Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam trong quá trình hội nhập

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 99 trang )



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG




ĐẶNG QUANG ĐỨC






NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP





LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ











HÀ NỘI - 2007



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG






ĐẶNG QUANG ĐỨC






NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 60.31.07




LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS Nguyễn Như Tiến











Hà Nội - 2007



LỜI CẢM ƠN


Luận văn thạc sỹ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ Việt Nam trong quá trình hội nhập”, đã được hoàn thành dưới
sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Như Tiến, Bộ môn Vận tải và Bảo hiểm, Khoa
Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Nguyễn Như Tiến - người đã hướng dẫn và chỉ
bảo tận tình để có được những kết quả trong luận văn này.

Tôi cũng xin chân thành cám ơn các thầy, các cô Trường Đại học Ngoại
thương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Viện Triết học Việt Nam nói chung và các thầy, các cô khoa Sau Đại học,
Trường Đại học Ngoại thương nói riêng, đã đào tạo và hướng dẫn tôi nghiên cứu
khoa học trong những năm vừa qua. Các thầy, các cô đã đóng góp nhiều ý kiến quý
báu và giúp đỡ tôi hết sức nhiệt tình, để tôi có thể hoàn thành được luận văn thạc sỹ
cuối khoá học.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp nơi tôi đang làm việc; và những
người thân trong gia đình tôi, đặc biệt là mẹ tôi và vợ tôi đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trên tất cả các mặt, để tôi có thể hoàn thành được luận văn khoa học đúng thời
gian và đảm bảo chất lượng.
Vì thời gian có hạn nên trong luận văn có thể có những chỗ thiếu sót, rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô, và độc giả quan tâm đến những vấn đề
đặt ra trong luận văn.

Hà nội, ngày 26 tháng 5 năm 2007
ĐẶNG QUANG ĐỨC


MỤC LỤC


Trang
Mở đầu
1
Chương 1
Những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh và năng lực
cạnh tranh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
4
1.1

Quan niệm về năng lực cạnh tranh
4
1.1.1
Khái niệm năng lực cạnh tranh
4
1.1.2
Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia
7
1.1.3
Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
8
1.2
Lý thuyết về năng lực cạnh tranh
9
1.2.1
Mối tương quan giữa năng lực cạnh tranh quốc gia và DN
9
1.2.2
Các yếu tố năng lực cạnh tranh nội tại của DN
12
1.2.3
Các yếu tố cạnh tranh thuộc môi trường bên ngoài DN
14
1.2.4
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
17
1.3
Năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ VN
19
1.3.1

Khái niệm về bảo hiểm, DNBH và năng lực cạnh tranh của
các DNBH phi nhân thọ VN
19
1.3.2
Phân loại các DNBH
20
1.3.3
Chính sách tài chính quốc gia ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh quốc gia với DNBH phi nhân thọ
20
Chương 2
Thực trạng năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ
VN trong quá trình hội nhập
25
2.1
Khái quát tình hình hoạt động của các DNBH phi nhân thọ
VN
25
2.1.1
Sự phát triển của các DNBH phi nhân thọ VN
26
2.1.2
Phát triển về số lượng và loại hình bảo hiểm
33
2.2
Kết quả hoạt động của các DNBH phi nhân thọ VN
35
2.2.1
Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản
35

2.2.2
Một số điểm tồn tại trong hoạt động kinh doanh của các
41


DNBH phi nhân thọ VN
2.3
Thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNBH phi nhân thọ
VN
44
2.3.1
Năng lực tài chính
44
2.3.2
Khả năng quản lý bảo hiểm
45
2.3.3
Mức độ tín nhiệm của các DNBH phi nhân thọ
46
2.3.4
Dịch vụ phục vụ khách hàng
47
2.3.5
Khả năng định phí bảo hiểm
47
2.3.6
Ứng dụng công nghệ
50
2.3.7
Khả năng cạnh tranh giành hợp đồng bảo hiểm của các

DNBH phi nhân thọ VN
52
2.3.8
Chất lượng sản phẩm
55
2.3.9
Khả năng hoạt động marketing
56
2.3.10
Chất lượng nguồn nhân lực của các DNBH phi nhân thọ trong
nước
56
2.4
Những vấn đề rút ra cho các DNBH phi nhân thọ VN
58
2.4.1
Điểm mạnh
59
2.4.2
Điểm yếu
60
Chương 3
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNBH
phi nhân thọ VN trong quá trình hội nhập
66
3.1
Cơ sở định hướng phát triển cho các DNBH phi nhân thọ
trong quá trình hội nhập
66
3.1.1

Các cam kết song phương và đa phương trong lĩnh vực bảo
hiểm
66
3.1.2
Định hướng chung đối với thị trường tài chính Việt Nam
trong quá trình hội nhập
68
3.1.3
Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đối với thị trường bảo hiểm
69
3.2
Những yêu cầu đặt ra cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của các DNBH phi nhân thọ Việt Nam trong quá trình hội
69


nhập
3.2.1
Yêu cầu về khả năng tài chính
69
3.2.2
Yêu cầu về năng lực kinh doanh
70
3.2.3
Yêu cầu về công nghệ quản lý kinh doanh bảo hiểm
70
3.2.4
Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực
71
3.2.5

Yêu cầu về năng lực nhận tái bảo hiểm
71
3.3
Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNBH
phi nhân thọ trong quá trình hội nhập
72
3.3.1
Giải pháp chung cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
các DNBH VN
72
3.3.2
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNBH phi
nhân thọ Việt Nam
78



DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1
Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu của thị trường bảo hiểm
27
Bảng 2.2
Số lượng các DNBH theo khối doanh nghiệp
29
Bảng 2.3
Danh sách các DNBH phi nhân thọ
29
Bảng 2.4
Hoạt động của các DNBH phi nhân thọ VN 2004-2006

31
Bảng 2.5
Số tiền bồi thường BH phi nhân thọ
37
Bảng 2.6
Tổng dự phòng nghiệp vụ BH phi nhân thọ
37
Bảng 2.7
Bồi thường, trả tiền BH và dự phòng nghiệp vụ năm 2006
39
Bảng 2.8
Đầu tư của các DNBH phi nhân thọ năm 2006
40
Bảng 2.9
Năng lực tài chính các DNBH phi nhân thọ VN năm 2005-
2006
44
Bảng 2.10
So sánh bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ
49
Bảng 3.1
Vốn thực có của thị trường, yêu cầu về vốn tối thiểu và vốn
phát triển
83

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1
Thị phần doanh thu phí của từng doanh nghiệp
32

Biểu đồ 2.2
Cơ cấu doanh doanh thu phí BH gốc năm 2005-2006
34
Biểu đồ 2.3
Doanh doanh thu phí BH gốc năm 2005-2006
35
Biểu đồ 2.4
Doanh thu phí BH giữ lại theo nghiệp vụ
35
Biểu đồ 2.5
Tỷ trọng doanh thu phí BH giữ lại theo NV năm 2006
36





DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1.
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
2.
BTA
Hiệp định thương mại Việt-Mỹ
3.
BH
Bảo hiểm
4.
DN

Doanh nghiệp
5.
DNBH
Doanh nghiệp bảo hiểm
6.
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
7.
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
8.
TTBH
Thị trường bảo hiểm
9.
TTCK
Thị trường chứng khoán
10.
VN
Việt Nam
11.
WEF
Diễn đàn Kinh tế thế giới
12.
WTO
Tổ chức thương mại thế giới




1

MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa là xu thế khách quan, vừa là đòi hỏi cấp thiết
đối với các nước đang phát triển, trong đó có VN. Quá trình hội nhập sẽ đem đến
cơ hội và thách thức đối với Chính phủ, các doanh nghiệp và mỗi người dân. Đối
với các doanh nghiệp VN để đứng vững và tiếp tục phát triển, cần không ngừng
củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh. Các DNBH nói chung và DNBH phi
nhân thọ VN nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó, xuất phát từ tính quốc
tế hóa cao của hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Để tìm ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNBH phi
nhân thọ VN, cần nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thực trạng năng lực cạnh tranh của các
DNBH phi nhân thọ tại VN, để từ đó đề xuất các giải pháp khả thi trong quá trình
hội nhập. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNBH phi nhân thọ VN quá
trình hội nhập, là đòi hỏi cấp thiết không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang tính
thực tiễn rất cao, vì VN đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 1 năm 2007. Do đó, tác giả chọn đề tài “Nâng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt
Nam trong quá trình hội nhập” làm luận văn tốt nghiệp cuối khoá.
2. Tình hình nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh là chủ đề nghiên cứu đang được nhiều nhà nghiên cứu
trong nước và quốc tế quan tâm. Những nội dung đã và đang được triển khai
nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xếp hạng năng lực cạnh tranh của các
nước, trong đó có VN, một cách toàn diện hoặc về một khía cạnh nhất định trong
năng lực cạnh tranh. Đồng thời, trong nước một số nghiên cứu đề cập đến một số
khía cạnh của năng lực cạnh tranh tổng thể, cũng như của doanh nghiệp và các
ngành. Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về năng



2
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ VN, trong điều kiện
VN là thành viên chính thức của WTO.
3. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ VN trong
xu thế hội nhập.
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao năng lực cạnh tranh
cho các DNBH phi nhân thọ VN trong quá trình hội nhập.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh.
- Thực trạng năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ VN trong xu thế
hội nhập.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các
DNBH phi nhân thọ VN trong quá trình hội nhập.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong nội dung của luận văn này có sự kế
thừa, phát triển và đóng góp một phần nhỏ vào nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp, các DNBH nói chung và DNBH phi nhân thọ VN nói
riêng.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các DNBH phi nhân thọ
VN.
- Phạm vi nghiên cứu: Các DNBH phi nhân thọ VN trong điều kiện Hội
nhập.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đề tài sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp, lô-gíc, lịch sử và phương pháp chuyên gia.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần lời cám ơn, lời cam đoan, chữ viết tắt, mục lục, mở đầu, kết

luận, tài liệu tham khảo… luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:


3
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh
tranh của các DNBH phi nhân thọ.
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ VN
trong quá trình hội nhập.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNBH phi
nhân thọ VN trong quá trình hội nhập.


4
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN
THỌ

1.1. Quan niệm về năng lực cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Đặc tính cơ bản của kinh tế thị trường là cạnh tranh, nó quyết định sự tồn tại
và phát triển của kinh tế thị trường. Nếu không có quy luật cạnh tranh, kinh tế thị
trường sẽ không vận hành theo những quy luật khách quan, điều này sẽ làm biến
dạng kinh tế thị trường. Hiện nay, có nhiều khái niệm năng lực cạnh tranh: Thứ
nhất, thuật ngữ năng lực cạnh tranh hiện đang được sử dụng để đánh giá khả năng
cạnh tranh chung cho tất cả doanh nghiệp, các ngành và các khu vực liên quốc
gia; Thứ hai, năng lực cạnh tranh được đánh giá theo năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp hay quốc gia; Thứ ba, năng lực cạnh tranh được đánh giá có tầm
quan trọng rất lớn trong một thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập. Mặc dù các
nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng của khả năng cạnh tranh,

nhưng những người khác nhau lại thường hiểu rất khác nhau về khái niệm này.
Hơn nữa, thường có sự nhầm lẫn về bản chất của khả năng cạnh tranh.
Krugman nêu ra những các trường hợp hiểu bản chất khác nhau về khả năng
cạnh tranh ở cấp quốc gia, dẫn đến những hành động khác nhau: Thứ nhất, các
Chính phủ có thể viện đến lý do “nâng cao khả năng cạnh tranh” của đất nước để
sử dụng ngân sách cho những “chi tiêu vô bổ”, chẳng hạn như trợ cấp hàng xuất
khẩu hay phá giá đồng tiền; Thứ hai, quan niệm về khả năng cạnh tranh quốc gia,
có thể dẫn đến việc tăng cường hàng rào bảo hộ và làm phát sinh các tranh chấp
thương mại; Thứ ba, quan niệm về khả năng cạnh tranh quốc gia, có thể dễ dẫn
đến việc Chính phủ thực hiện những chính sách công can thiệp sâu vào thị trường,
bóp méo quan hệ thị trường, làm nảy sinh những vấn đề vĩ mô cần giải quyết.[25]


5
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ khả năng cạnh tranh và việc sử
dụng cũng rất khác nhau. Khả năng cạnh tranh có thể được sử dụng khi nói về các
doanh nghiệp, các ngành, hay cả quốc gia. Khả năng cạnh tranh quốc gia thường
được phân tích theo quan điểm tổng thể, đặt trọng tâm vào môi trường kinh tế vĩ
mô và thể hiện vai trò của Chính phủ, như cách tiếp cận của Diễn đàn Kinh tế thế
giới (WEF). Bên cạnh đó cũng có quan điểm phân tích khả năng cạnh tranh quốc
gia, trên cơ sở lợi thế cạnh tranh của các ngành.
Quan điểm này thể hiện rõ trong các công trình của Michael Porter (1980,
1990). M.Porter cho rằng: “các doanh nghiệp là những chủ thể cạnh tranh trên thị
trường thế giới, chính vì vậy nói về lợi thế cạnh tranh quốc gia là nói về những
đặc trưng của quốc gia, với tư cách là môi trường hoạt động cho phép các doanh
nghiệp của quốc gia đó, có thể thành công trên thị trường thế giới”.[2]
Trong khi đó, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và ngành thường được
phân tích theo ba quan điểm chính: Thứ nhất, phân tích theo quan điểm quản trị
chiến lược, là việc nhìn nhận những ưu thế về cấu trúc ngành/doanh nghiệp. Quan
điểm này cũng đòi hỏi phải tính tới các nguồn lực có tính “riêng biệt”, cũng như

những ý tưởng quản trị mới gắn liền với sự phát triển nhảy vọt của công nghệ
thông tin và thương mại điện tử; Thứ hai, quan điểm tân cổ điển, là tiền đề cho
những phân tích dựa trên lợi thế so sánh, chi phí và các nhân tố, đặc biệt là các
nhân tố chính sách có thể làm chệch hướng việc phân bổ các nguồn lực; Thứ ba,
quan điểm tổng hợp, thể hiện những phân tích định tính, định lượng, những quan
sát tĩnh và động, để tạo ra một khung khổ đánh giá hoàn chỉnh tính cạnh tranh
ngành/doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh quốc gia được định nghĩa trong báo cáo hàng năm của
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF): “năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì
được mức tăng trưởng cao”. Trong cách tiếp cận của Porter, chỉ có chỉ số năng
suất là có nghĩa cho khái niệm tính cạnh tranh quốc gia, bởi vì đây là yếu tố cơ
bản quyết định việc nâng cao mức sống của quốc gia xét về dài hạn. [2]


6
Ngược lại, với khái niệm khả năng cạnh tranh mang tính tổng quát áp dụng
ở cấp quốc gia nói trên, quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại
truyền thống, xem xét lợi thế cạnh tranh hay tính cạnh tranh đối với một sản phẩm
(đồng nhất), qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất.
Mặt khác, theo quan điểm tổng hợp, tính cạnh tranh của một ngành/doanh
nghiệp là “năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và
ngoài nước” (Van Duren, Martin, và Westgren 1991). Định nghĩa này được xem
là nhất quán với mục tiêu kinh doanh, đồng thời phù hợp với các mục tiêu của
chính sách kinh tế và thương mại của Chính phủ. [2]
Trong Đại từ điển Tiếng Việt đưa ra các định nghĩa:
“Cạnh tranh: tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau,
nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”.
“Cạnh tranh quốc tế: cạnh tranh giành nguồn nhiên liệu và thị trường tiêu
thụ sản phẩm trên thế giới”.[6]
Trong kinh tế, cạnh tranh được hiểu là một sự tranh giành lợi ích giữa những

người cùng tham gia vào một công việc nào đó trong hoạt động kinh doanh. Hoặc
cụ thể hơn, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường,
nhằm giành ưu thế trên cùng một loại tài nguyên, sản phẩm hoặc cùng một loại
khách hàng về phía mình.
Cạnh tranh là một đặc tính cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của
kinh tế thị trường. Sẽ không có kinh tế thị trường vận hành tuân thủ theo những
quy luật khách quan, nếu không có quy luật cạnh tranh.
Tác giả Feurer, R. và K. Chaharbaghi đã đưa ra khái niệm về khả năng cạnh
tranh: Khả năng cạnh tranh mang tính tương đối chứ không tuyệt đối. Nó phụ
thuộc vào các giá trị của người tiêu dùng và các cổ đông; sức mạnh tài chính,
nhân tố quyết định khả năng hành động và phản ứng lại trong một môi trường
cạnh tranh; tiềm năng của con người và công nghệ trong việc thực hiện những
thay đổi mang tính chiến lược cần thiết. Khả năng cạnh tranh chủ có thể duy trì


7
được, nếu sự cân đối cần thiết được duy trì giữa những nhân tố này, là những
nhân tố có thể mâu thuẫn nhau về bản chất. [26]
Buckley, P.J. và một số chuyên gia kinh tế đưa ra định nghĩa: Khả năng
cạnh tranh bao gồm cả tính hiệu quả (đạt được các mục tiêu ở mức chi phí thấp
nhất có thể) và tính hiệu lực (có mục tiêu đúng đắn). Khả năng cạnh tranh bao
gồm cả mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu đó.[24]
Uỷ ban chính sách về khả năng cạnh tranh Hoa kỳ: “Khả năng sản xuất sản
phẩm và dịch vụ đáp ứng được sự kiểm tra của thị trường quốc tế, trong khi người
dân có được mức sống ngày càng tăng và bền vững trong dài hạn”.[20]
1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia
Viện phát triển quản lý, Thuỵ sỹ (IMD), là một trong hai tổ chức hàng đầu
thế giới về đánh giá khả năng cạnh tranh, là đồng tác giả của báo cáo đầu tiên về
khả năng cạnh tranh toàn cầu, cùng với WEF. Hiện có hai định nghĩa khác nhau
về khả năng cạnh tranh được IMD sử dụng:

Định nghĩa mang tính học thuật: “Khả năng cạnh tranh của quốc gia là một
lĩnh vực thuộc tri thức kinh tế, trong đó phân tích thực tế và các chính sách hình
thành khả năng của quốc gia trong việc tạo lập và duy trì một môi trường thuận
lợi bền vững, nuôi dưỡng việc tạo giá trị cao hơn cho các doanh nghiệp và sự
phồn thịnh lớn hơn cho người dân của quốc gia đó”.
Định nghĩa mang tính kinh doanh: “Khả năng cạnh tranh của quốc gia cho
thấy quốc gia đó tạo lập và duy trì một môi trường thuận lợi, bền vững cho khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc quốc gia đó như thế nào”. [2]
Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) và diễn đàn cấp cao về cạnh
tranh công nghiệp của OECD đưa ra các khái niệm:
“Khả năng cạnh tranh là mức độ mà một quốc gia, trong điều kiện thị trường
bình đẳng và thương mại tự do, sản xuất hàng hoá và dịch vụ vượt qua được sự
kiểm tra của thị trường quốc tế, trong khi đồng thời duy trì và làm tăng mức thu
nhập thực của người dân của mình trong dài hạn”.


8
Năng lực cạnh tranh quốc gia: “là năng lực tạo ra việc làm và thu nhập cao
hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt”.[2]
Trong điều kiện toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh
quốc gia là: sự thể hiện khả năng tăng trưởng và phát triển nền kinh tế trên cơ sở
tăng năng suất và hiệu quả một cách bền vững, dẫn đến cải thiện mức sống của
người dân.
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM): Năng lực cạnh tranh
quốc gia được định nghĩa là năng lực của nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền
vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống
của người dân.[20]
1.1.3. Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
1.1.3.1. Xem xét dưới góc độ mục tiêu
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng đáp ứng và chống lại

các đối thủ cạnh tranh trong việc giành được thị phần cung cấp sản phẩm một
cách lâu dài và có lợi nhuận.
Theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản
lý Kinh tế Trung ương đưa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp: là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường
các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.[3]
Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế: Khả năng cạnh tranh của
ngành/doanh nghiệp được định nghĩa là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận
và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. [19]
1.1.3.2. Xem xét dưới góc độ hội nhập
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là tổng hoà của các yếu tố khả năng
đáp ứng nhu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng sản phẩm trong một
khoảng thời gian nào đó, khả năng duy trì và mở rộng thị phần trên thị trường, để
đem lại mức lợi nhuận cao trên cơ sở tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành, để đảm
bảo sự phát triển ổn định và bền vững của doanh nghiệp.
CIEM đưa ra các định nghĩa:


9
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
trong nước và ngoài nước.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản
phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường.[20]
Từ những định nghĩa, khái niệm, các quan điểm khác nhau có thể rút ra kết
luận: Trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng, thì năng lực cạnh
tranh quốc gia là sự thể hiện khả năng tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế,
trên cơ sở tăng năng suất và hiệu quả bền vững dẫn đến cải thiện mức sống của
người dân.
1.2. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh

1.2.1. Mối tƣơng quan giữa năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh
nghiệp
Để xác định khả năng tăng trưởng bền vững thu hút đầu tư trong và ngoài
nước, duy trì tăng trưởng kinh tế hiệu quả và bền vững, đảm bảo ổn định xã hội,
cải thiện đời sống nhân dân trong nền kinh tế toàn cầu hoá và hội nhập sâu rộng,
khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia là một khái niệm phức hợp, dựa trên một
chùm các yếu tố khác nhau; có mối tương quan giữa năng lực cạnh tranh quốc gia
và doanh nghiệp ở tầm kinh tế vĩ mô. Tuỳ theo tầm quan trọng ở mỗi giai đoạn
phát triển các yếu tố có một trọng số nhất định. Ví dụ như yếu tố về khoa học và
công nghệ trước năm 1999 có trọng số là 1/9; năm 2000 trọng số đã được nâng
lên 1/3. Chùm các yếu tố này bao gồm 8 nhóm yếu tố quan trọng nhất, cụ thể như
sau:
1.2.1.1. Mức độ hội nhập của nền kinh tế
Mức độ hội nhập của nền kinh tế, bao gồm tập hợp các chính sách về xuất
nhập khẩu, thu hút ĐTNN; các dịch vụ trợ giúp xuất khẩu như tín dụng, bảo hiểm
xuất khẩu; khả năng chuyển đổi của đồng tiền với các giao dịch vãng lai… Chính
sách tỷ giá linh hoạt phản ánh giá trị thực của đồng tiền, cũng được coi là nhân tố
quan trọng của mức độ hội nhập nền kinh tế. Một thước đo khác của mức độ hội


10
nhập là tỷ lệ giá trị xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP, trong đó giá trị gia tăng
của xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng, để đánh giá mức độ hội nhập tích cực của
nền kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (năng lực cạnh tranh quốc gia và
doanh nghiệp) tỷ lệ thuận với mức độ hội nhập của nền kinh tế.
1.2.1.2. Sự phát triển của hệ thống tài chính-tiền tệ
Sự phát triển của hệ thống tài chính-tiền tệ được đánh giá bằng quy mô của
hệ thống tài chính so với GDP, sự đa dạng của các loại hình dịch vụ tài chính, tiền
tệ, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế, tỷ lệ nợ khó đòi, chất lượng, trình

độ phát triển của hệ thống tài chính Những chỉ số đánh giá thị trường tài chính-
tiền tệ, do các công ty tư vấn tài chính quốc tế đưa ra mới đảm bảo tính khách
quan và có giá trị trên thị trường tài chính quốc tế. Hệ thống tài chính-tiền tệ càng
hiện đại, trình độ quản lý rủi ro tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính-tiền tệ
của doanh nghiệp và người dân thuận lợi sẽ thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát
triển.
1.2.1.3. Công nghệ
Trình độ khoa học và công nghệ quyết định rất lớn đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp, cũng như của quốc gia. Các yếu tố để đánh giá trình độ khoa
học và công nghệ gồm: một nước hay doanh nghiệp sở hữu bao nhiêu công nghệ
hàng đầu thế giới, các dòng sản phẩm đứng đầu thế giới về công nghệ, trình độ
phát triển của thị trường công nghệ, tỷ lệ đầu tư của ngân sách Nhà nước và đầu
tư từ doanh nghiệp cho nghiên cứu và phát triển, số lượng bằng phát minh, sáng
chế, hoạt động chuyển giao công nghệ, khả năng hấp thụ công nghệ mới từ nước
ngoài.
Trong điều kiện phát triển rất nhanh của khoa học và công nghệ, tiêu chí về
trình độ khoa học và công nghệ được xem là một trong những tiêu chí quan trọng
nhất, để đánh giá về năng lực cạnh tranh ở tất cả cấp độ từ quốc gia, doanh nghiệp
và các sản phẩm, dịch vụ.


11
1.2.1.4. Kết cấu hạ tầng
Tiêu chí kết cấu hạ tầng gồm: hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ,
đường sắt, đường hàng không, hệ thống bến cảng, sân bay, hệ thống kho hàng,
bến bãi, hệ thống thông tin viễn thông, tốc độ của đường truyền internet, hệ thống
tài chính-tiền tệ Đối với những nước phát triển hệ thống tài chính-tiền tệ được
coi là cơ sở hạ tầng quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đảm bảo sự
phát triển ổn định, là cơ sở để các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật khác phát triển. Khả
năng cung ứng vốn đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các doanh nghiệp và là

điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
1.2.1.5. Lao động
Tiêu chí đánh giá về số lượng lao động gồm: số lượng lao động, chất lượng
lao động được đào tạo (ngoại ngữ, chuyên môn, nghiệp vụ trên các ngành các lĩnh
vực khác nhau), sức khoẻ, kỷ luật lao động, tần số đình công trong nền kinh tế,
mức độ thay đổi chỗ làm, chi phí tiền lương trên đơn vị sản phẩm, thuế thu nhập,
bảo hiểm Tiêu chi phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm để so sánh chi phí
tiền công với năng suất lao động, đây là một trong những tiêu chí quan trọng đánh
giá năng lực cạnh tranh trong phát triển nguồn nhân lực. Chi phí tiền lương bao
gồm chi phí đào tạo, thuế thu nhập và bảo hiểm, tức là tổng chi phí về lao động
đối với doanh nghiệp.
1.2.1.6. Quản trị doanh nghiệp
Tiêu chí đánh giá là khả năng của các doanh nghiệp xây dựng chiến lược
kinh doanh (chiến lược sản phẩm, chiến lược chất lượng, nguồn nhân lực, tài
chính, chiến lược khoa học và công nghệ, chiến lược marketing quảng cáo tiếp thị
các sản phẩm mới…). Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quản trị doanh
nghiệp là phân tích đối thủ cạnh tranh, để từ đó đề xuất một chiến lược cạnh tranh
thích hợp cho DN.
1.2.1.7. Vai trò điều hành của Chính phủ
Tiêu chí đánh giá gồm: các tiêu chí xem xét đến vai trò của Chính phủ như
mức độ can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp


12
Nhà nước nói riêng, ảnh hưởng của các nhóm lợi ích đến chính sách của Chính
phủ, sự công khai minh bạch trong chính sách, tình trạng quan liêu, tham nhũng,
tính chuyên nghiệp của bộ máy quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp. Quy mô
của tổ chức hành chính của Chính phủ, mức độ chi tiêu ngân sách, mức tiết kiệm
của ngân sách, bội chi ngân sách… cũng là những yếu tố quan trọng được xem
xét. Ngoài ra, chính sách thuế bao gồm mức thuế giá trị gia tăng (VAT), mức thuế

thu nhập doanh nghiệp, hoạt động trốn lậu thuế cũng là những nhân tố quan
trọng cần được coi trọng.
1.2.1.8. Thể chế chính trị
Tiêu chí đánh giá thể chế chính trị gồm: hệ thống luật, khả năng thực thi
luật, sự phù hợp của hệ thống luật với cơ chế thị trường, mức độ cạnh tranh và
độc quyền, sự khách quan và hiệu lực hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp
luật, hiệu lực của các phán quyết trọng tài và toà án liên quan đến các hoạt động
thương mại…
1.2.2. Các yếu tố năng lực cạnh tranh nội tại của doanh nghiệp
1.2.2.1. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở phân tích thị trường và lợi thế so sánh của
mình, để đưa ra một chiến lược định hướng vào một mảng thị trường nhất định và
tập trung vào những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có khả năng có khả năng
cạnh tranh. Để xây dựng một chiến lược kinh doanh có hiệu quả, đòi hỏi doanh
nghiệp phải phân tích đúng đắn nhu cầu thị trường, phân tích chính xác lợi thế
của đối thủ cạnh tranh, để phân đoạn thị trường và từ đó xác định thị phần cho
mình. Nếu chiến lược kinh doanh không đúng đắn, chắc chắn doanh nghiệp sẽ
thất bại trong cạnh tranh.
1.2.2.2. Trình độ khoa học công nghệ
Điều này thể hiện khả năng tiếp cận khoa học và công nghệ mới của doanh
nghiệp và coi đó như là một yếu tố quan trọng, để nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp. Bởi vì, trình độ công nghệ quyết định cấp độ của sản phẩm,
chất lượng và năng suất lao động của doanh nghiệp. Để nâng cao trình độ khoa


13
học công nghệ, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, đầu
tư cho chi phí nghiên cứu và phát triển R&D để phát minh ra công nghệ mới, tạo
ra sản phẩm có kiểu dáng, chất lượng và tính năng vượt trội.
Để nâng cao trình độ khoa học và công nghệ, ngoài việc đầu tư cho công

nghệ sản xuất, doanh nghiệp cần phải chú ý đến công nghệ thông tin, xây dựng
kết cấu hạ tầng về mặt thông tin kỹ thuật, ứng dụng thương mại điện tử trong kinh
doanh, sử dụng Internet như công cụ hỗ trợ kinh doanh, xây dựng các trang web
để quảng cáo và giới thiệu hình ảnh, thiết lập các kênh đầu tư với ngân hàng.
1.2.2.3. Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Nguồn vốn của doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chính dồi dào, thì
năng lực cạnh tranh càng lớn. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh doanh hiện nay
ngoài yếu tố về vốn, thì khả năng hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả lại là điều kiện
quyết định năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
1.2.2.4. Năng suất lao động của doanh nghiệp
Năng suất lao động của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố liên quan đến
người lao động: số lượng, chất lượng của nguồn lao động, khả năng đào tạo, bồi
dưỡng người lao động, trình độ quản trị nhân sự của doanh nghiệp. Để tăng năng
suất lao động, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ, đào tào
nguồn nhân lực, đào tạo công nhân có kỹ năng thực hành và tay nghề ở trình độ
cao, đi đôi với đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhân sự có chất lượng cao. Đây là
yếu tố quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh cho cả quốc gia và các doanh
nghiệp.
1.2.2.5. Chi phí sản xuất và quản lý của doanh nghiệp
Chi phí sản xuất và quản lý của doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
nhất đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải xem xét để hạ
chi phí sản xuất, giảm chi phí quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá
thành… mục đích chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Để giảm chi phí sản


14
xuất, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản
lý, tiết kiệm các nguồn nhiên liệu đầu vào cho sản xuất
1.2.2.6. Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp

Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp là nền tảng yếu tố tinh thần, nhằm
xây dựng tính kỷ luật, đoàn kết trong đội ngũ lao động của doanh nghiệp, phát
huy yếu tố sáng tạo, tinh thần trách nhiệm với doanh nghiệp của người lao động.
Đây là yếu tốt rất quan trọng giúp cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong môi
trường cạnh tranh năng động. Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp còn bao gồm
các yếu tố tính cách, thái độ ứng xử, biện pháp cạnh tranh lành mạnh, đúng pháp
luật của doanh nghiệp.
1.2.3. Các yếu tố cạnh tranh thuộc môi trƣờng bên ngoài doanh nghiệp
1.2.3.1. Chính sách
Chính phủ là cơ quan ban hành chính sách và thực thi chính sách nhằm tạo
môi trường cạnh tranh thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp. Chính sách
của Chính phủ phải tạo ra môi trường vĩ mô ổn định, thông thoáng, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp hoạt động bình đẳng và yên tâm đầu tư kinh doanh. Chính
phủ cần thực thi các chính sách:
Thứ nhất, Chính phủ xây dựng khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, thông qua
việc xây dựng và thực thi hệ thống luật pháp cạnh tranh và bảo đảm cạnh tranh
bình đẳng. Trong hệ thống luật cạnh tranh cần quy định cụ thể về hành vi, cách
ứng xử kinh doanh của các doanh nghiệp, quy định văn hoá cạnh tranh, bảo đảm
sự bình đẳng và công nhận lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp trong cạnh
tranh. Hệ thống luật và chính sách cạnh tranh của quốc gia, không chỉ là cơ sở
quan trọng tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, mà còn
là một yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, Chính phủ áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo sự ổn định
kinh tế - xã hội, ổn định về chính trị. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo ra lòng tin
cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất và kinh doanh. Trong chiến lược ổn
định kinh tế - xã hội, thì ổn định hệ thống tài chính - tiền tệ là quan trọng nhất,


15
trong đó các yếu tố hàng đầu cần phải có sự kiểm soát, điều hành vĩ mô đối với

lạm phát, cung ứng tiền tệ, tỷ giá hối đoái, thị trường chứng khoán… nhằm tạo ra
môi trường ổn định, thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh. Sự phát triển của thị trường
tự do, nếu không có sự kiểm soát của Chính phủ, sẽ dẫn đến tình trạng độc quyền.
Sự hình thành các tập đoàn độc quyền, sẽ dẫn đến tình trạng lũng đoạn, kiểm soát
giá cả nhằm thu lợi nhuận độc quyền, điều này sẽ gây ra những lãng phí về kinh
tế. Đồng thời, nếu không có sự kiểm soát của Chính phủ, dễ dẫn đến những hoạt
động cạnh tranh không lành mạnh: liên kết, thoả thuận ngầm để định giá sản
phẩm, phân chia thị trường, hoặc độc quyền kiểm soát thị trường… Tất cả những
hoạt động phản cạnh tranh, đều có tác động xấu đến nền kinh tế, làm tăng giá,
giảm chất lượng, giảm sản lượng… làm thui chột và bóp méo hoạt động cạnh
tranh theo quy luật kinh tế. Để cạnh tranh lành mạnh có thể phát triển, Chính phủ
cần có biện pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng độc quyền và các hoạt động phản
cạnh tranh.
Thứ ba, Chính phủ cần xây dựng các ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ
giúp doanh nghiệp như: cung ứng sản phẩm, dịch vụ có liên quan đến hoạt động
sản xuất, kinh doanh. Trong điều kiện cạnh tranh thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng trở nên gay gắt, thì việc xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ
làm tăng khả năng cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cũng như tăng
khả năng hấp thu vốn của các doanh nghiệp trong nước.
1.2.3.2. Hệ thống tài chính - tiền tệ
Hệ thống tài chính - tiền tệ là huyết mạch quan trọng của nền kinh tế, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp có thể huy động nhanh chóng và sử dụng hiệu quả
nguồn lực tài chính cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều đó phụ thuộc vào
khả năng thực hiện các hoạt động trung gian tài chính - tiền tệ, sự ổn định của thị
trường tài chính-tiền tệ, tỷ giá hối đoái…
1.2.3.3. Mức độ hội nhập của nền kinh tế
Một nền kinh tế mở cửa hội nhập với thị trường bên ngoài, thì mức độ cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước ngày càng gay gắt. Do đó,



16
các doanh nghiệp phải chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh của mình, trong
đó thị trường phải xác định là thị trường toàn cầu. Mức độ mở cửa của nền kinh tế
cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của quốc gia và
doanh nghiệp.
1.2.3.4. Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng nền kinh tế
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng của nền kinh tế một cách đồng bộ, là điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhanh chóng tham gia thị trường, nâng cao khả
năng cạnh tranh trong môi trường kinh tế toàn cầu hoá. Cơ sở hạ tầng đồng bộ đòi
hỏi hệ thống viễn thông liên lạc phải có chất lượng cao, hệ thống internet có băng
thông rộng, mạng không dây kết hợp với mạng có dây, hệ thống đường bộ, đường
sắt, đường thuỷ, đường hàng không kết nối tạo thành huyết mạch cho nền kinh
tế. Đồng thời, kết hợp với dịch vụ logistic để cung ứng các dịch vụ vận chuyển
hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế.
1.2.3.5. Thể chế chính trị
Chất lượng của hệ thống thể chế chính trị phụ thuộc vào chất lượng thể chế
pháp lý, hệ thống các đạo luật, hiệu lực thi hành các đạo luật, khả năng hoạt động
của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong đó, lực lượng bảo vệ pháp
luật đóng vai trò hết sức quan trọng trong điều kiện kinh tế đang phát triển. Hệ
thống luật pháp được thực thi một cách đầy đủ, rõ ràng và hiệu quả đảm bảo nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
1.2.3.6. Đối thủ cạnh tranh
Vị thế đàm phán của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm là vị thế độc quyền
hoặc độc quyền nhóm. Nếu doanh nghiệp có năng lực tài chính, tiềm lực công
nghệ mạnh, nguồn nhân lực chất lượng cao… sẽ có lợi thế trên bàn đàm phán.
Những nhân tố trên làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Vị thế đàm phán của người mua: yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và
dịch vụ, khả năng xuất hiện của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, khả
năng xuất hiện của các sản phẩm, dịch vụ thay thế, mức độ liên kết hoặc hình



17
thành của các hiệp hội… cũng làm tăng vị thế đàm phán của doanh nghiệp mua
hàng hoá, dịch vụ.
1.2.4. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
1.2.4.1. Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu nhà sản xuất không đáp ứng được chất
lượng dịch vụ, sản phẩm thì sẽ không thể cạnh tranh và tồn tại được trên thị
trường. Ngược lại, nếu doanh nghiệp sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lượng
cao và giá thành hạ, thì doanh nghiệp đó sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch, duy trì
được thị phần, gia tăng năng lực cạnh tranh và có điều kiện thực hiện tái sản xuất
mở rộng.
Chất lượng sản phẩm còn là một hàm số phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố
khác như: độ bền của sản phẩm, tính năng, hình thức, mẫu mã, bao bì sản phẩm,
công nghệ sản xuất… Trong rất nhiều yếu tố nêu trên, yếu tố công nghệ là yếu tố
quyết định chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường.
1.2.4.2. Giá cả
Giá cả được coi là yếu tố cơ bản phản ánh năng lực cạnh tranh của sản
phẩm, dịch vụ trên thị trường. Một doanh nghiệp được đánh giá có năng lực cạnh
tranh cao, là doanh nghiệp có thể đứng vững cùng các doanh nghiệp khác và có
thể sản xuất hoặc cung ứng các sản phẩm cùng loại với mức giá thấp hơn, hoặc
bằng với các sản phẩm, dịch vụ khác trên thị trường, hoặc đưa ra các sản phẩm,
dịch vụ có chất lượng tốt hơn.
Muốn giá của sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh doanh nghiệp phải
đầu tư công nghệ để hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ. Do đó, giá trị sản phẩm được
coi là hệ quả của chỉ tiêu giá cả, để đánh giá lợi thế của doanh nghiệp trong cạnh
tranh. Giữa giá cả sản xuất và giá trị sản phẩm có liên quan mật thiết với nhau.
Giá trị sản phẩm là cơ sở để hình thành giá cả sản xuất. Giá trị của sản phẩm thấp,
cho phép doanh nghiệp có thể hạ thấp giá bán để chiến thắng trong cạnh tranh.

Trên thực tế doanh nghiệp có giá trị sản phẩm thấp nhưng doanh nghiệp bán giá

×