ lệ diện tích lớn (Bảng 01).
Bảng 01: Thành phần các loại đất vùng ven biển Đồng Bằng Sông

Cửu Long .
TT Loại đất % Diện tích (ha)
1 Đất cát 2,60 41.926,97
2 đất mặn 46,15 744.203,71
3 Đất phèn 39,42 635.677,36
4 đất phù xa 1,91 30.781,00
5 Đất than bùn 1,32 21.286,00
6 Đất xám 0,15 2.534,00
7 Đất xói mòn 0,14 2.290,00
8 Đất khác 8,31 134.005,00
Tổng cộng 100,00 1.612.575,76
Nguồn: Phân viện khảo sát và Qui hoạch thuỷ sản Nam Bộ, 1998.
Trong tổng số hơn 1,6 triệu ha đất vùng cửa sông ven biển của vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long, có tới 85% diện tích là đất phèn và đất mặn đều có nguồn
gốc từ trầm tích sông biển, rất giàu mùn bã hữu cơ do có xác thực vật ngập mặn.
Đó là tiền đề quan trọng cho xích thức ăn phế liệu mà trong đó có nhiều loài
không xơng sống ( nh tôm) sử dụng làm thức ăn. Đây là cơ sở thuận lợi cho
nuôi trồng thuỷ sản, nhất là hình thức nuôi bán thâm canh rất đang phổ biến ở
các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long.
d. Khí hậu.
Đối với nuôi trồng thuỷ sản thì khí hậu đóng vai trò rất quan trọng. Nó
quyết định thời gian nuôi, thành phần loài, tốc độ sinh trởng, khả năng dịch
bệnh và hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi. Do đó, với u thế tuyệt đối của vùng
nhiệt đới, Đồng Bằng Sông Cửu Long đợc lợi thế về khí hậu cho nuôi trồng thuỷ
sản so với toàn quốc, kể cả trong vùng và thế giới.
Chế độ nhiệt: Do năng lợng bức xạ dồi dào và ảnh hởng thờng xuyên của
khối không khí biển xích đạo, Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và giải ven
biển nói riêng có nền nhiệt độ cao, khá đồng nhất. Nhiệt độ trung bình vào
khoảng 27- 28
0

C. Đó là điều kiện thuận lợi cho các sinh vật, thuỷ vật phát triển
quanh năm.
Chế độ bức xạ: nguồn năng lợng bức xạ trong vùng rất phong phú, trung
bình hàng năm giao động từ 110- 170 Kcal/ cm
2
. Số giờ chiếu sáng cao và tơng
đối đồng đều trong năm, là tiền đề thuận lợi cho các quá trình quang hợp, tổng
hợp chất hữu cơ của thực vật. Đây chính là cơ sở thức ăn quan trọng cho nhiều
loài sinh vật khác nhau, trong đó có các loài thuỷ vật đặc biệt là các loài thuỷ vật
có giá trị kinh tế cao nh tôm sú, cua biểnDo vậy, chế độ bức xạ của vùng có tác
động thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản.
Chế độ gió: Đồng Bằng Sông Cửu Long có chế độ gió mùa tơng đối đồng
nhất. Năng lợng và sức tàn phá của gió trong vùng yếu hơn rất nhiều so với miền
Bắc và miền Trung. Các hiện tợng thời tiết khác nh bão, áp thấp nhiệt đới ít xảy
ra hơn so với các vùng Duyên Hải miền Trung và Đồng Bằng Bắc Bộ. Đây là
điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và nuôi trồng thuỷ sản nói
riêng.
Chế độ ma: nhìn chung, toàn vùng phân hai mùa rõ rệt, mùa ma từ tháng
5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.
Trong mùa ma, nớc trên đồng ruộng và trong các kênh rạch đều đợc ngọt
hoá là điều kiện thuận lợi cho việc thau rửa nớc mặn trong cánh đồng và nhanh
chóng có thể tạo ra vùng trồng lúa rộng lớn ở các vùng đợc bố trí nuôi tôm vào
mùa khô. Đây là một đặc điểm sinh thái rất có lợi cho việc bố trí nuôi sinh thái
xen canh một vụ tôm một vụ lúa vừa đảm bảo tính bền vững, giảm nguy cơ dịch
bệnh và vừa đảm bảo an ninh lơng thực.
Nhìn chung khí hậu vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thuận lợi cho phát
triển nuôi trồng thuỷ sản và đa dạng hoá các loài thuỷ sản mà rất ít vùng có đợc,
kể cả trên phạm vi thế giới.
e. Chế độ hải văn.
Độ mặn: Độ mặn tại vùng cửa sông ven biển của vùng Đồng Bằng Sông

Cửu Long đạt gía trị thấp nhất vào khoảng tháng 10 là 28,7
0
/
00
ở tầng mặt và
33,4
0
/
00
ở tầng đáy, đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 là 34,4
0
/
00
ở tầng mặt và
34,6
0
/
00
ở tầng đáy. Trong ngày, độ măn giao động với biên độ 2,4
0
/
00
ở tầng mặt
và 1
0
/
00
ở tầng đáy. Với độ mặn nh trên, rất thuận lợi cho phát triển nuôi các loài
thuỷ sản mặn lợ.
Sóng biển: Sóng biển là yếu tố ảnh hởng quyết định đến phát triển nuôi

biển. Sóng thềm lục địa biển Đông thờng là sóng hỗn hợp gió lừng, độ cao và
trung bình năm là 1,6m và 5,5 giây tơng ứng. Sóng ven bờ biển Đông có xu hớng
chủ đạo nằm trong cung từ Đông- Đông Bắc đến hớng Đông- Đông Nam. Do đó,
sóng biển có ảnh hởng tốt cho sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng này.
Dòng chảy: Hải lu là yếu tố quyết định đến việc chọn vị trí nuôi biển. Chế
độ hải lu trên biển ven bờ Đồng Bằng Sông Cửu Long là kết quả tổng hợp của
các tơng tác gió, sự lan truyền triều, tính chất của dòng lục địa, độ dốc của nền
đáy và cấu tạo của đờng bờTrong các ngày có gió mùa đông bắc, dòng chảy có
hớng tây và tây nam, vận tốc lớn nhất khi triều lên. Ngợc lại, vào thời kỳ gió
mùa tây nam, dòng chảy có hớng đông bắc, vận tốc lớn nhất khi triều xuống. Với
đặc trng của chế độ hải lu này, các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long có thể chọn
các vị trí nuôi biển thích hợp.
1.2. Tiềm năng mặt nớc và tài nguyên sinh vật.
a. Tiềm năng mặt nớc.
Thứ nhất, tiềm năng nớc mặn: Nớc mặn từ biển Đông vào Đồng Bằng
Sông Cửu Long qua các sông chính nh Vàm Cỏ Đông ,Vàm Cỏ Tây, Sông Tiền
và Sông Hậu. Phạm vi ảnh hởng của nớc mặn là giải đất ven biển thuộc các tỉnh
Long An, Tiền Giang, Bến Tre,Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà
Mau.
Phía biển Tây, nớc mặn ảnh hởng đến các tỉnh Kiên Giang và Cà Mau
thông qua rạch Giang Thành, kênh Vàm Rẫy, Rạch Giá, Rạch Sỏivà sông Cái
Lớn, sông Cửa Lớn, sông Ông Đốc
Hiện nay, sự xâm nhập mặn vào các dòng sông đang có xu hớng tăng lên.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: từ năm 1986 trở về trớc, mức độ xâm nhập mặn ở
các vùng tứ giác Long Xuyên không sâu quá 5 km vào đất liền. Nhng vào mùa
khô năm 1998, nớc mặn xâm nhập vào vùng tứ giác Long Xuyên đạt đợc 10-12
km. Quá trình nóng lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính dẫn đến hàng loạt
những biến đổi môi trờng toàn cầu, trong đó có vấn đề nâng cao mực nớc biển và
tạo điều kiện xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền. Theo nghiên cứu của Tổng
cục Khí tợng thuỷ văn theo dõi sự biển động mực nớc biển nhiều năm ở nớc ta sơ

bộ đánh giá là: ở Việt Nam trung bình nớc biển dâng cao 2 mm/ năm và có khả
năng nớc biển trong vòng 50- 70 năm sau sẽ cao hơn từ 50- 60 cm.Thực tế các 3
ngày đầu tháng 3 năm 1999 nhiều tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long bị xâm
nhập mặn rất lớn. Theo số liệu của chi cục thống kê Thuỷ lợi Tiền Giang (từ năm
1939 đến năm 1997) cho biết độ mặn cao nhất đo đợc vào các năm là 8 g/l,
riêng năm 1998 độ mặn lên tới 10,44g/l. Điều đó tạo điều kiện tốt cho phát triển
nuôi trồng các loài thuỷ sản mặn, lợ.
Thứ hai, tiềm năng nớc ngọt và ngọt- lợ: Đồng Bằng Sông Cửu Long đợc
tới nhuần bởi sông Cửu Long, hàng năm tải ra biển qua 9 cửa sông một lợng nớc
ngọt khổng lỗ xấp xỉ 500 tỷ m
3
, với lợng bùn cát trên 100 triệu tấn, các chất
khoáng khoảng75 triệu tấn. Sông Mê Kông có mùa lũ (từ tháng 8 đến tháng 11),
nớc sông lên từ từ (mùa nớc nổi). Nớc lũ tràn ngập 1/3 Đồng Bằng. Bên cạnh
những tác hại do nó mang lại, nó cũng mang lại những lợi ích là mang về nhiều
tôm cá tự nhiên. Do đó tạo điều kiện cho cá, tôm sinh sản ở khắp nơi, lắng đọng
phù xa làm phì nhiêu đất đai và rửa trôi những chất độc hại tồn đọng trong môi
trờng tạo tiền đề tốt cho nuôi trồng thuỷ sản.
Từ tiềm năng mặt nớc đã đề cập ở trên cho thấy khả năng về diện tích mặt
nớc nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nh sau:
.Tiềm năng diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn lợ: Vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long có 8 tỉnh có vùng đất rộng lớn để nuôi trồng thuỷ
sản nớc mặn lợ là: Long An , Tiền Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc
Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau.
Trên toàn quốc có khoảng 1 triệu ha diện tích có tiềm năng nuôi trồng
thuỷ sản vùng triều, chiếm 7,37 % tổng diện tích tự nhiên. Trong khi đó tổng
diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản vùng triều vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long là 804.740 ha chiếm 28,21 % tổng diện tích đất tự nhiên của 8 tỉnh ven
biển Đồng Bằng Sông Cửu Long (2.852.429 ha) và chiếm 80,47% tổng diện tích
có khả năng nuôi trồng thuỷ sản vùng triều trên toàn quốc (Bảng 02).

Bảng 02: Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn, lợ vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long đến năm 2002.
Đơn vị : Diện tích (ha)
TT Tỉnh Tổng diện
tự nhiên
Vùng triều Vùng biển
ven bờ
Tiềm năng Khả năng nuôi
trồng
1 Long An 444.866 15.650 10.000 6.390
2 Tiền Giang 232.609 18.860 7.150 8.882
3 Kiên Giang 624.560 86.650 64.000 12.500
4 Trà Vinh 235.351 21.560 40.000 10.455
5 Bến Tre 230.000 65.870 65.000 32.262
6 Bạc Liêu 241.813 187.500 187.500 88.445
7 Sóc Trăng 322.230 88.650 60.000 41.200
8 Cà Mau 521.000 320.000 320.000 244.040
9 Tổng cộng 2.852.429 804.740 753.650 437.784
Nguồn: Các Sở thuỷ sản và Sở NN &PTNT các tỉnh có liên quan.
Cà Mau là tỉnh có diện tích lớn nhất lên tới 320.000 ha. Các tỉnh Trà Vinh
Tiền Giang, Long An tuy có diện tích ít hơn nhng mỗi tỉnh cũng có khoảng trên
dới 20.000 ha vùng triều để phát triển nuôi trồng thuỷ sản mặn- lợ.
Tổng diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản trên biển (khả năng nuôi
tôm, cá biển ) là 444.174 ha. Tỉnh có diện tích có khả năng vùng biển ven bờ lớn
nhất là Long An 6390 ha chiếm 1,4%.
Tiềm năng cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ là rất lớn. Nó mở ra
triển vọng cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long nói riêng và cả nớc nói chung.
. Tiềm năng diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc nớc ngọt:
Việc xác định diện đất có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc ngọt là khó. Việc tạo

ao, hầm hoặc giữ nớc trên ruộng để nuôi cá kết hợp với trồng lúa có thể tiến
hành ở nhiều nơi vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bởi khả năng cung cấp nớc
ngọt hầu nh có thể đảm bảo quanh năm do hệ thống kênh rạch thuỷ lợi chằng
chịt đã đợc xây dựng và lợng nớc ngọt do sông Tiền và sông Hậu cung cấp khá
lớn. Do vậy trong nội dung bảng 03 chỉ đa ra những con số về diện tích có khả
năng nuôi trồng thuỷ sản nớc ngọt thuận lợi nhất.
Bảng 03: Diện tích khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc ngọt vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long đến năm 2002.
TT Tỉnh Diện tích khả năng nuôi trồng thuỷ sản
nớc ngọt (ha )
1 Long An 12.050
2 Bến Tre 20.000
3 Tiền Giang 12.000
4 Trà Vinh 36.000
5 Sóc Trăng 23.000
6 Bạc Liêu 4.000
7 Cà Mau 100.000
8 Kiên Giang 77.000
9 Cần Thơ 108.000
10 Vĩnh Long 35.000
11 Đồng Tháp 20.000
12 An Giang 100.000
Tổng 547.000
Nguồn: Các Sở thuỷ sản và Sở NN &PTNT các tỉnh có liên quan.
Toàn vùng có khoảng 547.000 ha diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ
sản nớc ngọt .Tỉnh có diện tích lớn nhất là Cần Thơ (108 ha ), chiếm 20% cơ
cấu diện tích khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc ngọt của cả vùng và Sóc Trăng có
diện tích nhỏ nhất (4.000 ha), chiếm 0,07% so với cả vùng.
Qua những con số trên ta thấy Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng thật sự
có u thế không chỉ về nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn mà cả về nuôi trồng thuỷ sản

nớc ngọt.
b. Tài nguyên sinh vật.
Thứ nhất, sinh vật vùng sinh thái nớc ngọt: Toàn vùng sinh thái nớc ngọt
vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có khoảng 250 loài thực vật phù du, 49 loài
động phù du và 47 loài động vật đáy. Mật độ thực vật phù du thống kê đợc lên
tới 29.950- 674.670 tế bào/lít, mật độ động vật phù du đạt đợc 3,5- 25,8g/ m
3
.
Nguồn sinh vật lợng phong phú chủ yếu từ sinh vật phù du, động vật đáy,
là cơ sở thức ăn tự nhiên thích hợp cho rất nhiều động vật ở bậc dinh dỡng tiếp
theo là cơ sở cho sự đa dạng thành phần loài và giàu có về sản lợng của lớp cá
nơi đây.
Với khu hệ cá nớc ngọt Đồng Bằng Sông Cửu Long đã định đợc 225 loài
thuộc 43 họ, 130 giống trong đó có 55 loài có giá trị kinh tế cao. Riêng với hệ
sinh thái rừng tràm U Minh đã tìm thấy 14 loài cá, trong đó có các loài có giá trị
kinh tế cao nh cá, trê vàng, cá sặc rằng.
Một số đặc trng sinh thái cơ bản này là rất quan trọng, nó là cơ sở để định
hớng các mô hình nuôi phù hợp. Ví dụ nh : các loài cá thờng thích nghi trong các
môi trờng nớc luôn vận động, xáo trộn.
Thứ hai, sinh vật vùng cửa sông ven biển: Vùng cửa sông ven biển có tính
chất đặc trng là môi trờng luôn biến động theo cả không gian và thời gian. Nhiều
nhóm loài sinh vật khác nhau đã thay nhau tồn tại và phát triển trong vùng cửa
sông, tạo nên một hệ sản xuất có năng suất sinh học cao.
Đến nay, thực vật phù du khu hệ tảo vùng cửa sông ven biển vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long đã xác định đợc 383 loài thuộc 7 ngành tảo. Động vật phù
du gồm 313 loài. Động vật đáy gồm 375 loài. Khu hệ cá gồm 155 loài.
Sự đa dạng về thành phần và sự phong phú về số lợng cá thể là một cơ sở
thuận lợi cho phép ta xác định đối tợng thích hợp đa vào nuôi trồng.
2. Xu hớng thị trờng.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng thì tiêu thụ sản

phẩm hay đầu ra của sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất cho định hớng phát
phát triển sản xuất. Đặc biệt đối với sản phẩm nông nghiệp, khi cần đầu t lâu dài
để tạo ra sản phẩm và sự linh hoạt trong sự thay đổi mặt hàng và cách thức canh
tác không phải là dễ thì việc nhận định xu hớng thị trờng vô cùng quan trọng khi
xác định phơng hớng sản xuất. Với việc coi nuôi trồng thuỷ sản là một ngành
nông nghiệp mở rộng (sử dụng tài nguyên đất và nớc làm t liệu sản suất chính và
dựa vào quá trình tự nhiên) thì muốn phát triển nuôi trồng thuỷ sản hiệu quả và
bền vững cũng không thể vợt ra khỏi quy luật này. Với một năm 2000 đầy biến
động về giá cả hàng thuỷ sản với sự gia tăng đột biến và sự giảm giá kéo dài của
của nhiều hàng nông sản nh chè, cao xu, hạt tiêu và đặc biệt là gạo đã thúc đẩy
nông dân đầu t vào lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản ở khắp nơi trên cả nớc, trong đó
vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là sôi động nhất và cũng là vùng có điều kiện
tự nhiên thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản mà hầu nh không vùng nào
sánh đợc.
2.1 Thị trờng nội địa.
Theo số liệu thống kê năm 2000, tổng sản lợng thuỷ sản Việt Nam
khoảng 2,4 triệu tấn (trừ phần xuất khẩu và cá tạp để làm bột cá ), ớc tính lợng
thuỷ sản trên đầu ngời của Việt Nam khoảng 17,5 Kg thuỷ sản nguyên liệu. Nếu
tính phần ăn đợc (trừ vẩy, đầu, xơng) là 55% thì lợng thuỷ sản tiêu thụ ở Việt
Nam khoảng 10- 11 Kg/ ngời. Trong khi đó sản phẩm từ nuôi trồng chiếm 1/2
tức là chiếm khoảng 8,5- 9 Kg thuỷ sản toàn phần và 5- 5,5 Kg phần ăn đợc của
thuỷ sản. Thuỷ sản ở Việt Nam cung cấp khoảng 30% nhu cầu đạm cho dân c,
riêng Đồng Bằng Sông Cửu Long tỷ lệ này lên tới 60% và mức tiêu thụ trung
bình gấp 4- 5 lần ở các vùng khác.
Nếu so lợng tiêu thụ thuỷ sản của nớc ta so với các nớc khác trong khu
vực thì Việt Nam xếp hàng trung bình (Inđônsia, Philipin đều ở khoảng 17 Kg/
ngời). So với mức tiêu thụ của nhiều nớc có biển khác trên thế giới thì Việt Nam
thuộc loại thấp (Nhật 90 Kg/ngời, Trung Quốc 25 kg/ngời). Do vậy, thị trờng
hàng hoá cho thuỷ sản trong nớc còn rất rộng. Chúng ta cần phải thấy rằng, đòi
hỏi về chất hàng hoá ngày càng cao. Do đó, chỉ có giống loài thuỷ sản có giá trị

dinh dỡng và thơng mại cao mới có tơng lai lâu bền bởi vì khi thu nhập tăng lên
và với xu hớng tiêu dùng hiện đại, mọi ngời ngày càng hớng tới thuỷ sản cao
cấp. Vì vậy ở thị trờng nội địa xu hớng tiêu thụ sản phẩm có giá trị kinh tế cao,
chất lợng tốt cũng tăng lên nhanh chóng. Nếu trớc những năm 90, thuỷ sản đợc
tiêu thụ dới dạng nguyên con, các giống loài phát triển nhanh (mè, rô phi, cá ớp
đá,thì ngày nay là các loài cá đã chế biến, sơ chế, lạnh đông , tơi và cả đồ hộp
đã trở thành phổ biến. Những đối tợng thuỷ sản gía cao nh tôm biển, cua, ghẹ,
tôm hùm, các loại cá ăn thịt nh cá mú, cá giò, cá chình, cá tra, cá basađợc tiêu
thụ khá rộng rãi - những hàng hoá đó chủ yếu đợc tiêu thụ dới dạng sống. Với
hai lý do là nguồn tự nhiên những loài thuỷ sản quí đó bị khai thác cạn kiệt và do
khai thác tự nhiên khó giữ đợc sống nên những mặt hàng thuỷ sản đó sẽ ngày
càng đòi hỏi phải đợc cung cấp từ nuôi trồng.
2.2 Thị trờng thuỷ sản thế giới.
Trên thị trờng thuỷ sản thế giới khối lợng hàng hoá thuỷ sản đợc trao đổi
ngày càng nhiều. Tổng giá trị trao đổi năm 2001 đã lên tới gần 120 tỷ $. Càng
ngày thuỷ sản càng đợc tin tởng nh một loài thực phẩm ít gây bệnh tật (tim
mạch ,béo phì, ung th) và ít ảnh hởng ô nhiễm. Sự xuất hện của những căn
bệnh bò điên, long móng ở gia súc làm cho nhu cầu thuỷ sản tăng mạnh. Nhu
cầu ấy tạo ra một thái cực hết sức thuận lợi cho ngời cung cấp thuỷ sản vì ngời
mua thờng là những nớc phát triển cao, do đó, giá mua vào luôn có xu hớng tăng
và ở mức độ cao, ngời sản xuất thờng ở các nớc nghèo, đang phát triển .
Theo số liệu thống kê của tổ chức Nông lơng thế giới (FAO), lợng thuỷ
sản đợc cung cấp từ khai thác biển (tổng số khoảng 80 triệu tấn nhng chỉ có 50
triệu tấn là cho nhu cầu tiêu thụ trực tiếp) và khai thác tự nhiên nội địa (khoảng
6,5 triệu tấn). Nguồn lợi khai thác tự nhiên về thuỷ sản có thể nói đã đạt đến trần
với 70% các loài hải sản đã bị coi là khai thác hoàn toàn hoặc quá mức (theo
PM.Mace, 1996, Hội nghị nghề cá thế giới lần 2). Nuôi trồng thuỷ sản đợc coi là
một hiện tợng phát triển song tập chung chủ yếu ở Châu á (khoảng 80% trong
tổng số khoảng 20 triệu tấn thuỷ sản động vật và 5,5 triệu tấn thuỷ sản thực vật).
Bình quân tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới 13 Kg/ngời (theo mức thuỷ sản toàn

phần).
Nh vậy nếu xem xét toàn diện các sản phẩm có thể nói rằng thuỷ sản cha
vợt quá ngỡng cầu nghĩa là cha bị ứ thừa và do đó còn mang lại cơ hội cho các
nhà sản xuất. Chỉ có thể có những thất thờng nhất định xảy ra do các điều kiện
phát triển kinh tế chính trị mà trong đó những khoảng thời gian nhất định ở một
số thị trờng các sản phẩm có thể tiêu thụ chậm hoặc giá cả không đạt đợc nh
mong đợi.
Trong các giống loài thuỷ sản đợc a chuộng trên thị trờng thế giới thì các
loài hải sản nhiệt đới có giá trị cao nhất. Nớc ta có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt
đới cho nên về mặt hàng này ta có lợi thế lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
Đặc biệt là các loài quí có giá trị cao. Cũng chính vì lẽ đó mà hàng thuỷ sản của
Việt Nam ngày càng có tính cạnh tranh trên thị trờng thế giới (kim ngạch xuất
khẩu năm 2002 đạt 2,014 triệu USD, tăng 13,3 % so với năm 2001). Hàng thuỷ
sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay có mặt ở hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ
nhng tập trung lớn nhất vào Nhật Bản (25- 30 % ), Mỹ (25-30), một số nớc Châu
á khác nh Trung Quốc, Hông Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lanvà các nớc
thuộc EU. Một lợi thế cần phải nói về thị trờng là các sản phẩm sống ngày càng
có giá trị cao và đợc tiêu thụ mạnh mà thị trờng lại chủ yếu nằm ở Đông Nam á
và Việt Nam là nhà cung cấp có lợi thế về khoảng cách nhất so với các nớc khác.
Trong các hàng hoá đợc tiêu thụ mạnh và có giá trị cao trên thị trờng thế
giới phải nói đến là tôm nớc mặn. Do là đối tợng có giá trị thơng mại cao nhất
trong ngoại thơng thế giới nên nhiều loài tôm biển đã đợc nuôi, đặc biệt là tôm
sú. Hiện nay, sản lợng nuôi tôm sú vào khoảng 600- 650 nghìn tấn/năm (cao nhất
thế giới). Nhu cầu tôm thị trờng thế giới đến năm 2010 đã dự đoán khoảng 4
triệu tấn sản phẩm, tức là 7- 8 triệu tấn nguyên liệu. Hiện nay mức cung cấp
khoảng 3 triệu tấn sản phẩm/năm. Trong khi đó nguồn tôm biển tự nhiên đã bị
khai thác gần nh cạn kiệt. Đây là đối tợng có sức hấp dẫn và giá đơn vị sản phẩm
vào loại cao nhất trong các đối tợng hàng hoá thuỷ sản trên thị trờng quốc tế.
Hơn thế nữa, tôm sú còn là đối tợng nuôi tơng đối dễ, có chu kỳ sản xuất ngắn
(3- 4 tháng). Hơn 30 năm qua giá tôm trên thị trờng quốc tế luôn luôn tăng giao

động ở mức cao. Chính vì thế nhiều nớc trên thế giới, nhất là các nớc nhiệt đới
đang phát triển đặc biệt quan tâm đến phát triển nghề nuôi tôm nh Thái Lan, Ân
Độ, Inđonêsia, Trung Quốc, Chi Lê, Ecuador.ngoài tôm sú ngời ta cũng phát
triển tôm he để xuất khẩu vào Bắc Mỹ.
Cuộc cạnh tranh để phát triển nuôi tôm sẽ rất gay gắt. Tuy nhiên, với nhu
cầu thị trờng còn lớn và lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng nh nguồn lao động và
chi thức tin chắc rằng Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh đợc với các nớc về
mặt hàng này trong thời gian tới nếu chúng ta giảm đợc giá thành sản phẩm và
áp dụng công nghệ sản xuất cho năng suất cao hơn, bền vững về sinh thái, sạch
về môi trờng, an toàn về vệ sinh thực phẩm và ít dịch bệnh.
Đối với cá biển, nhiều loài cá đáy và cá thịt trắng (nh cá song, cá vực, cá
măng biển) là những đối tợng có đầu ra và giá cá tốt, ổn định ở mức cao trên
thị trờng quốc tế, cần đợc phát triển nuôi. Cái khó cơ bản của nuôi các đối tợng
này ở nớc ta là cung cấp giống và thức ăn. Một số nớc đã sản suất đợc giống các
loài đó. Nếu Việt Nam xem xét một cách nghiêm túc vấn đề này thì đây là hớng
nuôi đầy triển vọng.
Các loài giáp xác nh cua, ghẹ, các loài nhiễm thể là những sản phẩm đợc
rất a chuộng và có giá cao trên thị trờng thế giới mà Việt Nam nói chung và
Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng đều có những điều kiện sản xuất thuận lợi.
Các đối tợng cá nớc ngọt tuy không có thị trờng hẫp dẫn bằng các đối tợng
kể trên song một số loài cũng đang trở thành hàng hoá hấp dẫn cho thị trờng
trong nớc và thế giới nh các loài thuộc dòng da trơn (cá tra, cá basa, trê vàng),
các loài bống tợng, tôm càng xanh,đang có giá trị và nhu cầu cao ở thị trờng đô
thị và thị trờng nớc ngoài.
III. Sự cần thiết phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long .
Đồng Bằng Sông Cửu Long là phần tận cùng của lu vực sông Mê Kông.
Nó là vùng đất giàu tiềm năng, sự phát triển của vùng này đóng một vai trò đặc
biệt quan trọng để phát triển kinh tế một cách phồn vinh cho cả nớc, đặc biệt là
trong lĩnh vực nông nghiệp và thuỷ sản.

Đồng Bằng Sông Cửu Long với diện tích 39.700 Km
2
chiếm khoảng 12 %
diện tích của cả nớc và khoảng 16.5 triệu ngời sinh sống (chiếm 21 % dân số cả
nớc ). Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng sản xuất lơng thực rộng lớn nhất của
nớc ta với diện tích cây lơng thực hơn 4 triệu ha (chiếm khoảng 45 % diện tích
cây lơng thực cả nớc, tạo khoảng 17 triệu tấn lơng thực qui thóc. Trong đó gần 4
triệu ha diện tích trồng lúa, chiếm 52 % diện tích trồng lúa cả nớc và sản lợng
lúa đạt khoảng 16,5 triệu tấn chiếm 1/2 lợng lúa sản xuất của nớc ta. Do vùng
này tập trung sản xuất lơng thực lớn nên bình quân lơng thực đầu ngời toàn
vùng đạt mức 1000 Kg/ngời, tạo ra một lợng lơng thực hàng hoá, đặc biệt là gạo
cho xuất khẩu và góp phần quan trọng để đảm bảo an ninh lơng thực cho đất n-
ớc.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp Đồng Bằng Sông Cửu Long còn là vùng
sản xuất thuỷ sản lớn nhất cả nớc và có vai trò đặc biệt quan trọng trong xuất
khẩu thuỷ sản ở nớc ta. Đến nay tổng sản lợng thuỷ sản của vùng chiếm khoảng
55 % so với tổng sản lợng của toàn quốc. Nuôi trồng thuỷ sản chiếm 60 % diện
tích và 55 % sản lợng, giá trị xuất khẩu thuỷ sản cũng chiếm tới 61 % toàn quốc.
Trớc năm 2000 hầu nh tất cả các tỉnh vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đã
có quy hoặch sử dụng đất đai đợc Chính Phủ phê duyệt trên tinh thần bảo vệ
nghiêm ngặt đất trồng lúa cũng nh tăng cờng khai hoang lấn biển mở rộng ngọt
hoá để phát triển đất canh tác nông nghiệp. Việc mở rộng đất trồng lúa là thành
tựu quan trọng trong mời năm qua, góp phần tạo ra lúa hàng hoá không những
đảm bảo an ninh lơng thực cho toàn quốc mà còn d ra một lợng khá (hàng triệu
tấn gạo) cho xuất khẩu, đa xuất khẩu gạo nớc ta lên hàng thứ hai trên thế giới.
Tuy nhiên, nhu cầu gạo trên thị trờng thế gới mấy năm gần đây tơng đối
ổn định và xuất khẩu gạo có chiều hớng giảm. Do đó, sản xuất lúa gạo trở thành
mặt hàng có thu nhập thấp, ít lợi nhuận. Nó đã gây nhiều khó khăn cho nông dân
và giải quyết tiêu thụ gạo cho nông của Chính Phủ. Vì thế, Chính Phủ đã có
Nghị quyết 09/CP- NQ về việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm

nông nghiệp cho phép chuyển đổi một số diện tích đất đai trồng lúa và canh tác
khác kém hiệu quả sang canh tác các loại hình sản xuất khác có hiệu quả hơn,
đặc biệt là nhấn mạnh hơn đến vai trò của phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
Với động thái mở đờng của Chính Phủ cộng với những biến đổi có tính
chất đột biến có lợi cho các hàng thuỷ sản trên thị trờng thế giới, đặc biệt là tính
chất tăng giá đột biến của các mặt hàng thuỷ sản cao cấp đã tạo ra cơn sốt
chuyển dịch đất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh ven biển.
Do nhu cầu thị trờng thế giới về hàng thuỷ sản khá cao và ổn định, những
điều kiện sản xuất nuôi trồng thuỷ sản khắt khe chỉ phù hợp cho cho một số vùng
có điều kiện tự nhiên và khí hậu nhất định. Vì thế, nhờ lợi thế khí hậu nhiệt đới
nóng ẩm, ma nhiều và bờ biển dài, tiềm năng to lớn cho phát triển nuôi trồng
thuỷ sản, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đã chuyển sang phát triển nuôi trồng
thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản là cách tiếp cận tận dụng lợi thế về tiềm năng
của vùng.
Nuôi trồng thuỷ sản là cơ hội có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cả
hai khía cạnh: tạo ra gía trị sản phẩm lớn trên một đơn vị diện tích canh tác và tỷ
suất lợi nhuận khá cao ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đối với các vùng nớc mặn,
đặc biệt là các vùng ngập nớc và ngập mặn việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản
chẳng những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần giữ vững và phát
triển đa dạng sinh học và bền vững sinh thái.
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản sẽ tạo ra hàng hoá lớn đẩy nhanh tiến độ
của quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn của vùng,
đó là cơ sở của chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng. Nuôi trồng thuỷ sản còn là
cơ sở cho việc phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ thuỷ sản và tăng trởng
kinh tế vùng.
Nuôi trồng thuỷ sản góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho
hàng nghìn ngời dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nhiều cộng đồng dân c,
nhất là các cộng đồng dân c ở vùng ven biển, trên vùng đầm phá có cuộc sống
phải dựa vào ngành thuỷ sản, trong số họ, đại bộ phận sống rất nghèo khổ. Nhờ
chuyển từ sản xuất chỉ cho tiêu dùng trong nớc sang xuất khẩu, nhờ tác động của

sự phát triển kinh tế, giá cả và vị trí của các sản phẩm thuỷ sản tăng lên làm cho
việc sản xuất các mặt hàng thuỷ sản tăng lên, đời sống của ngời sản xuất hàng
thuỷ sản đợc cải thiện, nhiều công việc mới đợc mở ra do phát triển nuôi trồng
thuỷ sản.
Vì vậy việc chuyển đổi một số diện tích trớc đây dành cho nông nghiệp
nhng thiếu ổn định sang nuôi trồng thuỷ sản hoàn toàn hoặc kết hợp giữa canh
tác nông nghiệp, lâm nghiệp với nuôi trồng thuỷ sản là cần thiết. Đây là cách
tiếp cận tận dụng lợi thế về tiềm năng, u thế của đất nớc và phù hợp với ý nguyện
của nhân dân góp phần tạo ra hàng hoá lớn đẩy nhanh tiến độ của quá trình công
nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Chơng II
Thực trạng phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long giai đoạn 1996- 2002.
I. Thực trạng nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
1. Thực trạng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn lợ.
1.1. Thực trạng chung về diện tích và sản lợng.
a. Diện tích.
Theo báo cáo về phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long cho thấy: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn- lợ vùng này có chiều h-
ớng tăng mạnh từ 247.581 ha năm 1996 lên đến 443.026 ha năm 2002, mức tăng
là 195.445 ha, tỷ lệ tăng là 78,94% so với năm 1996 và chiếm 83,59 % tổng diện
tích nuôi mặn- lợ toàn quốc ( 530.000 ha) (Bảng 04).
Trong xu hớng chung diện tích tăng đó, có những tỉnh có những diện tích
nuôi trồng thuỷ sản tăng rất nhanh nh Cà Mau ( từ 116.043 ha năm 1996 lên
212.000 ha năm 2002). Long An là tỉnh không có biển, tuy diện tích nuôi trồng
thuỷ sản mặn- lợ ít nhất so với các tỉnh khác trong vùng nhng diện tích này
không ngừng tăng. Năm 1996 mới có 849 ha, đến năm 2002 con số này đã là
4.530 ha. Bên cạnh đó, Trà Vinh và Tiền Giang lại có diện tích nuôi trồng thuỷ
sản giảm trong một năm ( 2000- 2001). Tỉnh Tiền Giang diện tích nuôi trồng
thuỷ sản giảm từ 4.341 ha năm 2000 xuống 4.185 ha năm 2001. Tỉnh Trà Vinh

diện tích nuôi trồng thuỷ sản giảm từ 25.000 ha năm 2000 xuống 21.510 ha năm
2002. Năm 2000 là năm thực hiện Nghị quyết số 09/ 2000/NQ- CP của Chính
Phủ về một số chủ trơng và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp cho phép chuyển đổi một số diện tích đất từ trồng lúa làm
muối năng suất thấp, kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều địa phơng
đã tham gia chuyển đổi một cách tích cực. Đặc biệt là các tỉnh Cà Mau, Bạc
Liêu, Sóc Trăng và đạt đợc kết quả cao về sản lợng nuôi trồng. Chính vì vậy
trong những năm gần đây các tỉnh này vẫn phát triển về diện tích nuôi trồng thuỷ
sản. Tuy nhiên, việc thực hiện chuyển đổi ở nhiều địa phơng nh Tiền Giang, Trà
Vinh đã diễn ra trên cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thuỷ sản hầu nh cha có gì, ng-
ời dân cha có kiến thức, kỹ thuật trong việc xây dựng, cải tạo và chuẩn bị ao nuôi
cho thích hợp với điều kiện tự nhiên trong khu vực và cha biết quản lý.
Bảng 04: Dịên tích nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn- lợ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long giai đoạn 1996- 2002.
Đơn vị: Diện tích (ha)
TT Tỉnh Năm
1996
Năm
1997
Năm
1998
Năm
1999
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
1 Long An 849 868 1.100 1.355 1.774 3.288 4.530
2 Tiền Giang 4.008 4.280 4.300 4.300 4.341 4.158 4.585

3 Kiên Giang 10.882 10.882 10.882 11.250 12.500 33.651 40.000
4 Trà Vinh 22.000 24.000 24.580 24.580 25.000 21.510 21.510
5 Bến Tre 24.680 24.680 24.680 25.550 25.550 26.573 30.873
6 Bạc Liêu 30.900 35.925 35.329 37.896 40.661 88.485 96.369
7 Sóc Trăng 23.190 33.194 33.194 32.580 33.500 42.500 43.159
8 Cà Mau 116.043 116.043 127.022 126.645 142.430 202.000 202.000
Toàn vùng 232.552 248.872 261.087 264.156 285.756 422.192 443.026
Nguồn: Các Sở Thuỷ sản, Sở NN&PTNT các tỉnh.
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác nh yếu tố thời tiết, mùa bệnh hậu
quả là nhiều vùng mới chuyển đổi, nhiều hộ ban đầu đã thiệt hại. Để khắc phục
hậu quả đó, nhiều diện tích mặt nớc nuôi đã đợc ngời dân thu hẹp lại, phần diện
tích còn lại dùng làm ao lắng, xử lý nớc trớc khi dùng nuôi thuỷ sản ( đây là
nguyên nhân chính dẫn đến một số diện tích nuôi bị giảm trong những năm qua).
Đồng thời ban lãnh đạo và chỉ đạo các địa phơng đã phối hợp với các ban, đài
phát thanh và truyền hình thực hiện nhiều chơng trình về các vấn đề cơ bản trong
kỹ thuật nuôi, trong đó có lu ý đến các vấn đề quan trọng trong nuôi trồng thuỷ
sản ở một số vùng đã chuyển đổi. Điều này đã góp phần giảm thiệt hại cho dân.
Diện tích nuôi vẫn đợc mở ra.
b. Sản lợng.
Trong giai đoạn 1996- 2002, sản lợng nuôi trồng thuỷ sản (măn, lợ, ngọt)
của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long không ngừng tăng. Năm 2002, sản lợng
nuôi trồng thuỷ sản tăng gấp 3,4 lần so với năm 1996, mức tăng là 347.017 tấn,
tỷ lệ tăng là 239,95 %. (Phụ lục 01: Tổng sản lợng nuôi trồng thuỷ sản vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long giai đoạn 1996- 2002).Trong kết quả chung đó, sản
lợng nuôi trồng thuỷ sản nặm lợ có sự đóng góp đáng kể. Điều này càng đợc
khẳng định rõ hơn kể từ khi có Nghị Quyết 09/ 2000/ QĐ- CP đến nay. Mức sản
lợng tăng nhanh trong 3 năm (năm 2000, năm 2001, năm 2002). Năm 2000 tổng
sản lợng nuôi mặn, lợ là 122.963 tấn, năm 2002 đã lên tới 207.816 tấn, tức tăng
84.853 tấn với tỷ lệ tăng tơng ứng là 69 %.Tốc độ tăng trởng bình quân về sản l-

ợng nuôi trong 3 năm là 32,81 %.
Bảng 05: Sản lợng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn lợ vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long giai đoạn 2000- 2002.
Đơn vị: Sản lợng : Tấn
Tốc độ tăng trởng bình quân: %.
TT Tỉnh Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Tốc độ tăng
trởng bq/năm
1 Long An 1.132 2.089 2.289 47,06
2 Tiền Giang 13.300 21.588 25.000 39,05
3 Kiên Giang 3.246 15.300 10.800 164,83
4 Trà Vinh 11.450 7.880 6.936 - 29,43
5 Bến Tre 10.900 27.797 29.500 80,58
6 Bạc Liêu 13.549 37.150 48.000 101,69
7 Sóc Trăng 11.889 17.445 15.291 32,64
8 Cà Mau 57.497 67.500 70.000 10,54
Toàn vùng 122.963 196.749 207.816 32,81
Nguồn: Các Sở Thuỷ sản, Sở NN&PTNT và Ban chỉ đạo Chơng trình nuôi.
Xét về tốc độ tăng trởng bình quân: Kiên Giang là tỉnh có tốc độ tăng tr-
ởng bình quân lớn nhất đạt 164,84%/ năm. Đây là tỉnh có tiềm năng nuôi thuỷ
sản mặn lợ khá lớn. Tuy nhiên, năm 2002 sản lợng nuôi của tỉnh này giảm rất
nhiều, 4500 tấn so với chỉ một năm 2001. Riêng Trà Vinh sản lợng nuôi trồng lại
liên tục giảm với tốc độ giảm bình quân trong ba năm liên tiếp là 29,43 %.
Nguyên nhân là do diện tích nuôi bị thu hẹp, công tác quản lý trong nuôi trồng
Hoàng Thị Vân - Lớp KTPT 41B

Chuyên đề tốt nghiệp
cha chặt chẽ, dịch bệnh, trình độ nuôi của ngời dân còn thấp dẫn đến giảm
năng suất nuôi.
Cà Mau là tỉnh có diện tích chuyển đổi tơng đối lớn, sản lợng nuôi trồng
thuỷ sản mặn- lợ có tăng nhng cha tăng tơng xứng với diện tích. Nhng nhìn
chung đến năm 2002, Cà Mau có diện tích và sản lợng lớn nhất cả nớc, chiếm
48,64% sản lợng thuỷ sản cả nớc ( 529.888 tấn ).
Việc tăng sản lợng nuôi trồng thuỷ sản mặn- lợ vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long thời gian qua đã góp phần đáng kể trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong nớc và cho chế biến xuất khẩu.
Ngành thuỷ sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và nuôi trồng
thuỷ sản của vùng nói riêng luôn giữ vị trí quan trọng trong kinh tế thuỷ sản của
đất nớc.
1.2. Thực trạng về nuôi trồng thuỷ sản của một số đối tợng chủ yếu.
1.2.1. Nuôi tôm mặn lợ.
Nghề nuôi tôm của toàn quốc nói chung và khu vực Đồng Bằng Sông Cửu
Long nói riêng ngày càng phát triển mạnh cả về diện tích, sản lợng, năng suất
cũng nh trình độ canh tác và công nghệ. Đối tợng nuôi chủ yếu là tôm sú, các
đối tợng khác chỉ chiếm một phần nhỏ trong cơ cấu tôm nuôi vùng ven biển Việt
Nam cũng nh vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Các đối tợng tôm nuôi có tỷ lệ
nhỏ nh tôm he, tôm nơng, tôm rảo, tôm hùm
a. Diện tích nuôi.
Quá trình mở rộng diện tích đất nuôi tôm nớc lợ vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long đã diễn ra từ 1996 đến nay đợc thể hiện trong nội dung bảng 06:
Hoàng Thị Vân - Lớp KTPT 41B
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 06: Diện tích nuôi tôm ven biển nớc mặn lợ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long giai đoạn 1996- 2002.
Đơn vị: diện tích : ha; tốc độ tăng trởng bình quân năm: %/năm.
TT Tỉnh Năm
1996

Năm
1997
Năm
1998
Năm
1999
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Tốc độ tăng tr-
ởng bq/ năm
1 Long An 597 803 1.035 1.355 1.475 3.288 5.530 49,04
2 Tiền Giang 2.740 3.080 3.165 3.896 2.282 2.385 2.775 2,95
3 Bến Tre 21.198 16.932 20.081 27.863 24.248 23.085 27.315 6,29
4 Trà Vinh 3.941 2.102 6.000 8.500 8.361 12.950 11.500 36,95
5 Sóc Trăng 19.607 32.676 29.467 34.096 33.207 42.500 34.159 13,05
6 Bạc Liêu 40.831 40.727 37.715 37.874 33.348 85.614 96.119 8,64
7 Cà Mau 82.962 8.826 103.559 98.809 15.000 202.000 202.000 34,45
8 Kiên Giang 4.827 4.269 9.922 9.974 12.520 30.851 38.000 52,74
Toàn vùng 176.703 183.415 210.944 222.448 265.441 402.73 417.398 16,49
Nguồn: Các Sở Thuỷ sản, Sở NN&PTNT.
Hoàng Thị Vân Lớp KTPT 41B
Chuyên đề tốt nghiệp
Diện tích nuôi tôm nớc lợ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long không ngừng
tăng trong suốt giai đoạn 1996- 2002, từ 176.703 ha năm 1996 lên 417.398 ha
năm 2002, mức tăng là 240.695 ha. Tốc độ tăng trởng về diện tích nuôi tôm nớc
lợ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trong nhiều năm qua là tơng đối nhanh, bình

quân16,49%/năm. Tốc độ tăng mạnh nhất là Kiên Giang 52,74 %/ năm và thấp
nhất là Tiền Giang 2,95%/ năm.
Trong thời gian qua, diện tích nuôi tôm của hầu hết các tỉnh Đồng Bằng
Sông Cửu Long là tăng. Cà Mau là tỉnh có diện tích nuôi tôm nớc lợ lớn nhất.
Đến năm 2002, diện tích nuôi tôm là 202.000 ha, chiếm 48,395 diện tích nuôi
tôm nớc lợ của cả vùng và 43,32% diện tích nuôi tôm cả nớc.
Hầu nh toàn tỉnh Cà Mau đợc khoanh vùng để nuôi tôm, theo kế hoạch
2010 toàn bộ diện tích 337.000 ha sẽ đợc nuôi tôm, trong đó cả 227.000 chuyên
tôm. Còn lại 150.000 ha là nuôi tôm kết hợp với trồng lúa một vụ. Chúng ta cần
chú trọng hơn nữa cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản của vùng này.
Diện tích nuôi tôm của Trà Vinh và Sóc Trăng lại giảm. Hiện tợng tôm
nuôi lại chết xảy ra trên diện rộng, có lúc gây thiệt hại nặng nề tại một số tỉnh.
Nhất là Trà Vinh và Sóc Trăng. Nguyên nhân tôm chết là nắng nóng khô hạn kéo
dài; chất lợng tôm giống cha cao, mùa vụ thả nuôi cha thích hợp, ngời nuôi còn
thiếu kinh nghiệm để đánh giá chất lợng giống; tốc độ thả giống cao, lại thả liên
tục tạo điều kiện cho mầm bệnh lu tồn và bộc phát khi có điều kiện; cơ sở hạ
tầng cho vùng nuôi còn nhiều bất cập, cha đáp ứng nhu cầu nớc sạch và tiêu nớc
thải cho ao nuôi, ruộng nuôi nhất là vùng mới chuyển đổi; tôm chết còn do
nhiễm một số bệnh nh vi rút đốm trắng, MBU, bệnh đầu vàng và bệnh do vi
khuẩn Do đó nhiều diện tích nuôi phải thu hẹp để lấy ra một phần diện tích
nuôi làm ao xử lý nớc, cũng kiểm tra d lợng hoá chất trớc khi thả và ao đầm nuôi
chính.
Khả năng và tiềm năng về diện tích nuôi tôm nớc lợ vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long là lớn. Chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu để vùng phát
huy đợc những lợi thế cho nuôi tôm trong những năm tới.
b. Sản lợng.
Nhờ diện tích nuôi tôm đợc mở rộng và trình độ nuôi khá lên nên sản lợng
nuôi tôm tăng lên nhanh chóng. Năm 2002 sản lợng nuôi tôm vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long đã tăng gấp 4 lần so với năm 1996 (tăng 96.431 tấn, tốc độ tăng
249, 23%).Tốc độ tăng trởng bình quân về sản lợng là 28,25 %, nhanh hơn tốc

độ tăng trởng bình quân về diện tích (16,49 %/ năm) (Bảng 07). Đây thực sự là
một dấu hiệu tốt cho phát triển nuôi tôm của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Hoàng Thị Vân - Lớp KTPT 41B

×