Tải bản đầy đủ (.pdf) (82 trang)

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng NN và PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (757.78 KB, 82 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
*****************************






LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY




SINH VIÊN : NGUYỄN THỊ QUỲNH
MÃ SINH VIÊN : A09994
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG


1

HÀ NỘI - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY

Giáo viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thùy Dương
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Quỳnh
Mã sinh viên : A09994
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng

Luận văn được bảo vệ tại hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp trường Đại học Thăng
Long ngày tháng năm 2010.
Điểm bảo vệ:

HÀ NỘI - 2010

2
MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 11
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại 11
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại 12
1.1.3. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 14
1.1.4. Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 15
1.2. Hoạt động tín dụng của

ngân hàng thương mại 17
1.2.1. Khái niệm 17
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng 19
1.2.3. Phân loại tín dụng ngân hàng 20
1.3. Chất lượng hoạt động tín dụng 22
1.3.1. Quan điểm chất lượng tín dụng 22
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 23
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 27
1.4.1. Các nhân tố khách quan (nhân tố bên ngoài quan hệ tín dụng) 27
1.4.2. Các nhân tố chủ quan (nhân tố bên trong quan hệ tín dụng) 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
QUẬN CẦU GIẤY 34
2.1. Tổng quan về ngân hàng nông ngiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu
Giấy 34

3
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh
Cầu Giấy 35
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn chi nhánh quận Cầu Giấy trong các năm qua 39
2.2.1. Công tác huy động vốn 39
2.2.2. Đối với hoạt động tín dụng 42
2.2.3. Đối với hoạt động dịch vụ 44
2.2.4. Các kết quả tài chính 45
2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Cầu Giấy
48

2.3.1. Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời gian 48
2.3.2. Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế 49
2.3.3. Hiệu suất sử dụng vốn 50
2.3.4. Vòng quay vốn tín dụng 51
2.3.5. Tình hình nợ xấu 51
2.4. Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy 52
2.4.1. Những kết quả đạt được 52
2.4.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân
55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI
NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY 60
3.1. Định hướng hoạt động kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn quận Cầu Giấy trong thời gian tới 60

4
3.1.1. Định hướng phát triển của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam 60
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy trong thời gian tới 64
3.2.1. Giải pháp trong công tác quản lý nợ và xử lý nợ quá hạn 65
3.2.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu dài với khách hàng 68
3.2.4. Nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu thị trường và hoạt động
marketing 69
3.2.5. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
70
3.2.6. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng, không ngừng nâng cao chất lượng công tác
tư vấn cho khách hàng về phương hướng sản xuất kinh doanh, xây dựng các phương án
đầu tư 71

3.2.7. Sử dụng có hiệu quả công tác đòn bẩy kinh tế trong xã hội 72
3.2.8. Xây dựng và sử dụng hợp lý quỹ dự phòng tổn thất tín dụng 73
3.2.9. Tăng cường hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát 74
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
tại ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy 74
3.3.1. Đối với Chính phủ và ngân hàng Nhà nước Việt Nam 75
3.3.1.1. Hoàn thiện tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng
của ngân hàng 75
3.3.1.2. Từng bước hoàn thiện chính sách của Nhà nước cho phù hợp với yêu cầu trình
độ phát triển của nền kinh tế, để chỉ đạo hoạt động tín dụng của các ngân hàng………68
3.3.2. Đối với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 78
KẾT LUẬN 80





5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Hoạt động huy động vốn của NHN
o
& PTNT chi nhánh Cầu Giấy 40
Bảng 2: Hoạt động tín dụng của Chi nhánh NHN
o
& PTNT Cầu Giấy 43
Bảng 3: Kết quả tài chính của chi nhánh NHNo & PTNT Cầu Giấy 46
Bảng 4: Cơ cấu dư nợ theo thời gian 48
Bảng 5: Hiệu suất sử dụng vốn 50
Bảng 6 : Vòng quay vốn tín dụng 51

Bảng 7: Tỷ lệ nợ xấu 52

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ : Bộ máy tổ chức của chi nhánh NHNo & PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy 37
Biểu đồ 1: Hoạt động huy động vốn của chi nhánh NHNo & PTNT quận Cầu Giấy39
Biểu đồ 2: T
ình hình tài chính của chi nhánh NHNo & PTNT quận Cầu Giấy 47
Biểu đồ 3: dư nợ theo thành phần kinh tế 48
Biểu đồ 4: Dư nợ theo thành phần kinh tế 49
Biểu đồ 5: Hiệu suất sử dụng vốn của chi nhánh NHN
o
& PTNT Cầu Giấy 50







6


DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt Tên đầy đủ
ATM Máy rút tiền tự động
D/A Nhờ thu kèm chứng từ
D/P Nhờ thu chấp nhận chứng từ
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

L/C Phương thức thư tín dụng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHVN Ngân hàng Việt Nam
NHTW Ngân hàng Trung Ương
NHNo & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn
KQKD Kết quả kinh doanh
SXKD Sản xuất kinh doanh
XLRR Xử lý rủi ro
SWIFT Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân
hàng

7
TCTD Tổ chức tín dụng
TCKT Tổ chức kinh tế
TCXH Tổ chức xã hội
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTQT Thanh toán quốc tế
WTO Tổ chức thương mại thế giới
VNĐ Việt Nam đồng


















8
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2008 vừa qua, kinh tế thế giới đã phải đối mặt với cuộc suy thoái, khủng
hoảng kinh tế được coi là tồi tệ nhất kể từ hai cuộc đại khủng hoảng năm 1930 và năm
1997. Hàng chục, hàng trăm công ty, ngân hàng lớn nhỏ, trong đó có các công ty tài chính
hàng đầu thế giới phải lao đao, thậm chí phá sản. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ
nước Mỹ, trung tâm
kinh tế, tài chính của thế giới. Dư chấn của nó lan ra khắp thế giới.
Nguyên nhân chính là do khủng hoảng tín dụng nhà đất tại nước này.
Các ngân hàng tại Mỹ trước đây đã quá dễ dãi trong việc cho vay tín dụng để mua
nhà đất, họ đã cho khách hàng vay mua nhà vượt quá khả năng tài chính của người mua.
Nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là do các ngân hàng này đã coi nhẹ tầm quan
trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng (cụ thể ở đây là tín dụng nhà đất) mà chỉ chú
trọng phát triển, mở rộng qui m
ô một cách tràn lan và bất chấp các nguyên tắc an toàn trong
hoạt động tín dụng. Sự sụp đổ của các ngân hàng hàng đầu thế giới có lịch sử hàng trăm năm
khiến cho không ít người lo ngại về tương lai của ngành ngân hàng.
Tín dụng trong điều kiện trong nền kinh tế mở, cạnh tranh và hội nhập vẫn tiếp tục
đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh ngân hàng. Tại Việt Nam, trong hoạt động của
các ngân hàng thương mại hiện nay thì hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ truyền t
hống,
là nền tảng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập, nhưng cũng là hoạt

động phức tạp, tiềm ẩn những rủi ro cho các Ngân hàng thương mại.
Chính vì nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực tập tại
Ngân hàng Nông nghiệp & phát
triển nông thôn Việt Nam chi nhánh quận Cầu Giấy – Hà
Nội, em đã lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi
nhánh NHNo & PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy" làm đề tài luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
- Khái quát và hệ thống hoá các lý thuyết về chất lượng tín dụng tại ngân hàng
thương mại.
- Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng chất lượng công tác tín dụng tại chi
nhánh NH
No & PTNT quận Cầu Giấy nhằm rút ra những ưu, nhược điểm của hoạt
động này, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế; từ đó đưa ra một số giải pháp và
kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của chi nhánh cũng như phát huy những
ưu điểm sẵn có

9
3. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh
quận Cầu Giấy trong giai đoạn 2006-2008.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin.
- Phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, phân tích các số liệu thực tiễn nhằm
lượng hoá vấn đề.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương
1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo & PTNT chi nhánh
quận Cầu Giấy

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo &
PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy

10
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Mục tiêu của chương 1 là nghiên cứu lý luận những vấn đề cơ bản về hoạt động tín
dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng… Tuy nhiên để có cái nhìn
tổng quan nhất về chất lượng tín dụng, em sẽ trình bày khái quát về tổng quan của một
Ngân hàng thương mại.
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Hệ thống ngân hàng ra đời từ những năm trước thế kỷ 15 và c
ó một quá trình phát
triển lâu dài từ ngân hàng sơ khai đến ngân hàng hiện đại như ngày nay. Cùng với sự phát
triển đó, có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về ngân hàng. Mỗi trường phái
kinh tế hay đạo luật khác nhau khi đưa ra quan điểm đều phải xuất phát từ đặc thù về hoạt
động của ngân hàng. Tuy nhiên do hệ thống của các ngân hàng ngày càng đa dạng về dịch
vụ của m
ình nên khi đưa ra định nghĩa sẽ có những cách nhìn nhận khác nhau.
Theo Wold Bank, ngân hàng là tổ chức nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ
hạn hoặc tiền gửi rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và
các khoản tiết kiệm.
Theo luật pháp nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho
phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu như bằng cách viết Séc hay bằng việc rút tiền điện
tử và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một
ngân hàng.
Trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
Việt Nam đã thực h

iện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Mọi người được tự do hóa kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền
sở hữu c
ó thể hỗn hợp, đan kết với nhau, hoàn thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các
doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh
tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật.
Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hóa phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần
thiết và đòi hỏi sự ra đời của những l
oại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để

11
tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của
các tổ chức và cá nhân thì việc đưa ra khái niệm ngân hàng là hết sức cần thiết.
Theo nghị định của Chính phủ số 49/2000 NĐ – CP ngày 12/09/2000 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hện toàn bộ hoạt động ngâ
n hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hện các
mục tiêu kinh tế Nhà nước”. Như vậy ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế để cho vay đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.
Ngày nay có rất nhiều định chế tài chính phi ngân hàng bao gồm các công ty kinh
doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ v
à công ty bảo hiểm
hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng
phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với những
chính sách không ngừng thay đổi của họ bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ,
hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm,

đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ khác. Từ đó, có thể xem ngân hàng là

loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt
là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngâ
n hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất
hiện nay. Đây là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) đóng vai trò là trung gian
tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho
những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực tiếp.
Với vị trí quan trọng đó, ngân hàng thương mại đảm
nhiệm những chức năng khác
nhau trong nền kinh tế như:
1.1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng đóng vai trò là cầu nối giữa
người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức, ngân hàng thương mại hình
thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng nà
y, ngân hàng

12
thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay và tìm
kiếm lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay và góp phần
tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia là người gửi tiền và người đi vay.
 Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình
thức lãi tiền gửi
mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an
toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
 Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc
chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực và thời gian cho
việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ.

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng qua
n trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình
tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,
thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của họ để thanh toán tiền hà
ng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách
hàng, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương
tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,
thẻ tín dụng,…Tùy theo nhu cầu, khác
h hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh
toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền
để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một
phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết
kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo tha
nh toán an toàn. Chức năng này mô
hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu
chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền
mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi
phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản,…

13
Ngân hàng thương mại thu phí thanh toán để làm tăng thu nhập cho ngân hàng.
Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong
tài khoản tiền gửi của khách hàng.
1.1.2.3. Chức năng tạo “bút tệ” hay tiền ghi sổ trong nền kinh tế

Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính, làm trung
gian giữa cung và cầu về vốn tiền tệ. Ngoài việc thu hút tiền gửi và cho vay trên số tiền
gửi đó, ngân hàng thương mại còn tạo tiền khi phát tín dụng. Nghĩa là vốn phát qua tín
dụng không nhất thiết dựa trên vàng ha
y tiền giấy đã gửi vào ngân hàng, tiền vay không
trên cơ sở số tiền gửi mà khoản tín dụng đó được ngân hàng tạo ra tiền để cho vay gọi là
“bút tệ” hay “tiền ghi sổ”. Khi hết hạn vay, người vay trả nợ ngân hàng, tiền vay rút khỏi
lưu thông, trở lại ngân hàng và tiền bị hủy bỏ. Trong phạm vi nền kinh tế, hoạt động cho

vay và trả nợ diễn ra thường xuyên, hàng ngày, có tiền tạo ra và tiền hủy đi. Khối lượng
tiền tệ trong lưu thông tăng lên khi luồng tiền tạo ra (phá tiền tệ) lớn hơn luồng tiền hủy đi
(trả nợ ngân hàng).
1.1.3. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước làm thay đổi cơ bản nền kinh tế
với những chỉ số kinh tế ngà
y càng khả quan, hệ thống ngân hàng đã đóng một vai trò
quan trọng. Những đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam được coi là khâu đột phá,
có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế.
1.1.3.1. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế luôn luôn tồn tại một lượng tiền nhàn rỗi. Đối với những cá nhân
thì lượng tiền nhàn rỗi này có thể được hình thành do nhu cầu tiết kiệm để chi tiêu tron
g
tương lai hay lấy lãi. Đối với các tổ chức kinh tế, lượng tiền này có thể được hình thành
do nhu cầu chi tiêu cho hoạt động kinh doanh, nhu cầu thanh toán cho nhà cung cấp. Xuất
phát từ những đòi hỏi như thế phải có một lượng tiền nhàn sẵn sàng cho những nhu cầu
trên. Nhưng như thế hiệu quả sử sụng hay tính sinh lời của đồng tiền hầu như là không có.
Sự có mặt của ngân hàng đã tăng được hiệu quả của nguồn vốn nhàn rỗi nà
y mà vẫn thỏa
mãn được nhu cầu của người gửi tiền.
Chính vì thỏa mãn được nhu cầu của cả người đi vay và người cho vay mà hoạt

động huy động vốn đã cung cấp cho nền kinh tế những nguồn vốn cần thiết, góp phần
tăng GDP cho toàn nền kinh tế.

14
1.1.3.2. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Xu hướng toàn cầu hóa thương mại đang lan dần ra toàn bộ các nền kinh tế trên thế
giới. Thị trường ngày càng được mở rộng về quy mô, nâng cao về yêu cầu, chính vì vậy
những nhà cung cấp sản phẩm muốn tồn tại và phát triển không những thỏa mãn được yêu
cầu của thị trường mà còn phải đua nhau vượt lên những đối thủ cạnh tranh khác. Với yêu
cầu đó buộc doa
nh nghiệp phải đầu tư vào con người, vào công cụ lao động (máy móc
thiết bị), vào công nghệ và cả mạng lưới phân phối. Với mục tiêu nặng nề cần phải theo
đuổi như thế, ngân hàng đóng vai trò là một trợ thủ giúp đỡ cho doanh nghiệp về kế hoạch
kinh doanh hiệu quả và về nguồn vốn, giúp cho doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị
trường.
1.1.
3.3. Ngân hàng thương mại là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước có 6 công cụ chính để tác động đến nền kinh tế thông qua các
ngân hàng thương mại đó là tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ
thị trường mở, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng. Bằng 6 công cụ này Ngân hàng Nhà
nước điều chỉnh và kiểm soát các ngân hàng thương mại, tác động đến l
uồng tiền ra, vào
của các ngân hàng thương mại, tức là tác động đến cung tiền trong xã hội. Ảnh hưởng đến
hai vấn đề quan trọng của nền kinh tế đó là Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát. Ngân
hàng thương mại góp phần đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá
trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ m
ô, môi trường đầu tư và sản xuất
kinh doanh. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự
tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục.

Mọi sự tác động từ kinh tế thế giới, mọi dấu hiện của khủng hoảng, lạm phát, suy
thoái,… hầu hết đều có thể nhìn thấy qua hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời cũng
có thể t
hông qua chính hệ thống ngân hàng này mà có những tác động tích cực ngược trở
lại nhằm điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô.
1.1.4. Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.4.1. Hoạt động huy động vốn
Đây là hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại. Vốn huy động là
nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn của ngâ
n hàng. Với
phương châm “đi vay để cho vay” nguồn vốn huy động là nguồn nguyên liệu chính, đóng

15
vai trò quyết định và mang tính chất sống còn đối với hoạt động của ngân hàng, tổ chức
tín dụng, ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
 Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các hình thức tiền gửi khác.
 Phát hành các giấy tờ có giá, bao gồm: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có
giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước.
 Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng: các Tổ chức tín dụng được vay vốn của nhau
và của tổ chức tín dụng nước ngoài.
 Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước.
1.1.4.2. Hoạt động tín dụng
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho
vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các

hình thức khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước. Đây là hoạt động có vị trí rất quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại.

 Về cho vay: Ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
+ Cho vay ngắn hạn: nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và đời sống.
+ Cho vay trung và dài hạn: để thực hiện các
dự án hoặc đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
 Về bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện
hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả
năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách
hàng không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngâ
n hàng thương mại.
 Về chiết khấu: Ngân hàng chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá của ngân
hàng khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu, các giấy tờ
có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức tín đụng khác.
 Về cho thuê tài chính: Ngân hàng cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty
cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài

16
Tóm
lại, trong các hoạt động cấp tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng và
chiếm tỷ trọng lớn nhất (theo Nghị định số 49/2000/NĐ – CP ngày 12/9/2000 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại).
1.1.4.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp t
hông qua ngân hàng,
ngân hàng thương mại mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện
thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua ngân hàng Nhà nước, ngân hàng
thương mại phải mở tài khoản tại ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng Nhà nước đặt trụ sở
chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra, chi nhánh
của ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng Nhà nước

tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhá
nh.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động sau:
 Cung cấp các phương tiện thanh toán.
 Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và ngoài nước.
 Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ cho khách hàng.
 Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được ngân hàng Nhà nước cho phép.
 Các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước.
1.1.4.4. Các hoạt động khác
Hoạt động của ngân hàng thương mại rất phong phú và có phạm vi rộng lớn ở quy mô,
tính toàn cầu, tính hiện đại trong công nghệ ngân hàng. Ngoài các hoạt động cơ bản trên, ngân
hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt động khác, bao gồm: “góp vốn và mua cổ
phần, tham gia vào thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, ủy thác và nhận ủy thác, cung ứng
dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính,…”.
1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm
Theo khoản 8 và khoản 10, điều 20, luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng
được định nghĩa là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động

17
để thỏa thuận tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay,
cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác.

Trong thực tế, hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng, nhưng ở bất cứ hình
thức nào thì tín dụng cũng luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuất hàng hóa – tiền
tệ. Mục đích, tính chất của tín dụng do mục đích, tính chất của nền sản xuất hàng hóa
trong xã hội quyết định. Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy
luật kinh tế, của phương thức sản xuất trong xã hội đó.
Tín dụng được biểu hiện qua sơ đồ sau


(1) Cho vay vốn

(Borrower)
Chủ thể đi
vay
Chủ thể cho vay
(Lender)



Như vậy, quan hệ tín dụng là bao gồm h
ai mối quan hệ cơ bản cho vay và hoàn trả.
Mối quan hệ tín dụng chỉ được hoàn tất và kết thúc khi người vay đã hoàn trả cả gốc và
lãi cho người cho vay. Lượng giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng.
(2) Hoàn trả vốn và lãi
Trong quan hệ tín dụng với các Tổ chức kinh tế, các cá nhân, ngân hàng vừa đóng
vai trò là người cho vay vừa đóng vai trò là
người đi vay. Với tư cách là người đi vay,
ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền
gửi, trái phiếu để hy động vốn trong xã hội. Với tư cách là người cho vay, ngân hàng cung
cấp tín dụng cho các tổ chức, các doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế.
Cũng như các quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:
 Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử
dụng.
 Sự chuyển nhượng nà
y mang tính chất tạm thời hay có thời hạn.
 Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.




18
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín
dụng cho thấy vai trò thiết yếu của tín dụng ngân hàng với sự vận hành của nền kinh tế.
Đặc biệt là với nền kinh tế hội nhập và phát triển như ngày nay, ngân hàng như một mạng
lưới nối kết, dẫn dắt những luồng tiền từ nơi này đến nơi khác một cách nhanh chóng,
hiệu quả. Hoạt động tín dụng đảm bảo đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của các cá nhâ
n trong nền kinh tế. Vai trò tín dụng ngân
hàng được thể hiện ở 3 cấp độ sau:
1.2.2.1. Đối với nền kinh tế
Trong xã hội luôn có những người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn
muốn đi vay. Song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau để cho nha
u vay, hoặc
có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời. Chính vì vậy, xuất phát từ chức năng
tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế, tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò như
một chiếc cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn để giải quyết nhu cầu thỏa đáng
trong mối quan hệ này. Tín dụng ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu về vốn c
ho xã hội, góp
phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Mặt khác, trong quá trình huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức thanh toán
cho khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình
sản xuất kinh doanh cũng như khả năng thanh toán, chi trả của khách hàng.
Trong quá trình cho vay để tránh rủi ro, ngân hàng luôn đánh giá, phân tích khả
năng tài chính và thường xuyên giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể điều
chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết, hướng c
ho hoạt động của doanh nghiệp đi đúng
hướng, từng bước tạo tiền đề vật chất cho xã hội.
1.2.2.2. Đối với ngân hàng
Nhờ vào hoạt động tín dụng ngân hàng mà ngân hàng thương mại và các tổ chức

tín dụng có thể tăng cường kiểm tra, giám sát với khách hàng vay vốn, từ đó góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế chung của nền ki
nh tế quốc dân. Hoạt động tín dụng là hoạt
động chính đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng, song nó cũng mang lại rủi ro cao
nhất. Song song với nỗ lực huy động vốn, các ngân hàng thương mại còn phải cố gắng tối
đa trong việc cấp tín dụng cho cá nhân và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Nó đòi hỏi
ngân hàng phải kiểm soát khả năng trả nợ của khách hà
ng. Phán đoán được khả năng này

19
nhằm bảo vệ tiền gửi của khách hàng và hiệu quả hoạt động cũng như lợi nhuận của ngân
hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng khoản mục cho vay thường chiếm từ 1/2 đến 2/3
nguồn thu của ngân hàng. Mặc dù các ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro và chi phí
cao khi kinh doanh loại hình hoạt động này, song các ngân hàng đều tập trung khai thác,
mở rộng hoạt động này một mặt giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó
làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngâ
n hàng; mặt khác, tạo điều kiện đa
dạng hóa các hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho
ngân hàng.
1.2.2.3. Đối với khách hàng
Thông qua hoạt động tín dụng, tín dụng ngân hàng đã góp phần tiết kiệm chi phí
lưu thông, ổn định thị trường. Chi phí giao dịch là một trong những yếu tố quyết định sự
thành công hay không của khách hàng. Với mỗi khoản giao dịch, có các khoản chi phí cố
định (chiếm tỷ lệ chủ yếu) và các chi phí khác phụ thuộc từng loại giao dịch
, do vậy với
khối lượng giao dịch càng nhỏ thì chi phí giao dịch bình quân cho mỗi đồng vay, cho vay
càng lớn. Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng chuyên môn hóa trong lĩnh vực
này nên nó sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí giao dịch cho khách hàng (có thể giao dịch với
lượng tiền lớn).
Với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

nền kinh tế cũng như nhu cầu phát
triển của các tổ chức trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt quyết liệt như ngày
nay thì nhu cầu về vốn để đổi mới trang thiết bị công nghệ sản xuất, mở rộng mặt hàng,
nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ là rất lớn. Do đó mở rộng nguồn vốn để đầu tư là
một yêu cầu bức thiết đối với các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khác. Thực
tế cho thấy phần vốn chủ yếu huy động được là từ các tổ chức tài chính trung gian, đặc
biệt là từ c
ác ngân hàng thương mại thông qua các hình thức vay mới, chiếm tỷ trọng lớn
(61,9% - theo số liệu thống kê của Viện kinh tế Việt Nam năm 2006).
Trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế quốc gia gắn liền với thị trường thế
giới, kinh tế “đóng” đã nhường bước cho ki
nh tế “mở”, tín dụng ngân hàng đã trở thành
một trong những phương tiện nối liền nền kinh tế các nước với nhau.
1.2.3. Phân loại tín dụng ngân hàng
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một
số tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề th
iết lập các

20
quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng, và nó dựa vào
các tiêu thức sau:
1.2.3.1. Phân loại theo thời gian
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng để bù
đắp khoản thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn
của cá nhân. Do thời gian hoàn vốn nhanh nên cho vay ngắn hạn là loại có mức rủi ro
thấp, vì vậy lãi suất thấp hơn so với các loại hình cho vay khác.
Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm, được sử
dụng để mu
a sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản
xuất kinh doanh.

Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có thể lên
tới 20 – 30 năm, cá biệt lên tới 40 năm. Đây là loại hình tín dụng được cung cấp để đáp

ứng nhu cầu dài hạn: cây nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô, xây dựng xí
nghiệp mới… Hình thức tín dụng này có thời gian dài nên có độ rủi ro cao nhất
.
1.2.3.2. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn
Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà
ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải chi phí sản xuất như: phân bón,
thuốc trừ sâu, giống cây trồng…
Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cho vay các ngân hàng, các công ty tài
chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng…
Cho vay tiêu dùng: Là cho vay để đáp ứng các nhu cầu m
ua sắm, tiêu dùng, đầu tư
cơ sở hạ tầng như trạm xá, điện, nước sạch…phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt trong một
khu vực dân cư. Cho vay tiêu dùng là một loại hình cấp tín dụng khá mới mẻ ở Việt Nam,
tuy nhiên loại hình này đang được diễn ra khá phổ biến. Cho vay tiêu dùng đã góp phần
nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân.
1.2.3.3. Phân loại theo xuất xứ tín dụng
Cho v
ay trực tiếp: Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Ngân hàng
trực tiếp cung cấp vốn cho khách hàng và khách hàng trực tiếp trả nợ cho ngân hàng.

21
Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua tổ chức trung gian. Ngân
hàng cho vay thông qua các tổ đội, hội, nhóm sản xuất, hội Nông dân, hội Cựu chiến
binh, hội Phụ nữ… Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm
đầu vào của quá trình sản xuất. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường
có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán cách xa ngân hàng. Phương thức cho vay này

cũng giảm bớt rủi ro và chi phí cho ngân hàng.
Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ bảo lã
nh cho khách hàng bằng uy tín
của mình. Đối với nghiệp vụ này, ngân hàng không phải cung cấp bằng tiền nhưng nếu
khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì ngân hàng phải có nghĩa vụ
thanh toán thay.
1.2.3.4. Phân loại khác
 Theo rủi ro: Tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn có khả năng thu
hồi, nợ quá hạn khó đòi,…
 Theo mục đích: Sản xuất, tiêu dùng…
 Theo hình thức cấp tí
n dụng: Chiết khấu thương phiếu, cho vay, cho thuê tài
sản…
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng và chuyên môn hóa trong cấp tín
dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ
song vẫn có thể duy trì các lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế. Nó cho phép ngân hàng theo
dõi rủi ro và sinh lời gắn liền với lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, đảm bảo hạn
mức phù hợp.
1.3. Chất lượng hoạt động tín dụng

1.3.1. Quan điểm chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và
người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển
của Ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là Ngân
hàng và khách hàng.
Theo từ điển Kinh tế - Ngân hàng: “Chất lượng tín dụng là hiệu quả cho vay vốn
(
hay đầu tư, bảo lãnh) mang lại khả năng thu hồi đầy đủ, đúng hạn cả vốn gốc và lãi theo
đúng quy định. Trong đó hiệu quả và khả năng thu hồi nợ càng lớn thì chất lượng tín


22
dụng càng cao và ngược lại”. Bởi vậy, chất lượng hoạt động của ngân hàng không những
phụ thuộc vào bản thân của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của
doanh nghiệp.
Ta có thể xem xét chất lượng tín dụng dưới nhiều giác độ:
 Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng của
khách hàng với lãi suất kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản, thu hút được nhiều khác
h hàng
nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
 Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng
hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín
dụng với tăng trưởng kinh tế.
 Đối với Ngân hàng thương mại: Phạm v
i, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp
với thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với
nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp
cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản á
nh về chất lượng tín dụng thì có rất nhiều chỉ
tiêu đánh giá, nhưng nói chung người ta thường quan tâm tới tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ,
tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo. Ngoài ra, để đánh giá định tính về chất lượng tín dụng,

người ta còn quan tâm đến cơ cấu dư nợ các khoản vay ngắn – dài hạn trong tương quan
cơ cấu nguồn vốn của tổ chức tín dụng, dư nợ cho vay các lĩnh vực rủi ro cao tại thời
điểm đó như bất động sản, cổ phiếu
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa chất lượng tín dụng và
o làm một
chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động khi xếp hạng các tổ chức tín dụng

năm 2006. Chất lượng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam căn cứ vào:
 Nợ xấu/Tổng dư nợ;
 Nợ khó đòi/Tổng dư nợ;
 Nợ khó đòi
ròng (bằng nợ khó đòi – dự phòng rủi ro chưa sử dụng) nhỏ hơn hoặc
bằng 0.



23
1.3.2.1. Các chỉ tiêu định tính
Thứ nhất, uy tín của ngân hàng là một chỉ tiêu cơ bản nhất ảnh hưởng tới toàn bộ
hoạt động của ngân hàng nói chung và ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng nói riêng. Chất
lượng tín dụng tạo lòng tin cho khách hàng, cho phép ngân hàng có những khách hàng
trung thành, có quan hệ thường xuyên và gắn bó lâu dài với ngân hàng. Ngân hàng hoạt
động chính nhờ sự tin cậy của khách hàng. Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa sự cạnh
tranh giữa các ngân hàng thương mại rất khốc liệt, khá
ch hàng chỉ đến với những ngân
hàng nào mà có quan hệ tín dụng, dịch vụ tốt hơn so với những ngân hàng khác.
Thứ hai, chất lượng tín dụng phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Nếu ngân hàng chú trọng vào tăng trưởng dư nợ tín dụng nhằm nâng cao lợi nhuận mà
không chú trọng đến độ an toàn của đồng vốn bỏ ra thì thiệt hại là rất lớn, không những
không thu đư
ợc lãi mà còn mất cả vốn gốc, gây tổn thất và đe dọa đến sự tồn tại của ngân
hàng. Như vậy không hẳn tăng trưởng tín dụng cao đã là hiệu quả mà nhất thiết tăng
trưởng phải chú trọng tới sự tồn tại và sự phát triển trong dài hạn, đảm bảo chất lượng cho
toàn danh mục cho vay trong dài hạn.
Mặt khác, chất lượng tín dụng góp phần phát triển sản xuất kinh doa
nh và lành
mạnh tài chính của khách hàng, chất lượng tín dụng tốt có nghĩa là ngân hàng phát triển

tốt nhờ vậy ngân hàng có điều kiện cung cấp vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh
doanh của khách hàng. Các doanh nghiệp đều cố gắng rút ngắn thời gian thực hiện một
chu kì sản xuất nhằm nhanh chóng thu hồi lại vốn nhờ vậy vòng quay vốn sẽ tăng. Thực
tế đã chứng minh rằng những doanh nghiệp có quy m
ô lớn thường có ưu thế trong cạnh
tranh vì vậy các doanh nghiệp phải vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất và
đổi mới công nghệ, có như vậy mới đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh.
Thứ ba, chất lượng tín dụng đi đến cùng phải góp phần làm tăng trưởng và phát
triển nền kinh tế xã hội. Chất lượng tí
n dụng góp phần kìm chế lạm phát, ổn định tiền tệ.
Khi mà số lượng hàng hóa và tiền tệ trong lưu thông mất cân bằng (tiền > hàng) sẽ gây ra
lạm phát. Để chống đỡ với lạm phát, Chính phủ có thể áp dụng nhiều biện pháp nhưng
một trong những biện pháp có hiệu quả nhất là sử dụng công cụ tín dụng ngân hàng mà cụ
thể là lãi suất tín dụng. Để hạn chế việc chi tiền cho nền ki
nh tế và giảm lượng tiền mặt
trong lưu thông, ngân hàng có thể nâng lãi suất tiền gửi và từ đó tăng lãi suất cho vay để
thu hút tiền thừa trong nền kinh tế về. Vì lãi suất cao thì các doanh nghiệp hạn chế vay
tiền, ngân hàng có thể giảm chi cho nền kinh tế và như vậy sẽ hạn chế được lạm phát. Có

24
thể nói tín dụng là công cụ rất hiệu quả trong việc bơm tiền vào lưu thông cũng như hút
tiền từ lưu thông về. Nó là công cụ điều hòa lưu thông tiền tệ. Bên cạnh đó, nếu như tăng
trưởng và phát triển kinh tế không đồng đều, lợi ích chỉ đến với một bộ phận cục bộ mà
gây tổn thất cho đại bộ phận còn lại thì tổng lợi ích tạo ra là âm
, kìm hãm sự phát triển
của toàn xã hội, không thể tăng trưởng bền vững và lâu dài.
1.3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
a. Hiệu suất sử dụng vốn.
"Đi vay để cho vay" là hoạt động chính của Ngân hàng. Trong hoạt động đi vay,
Ngân hàng là người phải trả các khoản lãi cho các nguồn vốn huy động được đồng thời

sẽ thu lại từ hoạt động cho vay. Việc phân bổ các nguồn vốn đó như thế nào để đảm
bảo tính hiệu quả ví dụ như nếu nguồn vốn huy động lớn m
à dư nợ thấp sẽ bị ứ đọng
vốn, nhưng dư nợ tín dụng quá cao thì khả năng khống chế rủi ro rất khó khăn:

Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn huy động được

Chỉ tiêu này phản ánh kết quả sử dụng vốn để đầu tư của ngân hàng thương mại.

Chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn 1. Nếu hệ số sử dụng vốn gần bằng 1 thì ngân hàng thương
mại phải chú ý tăng trưởng nguồn vốn để đề phòng mất khả năng thanh toán. Nếu hiệu
suất sử dụng vốn thấp phải tăng trưởng dư nợ hoặc giảm vốn huy động bằng cách hạ
lãi suất huy động, hạn chế rủi ro nguồn vốn tác động đến chất lượng tín dụng. Qua đó
ta thấy rằng việc vận dụng một cách linh h
oạt giữa nguồn vốn đi vay và sử dụng vốn
đó để cho vay góp phần không nhỏ trong hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Vòng quay vốn tín dụng :
Hàng năm ngân hàng đánh giá khả năng tổ chức, quản lý vốn tín dụng và chất
lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua chỉ tiêu này.

Doanh số th
u nợ/năm
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân/năm


25

×