Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

Đề tài : Đánh giá dự báo kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoai (FDI) tại việt nam giai đoạn 2011 2015 thông qua các thông số kinh tế cơ bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 125 trang )

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI





ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 THÔNG QUA CÁC THÔNG
SỐ KINH TẾ CƠ BẢN


Mã số: 05.10.RD/HĐ-NCKH
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Chủ nhiệm đề tài: CN. Hoàng Ngọc Oanh





8398


Hà Nội, tháng 12/2010


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI



Tên viết tắt Nội dung
ASEAN Khu vực Đông Nam Á
BOT Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao
BT Xây dựng – chuyển giao
BTA Hiệp định thương mại song phương
CN Công nghiệp
DN Doanh nghiệp
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
EU Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GTGT Giá trị gia tăng
ICOR
Chỉ số đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần
tăng thêm
IPA Cơ quan thúc đẩy đầu tư
KCX – KCN Khu chế xuất – Khu công nghiệp
KN Kim ngạch
NSNN Ngân sách nhà nước
ODA Nguồn vốn hỗ trợ không hoàn lại
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TCMN Thủ công mỹ nghệ
TNC Công ty xuyên quốc gia
UNCTAD Hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát triển
FTA Hiệp định thương mại tự do
TNDT Thu nhập doanh nghiệp
XNK Xuất nhập khẩu
XK Xuất khẩu
NK Nhập khẩu



1
MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết nghiên cứu
Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được
những thành tựu khá thuyết phục về kinh tế và xã hội. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế đạt trung bình 7,3% (trong đó giai đoạn 2005-2010 đạt 7%), GDP thực
bình quân đầu người tăng trung bình 5,7% hàng năm và tỷ lệ nghèo giảm từ
gần 80% năm 1986 xuống còn 24% vào năm 2004, xuống 13% năm 2008 và
d
ưới 10% trong năm 2010. Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam luôn được
xếp vào nhóm nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời có thành tích
giảm nghèo nhanh trên thế giới.
Thành tựu trên đây là tín hiệu tốt của quá trình chuyển đổi kinh tế và là
kết quả của các chính sách mà Việt Nam đã và đang thực hiện trước những
thay đổi nhanh chóng của kinh tế thế giới, đặc biệt là xu thế toàn cấu hóa. Từ
cuố
i thập kỷ 80, Việt Nam đã thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế, bắt đầu
bằng việc thông qua Luật Đầu tư Nước ngoài vào năm 1987, tiến hành ký kết
các hiệp định thương mại song phương và đa phương, gần đây nhất là Hiệp
định thương mại Việt-Mỹ. Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN từ
năm 1995, của APEC từ năm 1998, tham gia Diễn đ
àn kinh tế Á – Âu
(ASEM) vào năm 2001; gia nhập WTO vào năm 2007; ký kết 5 hiệp định
Thương mại tự do song phương FTA…
Bên cạnh mở cửa cho thương mại, cũng như nhiều quốc gia đang phát
triển khác, Việt Nam đã và đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư, trước
hết là khung khổ pháp luật nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Việt Nam đã ký hiệp định song ph

ương về khuyến khích và bảo hộ đầu
tư với trên 45 nước và vùng lãnh thổ, trong đó phạm vi điều chỉnh của các
hiệp định đều mở rộng hơn so với những qui định hiện hành của Luật Đầu tư
Nước ngoài tại Việt Nam. Các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam đã đem lại
những kết quả đáng khích lệ về thu hút vốn FDI. Đế
n nay, khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài được công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế
với đóng góp vào GDP ngày càng tăng. Ngoài ra, khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài còn tạo thêm việc làm, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và chuyển
đổi cơ cấu kinh tế trong nước và đóng góp cho Ngân sách Nhà nước. Mặc dù
đã đạt được những kết quả nhất định, nhiều ý kiến cho rằng Vi
ệt Nam vẫn

2
chưa tận dụng tối ưu các cơ hội thu hút FDI và chưa tối đa được lợi ích mà
đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể mang lại. Cơ sở dẫn đến các nhận xét trên
là diễn biến bất thường về dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam, tỷ lệ FDI thực
hiện so với vốn đăng ký còn thấp, chỉ tập trung trong một số ngành, vùng, khả
năng tuyển dụng lao độ
ng còn khiêm tốn v.v. Phần lớn các dự án FDI có quy
mô nhỏ, công nghệ sử dụng chủ yếu có nguồn gốc từ Châu Á, đạt mức trung
bình, đặc biệt là Việt Nam chưa được chọn là điểm đến đầu tư của phần lớn
các công ty đa quốc gia có tiềm năng lớn về công nghệ và sẵn sàng chuyển
giao công nghệ và tri thức. Thực trạng này cùng với áp lực cạnh tranh ngày
càng gay gắt hơn về
thu hút FDI của Trung Quốc và các nước trong khu vực
đặt ra thách thức lớn cho Việt Nam. FDI có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở
tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, đối với các nước
đang phát triển, nhất là các nước nghèo, kỳ vọng lớn nhất của việc thu hút
FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Kỳ vọng này được thể

hiện trong tư tưở
ng của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách với
ba lý do chính: Một là
, FDI góp phần vào tăng thặng dư của tài khoản vốn,
góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung và ổn định kinh tế vĩ mô. Hai
là, các nước đang phát triển thường có tỷ lệ tích lũy vốn thấp và vì vậy, FDI
được coi là một nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn đầu tư trong nước
nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ba là
, FDI tạo cơ hội cho các nước nghèo
tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn, dễ dàng chuyển giao công nghệ hơn, thúc
đẩy quá trình phổ biến kiến thức, nâng cao kỹ năng quản lý và trình độ lao
động v.v. Những nhân tố này có tác động tích cực đến năng suất của FDI, góp
phần làm tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước, cũng như đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế nói chung.
Việc nhận định được xu h
ướng vận động, kim ngạch xuất khẩu của các
doanh nghiệp FDI để “định lượng” được mức độ đóng góp vào nền kinh tế
quốc dân cũng như sử dụng được một cách hiệu quả nhất dòng vốn FDI vào
Việt Nam, rất cần thiết phải có một nghiên cứu về hoạt động của các doanh
nghiệp FDI; từ đó, đưa ra được các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
ho
ạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
Quan điểm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam, dựa trên chuyển đổi cơ
cấu hàng hóa xuất khẩu từ thô sang tinh, trong đó các doanh nghiệp FDI là lực
lượng nòng cốt để sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng, thâm nhập thị trường
quốc tế.

3
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm tác giả đã chọn đề tài: “Đánh giá
và dự báo kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài (FDI) tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 thông qua các thông số
kinh tế cơ bản” để làm hướng nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này như:
- Hội đồng khoa học công nghệ tỉnh Đồng Nai, Đại học KTQD Hà Nội.
Đề tài NCKH “Thu hút và nuôi dưỡng sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp có vồn đầu tư nước ngoài (FDI) – thực trạng và giải pháp”. Đề tài
chỉ rõ, Đồng Nai đã năng động, sáng tạo trong việc đề ra các chính sách, biện
pháp thu hút và nuôi dưỡng sự tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI và đạt
được những kết quả quan trọng, góp phần phát triển kinh tế
, xã hội, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp ở Đồng Nai
có quy mô vừa và nhỏ, đến từ các nước châu Á và tập trung chủ yếu trong sản
xuất công nghiệp, hơn nữa công nghiệp phụ trợ lại chưa phát triển, còn phụ
thuộc vào nước ngoài, thiếu lao động quản lý và lao động phổ thông. Trên cơ
sở đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra 6 nhóm giải pháp để
đẩy mạnh phát triển
các doanh nghiệp FDI ở Đồng Nai trong giai đoạn tới. Đồng thời, đề tài cũng
nêu kiến nghị, đó là cần chuyển sang thu hút các dự án FDI chọn lọc, có
những nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới và xây dựng
những chính sách mới phù hợp.

- Quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Việt Nam: - Luận án Thạc sỹ - Luận án không đi sâu vào nghiên cứu những
thành công đạt được hay những tồn tại của hoạt động FDI tại Việt Nam trong
những năm qua nói chung mà chỉ nghiên cứu một khía cạnh của hoạt động
FDI. Đó là vấn đề quản lý nhà nước với hoạt độ
ng đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Đây là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến hiệu quả của FDI.
Trong thời gian qua, việc thực hiện vai trò quản lí nhà nước với FDI đã đạt

được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số tồn tại
- Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đế
n tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam – Chương trình nghiên cứu thuộc Dự án SIDA - Nâng cao năng lực
nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam thời kỳ 2001-2010 (Thạc sỹ Nguyễn Thị Tuệ Anh – trưởng nhóm
nghiên cứu). Nghiên cứu gồm 5 chương, bằng cách sử dụng cách tiếp cận

4
rộng hơn, kết hợp cả hai phương pháp là phân tích định tính sử dụng số liệu
thống kê thứ cấp và sơ cấp và phân tích định lượng để cung cấp thông tin về
tác động của FDI đến nền kinh tế Việt Nam. Chương một trình bày bức tranh
tổng quát về FDI ở Việt Nam kể từ 1988 đến 2006 và đánh giá sơ bộ vai trò
của FDI tới phát triển kinh tế xã hội; nêu ra những thay đổi quan trọng trong
chính sách thu hút FDI của Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau và so sánh
với một số nước trong khu vực và trên thế giới. Chương hai trình bày phương
pháp luận được sử dụng để đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế
thông qua kênh đầu tư và kênh tác động tràn; đề cập kỹ cơ sở lý thuyết của
mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng mô hình tăng
trưởng. Trên cơ sở
đó xây dựng mô hình đánh giá tác động của FDI tới tăng
trưởng kinh tế thông qua kênh đầu tư; cơ chế sinh ra tác động tràn, các kênh
truyền động và đưa ra khung khổ phân tích các tác động tràn trên cơ sở tiếp
thu một số mô hình đã được sử dụng trên thế giới. Dựa vào khung khổ phân
tích ở Chương hai, toàn bộ phần phân tích định lượng tác động của FDI tới
tăng trưởng được trình bày ở Chương ba. Chương bố
n tập trung vào phân tích
các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động của doanh nghiệp; tác động tràn
của FDI tới năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước nói chung và
trong 3 nhóm ngành lựa chọn nói riêng. Chương năm trình bày các phát hiện

chính của Nghiên cứu, trên cơ sở đó đưa ra một số kết luận và kiến nghị chính
sách nhằm tối đa hóa lợi ích mà FDI có thể mang lại và đẩy mạnh thu hút
dòng vốn FDI vào Việt Nam.
- Khủng hoảng tài chính và tác động đến FDI, xuất khẩu của Việt
nam, Nguyễn Văn Lịch, Học viện ngoại giao – bài viết phân tích những tác
động của khủng hoảng tài chính đến hoạt động thu hút và sử dụng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở
việc phân tích tác động và nhận định được những cơ hội có thể có cho Vi
ệt
Nam, chưa có những dự báo liên quan đến thu hút và đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI.
Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào đánh giá
được đầy đủ tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI và nhận định được
xu hướng vận động, đóng góp của khối doanh nghiệp này trong thời kỳ mới –
thời kỳ hậu khủng hoảng, đồng thời đưa ra các
đề xuất về chính sách cũng
như các “cảnh báo” về việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Với quan điểm cập nhật về thời gian và những biến động của thị

5
trường trong thời gian tới, đề tài kế thừa các quan điểm của các công trình
nghiên cứu trước đây và tiếp tục nghiên cứu, bổ sung để dự báo được kim
ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI trong giai đoạn 2011 – 2015.
3. Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài:
- Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đánh giá, dự báo kim
ngạch XK của các doanh nghiệp FDI trong bối cảnh kinh tế
, xã hội hiện
nay.
- Đánh giá được tình hình XK của các doanh nghiệp FDI giai đoạn 2005
– 2010 và dự báo giai đoạn 2011 – 2015

- Đề xuất các giải pháp nhằm khuyến khích, đẩy mạnh XK có hiệu quả
đối với khối doanh nghiệp FDI
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
+ Các chính sách liên quan đến hoạt động xuất khẩu c
ủa các doanh
nghiệp FDI tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt nội dung: Đề tài đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp FDI
trong giai đoạn chủ yếu từ năm 2005 đến nay; phân tích các yếu tố trong và
ngoài nước có tác động đến các hoạt động của DN FDI trong giai đoạn 2011 –
2015; nhận định về tốc độ tăng trưởng, khả năng đóng góp cho nền kinh tế
quốc dân củ
a các DN FDI; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu
hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI.
+ Về thời gian: Khái quát đối tượng nghiên cứu từ 2005 – 2010; định
hướng và dự báo đến năm 2015.
+ Về không gian: Các DN FDI tại Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Tập hợp và nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.

6
- Lấy ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học về những nội dung nghiên
cứu của Đề tài
6. Đóng góp của Đề tài
- Đối với Bộ Công Thương: Đề tài là một căn cứ khoa học thực tiễn,
quan trọng để Bộ có thể tham khảo trong việc điều chỉnh chính sách

quản lý, điều hành XNK của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 nhằm
thúc đẩy tăng trưởng xu
ất khẩu một cách hiệu quả.
- Đối với các Bộ, Ngành: Đề tài là căn cứ khoa học cho việc xây dựng
các chiến lược thu hút đầu tư FDI cũng như có các giải pháp nhằm cơ
cấu lại hàng hóa XNK cũng như quản lý tốt hơn nguồn vốn đầu tư FDI
vào Việt Nam.
- Đối với các doanh nghiệp FDI cũng như các doanh nghiệp Việt Nam:
Kết quả nghiên cứu của đề
tài là tài liệu tham khảo có tính chất định
hướng cho việc xây dựng, hoạch định kế hoạch phát triển hoạt động
đầu tư, kinh doanh XNK trong ngắn hạn, trung hạn; giúp doanh nghiệp
chủ động trong công tác xây dựng chiến lược, nâng cao sức cạnh tranh
và thích nghi được với sự thay đổi của nền kinh tế.
7. Kết cấu của Đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộ
i dung
của Đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương I: Tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
trong những năm gần đây thông qua các thông số cơ bản.
Chương II: Triển vọng xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài (FDI) tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 thông qua các
thông số kinh tế cơ bản.
Chương III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuấ
t khẩu và
đóng góp cho nền kinh tế quốc dân của các doanh nghiệp FDI tại Việt
Nam.


7

CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI
VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY THÔNG QUA CÁC
THÔNG SỐ CƠ BẢN

1.1. NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP
FDI ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
1.1.1. Quy mô của dòng vốn FDI tại Việt Nam
Trong 10 năm qua, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đạt trên 124 tỷ
USD vốn đăng ký cấp mới thuộc gần 8,5 nghìn dự án; vốn thực hiện đạt g
ần
48 tỷ USD; đầu tư từ khu vực FDI chiếm khoảng 25-30% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI luôn trên
25%, có năm đến 56%; giải quyết cho 1,7 triệu lao động trực tiếp; nộp ngân
sách đạt gần 2,5 tỷ USD năm 2009… Cụ thể:
Bảng 1.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép
giai đoạn 2005 - 2010
N
ăm
Số dự án
mới
Vốn đăng kí
(tỷ USD)
Vốn điều lệ
(tỷ USD)
Vốn thực
hiện (tỷ USD)
2005 711 3,9 2,048 -
2006 800 8 3,18 4,1
2007 1.544 17,85 6,03 8,03

2008 1.171 60,3 15,42 11,5
2009 839 16,3 57,15 10
2010* 908 13,2 67,27 10,85
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
(*): ước 2010
Tính riêng trong năm 2007 – 2008 số vốn đăng kí mới đạt 85 tỷ USD,
gấp hơn 20 lần số vốn đăng kí trong 19 năm trước cộng lại. Năm 2008, khối
doanh nghiệp FDI có doanh thu hơn 50,5 tỷ USD, tăng 24,4% so với năm
2007; xuất khẩu đạt 24,6 tỷ USD, tăng 32,5% so với năm 2007, nộp ngân
sách khoảng gần 2 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm 2007. Tốc độ tăng tr
ưởng
của doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng
trưởng GDP của cả nước ở mức trên 6%.

8
Trong năm 2007, Việt Nam đã thu hút được 1.544 dự án mới, với tổng
số vốn đầu tư là 18,71 tỷ USD. Đồng thời, có thêm 420 lượt dự án được điều
chỉnh tăng vốn đăng ký với tổng vốn đầu tư đăng ký thêm là 2,63 tỷ USD.
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2007, các nhà đầu tư nước
ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam là 21 tỷ USD.
Năm 2008, Việ
t Nam đã thu hút được 1.557 dự án mới với tổng vốn
đầu tư đăng ký 66,5 tỷ USD, gấp 3,55 lần mức thu hút năm 2007. Trong cùng
kỳ, có 397 lượt dự án đã được điều chỉnh tăng vốn đăng ký với tổng vốn đầu
tư đăng ký tăng thêm 5,2 tỷ USD, gấp 1,98 lần năm 2007. Tính cả cấp mới và
tăng thêm, vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam đạt 71,7 tỷ USD, tă
ng gấp 3,35
lần so với năm 2007.
Do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, năm 2009, đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam giảm so với năm 2008. Cụ thể, số lượng dự án

đầu tư mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 839 dự án với tổng vốn đăng
ký đạt 16,34 tỷ USD, chỉ bằng 24,6% so với năm 2008. Ngoài các dự án m
ới
được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn có thêm 215 dự án đăng ký tăng vốn
đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với
năm 2008. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2009, các nhà đầu
tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so
với năm 2008.
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầ
u năm đến 20/11/2010
đạt 13,3 tỷ USD, bằng 60% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: vốn đăng ký của
833 dự án được cấp phép mới đạt 12,1 tỷ USD (giảm 20,4% về số dự án và
giảm 26,3% về số vốn so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung của
210 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 1,2 tỷ USD. Vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài th
ực hiện mười một tháng ước tính đạt gần 10 tỷ USD,
tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2009.






9
Biểu đồ 1.1: Vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam
trong 10 năm gần đây
ĐVT: tỷ USD
Tổng vốn FDI đăng ký trong 10 năm gần đây
2.01
2.5

1.56 1.51
2.08
5.72
10.2
20.3
64
21.5
13.3
0
10
20
30
40
50
60
70
2
0
0
0
2001
2002
2
0
0
3
2
0
0
4

2005
2006
2
0
0
7
2
0
0
8
2009
11T
/
201
0
Tỷ US
D

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Trong mười một tháng năm nay, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế
tạo vẫn là thế mạnh thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với số
vốn đăng ký đạt 4,4 tỷ USD, trong đó 3,5 tỷ USD của 334 dự án cấp phép
mới và 907,1 triệu USD vốn tăng thêm. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện,
khí và nước có 6 dự án cấ
p phép mới với số vốn đăng ký đạt 2,9 tỷ USD.
Vốn đăng ký vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản đạt 2,8 tỷ USD, trong đó
2,7 tỷ USD của 20 dự án cấp phép mới và 132,1 triệu USD vốn tăng thêm.
Cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài cấp phép mới trong mười một tháng năm 2010, trong đó
Bà Rịa-Vũng Tàu có số

vốn đăng ký lớn nhất với 2,35 tỷ USD, chiếm 19,4%
tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Quảng Ninh 2,15 tỷ USD, chiếm
17,8%; thành phố Hồ Chí Minh 1,73 tỷ USD, chiếm 14,3%; Nghệ An 1,013
tỷ USD, chiếm 8,4%; Cà Mau 773 triệu USD, chiếm 6,4%.
Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với cam kết
69%
40%
38%
17%
42%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
2001 -
2005
2006 2007 2008 2009
Tỉ lệ vốn FDI thực hiện
so với cam kết (%)

(Nguồn Tổng cục Thống kê)

10
Tuy vốn đăng kí là yếu tố để đánh giá xu hướng phát triển của dòng
vốn FDI nhưng chỉ số đánh giá đúng quá trình phát triển của FDI lại là vốn

giải ngân, đây là dòng vốn đầu tư thực sự từ nước ngoài vào và thể hiện trên
cán cân thanh toán quốc tế.
Biểu đồ 1.3: Lượng vốn FDI thực hiện bình quân năm
(Đơn vị: tỷ USD/năm)
Lượng vốn FDI thực hiện bình quân năm
1,303
3,589
2,776
7,876
10,000
10,850
0
2,000
4,000
6,000
8,000
10,000
12,000
1991-1995 1996-2000 2001-2005 2006-2008 2009 2010*
Tỉ US
D

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
(*): ước 2010
1.1.2. Các quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn vào Việt
Nam
Hiện nay có đã có hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt
Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 69%, ASEAN chiếm 19% tổng vốn
đăng kí. Có khoảng 15 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đăng kí cam kết trên
1 tỷ USD và đứng đầu là Hàn Quốc, tiếp đến là Singapore và Đài Loan, Nhật

Bản. Tuy nhiên về vốn thự
c hiện thì Nhật Bản chiếm vị trí hàng đầu với vốn
giải ngân đạt trung bình khoảng 5 tỷ USD.
Trong năm 2007, có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt
Nam, trong đó Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu với số vốn đăng ký (cấp
mới và tăng vốn) 5,3 tỷ USD, chiếm 25,2% về tổng vốn đăng ký; British
Virgin Islands đứng thứ 2, chiếm 20,6%; Singapore đứng thứ 3, chiếm
12,04%; Đài Loan
đứng thứ 4, chiếm 11,6%; Nhật Bản đứng thứ 5, chiếm
6,4%; Malaysia đứng thứ 6, chiếm 5,5%; tiếp đến là Trung Quốc, Hoa Kỳ và
Thái Lan.

11
Năm 2008, có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các
quốc gia có nhiều doanh nghiệp đầu tư lần lượt là Malaysia với 68 dự án cấp
mới và 15 lượt dự án tăng vốn, với tổng số vốn đăng ký là 15,1 tỷ USD; tiếp
đến là Đài Loan với 187 dự án cấp mới và 82 lượt dự án tăng vốn, với tổng số
vốn đăng ký là 9,17 tỷ USD; tiếp đến là Nhật Bản vớ
i tổng vốn đăng ký là 8
tỷ USD, Singapore là 5,4 tỷ USD,vv
Năm 2009, có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam,
các quốc gia có nhiều doanh nghiệp đầu tư lần lượt là Hoa Kỳ với tổng số vốn
đăng ký là 9,8 tỷ USD chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, Cayman
Islands đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%; đứng thứ
3 là Samoa với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%; tiế
p đến là Hàn
Quốc với 1,66 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 7,7% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Trong số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới mười
một tháng đầu năm 2010, Hà Lan là nhà đầu tư lớn nhất với 2,31 tỷ USD,
chiếm 19,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến lần lượt là Hàn Quốc 1,97

tỷ USD, chiếm 16,3%; Hoa Kỳ 1,79 tỷ USD, chiếm 14,8%; Nhật Bả
n 1,6 tỷ
USD, chiếm 13,2%; Đài Loan 1,2 tỷ USD, chiếm 9,9%; Quần đảo Virgin
thuộc Anh 726,3 triệu USD, chiếm 6%
1.1.3. Phân loại FDI theo lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam
Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng
lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, vốn
thực hiện đạt 20,04 tỷ USD, chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng v
ốn đăng ký
và 68,5% vốn thực hiện. Tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ với 1.912 dự án, tổng
vốn đăng ký 28,6 tỷ USD, chiếm 22,25% tổng số dự án, 34,4% tổng vốn đăng
ký và 25,1% tổng vốn thực hiện. Nông – lâm – ngư nghiệp là lĩnh vực thu hút
được ít vốn đầu tư nhất với 933 dự án, 4,46 tỷ USD tổng vốn đăng ký và 2,03
tỷ USD tổng vốn thực hiện.








12
Bảng 1.2: Vốn FDI theo cơ cấu ngành giai đoạn 1988 – 2007
Đơn vị: triệu USD
Ngành
Vốn đăng

% trên
tổng số vốn

Vốn thực
hiện
% trên tổng
số vốn
Công nghiệp
và xây dựng
51.045 60,44 20.045 68,57
Dịch vụ 29.193 34,32 7.167 24,52
Nông-lâm-ngư
nghiệp
4.458 5,24 2.021 6,91
Tổng số 85.056 100 29.234 100
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Theo Cục Đầu Tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ cấu vốn
FDI chuyến biến mạnh từ năm 2001 – 2009. Giai đoạn đầu FDI tập trung
mạnh vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng (chiếm 85%), thì năm 2009, đầu
tư vào lĩnh vực này chỉ còn 22% tổng vốn đầu tư. Riêng đầu t
ư vào lĩnh vực
dịch vụ tăng từ 7% lên tới 77%. Tỷ trọng doanh nghiệp liên doanh giảm từ
70% xuống còn 20% và các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tăng
lên tới 70%.
1.1.4. Các loại hình doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Các loại hình doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam
gồm: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đầu tư theo BOT, BT, BTO, doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Trong đ
ó, loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và liên doanh là 2
hình thức thu hút được nhiều vốn đăng ký đầu tư nhất. Tỷ trọng doanh nghiệp
liên doanh đã giảm từ khoảng 70% xuống còn khoảng 20% trong khoảng 10
năm nay. Trong khi đó, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã tăng lên tới

70%.
Trong mười một tháng đầu năm 2010, tính cả số dự án được cấp mới và
số lượt dự án tăng vốn của cả n
ước là 1.043 dự án, với tổng số vốn thu hút đạt
13,3 tỷ USD theo các hình thức FDI đầu tư vào Việt Nam. Trong đó, doanh
nghiệp FDI đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài có 687 dự án cấp mới
với vốn đăng ký đạt 6,65 tỷ USD, số lượt dự án tăng vốn của loại hình doanh
nghiệp này là 165 dự án, đạt 783 triệu USD, chiếm 55,9%; Loại hình doanh
nghiệp đầu tư theo hình thức liên doanh có 130 dự án được cấp mới v
ới số

13
vốn đăng ký là 3,135 tỷ USD, số lượt dự án tăng vốn của loại hình doanh
nghiệp này là 35 dự án với vốn đăng ký tăng thêm là 382 triệu USD, chiếm
26,4%; Tiếp đến là loại hình doanh nghiệp đầu tư theo hình thức BOT, BT,
BTO có 6 dự án cấp mới với vốn đăng ký là 2,17 tỷ USD, chiếm 16,3%; Số
còn lại thuộc các hình thức đầu tư như cổ phần chiếm 0,5% và hợp đồng hợp
tác kinh doanh chiếm 0,8%.
1.2. NH
ỮNG THÔNG SỐ CƠ BẢN PHỤC VỤ VIỆC ĐÁNH GIÁ VÀ
DỰ BÁO XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
1.2.1. Chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh
nghiệp FDI
1.2.1.1. Chỉ số ICOR
- ICOR (Incremental Capital - Output Rate) là một chỉ số cho biết
muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ
ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. ICOR còn được gọi là hệ số
sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng
thêm.
Cần lưu ý là gia tăng sản lượng có thể nhờ nhiều nhân tố chứ không

phải chỉ nhờ gia tăng vốn đầu tư. Chính vì thế, việc tính ICOR thường giả
đị
nh:
+ Mọi nhân tố khác không thay đổi,
+ Chỉ có gia tăng vốn dẫn tới gia tăng sản lượng.
- ICOR thường được sử dụng trong so sánh vai trò vốn với các nhân tố
tăng trưởng khác hoặc so sánh hiệu quả sự dụng vốn.
Về hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng: Trong 10 năm (từ 1999
– 2009), chỉ số ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và khu vực FDI lần lượ
t
là: 7,76; 3,54 và 7,91. Trong khi đó, trên thế giới chỉ số ICOR trung bình của
nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất, điều đó
chứng tỏ hiệu quả của khối này là thấp nhất.
1.2.1.2. Hệ số TFP
- TFP (tiếng Anh là Total Factor Productivity) là hệ số năng suất các
yếu tố tổng hợp phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình như kiến thức-
kinh nghiệm- kỹ n
ăng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hoá - dịch vụ,
chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹ năng

14
quản lý Tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà phải
thông qua sự biến đổi của các yếu tố hữu hình, đặc biệt là lao động và vốn.
Về khía cạnh chuyển giao công nghệ, hệ số TFP của khu vực kinh tế
nhà nước, tư nhân và khu vực FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và (-17,6). Căn cứ vào
kết quả này, hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù v
ốn đầu
tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao
công nghệ là có thật. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). Như
thế có nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu

nhờ vào các yếu tố khác như lao động rẻ chứ không phải do công nghệ.
Trên thực tế ở nhiều doanh nghiệp FDI, máy móc, công nghệ
được nhập khẩu
về Việt Nam đều đã cũ kỹ hoặc đã được khấu hao hết.
1.2.1.3 Sự tác động của dòng vốn FDI đến sự dịch chuyển cơ cấu
hàng xuất khẩu
Với những ưu thế về công nghệ, kinh nghiệm sản xuất, chiếm lĩnh thị
trường, vốn đầu tư FDI so với các khu vực khác trong hoạt động xuất khẩu
sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, đặc biệt
là nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu.
Mối quan hệ giữa FDI và xuất khẩu được thể hiện qua nhiều hình thức.
Trong đó, FDI thúc đảy xuất khẩu vì cho phép các hãng thiết lập một cơ sở
phân phối rộng hơn do vậy nó cho phép dòng sản phẩm được bán ở thị trường
nước ngoài nhiề
u hơn. Cùng với đó, nếu các chi nhánh nước ngoài có thể sản
xuất hàng hóa rẻ hơn và xuất khẩu chúng về nước của họ, khi đó FDI dẫn đến
tăng xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư và tăng nhập khẩu của nước đầu tư.
Có thể nói, ảnh hưởng của FDI đến xuất khẩu thể hiện ở việc thu hút
vốn FDI để thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo các hướng nâng
cao chất lượng của cơ cấu xuất khẩu:
Thứ nhất: làm tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến, các mặt hàng chế
biến sâu, các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cũng như chất xám cao vì đây
là các mặt hàng xuất khẩu mang lại nguồn lợi trong dài hạn khi các mặt hàng
xuất khẩu sử dụng nhiều nguồn l
ực tự nhiên bị mất dần lợi thế.
Thứ hai: việc tập trung FDI cho xuất khẩu hay cải tiến cơ cấu hàng xuất
khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng của các mặt hàng chế biến với mục tiêu
tạo ra các mặt hàng xuất khẩu có chất lượng cao, mang lại giá trị gia tăng cao.
Đây là một đòi hỏi mang tính khách quan để có thể duy trì nguồn lợi mang lại

từ xuất khẩu đả
m bảo tính ổn định và lâu dài khi quá trình hội nhập quốc tế

15
của Việt Nam ngày càng sâu rộng. Khu vực FDI ở Việt Nam được coi là có
thế mạnh về công nghệ hoặc có trình độ công nghệ tương đối đồng bộ và phổ
cập so với các nước trong khu vực. Do vậy, sử dụng FDI một cách có hiệu
quả để thúc đẩy xuất khẩu, cải tiến cơ cấu hàng xuất khẩu từ đó tăng giá trị
xuất khẩu, giá trị gia tăng của s
ản phẩm xuất khẩu là vấn đề rất có ý nghĩa
thiết thực đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Thứ ba: tăng tỉ trọng của các mặt hàng xuất khẩu mới. Tuy nhiên, có
thể nhận thấy nhóm hàng mới phụ thuộc vào nhiều công nghệ sử dụng cho
sản xuất sản phẩm. Do vậy, nguồn vốn FDI sẽ có vai trò rất lớn trong đóng
góp t
ạo ra sản phẩm mới nếu nguồn vốn này sử dụng một cách có hiệu quả,
đặc biệt là đóng góp cho nâng cao trình độ công nghệ và sử dụng công nghệ
phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu.
Từ thực trạng về xu hướng biến đổi của tỷ trọng vốn FDI thực hiện với
xu hướng thay đổi của tỷ trọng xuất khẩu các nhóm hàng; hệ số ch
ất lượng
sản phẩm xuất khẩu dựa vào các số liệu thực tế, cho thấy FDI có tác động tích
cực đến sự chuyển cơ cấu hàng xuất khẩu, tác động làm tăng tỷ trọng, giá trị
các nhóm hàng xuất khẩu trong cơ cấu hàng xuất khẩu của cả nước. Cụ thể:
+ Tăng 1% FDI vốn thực hiện làm tăng 13,5% sự chuyển dịch cơ cấu
từ nhóm hàng thô, s
ơ chế sang nhóm hàng chế biến và tinh chế.
+ FDI thực hiện tăng 1.000 USD thì tổng giá trị xuất khẩu sẽ tăng gấp
2,5 lần tương đương với 2.500 USD.
+ Nếu GDP của khu vực FDI tăng 1 triệu đồng sẽ dẫn đến 0,74 đồng

tăng lên của chất lượng hàng hóa xuất khẩu.
+ Nếu tổng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI tăng 1 triệu
đồng sẽ dẫn
đến chỉ số chất lượng xuất khẩu của Việt Nam tăng 0,18 đồng.
+ Nếu FDI thực hiện tăng lên 1.000 USD thì tổng giá trị gia tăng của
sản phẩm tăng 0,34 USD.
+ Sự tăng lên của 1% FDI thực hiện cũng làm tăng mức thu nhập mang
lại của một đơn vị sản phẩm xuất khẩu nhưng còn rất ít hay có thể nói là
không đáng kể.
+ Vốn FDI thực hiệ
n của bên nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất máy
tính và linh kiện tăng lên 1.000 USD thì chất lượng của nhóm hàng này tăng
0,12 USD
+ Nếu xuất khẩu về máy tính và linh kiện của khu vực FDI tăng lên
1000 USD thì chất lượng của nhóm hàng này tăng lên 0,00286 USD.

16
+ Nếu xuất khẩu của khu vực FDI tăng lên 1% thì dẫn đến sự chuyển
dịch cơ cấu từ nhóm hàng thô, sơ chế sang nhóm hàng chế biến và tinh chế là
4,9%.
1.2.2. Tốc độ xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối doanh
nghiệp FDI luôn đạt trên 25%/năm. Tỷ trọng xuất khẩu của khối FDI trong
tổng kim ngạch xuất kh
ẩu tăng dần qua các năm: Năm 2005 chiếm 35% tổng
kim ngạch xuất khẩu, thì đến năm 2007 tăng lên 39,7% và năm 2008 chiếm
khoảng 44%, đạt 24,2 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2007 (không tính dầu
thô, nếu tính cả dầu thô thì kim ngạch của doanh nghiệp FDI đạt 34,5 tỷ USD,
chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu). Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu (kể
cả dầu thô) của các doanh nghiệp FDI chiếm 76,5% tổng kim ngạch xuất kh

ẩu
của cả nước, đạt 29,9 tỷ USD và trong 11 tháng đầu năm 2010 kim ngạch
xuất khẩu (tính cả dầu thô) của khối doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 54%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đạt 34,8 tỷ USD (nếu không tính
dầu thô thì chiếm khoảng 47%, đạt 30,3 tỷ USD).
Trong giai đoạn từ năm 2006 – 2010, tăng trưởng xuất khẩu của cả
nước trong giai đoạn này đạt 15,8% và tă
ng trưởng nhập khẩu đạt 17,3%, nếu
tính riêng khu vực FDI thì tăng trưởng xuất khẩu đạt tới 22,8% và tăng trưởng
nhập khẩu là 20,2%. Điều này chứng tỏ hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp FDI trong những năm vừa qua là hiệu quả hơn, các cơ chế chính sách
của nhà nước đối với khu vực FDI cũng đã có những tác dụng nhất định thúc
đẩy tốc độ t
ăng trưởng xuất khẩu của khu vực này.
1.3. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI
THÔNG QUA NHỮNG THÔNG SỐ CƠ BẢN
1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài luôn tăng trưởng cao, và chiếm khoảng 40% kim
ngạch xuất khẩu cả nước. Cụ thể:
+ Kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
(không tính dầu thô) năm 2006 đạt 14,54 tỷ USD, tăng 30,1% so với cùng kỳ
năm 2005. Nếu tính cả dầu thô thì tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước.
+ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2007 kim ngạch xuất khẩu
của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đạt 19,35 tỷ USD (chưa kể dầu thô), tăng

17
31,2% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả dầu thô, thì kim ngạch xuất
khẩu đạt 27,83 tỷ USD, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm 2006.
+ Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI năm 2008 chiếm

khoảng 44% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đạt 24,45 tỷ USD, tăng
26,8% so với năm 2007 (không tính dầu thô, nếu tính cả dầu thô thì kim
ngạch của doanh nghiệp FDI đạt 34,5 tỷ USD, chiếm 55% tổng kim ngạch
xuất khẩu).
+ Xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu khí) năm 2009 đạt 29,9 tỷ
USD, bằng 86,6% so với năm 2008 và chiếm 52,7% tổng xuất khẩu cả nước.
Nếu không tính dầu thô, khu vực FDI xuất khẩu 23,64 tỷ USD, chiếm 41,7%
tổng xuất khẩu và bằng 98 % so với năm 2008. Nhập khẩu của khu vực FDI
năm 2009 đạt 24,8 tỷ USD, bằng 89,2% so với năm 2008 và chiếm 36,1%
tổng nhậ
p khẩu cả nước. Trong năm 2009, khu vực FDI xuất siêu 5,03 tỷ
USD.
+ Trong 11 tháng đầu năm 2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả
nước đạt 63,4 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2009 và gấp hơn 4 lần
so với chỉ tiêu kế hoạch đã đặt ra. Trong đó kim ngạch xuất khẩu của khối
doanh nghiệp FDI đạt 34,8 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2009. Nếu
không tính dầu thô thì kim ngạch xu
ất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 30,3 tỷ
USD, tăng 40,3% so với cùng kỳ năm 2009.
Biểu đồ 1.4: Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI
(chưa tính dầu thô) qua các năm
ĐVT: Tỷ USD
Kim ng ạch XK của doanh nghiệp FDI qua các năm
11.13
14.54
19.35
24.45
23.64
30.3
0

5
10
15
20
25
30
35
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 11 tháng
2010
Tỷ USD

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

18
1.3.2. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI trong
tổng kim ngạch chung 5 năm
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2005 đến nay, tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI trên tổng kim ngạch
xuất khẩu chung của Việt Nam tăng dần qua từng năm. Cụ thể như sau:
Bảng 1.3: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩ
u của các DN FDI
các năm gần đây
KN XK của FDI
(triệu USD)
Tỷ lệ XK của
FDI so với XK
cả nước (%)
XK của FDI so
với cùng kỳ năm
trước (%)

Năm
Chưa
kể dầu
thô
Kể cả
dầu thô
KN XK
cả nước
(triệu
USD)
Chưa
kể dầu
thô
Kể cả
dầu
thô
XK
của cả
nước
so
cùng
kỳ
năm
trước
(%)
Chưa
kể dầu
thô
Kể cả
dầu

thô
2005 11.130 18.517 32.233 34,5 57,4 121,6 126,2 127,8
2006 14.542 22.865 39.605 36,7 57,7 122,1 130,1 123,2
2007 19.355 27.832 48.387 40 57,5 121,5 131,2 120,9
2008 24.455 34.905 62.906 38,87 55,48 129,5 126,8 125,7
2009 23.644 29.854 56.584 41,78 52,76 90,3 97,8 86,5
Tổng 93.126 133.973 239.715 38,85 55,89

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của FDI, các mặt hàng điện tử, quần
áo may mặc, giày dép chiếm tỷ trọng lớn nhưng chủ yếu là mặt hàng gia
công nên kim ngạch nhập khẩu, xuất khẩu cao nhưng trị giá tăng thêm không
nhiều nên hiệu quả không cao (mặt hàng điện tử thường chiếm 20 – 25%,
hàng dệt may chiếm từ 13%, giày dép chiếm trên 22% kim ngạ
ch xuất khẩu
của cả khối (không kể dầu thô).








19
Biểu đồ 1.5: Kim ngạch doanh nghiệp FDI so với cả nước
từ 2005 đến 2010
11. 13
7.3 8
13 . 7 2

14 . 54
8.32
16 . 74
19 . 3 5
8.48
20.55
24.45
10 . 4 5
28
23.64
6.21
26.73
30.33
4.47
29.48
0.00
10.00
20.00
30.00
40.00
50.00
60.00
70.00
80.00
2005 2006 2007 2008 2009 11 tháng 2010
KN khu vực kinh tế trong nước
KN DN FDI ở lĩnh vực dầu thô
KN DN FDI (chưa kể dầu thô)

1.3.3. Thị trường xuất khẩu

Thị trường xuất chính của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, trong
đó bao gồm các doanh nghiệp FDI là các thị trường Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản.
Ngoài ra các thị trường mới nổi khác như Trung Đông, Châu Phi, khu vực
ASEAN… cũng đang được các doanh nghiệp FDI đẩy mạnh xuất khẩu trong
những năm qua.
Tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI Việt Nam phụ thuộc
nhiề
u vào tăng trưởng kinh tế thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế Hoa Kỳ,
Nhật Bản, EU, do đây là đối tác đầu tư và thương mại quan trọng của Việt
Nam trong thời gian qua.
* Thị trường EU
- Mặt hàng giày dép:
Thị trường xuất khẩu của da giày Việt Nam ngày càng được mở rộng
và ổn định. Các thị trường xuất khẩu chính của mặt hàng giày dép Việt Nam
gồm: thị trường EU, Hoa Kỳ
, Nhật Bản…
Trong những năm vừa qua, giày dép Việt Nam xuất khẩu vào EU tăng
trưởng nhanh về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu. Hết năm 2008, EU là thị
trường lớn nhất tiêu thụ giày dép của Việt Nam với doanh thu trên 2,484 tỷ
USD, và chiếm 52,32% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt
Nam. Năm 2009, xuất khẩu giày dép sang thị trường EU có giảm sút, nhưng
kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt khoảng 2,1 t
ỷ USD, giảm 15,4% so với năm
2008.
- Mặt hàng dệt may:

20
Thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may các năm vừa qua là
thị trường Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Định hướng thị trường của doanh nghiệp
dệt may trong giai đoạn 2011 – 2015 vẫn là các thị trường trên và cũng đang

có xu hướng mở rộng sang các thị trường tiềm năng khác như: Trung Đông,
Châu Phi…
+ Đối với thị trường EU, kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt khoảng
trên 2,2 t
ỷ USD, nâng tỷ lệ xuất khẩu lên 1,4% kim ngạch nhập khẩu của khu
vực này (xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 vào EU chỉ chiếm 1% kim ngạch
nhập khẩu). Năm 2008, EU đã bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc, do
vậy, cần nghiên cứu tác động của thị trường EU khi Trung Quốc được bãi bỏ
hạn ngạch để giúp các doanh nghiệp định hướng mặt hàng và nước xuất khẩu
để có thể
nâng cao khả năng cạnh tranh.
* Thị trường Hoa Kỳ
- Mặt hàng giày dép:
Tại thị trường này, Việt Nam đã vượt qua Italia để trở thành nhà cung
cấp lớn thứ tư sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia. Trong năm 2008, xuất khẩu
vào Hoa Kỳ đạt trên 1,075 tỷ USD. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu vào thị
trường này đã giảm xuống còn khoảng 1,1 tỷ USD, do tác động của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu.
- Mặt hàng dệt may:
+ Kim ngạ
ch xuất khẩu dệt may vào thị trường Hoa Kỳ đạt khoảng 6 tỷ
USD trong năm 2010, nâng tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu của nước này lên trên
6% (xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 vào Hoa Kỳ chỉ chiếm 5% kim ngạch
nhập khẩu của nước này). Để đạt được kết quả trên, nhiều giải pháp đã được
thực hiện đồng bộ như tiếp tục hoàn thiện hệ th
ống điều hành hai chiều giữa
Bộ Công Thương và Hải quan; đồng thời triển khai hoạt động của Tổ kiểm tra
cơ động; Tổ chức làm việc với các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu lớn
(đặc biệt là xuất khẩu những mặt hàng trong diện giám sát) để nắm rõ khả
năng sản xuất, xuất khẩu luôn luôn nắm thế chủ động và đưa ra kế

hoạch đẩy
mạnh xuất khẩu phù hợp, vừa có sự kế thừa vừa có tính phát triển.
* Thị trường Nhật Bản
- Mặt hàng dệt may:
+ Đối với thị trường Nhật Bản, từ năm 2009, hàng dệt may của Việt
Nam xuất khẩu sang Nhật được hưởng mức thuế 0% theo Hiệp định đối tác
kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) được ký kết tháng 4 năm

21
2008, các doanh nghiệp Việt Nam có thể phải sử dụng nguồn nguyên phụ liệu
nội địa hoặc được nhập khẩu từ Nhật Bản hoặc các nước ASEAN để được
hưởng mức thuế này, do vậy kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này có thể
phấn đấu đạt khoảng 1,1 tỷ USD vào năm 2010, nâng tỷ lệ xuất khẩu lên 3%
kim ngạch nhập khẩu của nước này (xuất kh
ẩu của Việt Nam năm 2008 vào
Nhật Bản chỉ chiếm 2,8% kim ngạch nhập khẩu). Theo Bộ Công Thương, để
đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa vào thị trường Nhật Bản: cần tổ chức, liên kết
với Nhật Bản hỗ trợ xây dựng Trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu dệt may
và Trung tâm đào tạo chất lượng cao và hợp tác quốc tế cho ngành dệt may
nhằm cung cấp nguyên phụ
liệu cho ngành này và đào tạo cán bộ kỹ thuật tay
nghề cao, cán bộ thiết kế, thời trang cho ngành; Tổ chức xúc tiến thương mại
tại Nhật Bản để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này.
* Các thị trường khác
- Mặt hàng giày dép:
Ngoài ra, giày dép Việt Nam còn được xuất khẩu sang nhiều quốc gia
trên thế giới. Tại thị trường các nước Đông Á - khu vực thị trường có những
phong tụ
c tập quán tương đối giống Việt Nam, cùng nằm ở khu vực châu Á -
các sản phẩm chủ yếu xuất khẩu từ Việt Nam sang các thị trường này là giày

thể thao, giày da nam nữ, dép đi trong nhà. Năm 2008, xuất khẩu vào Nhật
Bản đạt trên 137 triệu USD, hay Hồng Kong đạt trên 50,2 triệu USD.
- Mặt hàng dệt may:
Ngoài các thị trường trọng điểm xuất khẩu dệt may nêu trên, cũng cần
quan tâm đến các thị trường khác như: Canada, Hàn Qu
ốc, Australia và các
thị trường nhỏ lẻ nhưng đóng vai trò là trung tâm mua sắm của các khu vực
như Hồng Kông, Singapore, Thụy Sĩ, Anh…
- Mặt hàng dây cáp điện:
Việt Nam hiện có trên 100 doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu dây và cáp
điện. Nhiều doanh nghiệp FDI đã đầu tư sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này
với qui mô lớn; xuất khẩu của nhóm hàng này chủ yếu vẫn do các doanh
nghiệp FDI thực hiện. Hiệ
n nay, Việt Nam đang có hơn 40 thị trường xuất
khẩu dây và cáp điện, nhưng Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hồng Kông vẫn là những
thị trường lớn. Riêng kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hồng
Kông đã chiếm 84% tổng kim ngạch xuất khẩu.

22
Sở dĩ, kim ngạch xuất khẩu cáp điện của Việt Nam tăng mạnh thời gian
qua phần lớn nhờ sự khởi sắc của thị trường ôtô thế giới. Bởi trên thực tế, kim
ngạch xuất khẩu dây cáp điện dùng trong ôtô đang chiếm đến 70% kim ngạch
xuất khẩu dây và dây cáp điện. Trong 9 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất
khẩu dây và cáp điện dùng trong ôtô của Việt Nam
đạt 663,9 triệu USD, tăng
69,7% so với mức 391,13 triệu USD của cùng kỳ 2009. Thị trường xuất khẩu
chính dây cáp điện dùng trong ôtô tháng 9 là Nhật Bản với kim ngạch đạt
62,64 triệu USD, chiếm 79,8% tỷ trọng xuất khẩu dây và cáp điện dùng trong
ôtô tháng 9/2010. Thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sản phẩm
này là Hoa Kỳ với kim ngạch đạt 12,72 triệu USD, chiếm 16,2% tỷ trọng.

Điều này đượ
c lý giải là do năm 2009 khi tình hình kinh tế thế giới
khủng hoảng, thị trường ôtô thế giới khó khăn, xuất khẩu dây và dây cáp điện
của Việt Nam cũng lập tức bị ảnh hưởng. Năm 2010, xuất khẩu dây và cáp
điện của Việt Nam tăng trưởng trở lại do ngành sản xuất và xuất khẩu ôtô của
Nhật Bản và Hoa Kỳ đã tăng trưởng trở lại kéo theo nhu cầ
u nhập khẩu dây
và cáp điện dùng trong ôtô tăng.
Tuy nhiên, những vấn đề còn tồn tại của nền kinh tế cùng việc Chính
phủ nhiều nước chấm dứt các chương trình hỗ trợ có ảnh hưởng mạnh tới
ngành công nghiệp ôtô trong tháng cuối năm 2010 sẽ khiến tăng trưởng của
ngành ôtô chậm lại. Do đó, nhu cầu nhập khẩu dây cáp điện sử dụng cho hệ
thống đi
ện trong xe có động cơ cũng sẽ bị ảnh hưởng và xuất khẩu sản phẩm
này của Việt Nam sẽ chậm lại so với tốc độ tăng trưởng trong các tháng đầu
năm.
Về xu hướng thị trường xuất khẩu chính dây cáp điện của các doanh
nghiệp FDI trong giai đoạn 2011 – 2015: Trong giai đoạn này, kinh tế thế giới
sẽ hồi phục, trong đó có sự phục hồi m
ạnh mẽ của các thị trường Hoa Kỳ và
Nhật Bản sẽ kéo theo nhu cầu về dây và cáp điện sẽ gia tăng, đồng thời giá sẽ
được cải thiện. Theo dự báo, xuất khẩu dây cáp điện của các doanh nghiệp
FDI sang các thị trường này sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong các năm
tới.
13.4. Mặt hàng xuất khẩu

23
Doanh nghiệp FDI tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàng chủ lực
của Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng công nghiệp chế tạo, chế biến. Các
doanh nghiệp FDI cũng luôn tiên phong trong việc tìm kiếm các mặt hàng XK

mới như điện tử, cơ khí chính xác cũng như chủ động trong tìm kiếm thị
trường xuất khẩu. Tại một số địa phương, các doanh nghiệp FDI đã chiếm tỷ
trọ
ng lớn trong kim ngạch xuất khẩu như Đồng Nai, Hải Dương khoảng 88%,
Vĩnh Phúc 86%, Bình Dương 75% Hiện nay cả nước đã có 4 tỉnh, thành phố
có kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt trên 2 tỷ USD là Đồng
Nai (4,6 tỷ USD); TP. Hồ Chí Minh (4,3 tỷ USD); Bình Dương (trên 4 tỷ
USD) và Hà Nội (trên 2 tỷ USD). Đặc biệt, một số doanh nghiệp FDI đã thực
sự trở thành những “anh cả” trong hoạt động xuất khẩu củ
a nước ta như Công
ty TNHH Canon Việt Nam, Công ty CP Pou Yuen Việt Nam, Công ty Fujitsu
Việt Nam…
Doanh nghiệp FDI đầu tư vào rất nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất của
Việt Nam và tham gia xuất khẩu rất nhiều mặt hàng, trong đó phải kể đến các
mặt hàng xuất khẩu chính như: linh kiện điện tử, dây điện, cáp điện, xe đạp,
phụ tùng, hàng dệt may và giày dép. Cụ thể:
* Mặt hàng giày dép:
Hiện nay, Việt Nam là mộ
t trong 10 nước xuất khẩu sản phẩm da giày
hàng đầu trên thị trường quốc tế với tốc độ tăng trưởng ngành cũng như tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt trung bình trên 10%/năm. Năm 2008, kim
ngạch xất khẩu đạt trên 4,7 tỷ USD. Trong ngành da giày Việt Nam thì các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm số lượng áp đảo, trên 60% số
lượng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm trên 30%.
Ngành da giày
được xếp hàng thứ ba trong các ngành xuất khẩu lớn của Việt
Nam, chỉ đứng sau dệt may và dầu khí.
Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI trong ngành
da giày Việt Nam trong các năm gần đây chiếm gần 57%. Khi khủng hoảng
diễn ra, khối doanh nghiệp FDI phải chịu ảnh hưởng nặng nề hơn, do đó, tác

động đến kim ngạch xuất khẩu chung của cả ngành.
* Mặt hàng dệt may:
Ngành d
ệt may Việt Nam trong những năm gần đây đã có bước phát
triển đáng kể với tốc độ khoảng 20% mỗi năm và đóng góp quan trọng vào sự
phát triển của nền kinh tế. Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp

×