Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

Một số vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.29 KB, 28 trang )

mét sè vÊn ®Ị lý ln vỊ héi nhËp
kinh tÕ quốc tế
1. Khái niệm chung về toàn cầu hoá.
Ngày nay, cụm từ "toàn cầu hoá" không còn xa lạ đối với chúng ta đặc
biệt là giới tri thức trẻ và những ngời quan tâm đến các vấn đề của thế giới.
Tuy nhiên có rất nhiều cách nhìn nhận về toàn cầu hoá. ở nét khái quát nhất,
tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) đà coi toàn cầu hoá là
quá trình mở rộng tới "một hoạt vấn đề cũng mang lại sự đổi thay cho nền
chính trị và kinh tế ngày nay trên quy mô toàn cầu". Đó là các vấn đề: Khả
năng có thể tồn tại của hệ thống thơng mại thế giới, nhu cầu ngày càng tăng
của sự hội nhập có "chiều sâu" về chính sách quốc tế và sự giám sát rõ ràng
tính ®éc lËp tù chđ trong chÝnh s¸ch kinh tÕ qc gia; sự tác động của cuộc
cách mạng công nghệ; tầm quan trọng của sự đổi thay trong các hệ thống
quản lý các tập đoàn Công ty lớn, hay trong hệ thống tổ chức công nghệ hoá
là cơ sở cho sức cạnh tranh của các nớc, các Công ty; sự đa dạng hoá ngày
càng tăng giữa các nớc phát triển, nạn đói nghèo và nguy cơ một tỷ lệ lớn dân
số trên trái đất bị loại trừ; những vấn đề nghiêm trọng về nạn thất nghiệp và
những khác biệt về tiền lơng về mức thu nhập đang ngày càng tăng lên ở
những nớc phát triển nhất, sự thay đổi của vai trò Chính phủ....
Để có cái nhìn rõ ràng hơn ta có thể hiểu quá trình toàn cầu hoá bao gồm:
Thứ nhất: là sự gia tăng mạnh mẽ, vợt khỏi các đờng biên giới quốc
gia tới quy mô quốc tế, của các luồng giao lu hàng hoá, dịch vụ thơng mại,
đầu t, tài chính, công nghệ, công nghệ nhân lực.
Thứ hai là: sự hình thành và phát triển các thị trờng thống nhất trên
phạm vi toàn cầu và khu vực, cũng nh sự hình thành và phát triển các định
chế và các cơ chế điều tiết quốc tế để quản lý các hoạt động và giao dịch kinh
tế quốc tế.
Thực tế không phải bây giớ toàn cầu hoá mới bắt đầu hình thành và
phát triển, mà nó đà có tiền đề từ rất lâu trong lịch sử. Có ngời cho rằng
những tiền đề này đà có từ thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa t bản, trên cơ sở quá
trình xà hội hoá của lực lợng sản xuất trên qui mô thế giới. Chính vì thế phải


khẳng định lại rằng toàn cầu hoá là một quá trình. Hơn nữa, đây là một xu
thế khách quan là quy luật tất yếu trong sự phát triển của xà hội loài ngời.
Khẳng định trên dựa vào những căn cứ, cơ sở thực tế sau:
Thế giới đà trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp : lÇn thø I: tõ thÕ
kû XVIII, lÇn thø II từ cuối thế kỷ XIX và lần thứ III từ nửa cuối thế kỷ XX
trở lại đây. Những tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và công nghệ của ba cuộc
cách mạng này đà làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và
giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống vài trăm lần; đà có tác động cực kỳ
quá trình đến toàn bộ quan hệ kinh tế quốc tế, đà biến các công nghiệp
mang tính quốc gia thành công nghiệp toàn cầu. Lấy công nghiệp may mặc
làm ví dụ. Trớc đây với một máy may dù có hiện đại đến đâu thì sản phẩm
cũng chỉ bán trong một địa phơng, một quốc gia hay một khu vực chi phí vận
chuyển liên lạc quá cao đà làm mất hết lợi thế so sánh nếu đa sản phẩm này
đến thị trờng xa xôi. Nhng ngày nay, Công ty NIKE chỉ nắm hai khâu: sáng
1


tạo, thiết kế và phân phối toàn cầu, còn sản xuất do Công ty các nớc thực
hiện cũng đà làm cho công nghiệp may mặc có tính toàn cầu. Hàng loạt
công nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tính điện tử máy bay... ngày càng toàn
cấu hoá sâu rộng. Tính toàn cầu ở đây thể hiện ngay từ khâu sản xuất, đó là
phân công chuyên môn hoá cho nhiều nớc, đến khâu phân phối; tiêu thụ trên
toàn cầu. Từ việc giảm chi phí và cớc phí giao thông liên lạc, vận chuyển nhờ
vào việc tạo ra đờng sắt, tàu hoả, và tàu biển chạy bằng hơi nớc, ô tô, máy
bay... cho đến những thập niên gần đây một cuộc giảm cớc phí giao thông
liên lạc và viễn thông mới lại diễn ra dựa trên cơ sở điện toán, số hoá, truyền
thông vệ tinh, soi quang học mạng Internet đà khuếch đại mạnh mẽ lân sóng
toàn cầu hoá đang diễn ra trong mọi lĩnh vực đời sống xà hội, đặc biệt là kinh
tế.
Nh vậy, nhờ có công nghệ toàn cầu phát triển, sự hợp tác giữa các tập

đoàn kinh doanh, các quốc gia có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối trên
phạm vi toàn cầu, những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển.
Đây là cơ sở đầu tiên của nền kinh tế toàn cầy thống nhất.
Chính nền công nghệ toàn cầu phát triển mạnh mẽ đà trở thành cơ sở
cho các quan hệ kinh tế toàn cầu. Trớc hết là quan hệ thơng mại, chi phí vận
tải liên lạc giảm đi thì khả năng buôn bán trao đổi giữa địa phơng quốc gia,
khu vực tăng lên. Cùng với nó quá trình phân công chuyên môn hoá sản xuất
diễn ra giữa các quốc gia, liên tục càng dễ dàng. Các linh kiện của máy bay
Boing, ô tô, máy tính... đà không phải là sản phẩm của một bớc mà của rất
nhiều nơi trên thế giới.
Thơng mại toàn cầu, sản xuất chuyên môn hoá toàn cầu ®· kÐo theo
®ång vèn, tiỊn tƯ, dÞch vơ... vËn ®éng trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, lợng
buôn bán tiền tệ toàn cầu đà vợt xa con số 1500 tỷ USD. Trong đó, ta thấy
rằng, thơng mại điện tử xuất hiện và phát triển với tốc độ chóng mặt.
Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầy
đà ngày càng xung đột với các thể chế quốc gia, rào cản quốc gia. Các quốc
gia các khu vực, xích lại gần nhau hơn qua các tổ chức liên kết kinh tế. mang
bản chất chính trị nhiều hơn, những thập niên 40, xuất hiện khối liên kết
kinh tế giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật và Hội đồng tơng trợ kinh tế SEV giữa các
quốc gia xà hội chủ nghĩa. Cho đến nay lại hình thành nên các tổ chức nh
APEC, AFTA, NAFTA,... Đặc biệt quá trình quốc tế hoá về tài chính đẩy
mạnh nhanh chóng: hình thành nên Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng
thế giới (WB), Liên nớc kinh tế và tiền tệ Châu Âu gần 11 nớc thành viên với
đồng tiền chung là đồng EURO. Cùng với các tổ chức liên kết kinh tế là sự ra
đời các cam kết này đÃ, đang và sẽ công kích mạnh mẽ vào các bức tờng
thành quốc gia, rào cản quốc gia. Các nớc thành viên của tổ chức thơng mại
thế giới (WTO) cũng đà cam kết một lộ trịnh giảm bỏ hàng rào. Ngay cả đối
với Mỹ, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay gây sức ép thơng mại đối với các
nớc có vẻ nh đà mất hiệu lực, với dấu hiệu là Mü ®· ký tèi h qc (MFN)
®èi víi Trung Qc.

Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên
bức xúc và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu. Không có khó
khăn gì để có thể nhận ra các vấn đề nổi cộm hiện nay của kinh tế toàn cầu.
2


Môi trờng ngày càng bị phá hoại, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt;
dân số thế giới tăng nhanh đến mức nảy sinh nguy cơ bùng nổ dân số; đồng
vốn toàn cầu vận động tự do không có sự điều tiết là nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến các cuộc khủng hoàng liên tiếp Châu Âu, Châu Mỹ, Châu á trong
thời gian vừa qua; chiến tranh lạnh chấm dứt, đồng nghĩa với nó là kết thúc
sự đối đầu giữa các siêu cờng, mở ra thời kỳ hợp tác, hoà bình, phát triển
mới...
Những vấn đề này đà trở thành tất yếu khách quan đẩy đến toàn cầu
hoá kinh tế với những đặc trng chủ yếu: Thứ nhất là, các hàng rào quan thuế
và phi thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ theo các cam kết quốc tế đa
phơng và toàn cầu, tức là các biên giới quốc gia về thơng mại đầu t đang tiên
vong. Thứ hai là, các Công ty của các quốc gia có quyền kinh doanh tự do ở
mọi quốc gia, trên các lĩnh vực cam kết, không phân biệt đối xử; thực chất là
sự xoá bỏ các biên giới về đầu t, dịch vụ và các lĩnh vực kinh tế khác.
Tuy nhiên, đến đây chúng ta lại phải đối mặt với hàng loạt câu hỏi:
làm thế nào để giải quyết sự trói buộc của hệ thống tiền tệ quốc gia với hàng
trăng đồng tiền khác nhau, trao đổi theo các tỷ giá thả nổi bấp bênh? Làm thế
nào để dung hợp đợc với hệ thống luật pháp các quốc gia thủ cựu? Có cấn
đến "một bàn tay hữu hình toàn cầu" không? Và nh vậy toàn cầu hoá kinh tế
không thể tránh khỏi toàn cầu hoá về chính trị, an ninh, văn hoá, xà hội....?
Có ngời đà cho rằng: toàn cầu hoá là con dao hai lìi. Thùc tÕ cịng ®·
cho thÊy khi diƠn ra hội nghị, diễn đàn bàn về vấn đề đẩy mạnh toàn cầu hoá
thì bên cạnh sự ủng hộ của một bộ phận quần chung là thái độ kịch liệt phản
đối, biểu tình gay gắt của không ít ngời lao động khác. Tại sao vậy? Quả

thực, toàn cầu hoá không mang lại cơ hội phát triển cho tất cả quốc gia, tất cả
ngời lao động trên thế giới. Toàn cầu hoá không hẳn là một tơng lai rực sáng
không phải là một thiên đờng cho các nền kinh tế mà toàn cầu hoá là lò lửa,
là một quá trình thử thách, đấu tranh sinh tồn. Mỗi mặt tích cực mà nó mang
lại luôn đi với mặt hạn chế nảy sinh từ đó.
Toàn cầu hoá đa ra một thị trờng tiêu thụ mở rộng cho hàng hoá dịch
vụ. Thị trờng không hạn chế một nớc, một khu vực, hay một châu lục nữa mà
đà là thị trờng toàn cầu. Lúc này không ai khác chính bản thân sản phẩm
quyết định sự tồn tại của nó. Mỗi hàng hoá và dịch vụ phải đứng trớc một
môi trờng cạnh tranh gay gắt. Nền kinh tế của các quốc gia riêng lẻ chịu sức
ép vô cùng lớn từ bên ngoài. Không nhìn đâu xa, Việt Nam là một ví dụ phù
hợp cho vấn đề này. Quả thực, hàng hoá Việt Nam ngày nay đà có mặt nhiều
nơi trên thế giới và ban đầu đà gây uy tín không nhỏ thị trờng nớc ngoài ở
Việt Nam không chỉ là gạo, cà phê, thuỷ hải sản... mà còn là sản phẩm may
mặc, hàng thủ công mỹ nghệ... không ít các Công ty TNHH t nhân Việt
Nam có nhiều chi nhánh ở nớc ngoài. Đây là dấu hiệu của khả năng cạnh
tranh lành mạnh của hàng hoá, dịch vụ nớc ta. Bên cạnh đó, thị trờng Việt
Nam ®· ®ang vµ sÏ xt hiƯn ngµy cµng nhiỊu hµng hoá mang nhÃn hiệu của
các nớc khu vực và thế giới, đặc biệt là Trung Quốc. Việt Nam đang phải
cạnh tranh với những u thế của ngời bạn láng giềng "khổng lồ", đó là: giá rẻ,
mẫu mà đẹp, phong phú đa dạng và với cả tâm lý "thích dùng đồ ngo¹i" cđa

3


ngời dân nớc ta. Với những khó khăn đang phải đối mặt liệu các doanh
nghiệp Việt Nam có đứng bên bờ "phá sản" hay không?
Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến.
Có thể nói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nớc đang phát
triển và chậm phát triển. Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phơng

pháp quản lý tiên tiến từ các nớc phát triển. Cơ hội này mở ra khả năng cho
các nớc nhận rút ngắn khoảng cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai
đoạn từ nghiên cứu cho đến khi triển khai, ứng dụng. Đây cũng là lợi thế cho
các nớc đang phát triển có điều kiện đi tắt, đơn đầu mọi phơng tiện. Nhng
cũng chính dòng chảy vốn, công nghệ, kinh tế, phơng pháp quản lý tiên tiến
này tạo ra một thế lực cạnh tranh đối với các nền kinh tế quốc gia trì trệ, kém
hiệu quả. Trong một giới hạn nào đó, dòng di chuyển này là nguyên nhân
đẩy các doanh nghiệp Nhà nớc vào tình trạng phá sản, đi kèm là tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên, nảy sinh hàng loạt vấn đề cho xà hội Chính phủ cần giải
quyết.
Một biểu hiện của toàn cầu hoá hiện nay là hình thành các khối liên
kết kinh tế cùng với cam kết, thoả thuận nhằm dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan.
Đây là điều kiện quá trình thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt
đối xử trong kinh tế trong các quan hệ mua bán và giao lu quốc tế. Không
những thế các nớc chậm phát triển đợc hởng u đÃi đặc biệt, chế độ tối huệ
quốc, đợc cung cấp thông tin tự do mậu dịch, liên minh thuế quan, đợc bảo
đảm các quyền thông qua các tổ chức quám sát, giám định quốc tế. Chính vì
vậy, các nớc chậm phát triển có điều kiện cải thiện quốc tế hoá không, liệu
các chính sách tài chính có bắt kịp yêu cầu của xu thế thời đại? Các cuộc
khủng hoảng Đông Nam á, Brazin, Nga, trong những năm 1997 - 1998 vẫn
còn là những bài học sâu sắc cảnh báo cho các nớc có tình hình tơng tự.
Điểm cuối cùng nh phần tất yếu của xu thế toàn cầu hoá đà trình bày,
đó là các vấn đề mang tính toàn cầu mà không một quốc gia nào có thể tự
mình giải quyết đơn lẻ. Xu thế toàn cầu hoá tạo nền sự liên kết, hợp tác giữa
các quốc gia để cùng có lợi, tạo ra sức mạnh tổng hợp chống lại sự phân biệt
đối xử sự đan xen phụ thộc lẫn nhau có còn có tác động hai mặt, các nền
kinh tế sẽ nhạy cảm hơn với các biến động quốc tế, nhng đồng thời những
rủi ro có tính chất cá biệt cũng đợc phân tán. Do đó các nớc đang phát triển
có thể đạt đợc sự ổn định tơng đối vốn hết sức cần thiết.
Trong thơng mại và giải quyết tranh chấp dựa trên những định chế

kinh tế tài chính bình đẳng. Đây là điều kiện để các nớc chậm phát triển phát
huy tối đa lợi thế của mình. Tuy nhiên nền kinh tế toàn cầu hoá sẽ phụ thuộc
ngày càng nhiều vào các tổ chức quốc tế và khu vực: các hiệp định đa phơng,
Công ty xuyên quốc gia, liên minh kinh tế, tài chính... mà trong một chừng
mực nhất định nằm ngoài tầm kiểm soát của các Chính phủ. Nh vậy, mặt
khác, một mặt trái của nền kinh tế tài chính là sự suy giảm bản sắc dân tộc,
chủ quyền kinh tế song lại gia tăng sức ép kinh tế, chính trị. Sự hạn chế về
khả năng kiểm soát của các cổ phần còn biểu hiện ở tình trạng tội phạm
xuyên quốc gia, việc truyền bá nền văn hoá phi nhân bản...

4


Toàn cầu hoá là con dao hai lỡi, nhng là xu thế tất yếu khách quan mà
bất kỳ nền kinh tế nào cũng không thể đứng ngoài cuộc. Vì vậy việc sử dụng
nó nh thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là cả một nghệ thuật tinh xảo.
2. Những đặc trng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Chúng ta biết rằng bằng CNTB đà tạo ra sự phát triển của sản xuất mà
cha nền văn minh nào trớc đó đạt đợc. Cùng với sự phát triển của CNTB, các
cuộc chiến tranh giành giật thị trờng cũng không ngừng bùng nổ. Chính qua
các cuộc chiến tranh này các quốc gia t bản Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp
và đặc biệt là Anh từ thế kỷ XVIII đà triển khai một sức mạnh kinh tế, hàng
hải quân sù bao chïm thÕ giíi nh vËy cã thĨ nãi thời đại quốc tế hóa dù mở
ra và đợc triển khai trong vũ lực, bóc lột đối với các vùng thuộc địa.
Vào thế kỷ thứ XI đế quốc Anh có sự phát triển mạnh, khống chế gần
nh toàn bộ thế giới cho đến thế kỷ XX nớc Anh kiểm soát các đờng giao
thông hàng hải quốc tế và khống chế nhiều vùng thuộc địa với 1/5 diện tích
trái đất, 428 triệu dân. Sự hội nhập của các thuộc địa vào thị trờng thế giới
đà đa đến sự biến động luồng di dân, thúc đẩy gia tăng dân số và giao lu kinh
tế. Hoạt động thơng mại phát triển mạnh mẽ, mậu dịch giữa các nớc mà trung

tâm đặt tại Luân Đôn đà trở thành một hệ thống thống nhất sau khi các quốc
gia Châu Âu thừa nhận chế độ bản vị vàng.
Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay quá trình quốc tế hóa đà trải qua ba
thời kỳ hay ba làn sóng.
Làn sóng đầu tiên diễn ra vào khoảng những 50 năm trớc chiến tranh.
Trong thời kỳ này sự trao đổi quốc tế và liên lục địa đà phát triển nhanh hơn
cả sự sản xuất trên toàn thế giới. Những dòng tài chính tăng lên nhanh hơn
nhiều trên quy thế giới. So với sự tăng trởng của việc trao đổi và sản xuất trên
toàn thế giới.
Làn sóng thứ hai của quốc tế hóa diễn ra vào những năm 50, 60, 70
cđa thÕ kû tøc lµ thêi kú cã sù giảm bớt quan trong của các rào cản kinh tế.
Nhất là trong những nền kinh tế phát triển.
Làn sóng thứ ba vào cuối những năm 80 trở đi và lúc này khái niệm về
êôị nhập quốc tế đà trở nên quen thuộc. ở giai đoạn này ngời ta thấy có sự co
hẹp rõ rệt các hàng rào thơng mại. Sự tăng trởng mạnh mẽ về tài chính và dân
s quốc tế trên bình diện không cân bằng giữa nội bộ các nớc và các nớc khác
nhau.
Để thấy rõ sự tăng trởng của Mậu dịch quốc tế còn nhanh hơn cả sự
tăng trởng kinh tế. Ta hÃy khảo sát những số liệu sau.
Trong thời gian 1900 - 1947 thơng mại thế giới tăng cha đều hai lần
thì từ sau chiến tranh thế giới II đến 1990 tăng 50 lần. Có nghĩa là tăng gấp 3
lần tốc độ tăng GDP thế giới. Năm 1950 giá trị thơng mại chiếm 7% GDP thế
giới thì nay đà là 23%.

5


Tốc độ tăng trởng Kinh tế hàng năm và mức thay đổi khối lợng
mậu dịch thế giới.
Các năm

1981 - 1990
TB trong cả thời kỳ
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000

Mức tăng mậu dịch thế giới
4,7

Mức tăng trëng kinh tÕ thÕ giíi
3,4

4,6
4,7
3,9
9,1
9,4
6,8
9,9
3,6
4,3
6,2


1,8
2,5
2,7
4,0
3,8
4,2
4,2
2,5
3,0
3,5

Nguån: World Economic Outlook
Thø hai trong làn sóng thứ ba có sự gia tăng mạnh mẽ quá trình tự do
hóa, toàn cầu hóa thị trờng tài chính.
Tự do hóa thị trờng tài chính là một quá trình nhng không phải quá
trình phát triển theo đờng thẳng mà là quá trình có những đợt phát triển tăng
vọt và những bớc thang lùi. Sự quốc tế hóa hay hội nhập thị trờng tài chính
phát triển nổi bật từ cuối thế kỷ XIX khoảng từ năm 1980 đến năm 1914. Sau
đó có giai đoạn nhảy vọt chính, đặc biệt vào thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh
thế giới.
Thứ ba cùng với sự gia tăng toàn cầu hóa thị trờng tµi chÝnh lµ viƯc tËp
trung ngµy cµng lín ngn vèn vào các Công ty hàng đầu thông qua làn sóng
sát nhập với qui mô lớn và cờng độ cao cha từng có.
Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia là nguyên nhân
đẩy mạnh xu hớng hội nhập quốc tế nh trên. Đồng thời sự gia tăng, tập trung
mạnh tài chính ngày càng lớn vào các Công ty đầu sỏ trong mọi lĩnh vực là
một điểm đáng chú ý của làn sóng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Các Công ty trong nền kinh tế thị trờng phát triển gắn liền với quá
trình tích tụ và tập trung t bản. Trong những làn sóng trớc đây của quốc tế
hóa không phải không có sự gia tăng tích tụ và tập trung t bản. Song từ những

năm 80 trở lại đây, nhất là những năm 90 quá trình diễn ra khá đặc trng,
nhiều chuyên gia kinh tế xem nh là những cơn sốt sát nhập hay hội chứng sát
nhập.
Thứ t là thị trờng lao động quốc tế đợc më réng do nhiỊu níc chun
sang x©y dùng nỊn kinh tế thị trờng, thực hiện mở cửa kêu gọi đầu t nớc
ngoài đà mở rộng dung lợng thị trờng lao ®éng quèc tÕ.
Trong xu thÕ héi nhËp kinh tÕ tríc đây thờng gắn liền với dòng di c lớn
của đội quân lao động. Chẳng hạn vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có
sự di c khá cao vỊ lao ®éng trong nỊn kinh tÕ thÕ giíi. TÝnh ra có khoảng 40
triệu ngời Châu Âu chuyển tới Bắc Mỹ. Hàng triệu ngời từ các vùng ôn hòa
tới Nam bán cầu. Với làn sóng thứ ba này kinh tế thế toàn cầu ngày càng trở
nên một hệ thống gắn bó chặt chẽ. Mỗi bộ phận của nó đều phụ thuéc vµo
6


tổng thể và ngợc lại, cái tổng thể chi phối cái bộ phận trong thời kỳ này nhiều
dịch chế toàn cầu và khu vực xuất hiện. Thuật ngữ hội nhập kinh tÕ qc tÕ
xt hiƯn, sư dơng phỉ biÕn thay thế cho quốc tế hóa. Nó phát ảnh bớc phát
triển cao h¬n cđa qc tÕ hãa.
2. Trong thêi kú héi nhập kinh tế quốc tế hiện nay mọi hoạt động kinh
tế đang đợc tự do hóa.
Trong giai đoạn quốc tế hóa trớc đây. Việc hội nhập vào nền kinh tế
quốc tế, mà thực chất là sự bành trờng của các hoạt động kinh tế vợt ra khuôn
khổ của biên giới quốc gia không gắn với việc tự do hóa các hoạt động kinh
tế. Đôi khi cùng với quá trình bành chớng của hoạt động kinh tế lại có sự gia
tăng của các biện pháp bảo hộ thị trờng.
Thực tế sự ph¸t triĨn c¸c qc gia TB ph¸t triĨn cho thÊy rõ điều đó
Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ II đà nhanh chóng khôi phục kinh tế,
bành chớng thế lực kinh tế ra bên ngoài nhanh và mạnh. Tuy vËy nỊn kinh tÕ
NhËt trong thËp kû 60, 70 lµ một trong những nền kinh tế có tính bảo hộ cao

nhÊt thÕ giíi TBCN. Trªn thùc tÕ cho m·i tíi nửa sau thập kỷ 70 Nhật mới
hoàn thành quá trình tự do hóa thị trờng vốn, và cũng mới gần đây Nhật mới
mở cửa thị trờng gạo. Vào những nửa năm 1974 tỷ lệ nhập khẩu hàng chế tạo
so với GDP cđa NhËt lµ 2%. So víi møc 15% cđa các nớc TB phát triển khác.
Sự tách rời giữa tự do hãa vµ héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ lµ đặc điểm của
giai đoạn quốc tế hóa trớc đây. Trong giai đoạn mới việc hội nhập kinh tế gắn
liền với việc tự do hóa kinh tế các thể chế, thị trêng kinh tÕ... Kh«ng thĨ héi
nhËp kinh tÕ qc tÕ nếu không tự do hóa kinh tế. Đây là đặc điểm mới của
xu thế quốc tế hóa hiện nay.
Đơng nhiên héi nhËp kinh tÕ qc tÕ cã nhiỊu møc ®é nó gắn liền với
mức độ của tự do hóa. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hội nhập kinh tế càng
sâu thì tự do hóa càng mạnh. Cơ sở của sự gắn bó chặt chẽ giữa hội nhập và
tự do hóa chính là do sự phát triển sâu sắc của phân công lao động quốc tế.
Với cơ chế thị trờng thống nhất các quốc gia tham gia vào phân công lao
động quốc tế làm cho các nền kinh tế có sự gắn kết với nhau. Mỗi nền kinh tế
là một bộ phận của chính thể toàn cầu. Chỉ có hội nhập mới là cách thức để
phát huy những thế mạnh những lợithês so sánh trong phân công lao động
quốc tế. Bổ sung những điểm yếu của các nền kinh tế có thể.
Nh vậy vấn đề còn lại chỉ là ở chỗ xác định mức độ tiến trình hội nhập
và tự do hóa nh thế nào cho phù hợp với trình độ nền kinh tế. Đây là điều cần
tính toán, cần nhắc với mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.
3. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan nhng đang chịu tác
động lớn từ Mỹ. Và một số nớc TB phát triển. Hiển nhiên là quá trình toàn
cầu hóa gắn liền với sự phát triển của CNTB. CNTB lợi dụng những thành tựu
khoa học - kỹ thuật tạo ra sự phát triển sản xuất mạnh mẽ. Và chínhtrong sự
phát triển sản xuất với mục tiêu lợi nhuận các tổ chức độc quyền cạnh tranh
với nhau gay gắt. Kết quả là hình thành những liên manh độc quyền không
chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế. Chúng cấu kết với
nhau chi phèi c¸c quan hƯ kinh tÕ qc tÕ. Nh vậy khó có thể thay thế ngay
thời kỳ đầu quá trình quốc tế hóa đà chịu sự chi phối của CNTB.


7


Chơng II. tiến trình thực trạng hội nhập
kinh tế quốc tÕ cđa ViƯt Nam
1. TiÕn tr×nh héi nhËp trong thêi gian vừa qua của Việt Nam
Nghiên cứu vấn đề này ta míi nhËn thÊy r»ng: chÝnh s¸ch më cưa héi
nhËp kinh tế quốc tế để phát triển đất nớc không phải là một điều hoàn toàn
mới mẻ đối với Đảng vµ Nhµ níc ta. Nã chÝnh lµ sù kÕ thõa, phát triển và vận
động sáng tạo và từng hoàn cảnh, từng giai đoạn của đất nớc những luận
điểm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ khi nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà vừa mới ra đời. Trong bài trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngày
23 tháng 10 nă, 1945, Ngời đà nói: "Chúng ta hoan nghênh những ngời Pháp
muốn đem t bản xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu cha có ai khai
thác.... Chúng ta sẽ mời những nàh chuyên môn Pháp, cũng nh Mỹ, Nga hay
Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong việc kiến thiết quốc gia..." cuối
năm 1946 trong "Lời kêu gọi Liên hiệp quốc" Ngời lại viết "Trong chính
sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc
dới đây":
1) Đối với Lào và Miên (Campuchia), nớc Việt Nam luôn tôn trọng
nền độc lập của hai nớc đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở
bình đẳng tuyệt đối giữa các nớc có chủ quyền.
2) Đối với các nớc dân chủ, nớc Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách
mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
Một là nớc Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu t của nhà t
bản, nhà kỹ thuật nớc ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
Hai là, nớc Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đờng xá
giao thông cho việc buôn bán quá cảnh quốc tế.
Ba là, nớc Việt Nam tham gia một tổ chức hợp tác quốc tế dới sự lÃnh

đạo của Liên hiệp quốc.
Tuy nhiên trong thời gian đó, do hoàn cảnh lịch sử, quan hƯ qc tÕ
cđa níc ta chØ giíi h¹n trong Hội đồng tơng trợ kinh tế (SEV) khối liên kết
kinh tÕ x· héi chđ nghÜa. Cã nghÜa lµ ViƯt Nam chØ cã quan hƯ kinh tÕ víi
c¸c níc x· héi chđ nghÜa, mµ chđ u lµ níc ta dùa vµo sự giúp đỡ của họ,
đặc biệt là Liên Bang Xô Viết.
Tiếp theo đó là hai cuộc kháng chiến trờng kỳ thần thánh chống Pháp
và chống Mỹ của dân ta. Mọi nguồn lực, sức ngời, sức của đểu đợc tập trung
tối đa cho chiến tranh, các vấn đề khác tạm thời gác lại.
Đến khi đất nớc hoàn toàn giải phóng, nớc ta lại tập trung khôi phục
nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung có sự giúp đỡ to lớn của xÃ
hội chủ nghĩa trong Hợp đồng tơng trợ kinh tế (SEV)?
Đồng thời nhận thấy xu thế toàn cầu hoá đang ngày càng tăng lên, các
quốc gia ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc vào nhau, do đó nếu
nớc nào đóng cửa với thế giới là đi ngợc xu thế của thời đại mà mở cửa và hội
nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu tất yếu hớng tới sự phát triển. Đại hội VI của
Đảng (12 - 1986), trong khi quyết định chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trờng định hớng xÃ
hội chủ nghĩa, thì cũng đồng thời chủ trơng: Việt Nam phải tham gia ngày
8


càng rộng rÃi vào sự phân công lao động quốc tế, tích cực phát triển quan hệ
kinh tế và khoa häc, kü tht víi c¸c níc, c¸c tỉ chøc qc tế và t nhân nớc
ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
Tuy nhiên trong tình hình cuộc chiến tranh lạnh lúc đó tiếp diễn, Mỹ
vẫn ngoan cố kéo dàu việc bao vây, cấm vận chống lại nớc ta thì việc thực
hiện chính sách mở cửa và hội nhậ kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm
tiếp theo đó chủ yếu nghiêng về một phía - Liên Xô và các nớc chủ nghĩa xÃ
hội trong Hội đồng tơng trợ kinh tế (SEU).

Phải trải qua gần 5 năm đổi mới, nền kinh tế thị trờng định hớng xÃ
hội chủ nghĩa ở nớc ta bắt đầu vận hành có kết quả, ®ång thêi ®øng tríc thùc
tÕ cđa c¸c níc x· héi chủ nghĩa Đông Âu đà sụp đổ, Liên Xô cũng đang trợt
dài tới bờ vực của sự tan rÃ, đại hội VII của Đảng (6 - 1991) mới đề ra các
luận điểm có ý nghĩa phơng châm chỉ đạo, tổng quát cho việc thị trờng chính
sách mở cửa và hội nhËp kinh tÕ quèc tÕ réng r·i ë níc ta. "Việt Nam muốn
làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình
độc lập và phát triển"; "Đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hƯ kinh tÕ víi mäi
qc gia, mäi tỉ chøc kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
bình đẳng và cùng có lợi".
Đại hội Đảng lần thứ VIII ( 6- 1996) tiÕp tơc cơ thĨ ho¸ c¸c ln điểm
trên và quyết định "đẩy nhanh quá trình hội nhậ kinh tế khu vực và thế giới"
Nghị quyết hội nghị Trung ơng lần thứ IV khoá VIII (12 - 1997) cũng đà đa
ra nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta.
Một là, trên vấn đề phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chính
sách thu hút nguồn lực bên ngoài.
Hai là, tiến hành khẩn trơng, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Thơng mại Việt - Mü, gia nhËp APEC vµ WTO.
Ba lµ, cã kÕ hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khu
vực AFTA.
Gần đây nhất, Đại hội IX của Đảng (4 - 2001) tiếp tục vạch ra phơng
châm cho tiÕn tr×nh héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ trong thêi gian 10 năm tới 2001
- 2010: "... nâng lên một bớc mới gắn với việc thực hiện các cam keets quốc
tế đòi hỏi chúng ta phải ra sức nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh và khả năng
độc lập tự chđ cđa nỊn kinh tÕ, tham gia cã hiƯu qu¶ vào phân công lao động
quốc tế". Nghị quyết Đại hội Đảng lần này lại nhấn mạnh thêm: "Chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hớng xà hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân
tộc, bảo vệ môi trờng".
Quán triệt t tởng Hồ Chí Minh và những luận điểm có ý nghĩa phơng

châm chỉ đạo hành động của Đảng, 15b năm qua cùng với việc đẩy mạnh sự
nghiệp đổi mới toàn diện đất nớc, Nhà nớc ta lần lợt thi hành một loạt biện
pháp để thúc đẩy tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tÕ qc tÕ.
Th¸ng 12 - 1987, Qc héi níc ta thông qua Luật đầu t nớc ngoài Việt
Nam và cho đến nay vẫn liên tục đợc bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tình
hình trong nớc và quốc tế từng giai đoạn.

9


Năm 1989, Việt Nam đà mở các cuộc đàm phán ®Ĩ nèi l¹i quan hƯ q
tiỊn tƯ qc tÕ (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) và đến tháng 10 - 1993 đÃ
bình thờng hoá quan hệ tín dụng với hai tỉ chøc tµi chÝnh, tiỊn tƯ lín nhÊt thÕ
giíi này.
Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, và từ ngày
01/01/1999 bắt đầu thực hiện cam kết trong khuôn khỉ khu vùc mËu dÞch tù
do ASEAN tøc AFTA, cịng tháng 7 này, Việt Nam đà ký kết Hiệp định
chung về hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật, và một số lĩnh vực khác với
cộng đồng Châu Âu (nay là Liên minh Châu Âu EU), đồng thời bình thờng
hoá quan hƯ víi Mü.
Th¸ng 3/1996 ViƯt Nam tham gia víi t cách thành viên sáng lập diễn
đàn hợp tác kinh tế á - Âu (ASEM).
Tháng 11/1998, Hiệp định Thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ đà đợc ký
kết và sau bao nhiêu nỗ lực, Hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày
10/12/2001 mà không kèm theo cái gọi là Đạo luật nhân quyền nghị viện và
tổng thống Mỹ đa ra. Đây là bớc tiến thuận lợi trong quá trình gia nhập WTO
của nớc ta. Mà trớc đó, cuối năm 1994, Nhà nớc ta đà gửi đơn xin gia nhập
vào tổ chức này, hiện đang trong quá trình đàm phán để đợc kết nạp.
Tháng 9 /2001, tại Hà Nội đà diễn ra hội nghị Bộ trởng kinh tế các nớc
á - Âu lần thứ 3 (EMM - 3) và Hội nghị Bộ trởng kinh tế ASEAN lần thứ 33

và điều phối viện Châu á của EMM - 3 và đà hoàn thành một cách tốt đẹp
bạn bè đà biết đến một Việt Nam đang cố gắng bứt lên, một Việt Nam có
tiềm năng và nội lực dồi dào, đón nhận đầu t của các nớc trong khu vực và
quốc tế, một Việt Nam sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tÕ.
2. Thùc tr¹ng héi nhËp kinh tÕ cđa ViƯt Nam hiện nay.
Cho đến thời điểm hiện nay thì không thể nói rằng Việt Nam mới bắt
đầu hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tế Việt Nam đà tham gia vào hầu hết các
hình thức hội nhập, đặc biệt là ba hình thức cơ bản đà trình bày ở đây chỉ có
thể xem nh là một lát cắt ngang thực trạng quan hệ Việt Nam với các tổ chức
các nớc mà có tác động lớn tới nền kinh tế nớc ta.
* Việt Nam trong lộ trình AFTA.
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đợc ký hiệp định thành lập
năm 1992 giữa các nớc ASEAN nhằm tạo ra bớc ngoặt phát triển kinh tế của
các nớc 6 thành viên. Mục tiêu của AFTA là giảm dẫn thuế quan hầu hết các
mặt hàng, trớc hết là giảm dần hàng công nghiệp chế biến.
Theo sự điều chỉnh đợc cam kết gần đây nhất, Việt Nam sẽ thực hiện
đầy đủ các quy định AFTA vào năm 2006, trong khi đối với các thành viên
khác, thời hạn đó là 2003. Ví dụ, đối với danh mục hàng hoá cắt giảm bình
thờng thì: các loại sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống dới 20%
vào ngày 01/11/.2001 (nớc khác là 1998) và sau đó xuống dới 5% vào ngày
01/01/2006 (với các nớc là 2003) còn các loại sản phẩm có thuế suất 20%
hoặc dới mức 20% sẽ đợc giảm xuống đến 0- 5% vào 1/1/2002 (nớc khác là
2000). Quả thực nớc ta định hớng vợt u đÃi khi áp lực về thời gian đợc nới ra
so với các nớc khác đầu năm 1998, ta đà công bố lịch trình giảm thuế để thực
hiện AFTA vào năm 2006. Tiếp đó, luật thuế xuất nhập khẩu đợc sửa đổi
nhằm tạo điều kiện để xây dựng hệ thèng th nhËp khÈu 3 cét (phỉ th«ng, u
10


®·i chung theo Quy chÕ trÝ tuÖ quèc - MFN và u đÃi đặc biệt) cũng nh các

quy định về thuế chống phá giá và thuế đối kháng, Việt Nam cũng đà cam
kết tăng số dòng thuế sản phẩm có thuế suất dới 5% vào năm 2006.
Nhìn chung cho đến nay, Việt Nam đà đáp ứng cơ bản những đòi hỏi
về lộ trình của CFPT/AFTA. Hết năm 2001 tiến trình cắt giảm thuế quan
CEPT/AFTA đợc chuẩn bị và bớc đầu đạt đợc những kết quả đáng kích lệ.
Tuy nhiên cũng có rất nhiều vấn đề đặt ra cần quan tâm, xử lý đó là: không ít
các kết quả đà có chØ mang tÝnh thđ tơc, tiÕn bé gi¶m th st xng 5% vµ
díi 5% thùc tÕ vÉn diƠn ra chËm. Mặc dù đến 2006 Việt Nam mới thực hiện
đầy đủ AFTA, song sự chậm chạp đó có nghĩa là việc cắt giảm thuế sẽ dồn
vào những năm sau này. Đó là ngay bây giờ chúng ta phải xét đến tình hình
hiện nay. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đà có hiệu lực, Trung Quốc đà gia
nhập WTO.v.v...
Cũng cần nhìn nhËn r»ng ®èi víi ViƯt Nam, trong quan hƯ so sánh với
các thành viên ASEAN khác thực hiện đầy đủ AFTA chủ yếu có nghĩa là
phải chấp nhạan cạnh tranh sòng phẳng với nhiều đặc điểm bất lợi hơn. Việt
Nam có khoảng thời gian u đÃi hơn nhng nó chỉ có giá trị với điều kiện là có
sự nố lực rất lớn trong việc cải thiện sức cạnh tranh. QuÃng thời gian 3 năm
quả thực là quá ngắn nếu so quÃng thời gian mà các nớc ASEAN khác đà có
để đạt tới sức cạnh tranh hiện tại.
Chính vì vậy, Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa, năm 2006 đà gần kề
tình hình kinh tế trong nớc và khu vực luôn biến đổi. Do đó việc học tập rút
kinh nghiệm từ các thành viên ASEAN là không thể bỏ qua.
* Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ.
Quan hệ Việt - Mỹ là một quan hệ đặc biệt so với các quá trình giữa
Việt Nam và các nớc khác không chỉ bởi vì Mỹ là cờng quốc trên thế giới.
Trớc đây Mỹ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh. Mỹ cũng đÃ
từng cấm vận Việt Nam gây ra một thời kỳ khó khăn vất vả cho cả nớc. Bây
giờ Mỹ là một bạn hàng to lớn, một thị trờng rộng mở và càng đặc biệt khi
Hiệp định - Thơng mại Việt - Mỹ chính thức có hiệu lực từ 10/12/2001.
Đây là Hiệp định đợc đánh giá đồ sộ và có quy mô lớn nhất trong lịch

sử đàm phán Việt Nam. Nó bao gồm các thoả thuận bao trùm tất cả lĩnh vực
kinh tế - thơng mại thế giới WTO. Tính đến ngày đợc ký kết (13/7/2001)
Hiệp định đà trải qua 11 vòng đàm phán (vòng 1 bắt đầu vào 9/1996 tại Hà
Nội). Nh vậy để thấy rằng Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ có ý nghĩa to lớn
nh thế nào đối với nớc ta. Đến nay tuy thời gian hiệp định có hiệu lực cha dài
song có ngời cũng đà nhận thấy sự khác nhau trong quan hệ hai nớc so với trớc đây. và quan trọng hơn đó là tác động của Hiệp định đối với kinh tế Việt
Nam. Những số liệu sau đây có thể xem là những ví dụ cụ thể và những tác
động đó là:
Đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, theo các chuyên gia kinh tế Việt
Nam, xuất khẩu nớc ta có thể tăng ngày 4% - 5% trong năm 2002, chủ yếu
tập trung ngành dệt, may mặc, dày dép, gốm sữ, sơn mài, chế biến nông sản
thực phẩn. Việc cắt giảm thuế quan song song với việc đợc hởng mức thuế
suất thơng mại bình thờng làm GDP tăng lên 0,23% trong ngắn hạn và 0,26%
trong dài hạn. có thể thấy là việc mở rộng thị trờng xuất khẩu sang Hoa Kú
11


làm cho GDP nớc ta tăng một cách bền vững trong tơng quan dài hạn. tổng
tiêu dùng xà hội cùng tăng 0,44% trong khi đó các ngành công nghiệp bị
ảnh hởng lớn, ví dụ, ngành dầu thô giảm 0,34%, ngành thép giảm 0,29%...
Đối với sổ thu ngân sách Nhà nớc, qua các chỉ số cụ thể của từng
ngành, trong ngắn hạn tăng khoảng 0,05% và 0,11% trong dài hạn. Trong đó
chơng trình cắt giảm thuế quan mở rộng xuất khẩu, về lâu dài số thu ngân
sách tăng 0,1%. Nếu phân tích sâu sắc và rộng rài hơn, có khả năng kinh tế
Việt Nam thu đợc lợi ích cao hơn và số thu ngân sách đợc đảm bảo ổn định.
Việc ký kết hiệp định thơng mại Việt - Mỹ là chủ trơng lớn trong đờng
lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nớc ta. Hiệp định không nớc đáp ứng
đợc lợi ích của cả hai nớc, mà còn có tác động tích cực đến quan hệ đối
ngoại khác của Việt Nam và Hoa Kỳ đối với ASEAN, khu vực và thế giới.
Chính vì vậy tiếp tục nghiên cứu ảnh hởng đối với toàn bộ nền kinh tế nớc ta

của các chơng trình điều chỉnh chính sách thơng mại trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế cần đợc u tiên và đầu t thích đáng.
* Quan hệ kinh tế thơng mại Việt - Trung.
Trung Quốc là ngời bạn láng giềng "khổng lồ" của nớc ta, không chỉ là
một đất nớc rộng lớn với 1,3 tỷ dân mà còn là một cờng quốc về kinh tế. là
hai nớc láng giềng quá trình giao lu buôn bán đà có từ rất lâu và rất sâu sắc.
Thực tệ, ngời tiêu dùng Việt Nam đà quen thuộc với hàng hoá Trung
Quốc với các đặc tính: rẻ, mẫu mà phong phú đa dạng nhng chất lợng cha
cao lắm (thực ra, đây không phải là do công nghệ kém mà là "chiến thuật"
của Trung Quốc). Ngày 10/11/2001, Trung Quốc chính thc là thành viên của
WTO. Sự kiƯn nµy cµng lµm cho nỊn kinh tÕ Trung Qc có cơ hội tăng
mạnh tính cạnh tranh đồng thời có tác động mạnh mẽ đến thị trờng hàng hoá
thế giới, trong đó Việt Nam là một trong những nớc chịu ảnh hởng nhiều
nhất, đặc biệt là phải đối mặt với những thách thức về khả năng giảm kim
ngạch xuất khẩu và thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Thách thức về xuất khẩu đối với Việt Nam xuất phát từ khả năng cạnh
tranh của hàng hoá Trung Quốc đợc tăng cờng do đợc hởng những điều kiện
thơng mại bình đẳng và u đÃi của WTO. Trớc hết là cơ cấu hàng xuất khẩu
hai nớc có tính tơng đồng trùng lặp khá cao nh: dệt may, giày dép, điện tử,
linh kiện máy tính, thủ công mỹ nghệ... mà chi phí lao động và chi phí sản
xuất của họ thấp hơn nên sẽ ảnh hởng đến khả năng tăng xuất khẩu của hàng
hoá nớc ta. Việt Nam và Trung Quốc lại có chung các đối tác lớn nh Nhật,
Mỹ, EU, Hàn Quốc, ASEAN... Hơn nữa, gia nhập WTO, khả năng giảm giá
của hàng hoá Trung Quốc hoàn toàn có thể xảy ra khi họ từng bớc điều chỉnh
tỷ giá đồng nhân dân tệ theo hớng giảm giá so với đô la Mỹ. Nh vậy, có
nghĩa là, trên thị trờng thế giới sức cạnh tranh của hàng Trung Quốc sẽ mạnh
hơn.
Một thách thức lớn nữa là về thu hút vốn đầu t nớc ngoài (ĐTNN) dù
10 năm qua tỷ lệ thu hút DTNN so víi GDP cđa ViƯt Nam cao h¬n Trung
Qc nhng theo Ngân hàng Thế giới, thu hút đầu t nớc ngoài của Việt Nam

còn thiếu yếu tố bền vững, hiệu quả và thực chất mới chỉ thể hiện về số lợng.
Ngợc lại thu hút đầu t nớc ngoài của Trung Quốc hớng đợc vào xuất khẩu,
tạo nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp. Tuy còn có một số trở ngại: l¹m
12


phát cao, nạn quan liêu tham nhũng nhng Trung Quốc cũng đà tiến hành
hàng loạt biện pháp tạo môi trờng ổn định, thuận lợi cho các nhà đầu t nớc
ngoài nh: thùc hiƯn chÝnh s¸ch miƠn th nhËp khÈu thiÕt bị, giảm tiền thuê
đất, đơn giản hoá thủ tục đầu t, xúc tiến mạnh mẽ hợp tác song phơng và đa
phơng. Trong khi đó Việt Nam còn có rất nhiều hạn chế, đặc biệt là tình
trạng thanh tra, kiểm tra hoạt động doanh nghiệp còn tuỳ tiện, chồng chéo, ít
sức thut phơc...
Nh vËy cã thĨ thÊy viƯc Trung Qc gia nhập WTO đa đến những
nguy cơ và thách thức không nhá ®èi víi nỊn kinh tÕ ViƯt Nam. ViƯc ®a ra
các giải pháp tính thuế cũng nh lâu dài là hết sức cấp thiết.
* Việt Nam với Liên minh Châu Âu đà có những bớc khởi đầu từ
năm 1975.
Trải qua sự cố gắng, nố lực từ hai phía, đỉnh cao của sự phát triển quan
hệ này đợc đánh dấu bằng sự kiện trọng đại diễn ra vào ngày 17/7/1995 khi
"Hiệp định hợp tác giữa Cộng hoà xà hội chủ nghĩa Việt Nam và cộng đồng
Châu Âu" đợc ký kết.
ở đây tôi muốn đi sâu vào một số mặt hàng mà Việt Nam hiện đang
có lợi thế trên thị trờng EU và trong cả những năm tới.
Trớc hết là hàng dệt may. Tõ 1/1993, hµng dƯt may xt khÈu cđa ViƯt
Nam là một trong hai mặt hàng có kim ngạch xuất khÈu cao nhÊt níc ta.
HiƯn nay hµng dƯt may ViƯt Nam xuất khẩu sang hơn 40 nớc trong đó xuất
khẩu sang các nớc EU chiếm từ 34% đến 38% tổng kim ngạch hàng xuất
khẩu dệt may cả nớc.
Thứ hai là hàng thuỷ sản. Theo tổ chức lơng thực và nông nghiệp của

Liên hiệp quốc, đến nay hàng thuỷ sản Việt Nam có mặt trên 49 nớc và khu
vực, đặc biệt Việt Nam tiếp cận ngày càng sâu vào thị trờng Việt Nam. Tổng
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nớc không ngừng tăng lên từ năm 1991 đến
nay, tốc độ tăng bình quân 17,7%/năm trong đó kim ngạch xuất khẩu thuỷ
sản sang EU là 75,2 triệu USD năm 1997; 93,4 triệu USD năm 1998 và 105,3
triệu năm 1999. Hiện EU là thị trờng lớn thứ hai nhập khẩu hàng thuỷ sản
Việt Nam, chủ yếu là tôm đông, cá đông, cá hộp, mực, thịt tôm hỗn hợp.
Mặt hàng thứ ba là giày dép và đồ da. EU hiện là thị trờng nhập khẩu
giày dép lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 70% tổng giá trị xuất khẩu
giày dép cả nớc. Việt Nam là một trong năm nớc có số lợng giày dép tiêu thụ
nhiều nhất ở EU do giá rẻ, chất lợng và mẫu mà chấp nhận đợc. Do kim
ngạch xuất khẩu giày dép của nớc ta vào EU tăng rất nhanh nên EU đà bắt
đầu quan tâm đến tăng trởng xuất khẩu giày dép Việt Nam. EU đà cử đoàn
sang lµm viƯc víi HiƯp héi Da giµy ViƯt Nam vµ khảo sát thực tế tại Việt
Nam. Chắc chắn rằng, thời gian tới, với mặt hàng giày da Việt Nam, EU sẽ
có những chính sách phù hợp. Đây là cơ hội quý giá cho kinh tế Việt Nam
nói chung và hàng giày da nói riêng.
Nh vậy, với thị trờng rộng lớn EU, Việt Nam đà có vị thế ở một số
mặt hàng. Đó là nền tảng thuận lợi cho những bớc tiÕn tham gia vµ héi nhËp
kinh tÕ qc tÕ cđa Việt Nam. Vấn đề quan trọng là Việt Nam có nắm lấy đợc cơ hội này hay không?
* Việt Nam với tổ chức thơng mại thế giới WTO.
13


Tổ chức thơng mại thế giới đợc coi là tổ chức rộng rÃi nhất, cao nhất
trong quá trình hội nhập kinh tÕ qc tÕ. ViƯt Nam tham gia vµo WTO và đợc
hởng những u đÃi, quyền lợi mà tổ chức dành cho các thành viên luôn là mục
tiêu phấn đấu của các quốc gia trên thế giới. Mặc dù rằng những quyền lợi đó
luôn song sóng với những cam kết các nớc phải thực hiện. Mà sự bất lợi, hay
thách thức luôn nghiêng về các nớc đang phát triển, hay kém phát triển hơn.

Việt Nam cũng là một quốc gia đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức
trong quá trình đàm phán gia nhập WTO.
Gia nhập WTO, song song với việc mở rộng thị trờng, giảm bớt hàng
ràp thuế quan và phi thuế quan, loại bỏ các hạn chế đầu t ở các nớc công
nghiệp phát triển, Việt Nam cũng phải chấp nhận mở cửa thị trờng, đón nhận
sự cạnh tranh gay gắt của những đối thủ mạnh hơn rất nhiều ngay trên thị trờng nội địa của mình. Thực chất Việt Nam chủ động trong tiến trình AFTA,
trong quan hệ với các nớc, khu vực trên thế giới nh Mỹ, Trung Quốc, EU...
cũng là để rút ngắn vòng đàm phán gia nhập WTO mà nớc ta đà nộp đơn từ
năm 1994.
Việt Nam cũng xác định đợc rằng: WTO chỉ tạo ra cơ hội chứ không
phải tự nó đem lại sự tăng trởng kinh tế. Cho nên xây dựng nền tảng hạ tầng
và hệ thống pháp lý thuận lợi cho đầu t t nhân, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
và đầu t phát triển nhân lực đang là phơng châm cho mọi đờng lối kinh tế của
Đảng và Nhà nớc. Cho đến nay, khi Hiệp định thơng m¹i ViƯt - Mü chÝnh
thøc cã hiƯu lùc, cïng víi những bớc tiến vững chắc trong quan hệ với các nớc, khu vực, chúng ta đà tạo những bớc thuận lợi cho tham gia tổ chức Thơng mại thế giới.
3. Những khó khăn của nớc ta trong tiến trình hội nhập
hiện
nay.
Qua thực trạng của Việt Nam trong lộ trình gia nhËp c¸c tỉ chøc kinh
tÕ khu vùc, trong quan hƯ kinh tế với các quốc gia, các cộng đồng quốc tế, ta
đà nhìn thấy những hạn chế của nền kinh tế, của hệ thống pháp lý quốc gia
gây ra những khó khăn cho bớc tiến hội nhập kinh tế quốc tế. Thực ra, những
hạn chế đó bắt nguồn từ hoàn cảnh cụ thể của đất nớc ta hiện nay.
* Trình ®é ph¸t triĨn thÊp cđa nỊn kinh tÕ ViƯt Nam với hai đặc trng nghèo nàn và lạc hậu.
Lấy các nớc Châu á và trong khu vực làm mức so sánh thì mặt hàng
xuất phát kinh tế thực tế của nớc ta còn thấp xa. Theo sự sắp xếp của các tổ
chức thế giới, Việt Nam là một trong mời qc gia nghÌo nhÊt trªn thÕ giíi.
GDP níc ta kÐm xÊp xØ 30 lÇn GDP so víi GDP cđa Mü. Cần lu ý thêm rằng,
vì nghèo và tuy nghèo song tỷ lệ tiết kiệm nội địa (theo % GDP) của níc ta
rÊt thÊp, chØ b»ng 1/2 ®Õn 2/3 so víi nớc khác, nh Trung Quốc chẳng hạn.

Điều này sẽ làm chậm khả năng tăng trởng và cải tạo cơ cấu kinh tế chỉ dựa
trên căn bản nguồn vốn nội địa. Ta cũng dễ dàng nhìn thấy thực tế quen
thuộc là tình trạng thiếu vốn, công nghệ kém lạc hậu của các dự án, công
trình hay các doanh nghiệp, Công ty. Ngoài ra trình độ cơ cấu kinh tế của ta
hiện còn thấp. Phải đến 10 - 15 năm nữa, với nỗ lực thật cao may ra nớc ta
mới đạt đợc mức trung bình hiện tại của các nền kinh tế đang nổi ở Châu á,
với trình độ đó, sự cạnh tranh theo nguyên tắc bình đẳng sẽ đặt Việt Nam
14


vào thế bất lợi hầu nh là tuyệt đối. Nguy cơ tụt hậu xa hơn sẽ mang tính hiện
thực ngày càng cao nếu chúng ta không có những sự lựa chọn đúng theo hớng đi tắt để đuổi kịp.
* Khó khăn thứ hai bắt nguồn từ đặc trng Việt Nam đang trong quá
trình chuyển sang kinh tế thị trờng.
Chỉ so sánh với các thành viên khác của AFTA thì các nớc đà phát
triển thị trờng thành công trớc hàng mấy chục năm. Qua 15 đổi mới, thể chế
kinh tế thị trờng của ta còn thiếu đồng bộ, trình độ vận hành và điều hành còn
thấp. Trong khi đó, hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải "chơi" theo "luật
chơi" của thị trờng thực sự thậm chí ở trình độ cao, gay gắt sâu sắc hơn.
Dờng nh ảnh hởng của nền kinh tế chỉ huy tập trung trớc đây vẫn còn
tác dụng. Là lực lợng chủ đạo trong nền kinh tế song các doanh nghiệp Nhà
nớc dờng nh vẫn trông chờ vào Nhà nớc nh một "cứu cánh" để tồn tại chứ
không phải dựa vào năng lực cạnh tranh của chính bản thân mình, trên cơ sở
nâng cao sức cạnh tranh thực sự. Sức ỳ lớn, tiền trình đổi mới diễn ra chậm,
thái độ sẵn sàng hội nhập cũng nh năng lực cạnh tranh thấp. Khu vực doanh
nghiệp t nhân tuy phát triển nhanh hơn song tiềm lực và sức cạnh tranh còn
yếu. Vì vậy hàng hoá Việt Nam phải đơng đầu với sự xâm nhập ồ ạt, mạnh
mẽ của hàng hoá nớc ngoài.
Cũng xuất phát từ một thể chế thị trờng cha hoàn chỉnh đà kéo theo
một hệ thống pháp lý vừa thực hiện vừa sửa đổi, dẫn đến tình trạng chồng

chéo giữa các luật, quyết định, nghị quyết thông t... Một hệ thống hành chính
với các thủ tục phức tạp, rờm rà.
Mời lăm năm đổi mới vẫn cha xoá bỏ đợc nạn quan liêu, tham nhũng
hình thành hệ thống tài chính các doanh nghiệp, Công ty cha trong sạch,
hàng năm thất thoát hàng chục tỷ đồng của Nhà nớc.
Những vấn đề nêu trên đà dẫn đến hàng loạt khó khăn trên tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế về thu hút Đầu t nớc ngoài, nâng cao sức cạnh tranh
của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng khu vực và thế giới....
Thêm vào đó, cho đến nay vẫn cha có nhận thức đầy đủ cả cơ hội lẫn
khó khăn, thách thức của quá trình hội nhập trong từng cấp, từng ngành, chủ
thể kinh tế. Vì thế, sự u đÃi về thời gian những cơ hội đa đến từ các hiệp định,
cam kết dễ trở nên ít có ý nghĩa thực sự. Trách nhiệm về vấn đề này không
chỉ của riêng Đảng, Nhà nớc, các cấp, ngành và bản thân từng doanh nghiệp,
từng cá nhân phải tự trang bị cho mình những hành trang cần thiết, phải tự
bắt kịp với xu thế toàn cầu.
* Làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế mà vẫn độc lập tự chủ về
chính trị, vẫn giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc?
Đó không phải là vấn đề của riêng Việt Nam ta khi đứng trớc xu thế
toàn cầu hoá, khi đa ra những quyết định hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vì hội
nhập kinh tế thế giới đồng nghĩa với việc thực hiện các cam kết, hiệp định mà
từ đó mối liên hệ phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc và chặt
chẽ. Trong khi đó, các nớc t bản, đặc biệt là Mỹ vẫn không ngừng tìm cách
cam thiệp vào nội bộ của các quốc gia, đặc biệt là các nớc đang phát triển
hoặc kém phát triển. Quá trình đàm pháp Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ là
một ví dụ. Mỹ đa ra một cái gọi là "Đạo luật Nhân quyền Việt Nam" buộc
15


Việt Nam ký kết kèm theo hiệp định, trong khi rõ ràng Hiệp định mang lại
lợi ích cho cả hai qc gia vµ Mü cịng thõa hiĨu r»ng ViƯt Nam không bao

giờ đồng ý với cái đạo luật đó.
Bên cạnh đó, quan hệ kinh tế sâu sắc sẽ tác động không nhỏ đến giao
lu văn hoá, du lịch... giữa các quèc gia, c¸c khu vùc. Thùc tÕ mét xu thÕ toàn
cầu hoà về văn hoá đang diễn ra. Văn hoá ở đây bao gồm mọi mặt hoạt động,
t tởng trong ®êi sèng x· héi. Cïng víi sù xt hiƯn ngµy càng tăng nhiều các
sản phẩm hàng hoá nớc ngoài, sự có mặt các nhà đầu t nớc ngoài là sự xuất
hiện những quan niệm, trào lu hoàn toàn mới. Một bản sắc văn hoá Việt Nam
liệu có đợc giữ vẽng trớc các "hàng ngoại nhập"?
* Cuối cùng đó là nhân tố bối cảnh quốc tế ngày càng diễn ra phức
tạp, khó lờng.
Sự xuất hiện các tổ chức, cá nhân khủng bố tầm cỡ quốc tế, tình hình
chiến sự diễn ra khắp mọi nơi do sự xung đột giữa các tôn giáo, sắc tộc đang
là những vấn đề đáng lo ngại cho hoà bình và ổn định trên thế giới. Sự kiện
ngày 11 - 9 tại Mỹ cho đến nay vẫn còn là nỗi kinh hoàng ám ảnh không chỉ
nhân dân Mỹ mà với cả nhân dân toàn thế giới.
Bên cạnh đó sự phát triển của khoa học và công nghệ diễn ra không
ngừng, tạo nên những bớc nhảy vọt, đặc biệt là thông tin và công nghệ học
làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực đời
sống xà hội.
Toàn cầu hoá kinh tế một lần nữa đợc khẳng định là xu thế khách
quan, là quá trình hợp tác gắn liền với đấu tranh phức tạp, đặc biệt là các nớc
đang phát triển (trong đó có Việt Nam) để bảo vệ lợi ích của mình, chống lại
áp bức phi lý của các cờng quốc kinh tế.

4. Những thuận lợi của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay.
Đối mặt với những khó khăn cần giải quyết, không cách nào khác là
phải dựa vào u thế vững chắc mà nớc ta có đợc trong tiến trình hội nhập
quốc tế. Đó là:
* Nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trởng khá ổn định.

Trong 10 năm trở lại đây, tốc độ tăng GDP mỗi năm ổn định ở mức từ
0% - 7%. Kinh tế nớc ta vẫn đứng vững trớc các cuộc khủng hoảng khu vực,
trên thế giới. Nhng cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á năm 1997,
trong khi các nớc khác, nh Inđônêxia, cho đến năm 2000 vẫn còn chịu ảnh hởng mạnh mẽ, tốc độ tăng GDP các năm bị giảm mạnh một cách đáng lo ngại
thì Việt Nam vẫn giữ mức ổn định. Một trong những nguyên nhân là do nền
kinh tế Việt Nam phát triển vững chắc, dựa vào nội lực là chính.
Từ sự cố gắng nỗ lực của cả nớc cùng với những chính sách đúng đắn
của Đảng, Nhà nớc, kết quả đáng kích lệ này quả là có ý nghĩa không nhỏ
nếu chúng ta nhìn ra thế giới: nớc Nhật đà qua lâu rồi "giai đoạn thần kỳ" và
đang rơi vào tình trạng khủng hoảng, đồng yên Nhật liên tục mất giá; cờng
16


quốc kinh tế Mỹ đang phải đối mặt với sự phát triển kinh tế trì trệ;
Achentina rơi vào khủng hoảng, vỡ nợ dờng nh không cứu vÃn nổi... vấn đề
đặt ra cho ViƯt Nam chóng ta lµ lµm thÕ nµo để tiếp tục giữ đợc mức tăng trởng ổn định, bền vững tạo tiền đề cho hội nhậ kinh tế quốc tế.
* Việt Nam có môi trờng chính trị ổn định, quốc phòng an ninh
đảm bảo, môi trờng đầut kinh tế an toàn.
Kiên trì đi theo con đờng Chủ tịch Hồ Chí Minh đà chọn, Việt Nam
có một và chỉ một Đảng Cộng Sản lÃnh đạo quần chúng nhân dân, kiên quyết
đa đất nớc tiến lên theo con đờng chủ nghĩa xà hội. Sự lựa chọn đó đà đa lại
cho đất nớc những tiền đề phát triển hết sức quý báu: đó là một môi trờng
chính trị ổn định, quốc phòng an ninh đảm bảo an toàn. Không phải ngẫu
nhiên mà Việt Nam đợc coi là một trong những quốc gia có đời sống chính
trị, xà hội ổn định nhất khu vực. Tất nhiên chẳng phải dễ dàng để có đợc kết
quả đó. Những sự kiện ở Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long đầu năm
2001nhắc nhở chúng ta về một bài học. Không bao giờ đợc lơ là mất cảnh
giác và những bài học đó càng quý giá khi chúng ta nhìn thấy một New York
tang thơng, một Afghanistan tuyệt vọng về bom đạn và đối rét.
Giá trị đó cũng góp phần nâng vị thế Việt Nam từ vị trí thứ 8 vơn lên

vị trí số 1, giành danh hiệu địa điểm đầu t an toàn nhất khu vực Châu á Thái Bình Dơng. Đây là cơ hội thu hút đầu t nớc ngoài của Việt Nam mà
không phải là quốc gia nào cũng có đợc. Dĩ nhiên an toàn nhất cha phải là
tất cả, đặc biệt là trong t×nh h×nh hiƯn nay khi Trung Qc gia nhËp WTO và
đang ra sức đa các chính sách thu hút đầu t nớc ngoài. Chính vì vậy, vấn đề
mà chúng ta cần thiết phải suy nghĩ: làm thế nào để biến u thÕ ®ã thùc sù cã
ý nghÜa thùc tÕ trong tiến trình hội nhật kinh tế quốc tế?
* Nhân dân ta có truyền thống cần cù, thông minh, dân tộc ta có
truyền thống đoàn kết yêu nớc.
Những truyền thống tốt đẹp đó đà đợc thử thách và chứng minh trong
lịch sử hào hùng của dân tộc. Không có lý do gì để không thể tiếp tục phát
huy "nội lực mạnh mẽ" đó trong công cuộc phát triển kinh tế xà hội, đặc biệt
trong tiến trùnh gia nhập kinh tế quốc tế, khi mà phải đối mặt với những thế
lực bên ngoài.
Trung Quốc gia nhập WTO qua 15 năm đàm phán víi tÇm thÕ cđa mét
con ngêi cÇn mÉn víi sù âm thầm mà mạnh mẽ không ngừng. Việt Nam cũng
đang tiến dẫn những bớc đi vững chắc. Dân tộc Việt Nam với sự cần cù,
chịu thơng chịu khó chắc chắn sẽ thu đợc kết quả xứng đáng. Thế hệ trẻ Việt
Nam vẫn không chịu bỏ qua bất kỳ một thử thách nào cùng bạn bè thế giới.
Chính vì vậy, chúng ta có cơ sở để tin rằng Việt Nam sẽ hội nhập kinh
tế quốc tế bằng chính nỗ lực của bản thân mình. Để đạt đợc điều đó, không
chỉ riêng, Đảng, Nhà nớc mà bản thân mỗi công dân Việt Nam phải tự phấn
đấu và rèn luyện.

17


Chơng III. quan điểm và giải pháp nâng cao
hiệu quả chủ động hội nhập kinh tế
1. Xác định quan điểm chủ động quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế là cả một quá trình lâu dài, phức tạp. Để quá

trình này mang lại hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xà hội của nớc ta, cần
thiết phải xác định quan điểm đúng đắn làm kim chỉ nam, từ đó làm cơ sở đề
ra chính sách, quyết định những bớc tiến phù hợp.
Quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế trớc hết phải dựa trên nền tảng t tởng Hồ Chí Minh, tiềm lực và hoàn cảnh của nớc ta cũng nh bối cảnh quốc tế
đầy biến động.
Một là, phát huy tôi đa hoá nội lực.
Lấy Thái Lan làm ví dụ. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997
có điểm xuất phát từ Thái Lan sau đó mới lan rộng ra các nớc. Tại sao kinh tế
Thái Lan lại rơi vào khủng hoảng? Nguyên nhân chủ yếu là do Thái Lan đÃ
sử dụng vốn của đầu t nớc ngoài quá rộng rÃi. Kinh tế Thái Lan trớc đó phát
triển một cách vợt bậc, nhng khi đầu t nớc ngoài rút đi, ngay lập tức nền kinh
tế hụt hẫng và khủng hoảng.
Chính vì vậy phát huy tối đa hoá nội lực không chỉ là quan điểm trong
tiến trình chủ động hội nhập quốc tế mà là định hớng chung cho công cuộc
phát triển kinh tế xà hội. Có nh vậy nền kinh tế mới phát triển một cách lành
mạnh, vững chắc. Tất nhiên ngoại lực cũng là một yếu tố cần thiết, đặc biệt
với tình hình nớc ta hiện nay vẫn rất cần có những "đòn bẩy" từ bên ngoài.
Đại hội Đảng IX cũng đà xác định: "Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan
trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp đẻ phát triển đất nớc".
Từ quan điểm này, Nhà nớc cần tập trung tháo gỡ mọi vớng mắc, xoá
bỏ mọi trở lực để khơi dËy ngn lùc to lín trong nh©n d©n, cỉ vị các nhà
kinh doanh, và mọi ngời dân ra sức làm giàu cho chính mình và cho đất nớc.
Hai là, hội nhập dựa trên nguyên tắc giữa vững độc lập tự chủ, định hớng xà hội chủ nghĩa.
Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tÕ qc tÕ cã
hiƯu qu¶. Héi nhËp kinh tÕ qc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây
dựng kinh tế độc lập tự chủ. Mỗi liên hệ hai chiều đà đợc Nghị quyết Đại hội
Đảng IX khẳng định: "Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lËp tù chđ víi
chđ ®éng héi nhËp kinh tÕ qc tế".
Độc lập, tự chủ trớc lết là độc lập tự chủ về đờng lối phát triển theo
định hớng xà hội chủ nghĩa, đảm bảo nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng

phó đợc với các tình huống phức tạp. Trong tiến trình hội nhập đa dạng hoá
các quan hệ đối ngoại nhng cũng luôn phải đề cao, cảnh giác trớc mọi âm mu
phá hoại của các thế lực thù địch. Đồng thời luôn chú trọng phát huy lợi thế,
nâng cao chất lợng, hiệu quả, không ngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm
dần hàng rào bảo hộ.
Quan điểm này cã mét ý nghÜa cùc kú quan träng, khi mµ tốc độ phát
triển của thế giới biến chuyển không ngừng. Việc nắm chắc quan điểm và đi
sát với quan điểm lại càng khó khăn.

18


Ba là, phát huy mọi nguồn lực trong chủ động hội nhập mà trung tâm
là nguồn nhân lực.
Thực tra quan điểm này gắn liền với quan điểm đầu tiên. Phát huy
mọi nguồn lực trong nớc: nguồn tài nguyên, nguồn vốn, nguồn nhân lực nhng nó lại đợc tách riêng ra với mục đích khẳng định vị trí trung tâm của con
ngời trong quá trình hội nhập quốc tế.
Nớc ta có nguồn lao động dồi dào, giá lao động rẻ, cùng với tinh thần
cần cù thông minh là điểm thu hút đầu t, cũng là thế mạnh để đẩy mạnh xuất
khẩu lao động.
Tầng lớp trí thức năng động, biết d khoa học vào đời sống một cách
hợp lý, đón nhận công nghệ kỹ thuật tiên tiến nhanh nhạy, chỉ có điều cơ hội
tiếp cận còn quá ít.
Chính vì vậy, chúng ta phải đầu t lớn vào đào tạo và đào tạo, bao gồm
cả dạy nghề hớng nghiệp, và đào tạo lại.
Bốn là, chủ động hội nhập với mọi hình thức, bớc đi phù hợp, không
chủ quan nóng vội.
Tham gia WTO, ký kết các hiệp định thơng mại với các quốc gia, thực
hiện cam kết AFTA, tham gia APEC,... là các hình thức hội nhập quốc tế mà
Việt Nam đà tham gia và tiếp tục đa dạng hoá, đa phơng hoá các quan hệ

kinh tế đối ngoại một cách mạnh mẽ.
Điều đó không có nghĩa là tạo lập các quan hệ một cách nóng vội, chủ
quan duy ý chí. Quan điểm này phải đợc gắn liền với các quan điểm đà nêu ở
trên. Nh vậy có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế cần có sự kết hợp tổng hợp
mọi phơng châm đờng lối.
Chúng ta có những bài học quí báo trong lịch sử về chủ quan, nóng
vội. Dĩ nhiên điều ®ã kh«ng ®ång nghÜa víi viƯc chóng ta rơt rÌ trớc mọi cơ
hội, đặc biệt là trong tốc độ phát triển mạnh mẽ nh ngày nay và sẽ càng
nhanh hơn trong thời gian tới.
Năm là, kiên quyết giữ vẵng phơng châm bình đẳng, cùng có lợi, bảo
vệ lợi ích chính đáng của đất nớc.
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế đà dỡ bỏ dần khoảng cách giá
các quốc gia bằng các cam kết, qui ớc các nớc gần nhau hơn và ngày càng
bình đẳng trên phạm vi toàn cầu. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ có lợi cho
cả hai bên và hai nớc hoàn toàn bình đẳng trong vÊn ®Ị cam kÕt, thùc hiƯn
néi dung cđa HiƯp định tại sao Mỹ lại đa ra "Đạo luật nhân quyền tại Việt
Nam". Nớc ta đà kiên quyết phản đối, bảo vệ sự trong sạch của Đảng và
Chính phủ.
Trong lộ trình hội nhập sắp tới, Việt Nam tiếp tục tạo lập mối quan hệ
bình đẳng và cùng có lợi và sẵn sàng đấu tranh lại mọi âm mu nhằm phá
hoại hoà bình đất nớc.
2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
trong tình hình hiện nay.
* Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tÕ.

19


Héi nhËp kinh tÕ qc tÕ, ViƯt Nam cã giµnh đợc u thế hay không phụ
thuộc chủ yếu vào khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nớc, của

hàng hoá, của các lĩnh vực, các ngành thuộc kinh tế quốc dân.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN) để nâng cao sức cạnh
tranh cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu.
Một là, sắp xếp cơ cấu tổ chức lại doanh nghiệp Nhà nớc để có chính
sách, giải pháp cụ thể cho mỗi loại hình doanh nghiệp. Có hai loại doanh
nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp kinh doanh còn
phân thành ba loại khác nhau. Các loại hình doanh nghiệp có mục đích tôn
chỉ hoạt động khác nhau cho nên cần xây dựng kế hoạch giải pháp cụ thể cho
từng loại hình.
Hai là, đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN. Hiện nay tiến độ thực hiện cổ
phần hoá còn chậm so với yêu cầu. Việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến sự
chậm chế này là hết sức cần thiết. Từ đó phải thực hiện đồng loạt các công
tác nh sau: tăng cờng tuyên truyền, giáo dục, sửa đổi bổ sung kịp thời nghị
định số 44/1998 NĐ/CP nhằm loại bỏ hạn mức tham gia cảu các cá nhân, rút
ngắn thời gian thực hiện các dự án cổ phần hoá của các doanh nghiệp....
Ba là, củng cố nâng chất các Tổng Công ty Nhà nớc, xây dựng một số
tập đoàn kinh tế mạnh.
Cho đến nay, nớc ta đà có hơn 90 Tổng Công ty 90 và 91, là "xơng
sống" của nền kinh tế song nhiều Tổng Công ty hoạt động kém hiệu quả. Vì
vậy phải hoàn thiện cơ chế hoạt động, sử dụng cán bộ có năng lực, trình độ.
Thực hiện "chế độ tham dự"... phát triển Tổng Công ty theo mô hình tập đoàn
kinh tế... để nâng cao sức mạnh các Tổng Công ty, cạnh tranh có hiệu quả
với các đối tác nớc ngoài.
Bốn là, triệt để xoá bỏ cơ chế đầu t. Xin cho rằng con đờng cấp phát,
Nhà nớc đầu t cho các doanh nghiệp đợc thực hiện thông qua các công ty đầu
t tài chính của mình.
Năm là, thực hiện đúng chức năng quản lý của Nhà nớc, không can
thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm cho doanh
nghiệp có đẩy đủ các quyền trong kinh doanh theo các quy định của pháp
luật.

Cần hoàn thiện hệ thống kiểm toán độc lập, thanh tra Nhà nớc, đồng
thời các DNNN thực hiện chế độ quản lý Công ty, kiểm soát nội bộ cổ đông.
Sáu là, cùng với quá trình sắp xếp tổ chức lại, mỗi DNNN cần có sự
nỗ lực vơn lên, nâng cao ý thức tự chủ, đổi mới trang thiết bị, hiện đại hoá
doanh nghiệp, khả năng dự báo, xây dựng chiến lợc sản phẩm tiếp cận thị trờng.
- Xây dựng kế hoạch hội nhập tới từng cấp, ngành, chủ thể kinh tế.
Hội nhapạ kinh tế quốc tế tác động tới mọi lĩnh vực trong xà hội, và
ngợc lại, hoạt động của các lĩnh vực có ảnh hởng tới hiệu quả hội nhập quốc
tế. Vì vậy mọi ngành, cấp cần quan tâm sâu sắc, thiết lập kế hoạch sẵn sàng
gia nhập kinh tế toàn cầu nh ngành thuế, ngành tài chính, thơng mại.
Lấy thơng mại làm ví dụ. Để nâng cao khả năng cạnh tranh cần thực
hiện đồng thời các giải pháp: nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá,
thực hiện chuyển biến mạnh trong thay đổi cơ cấu hàng xuất khÈu, x©y dùng
20


hệ thống chính sách thơng mại thích ứng cơ chế hoạt động thơng mại quốc
tế.
Đồng thời các cấp ngành cần có sự phối hợp chặt chẽ tạo sự đồng bộ
tách chồng chéo bằng sức mạnh hội nhập quốc tế.
Tạo môi trờng đầu t ổn định, hiệu quả để thu hút vốn đầu t nớc
ngoài.
Hiện nay trong việc thu hút Đầu t nớc ngoài của nớc ta vẫn còn nhiều
hạn chế. Tình trạng thanh tra, kiểm tra hoạt động doanh nghiệp còn tuỳ tiện,
chồng chéo, ít sức thuyết phục.
Vì vậy Việt Nam cần cải thiện môi trờng đầu t, nhất là các thủ tục
hành chính, tạo dựng lòng tin đối với các nhà đầu t, nghiên cứu tham khảo
kinh nghiệm thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu t của các nớc nh Trung
Quốc.
* Tập trung phát triển nhân lực.

Một là, nâng cao chất lợng cán bộ hoạt động trong dự báo, tiếp thị,
nắm bắt thông tin một cách chính xác, có bản lĩnh chính trị vững vàng để có
thể đa ra những quyết định đúng đắn, nhanh chóng trong thị trờng nhằm tạo
ra lợi thế cạnh tranh.
Hai là đào tạo, bồi dỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đối
với từng ngành, lĩnh vực; nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng đối với cán
bộ có chính sách khuyến khích nâng cao trách nhiệm của họ; đồng thời
nghiêm minh với những biểu hiện tiêu cực ỷ lại.
Ba là tiếp tục đào tạo công nhân lành nghề. Đầu t nhiều hơn cho các trờng dạy nghề nhằm nâng cao uy tín, tạo lòng tin đối với ngời lao động và các
cán bộ quản lý cần tuyển lao động.
Tiếp tục xuất khẩu lao động ra nớc ngoài. Phải có một hệ thống quản
lý và bảo vệ quyền lợi của ngời dân Việt Nam lao động ở nớc ngoài và ngời
lao động Việt Nam làm việc cho ngời nớc ngoài một cách đầy đủ, sâu sắc.
* Tiếp tục điều chỉnh chính sách thơng mại.
Trong quá trình hội nhập chính sách thơng mại của Việt Nam đà từng
bớc có những cải cách theo hớng tự do hoá hơn phù hợp với những thông lệ
quốc tế, góp phần thúc đẩy thơng mại phát triển.
Một là, Điều chỉnh chính sách mặt hàng và thị trờng xuất nhập khẩu.
Về sản phẩm xuất khẩu cần đa dạng hoá hàng xuất khẩu, tăng dần
trình độ chế biến, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm vào các sản phẩm không
truyền thống.
Về chính sách nhập khẩu cần trang bị máy móc thiết bị công nghệ sản
xuất hiện đại, nhập khẩu phải bảo hộ hợp lý sản xuất nội địa nhập khẩu phục
vụ cho xuất khẩu.
Hai là, cải cách chính sách thuế và thuế quan.
Ba là hoàn thiện các quy chế thơng mại phi thuế quan, theo hớng:
Sắp xếp lại danh mục hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch và giấy phÐp.
Thùc hiƯn qun tù do kinh doanh cđa c¸c doanh nghiệp theo luật quy
định.
Ban hành các quy chế hành chính kỹ thuật kiểm soát nhập khẩu.

Bốn là chính sách tiền tÖ
21


Để tạo điều kiện tự do hoá và hội nhập cần thực hiện thị trờng tài
chính mở chế độ hai giá đối với hàng hoá dịch vụ mang lại tính phân biệt đối
xử đối với các loại hình doanh nghiệp cần đợc xoá bỏ, quản lý ngoại tệ
khuyến khích xuất khẩu và áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt tạo điều kiện thúc
đẩy tự do hoá thơng mại.

22


Kết luận
Nghị quyết Đại hội Đảng IX một lần nữa khẳng định "Toàn cầy hoá
kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nớc bao trùm hầu hết tất cả các
lĩnh vực; vừa thúc đẩy vừa hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ
thuộc lẫn nhay giữa các nền kinh tế. Quan hệ song phơng, đa phơng giữa các
quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trờng,
phòng chống thiên tai và các đại dịch...". Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập
kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất
phức tạp; đặc biệt là các nớc đang phát triển nh Việt Nam để bảo vệ lợi ích
của mình vì mét trËt tù kinh tÕ quèc tÕ c«ng b»ng, chèng lại những áp đặt phi
lý của các cờng quốc kinh tế, các Công ty xuyên quốc gia.
Chính vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu sâu vấn đề hội nhập kinh tế
quốc tế không phải chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nớc mà các cấp cấp,
ngành, nhà quản lý và tầng lớp trí thức trẻ hôm nay. Tuỳ trình độ, khả năng
và khía cạnh quan tâm mà mỗi chủ thết, tổ chức cá nhân có phơng pháp tìm
hiểu đánh giá riêng về vấn đề này. Đặc biệt với sinh viên kinh tế cần có kiến
thức cập nhật, đầy đủ lý luận và bao quát về toàn cầu hoá và lộ tr×nh héi nhËp

kinh tÕ qc tÕ cđa níc ta. Tõ đó xác định nhiệm vụ, trách nhiệm của bản
thân để phấn đấu học tập và rèn luyện.

23


Danh mục tham khảo
1. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX
2. Tạp chí Tài chính số 1 + 2 năm 2002
3. Toàn cầu hoá và vấn đề héi nhËp qc tÕ cđa níc ta - TS Vâ Đại Lợc
"Những vấn đề kinh tế thế giới số 1 năm 2000".
4. Hai mặt của toàn cầu hoá - Đỗ Sáng lợc thuật
5. Thơng mại Việt Nam trong lộ trình AFTA - Nguyễn Thị Nh Hà "Kinh tế
Châu á - Thái Bình Dơng" - số 3/2001.
6. Tiếo tục điều chỉnh sáng thơng mại trong quá trình hội nhập và tự do hoá
thơng mại - GS. Bùi Xuân Lu.
7. Đổi mới do doanh nghiệp Nhà nớc - Nâng cao khả năng hội nhập thị trờng
quốc tế của Việt Nam - Trần Văn Hiển.
8. Tạp chí Thế giới Thơng mại số 11 năm 2001.
9. Báo Sinh viên Việt Nam số 39 năm 2001.
10. Mời năm quan hệ Thơng mại Việt Nam - EU - Tạp chí những vấn đề kinh
tế Thế giới số 2 năm 2000.

24


Mục lục
Lời nói đầu
Chơng I - một số vấn đề lý ln vỊ héi nhËp
Bé kinh tÕ qc tÕ

gi¸o dơc và đào tạo
1. KháI niệm về hội nhập Trờng đại học
kinh tế quốc tế
2. Những đặc trng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Khoa:
Chơng II. Tiến trình thực tr¹ng héi nhËp
-----***-----kinh tÕ qc tÕ cđa ViƯt Nam
1. TiÕn tr×nh héi nhËp (trong thêi gian võa qua) cđa ViƯt Nam
2. Thùc tr¹ng héi nhËp kinh tÕ cđa ViƯt Nam hiện nay
3. Những khó khăn của nớc ta trong tiến trình hội nhập hiện nay
4. Những thuận lợi của Việt Nam trong héi nhËp kinh tÕ qc tÕ
hiƯn nay
Ch¬ng III. quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả chủ động hội nhập kinh tế
1. Xác định quan điểm chủ động quốc tế
2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
trong tình hình hiện nay
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

đề án
kinh tế chính trị

Trang
1
3
3
9

15


15
19
25
28
31

31
34
38
34

Đề tài:
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam

Giáo viên hớng dẫn:
Sinh viên thực hiện :
Lớp

:

25
Hà Nội - 2002


×