Tải bản đầy đủ (.doc) (69 trang)

nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.01 MB, 69 trang )

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo WB (2007) Việt Nam là 1 trong 5 nước trên thế giới chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng [3]. Thực tế
nhiều năm qua cho thấy, tần suất bão, lụt ngày càng nhiều và mức độ gây hại
ngày càng tăng. Bão, lụt không chỉ gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế của đất
nước, mà còn ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của người dân, nhất là người
nghèo [7].
Triệu Giang là một xã thấp trũng của tỉnh Quảng Trị. Hầu như năm nào
cũng chịu ảnh hưởng của lũ lụt, để lại hậu quả không nhỏ đến đời sống người
dân, cụ thể là: thiệt hại tính mạng; gây ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng,
làm nhà cửa bị sập, trôi, hư hại; hàng trăm hécta hoa màu của dân bị mất
trắng. Để giúp người dân khắc phục hậu quả thiên tai. Nhà nước, các tổ chức
quốc tế và tư nhân đã tích cực thực hiện các hoạt động cứu trợ. Tuy nhiên,
hoạt động cứu trợ hiện nay chủ yếu bằng hiện vật.
Cứu trợ bằng hiện vật đã giúp người dân giải quyết những khó khăn
trước mắt, nhưng cũng thể hiện nhiều bất cập. Nhiều khi hàng cứu trợ không
đáp ứng được nhu cầu của người dân. Ngoài việc tốn nhiều chi phí cho vận
chuyển, bốc vác và trao hàng cứu trợ, cán bộ địa phương còn gặp nhiều khó
khăn trong việc tổ chức cấp phát do sự khác nhau và đa dạng về chất lượng,
mẫu mã, chủng loại hàng hoá, Hơn nữa, do công tác tổ chức cứu trợ không
tốt nên đôi khi bên cho đã đưa cả những hàng không thể dùng được đến vùng
thiên tai, do vậy đã làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp của hoạt động cứu trợ.
So với cứu trợ hiện vật, cứu trợ bằng tiền mặt đáp ứng được nhu cầu
của người hưởng lợi, các hộ được giao quyền và sự lựa chọn trong việc sử
dụng tiền và khắc phục một số hạn chế mà cứu trợ hiện vật gặp phải. Tuy
nhiên cứu trợ bằng tiền mặt hiện là phương thức cứu trợ mới, ở Việt Nam
chưa có nhiều kinh nghiệm triển khai thực hiện và rất nhạy cảm nên việc tìm
ra một tiến trình cứu trợ phù hợp là rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế
đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng
tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, tỉnh


Quảng Trị”.
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu mức độ thiệt hại và nhu cầu người dân sau lũ
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động cứu trợ khi thiên tai tại xã Triệu Giang
- Xác định tiến trình cứu trợ hợp lý bằng tiền mặt để đề xuất với chính quyền
các cấp nhằm thực hiện hiệu quả các công tác cứu trợ khi có thiên tai xảy ra.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1. Những thiệt hại của người dân sau lũ là gì?
2. Sau lũ người dân có những nhu cầu nào ?
3. Thực trạng hoạt động cứu trợ ở địa phương sau thiên tai như thế nào?
4. Tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt trước đây có những bất cập gì?
5. Tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt như thế nào là hợp lý nhất?
1.4 Giả thuyết nghiên cứu
Tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý nhất nếu đảm bảo sự tham gia của
người dân và sự công khai minh bạch trong quá trình thực hiện.
2
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Sơ lược về tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
2.1.1.1 Khái niệm về biến đổi khí hậu
Theo báo cáo của IPCC năm 2007, biến đổi khí hậu được hiểu là mọi
thay đổi của khí hậu theo thời gian do sự thay đổi tự nhiên hoặc kết quả hoạt
động của con người [12]. Với định nghĩa này, nguyên nhân của biến đổi khí
hậu là do chính bản thân của điều kiện tự nhiên, nội tại của nó hoặc là do bên
ngoài tác động vào.
Tuy nhiên, Công ước khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lại cho
rằng biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu mà nguyên nhân là sự tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người dẫn đến thay đổi thành phần khí
quyển toàn cầu và tạo ra thay đổi của biến thiên khí hậu tự nhiên được quan

sát qua thời gian [13]. Ngoài ra, nghiên cứu của O'Brien và cộng sự: biến đổi
khí hậu là hiện tượng tự nhiên nhưng cũng tăng tốc bởi các hoạt động của con
người [10]. Hai định nghĩa này đều chỉ rõ biến đổi khí hậu là hiện tượng tự
nhiên nhưng có sự góp mặt của con người.
Còn nghiên cứu của ISDR (2008), đưa ra khái niệm biến đổi khí hậu rõ
ràng hơn đó là: biến đổi khí hậu là sự biến động giữa năm này và năm khác
được ghi nhận qua các số liệu thống kê của các điều kiện bất thường như:
bão, lụt, hạn hán bất thường [11]. Quan điểm ở đây về biến đổi khí hậu chính
là sự ghi nhận lại những hiện tượng bất thường theo thời gian.
2.1.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trong những năm gần đây diễn biến thiên tai và thời tiết ở Việt Nam đã
có nhiều biểu hiện bất thường và phức tạp hơn, lũ lụt xảy ra ở miền Trung và
đồng bằng sông Cửu Long có xu thế tăng, nhiều nơi xảy ra lũ lớn lịch sử. Lũ
quét xuất hiện ngày càng nhiều các tỉnh vùng núi phía Bắc, Đông Nam Bộ và
Tây Nguyên. Trung bình hàng năm có khoảng năm, sáu cơn bão và áp thấp
nhiệt đới có ảnh hưởng đến Việt Nam. Trong ba thập kỷ gần đây, số cơn bão
ảnh hưởng đến nước ta và mức độ ảnh hưởng có xu hướng tăng. Bão có
cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn, quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển
3
dần về phía Nam với đường đi của bão phức tạp. Mùa bão kéo dài hơn trước
kia, có năm bão xuất hiện sớm vào các tháng đầu năm, kéo dài cho đến cuối
năm, khuynh hướng ngày càng có nhiều cơn bão ảnh hưởng đến Nam bộ [8].
Một nghiên cứu mới đây của Trần Công Minh thuộc viện khí tượng học
Synốp cho thấy rõ các cơn bão và áp thấp nhiệt đới hình thành trên khu vực
Nam và giữa biển Đông tăng rõ rệt.
Năm 2007 ở các tỉnh, thành phố duyên hải miền trung trong thời gian
gần hai tháng liên tiếp đã xảy ra 5 đến 6 đỉnh lũ nối tiếp nhau. Cuối tháng 10
đầu tháng 11 năm 2008 mưa lũ trên diện rộng đã gây ngập úng nghiêm trọng
nhiều địa phương đồng bằng, trung du Bắc bộ. Năm 2009, bên cạnh hàng
chục trận dông lốc, mưa đá, lũ quét, lũ bùn đá,… đã có 10 cơn bão hoạt động

trên biển Đông, đặc biệt là cơn bão số 9, một trong những cơn bão mạnh nhất
trong vòng 40 năm trở lại đây, đã tàn phá khốc liệt vào các tỉnh miền Trung
Việt Nam, làm 162 người bị thiệt, 13 người mất tích và 616 người bị thương,
Tổng số nhà cửa bị sập, trôi, hư hại lên tới gần 21,500 ngôi nhà, chưa kể hàng
vạn hécta lúa và hoa màu của dân bị thiệt hại. Đợt lũ kép 10/2010 cũng đã đã
tàn phá nặng nề tại các tỉnh miền Trung. Tại 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình có hơn 140 người chết và mất tích, hơn 300.000 nhà dân bị ngập chìm
trong lũ, nhiều công trình giao thông, công nghiệp bị phá hủy, hàng triệu
hecta lúa và hoa màu bị mất trắng,… [3].
Đồng thời, tác giả Nguyễn Hữu Ninh cũng cảnh báo: Việt Nam có hai
thành phố ven biển lớn nhất là Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh nằm
trong danh sách 10 thành phố trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi
biến đổi khí hậu trong vòng 20-50 năm tới. Như những trận triều cường lịch
sử ở thành phố Hồ Chí Minh cuối năm qua, chủ yếu là do ảnh hưởng của
nước biển dâng và gia tăng nhiệt độ toàn cầu [8].
Ngoài ra, Các số liệu ghi nhận xu hướng tăng nhiệt độ ở cả 3 miền, với
mức tăng từ 0,5 đến 1°C trong vòng 1 thế kỷ qua. Đi cùng với tăng nhiệt độ,
lượng mưa trung bình hằng năm tăng không đáng kể, nhưng tần suất cũng
như lượng mưa hằng tháng thay đổi. Mùa mưa có lượng mưa tăng cao, mùa
khô lượng mưa giảm đi dẫn tới các sự kiện thời tiết bất thường có xu hướng
4
tăng lên. Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng 0,7
0
C,
mực nước biển dâng 20cm [2].
2.1.2 Con người và những rủi ro do thiên tai
Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn,
sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không
tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận
thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài

ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác
động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo
quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu
tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy
ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo
lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể
mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại
những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể
tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận
những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai [1].
Con người ngày càng hứng chịu nhiều rủi ro hơn do ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu. Sự thay đổi khí hậu mà đặc trưng nổi bật nhất là sự nóng lên
toàn cầu đưa đến những hiện tượng mới lạ như bão tố, các luồng gió nóng,
tác động xấu đến cây trồng và con người. Các nguồn nước cạn kiệt dẫn đến
thiếu nước dùng và tăng các bệnh truyền nhiễm, các thảm họa thiên nhiên như
động đất, giông bão, lũ lụt có thể sẽ xảy ra ở nhiều nơi. Nguyên nhân sâu xa
của những rủi ro này do sự phát triển không bền vững ở nhiều nước [1].
2.1.3 Các trường phái an sinh xã hội
2.1.3.1 Khái niệm an sinh xã hội
An sinh xã hội (ASXH ): Chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành
viên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng
hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thiên tai, thất nghiệp,
5
tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có
[5].
Hệ thống ASXH được xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên
thế giới. Tuy nhiên, có thể thấy những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: bảo
hiểm xã hội, cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ
quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, sự bảo vệ do người sử dụng lao

động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến ASXH [5].
2.1.3.2 Các trường phái an sinh xã hội
- Cứu trợ xã hội (CTXH):
CTXH là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội. Theo
nghĩa thông thường, cứu trợ xã hội là chế độ đảm bảo xã hội đối với các thành
viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt
cũng như lâu dài trong đời sống. Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động
cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một
thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng [9].
Đối tượng của CTXH có thể là gia đình, có thể là cá nhân. Có những
trường hợp cứu trợ được áp dụng để giải quyết khó khăn cho cả vùng gặp nạn
hoặc cả một địa phương [9].
CTXH bao hàm hai nội dung: cứu tế và trợ giúp. Cứu tế xã hội là sự
giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết, "cấp cứu" ở mức
tối cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không còn khả năng
tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình. Còn trợ giúp xã hội
là sự giúp đỡ thêm bằng tiền hoặc các điều kiện và phương tiện sinh sống
thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc
sống cho mình và gia đình, sớm hoà nhập với cộng đồng. Công tác CTXH có
hai phương thức hoạt động chính: (i) CTXH thường xuyên là cứu trợ cho
những người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống, phải có sự giúp đỡ
thường xuyên, như người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, trẻ
em trong các gia đình quá túng thiếu hoặc dân cư ở những vùng nghèo đói, (ii)
CTXH đột xuất, nhằm giúp đỡ cho những người không may bị thiên tai hoặc
mất mùa mà cuộc sống bị đe dọa nếu không có sự trợ giúp của cộng đồng một
cách khẩn cấp [9].
6
Trong lịch sử, hoạt động CTXH có mầm mống từ rất sớm trong xã hội
loài người; khi đó mới mang tính tự phát, Cùng với sự phát triển của tôn
giáo, hoạt động CTXH cũng thay đổi, nhằm các mục đích từ thiện, nhân

đạo, xuất hiện các trại tế bần, các nhà thương làm phúc, vv. Đến giai đoạn
cách mạng công nghiệp, hoạt động CTXH trở nên rất cần thiết và đã có sự tổ
chức khá chặt chẽ. Những người lao động và những người nghèo đã tập hợp
nhau lại dưới các hình thức phường hội để giúp đỡ nhau trong cuộc sống,…
Song song với các hoạt động cứu tế của nhà thờ Thiên Chúa giáo và các tổ
chức tôn giáo khác, các hoạt động cứu trợ từ thiện, nhân đạo của cá nhân và
các tổ chức xã hội cũng phát triển nhanh. Gần đây, các hoạt động CTXH đã
có sự tham gia chặt chẽ của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ hoạt
động CTXH chuyên nghiệp. Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) đã đưa CTXH
vào nội dung của bảo đảm xã hội [9].
Ở Việt Nam, CTXH xuất phát từ truyền thống đạo đức lâu đời của dân
tộc Việt "lá lành đùm lá rách" và rất phong phú về hình thức. Hiện nay,
CTXH được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và là một trong những
chính sách lớn của Nhà nước [9].
CTXH còn được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới
đỡ an sinh xã hội. Vì vậy nó được coi là chế độ đảm bảo cộng đồng mang tính
nhân đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt [9].
Tuy nhiên, hoạt động cứu trợ không chỉ là của cá nhân, tổ chức bất kỳ
trong xã hội mà trách nhiệm chính là của nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm
cao nhất trong việc tổ chức các hoạt động cứu trợ xã hội, với tư cách là đại
diện của xã hội. Các chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội do nhà nước ban
hành, xây dựng là cơ sở quan trọng để các tổ chức, cơ quan, cá nhân tiến hành
các hoạt động cứu trợ xã hội, đồng thời là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng,
minh bạch, đúng đắn và tính hợp pháp của cứu trợ xã hội.
- Bảo hiểm xã hội:
Là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động do mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ
sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo
7
an sinh xã hội. Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội

ở mỗi nước [5].
2.2 Cơ sở thực tiễn
Hàng năm, khi có thông tin bão lụt hệ thống ủy ban phòng chống lụt
bão và tìm kiếm cứu nạn từ trung ương đến địa phương được thành lập. Hiện
nay hệ thống này đã về tận thôn, bản. Nhiệm vụ chính là chỉ đạo, và thực hiện
các công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn cho khu vực bị ảnh
hưởng [4].
Sau mỗi trận bão, lũ hàng đoàn phương tiện, cùng rất nhiều hàng hóa từ
khắp các tỉnh, thành cả nước đổ về chia sẻ, hỗ trợ vùng thiên tai, giúp đồng
bào ổn định chỗ ăn ở, sinh hoạt, phục hồi sản xuất. Đó vốn là đạo lý của dân
tộc và cần được khuyến khích phát huy, nhưng vài năm gần đây công cuộc
này lại đang có khuynh hướng tự phát và trở thành nỗi ám ảnh cho chính
quyền các địa phương. Bên cạnh hệ thống phân phối tiền, hàng của các cơ
quan chính trị xã hội nhà nước, khối lượng hàng hóa cứu trợ của các tổ chức
xã hội, tổ chức tôn giáo và người dân cả nước tự tổ chức quyên góp đến với
đồng bào vùng bão lũ cũng vô cùng lớn [4].
Hiện nay, phần lớn các đoàn cứu trợ tự tổ chức, đều muốn tự đến những
địa chỉ đã chọn từ trước và tận tay chuyển quà. Sự trực tiếp như vậy đã có tác
động tích cực về tình cảm với đồng bào trong cơn hoạn nạn, đồng thời vô tình
cũng làm rối ren trong trật tự xã hội tại địa phương bị thiên tai và để lại những
mối bất hòa trong quan hệ láng giềng nơi tiếp nhận. Điển hình như trong trận
lũ lụt kinh hoàng ở Phú Yên năm 2009, có những địa điểm của huyện Tuy
An, mỗi ngày tiếp đến hàng chục đoàn cứu trợ - nhất là ở những địa điểm
được báo chí phản ánh. Trong khi đó, có những địa điểm xa hơn, cần thiết
hơn thì lại không một đoàn nào tìm đến vì giao thông không thuận lợi, ít thời
gian. Thậm chí, có đoàn cứu trợ do không tìm được địa chỉ, đã lập trạm phân
phối hàng hóa ngay giữa cánh đồng, ai nhận được bao nhiêu thì nhận [4].
Ở đợt lũ lịch sử xảy ra tháng 10/2010, nhiều tổ chức, cá nhân và tập thể
đã có mặt ngay vùng "rốn" lũ, mang theo tiền bạc, mì tôm, gạo, quần áo để
chia sẻ với người dân. Oái oăm thay, khi mang quần, áo cũ đến với người dân,

có đoàn cẩn thận phân loại, có đoàn để nguyên đai nguyên kiện và chia trực
8
tiếp tại địa phương. Ai dùng vừa cỡ nào thì lấy cỡ đó. Ông Cao Văn Hùng ở
xã Minh Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) thuộc gia đình thiệt hại nặng nề trong
đợt lũ vừa qua. Hay tin có đoàn cứu trợ về, ông cố chen chân để hy vọng nhận
được cái quần, cái áo "chi viện" nào đó mặc vừa cơ thể ốm nhom sau lũ. Vậy
nhưng thử đi thử lại chẳng có cái nào vừa cả, ông đành lắc đầu nói: "Cỡ to
quá, chắc có Tây mới mặc được!" [6].
Xảy ra tình trạng nơi thừa, nơi thiếu:
Nhiều đoàn tổ chức mua, gom nhiều cơ số thuốc chữa bệnh đến cứu trợ
cho bà con. Đoàn trước đến trao những loại thuốc chữa bệnh, làm sạch nước
và môi trường nhưng trao chưa xong thì đoàn sau đã tới. Thuốc chồng lên
thuốc nên nhiều đơn vị đã tự nhận thuốc về cho nhân dân, không thông qua
cán bộ y tế dự phòng cũng như cán bộ huyện nên xảy ra tình trạng nơi thừa,
nơi thiếu. Chuyện xảy ra ở xã Thượng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình), trong 2
ngày có 2 đoàn cứu trợ đến khám chữa bệnh và mang 2 cơ số thuốc tặng
UBND xã nhưng phía y tế dự phòng chưa nắm được. Vậy là cán bộ y tế dự
phòng huyện mang thuốc xuống cho xã nhưng đành chở quay về huyện vì cơ
số thuốc đã dư thừa [6].
Đối với bà con vùng thường xuyên ngập lũ, sự chia sẻ với họ, đôi khi
một câu hỏi động viên là đủ. Còn những thứ vật chất phục vụ cho sinh hoạt
thì cũng tốt nhưng tất cả chỉ được một khoảng thời gian ngắn mà thôi. Còn
điều quan trọng nhất đó là cách giúp họ có điều kiện phục hồi sản xuất để
đảm bảo cuộc sống lâu dài. Hiện tại, những người dân vùng rốn lũ rất cần
được sự giúp đỡ về cây giống, con giống để họ khôi phục sản xuất. Mong
rằng sự quan tâm của các tổ chức sẽ giúp đỡ người dân đứng dậy sau trận lũ
lịch sử này [6].
Người dân xin cứu trợ những thứ thiết thực:
Tại sân UBND xã Hưng Lam (Hưng Nguyên, Nghệ An), khi nhận quà
cứu trợ, chị Phạm Thị Lý, ở xóm 6 đã khóc. Chị cho biết, hiện chồng chị đã

mất vì ung thư, mình chị gánh nặng 5 con thơ. Cháu nhỏ nhất là Dư Thị
Thương, 10 tuổi, sau lũ đang bị ốm đang phải điều trị ở nhà. Chị Lý bảo, mấy
ngày nay không có cái gì bồi bổ cho con. Cái gì cũng thiếu nhưng điều chị
cần nhất bây giờ lúa giống và phân bón cho mùa vụ sắp tới [6].
9
Ông Dư Xuân Định, ở xóm 7 Hưng Lam bày tỏ: “Được các nhà hảo
tâm giúp cái chi là quý cái nấy rồi nhưng mong cấp trên xem xét, thay vào mì
tôm, nước mắm, thì hãy cứu trợ cây, con giống, phân bón. Những nhà nào
bị hư hỏng, sập đổ được hỗ trợ xi măng, vật liệu thì quý biết mấy. Bởi đó là
những thứ người dân cần trong lâu dài” [6].
Đại diện cho nhiều hộ dân ở vùng lũ xóm 7, ông Dư Xuân Bằng, xóm
trưởng cho biết: “Hiện tại, nhiều hộ dân muốn gieo trồng lại lúa, hoa màu và
các cây ngắn ngày để cải thiện nhu cầu thực phẩm trước mắt cũng không thể
kiếm đâu ra hạt giống để canh tác. Cứu trợ có thể giúp tránh đói hiện thời
nhưng không thể khiến người dân ấm no dài lâu”. Ông Bằng ao ước: “Giá
như được các tổ chức, đơn vị cấp trên hỗ trợ cho dân vùng lũ một nhà ở cộng
đồng thì hay biết mấy. Khi lũ dâng thì có nhà cho người già, trẻ em tránh lũ,
Chứ khi nước dâng lên nhanh, nan giải nhất là người già và trẻ em” [6].
Nhiều gia đình vùng lũ Hương Thủy (Hương Khê, Hà Tĩnh) cũng
chung tâm sự: “Cứ mỗi lần thấy xe chở hàng cứu trợ miền Trung về tới tận
xóm trực tiếp trao những gói hàng cứu trợ đến tận tay người dân là dân mừng
lắm. Dù là một cái quần áo cũ, hay một gói mì tôm đến tận tay người dân
cũng quý lắm rồi. Nhưng xin các nhà hảo tâm hãy thương thì thương cho trọn.
Mỗi lần về với dân xin hãy chia sẻ và thấu hiểu. Vẫn biết “lụt thì lụt cả làng”
nhưng có rất nhiều gia đình sau lũ nhà cửa bị cuốn trôi, đổ sập hoàn toàn. Dân
chúng tôi vẫn mong sẽ có những ngôi nhà của trái tim đồng bào cả nước dành
cho những gia đình bị thiệt hại vì lũ” [6].
Chị Nguyễn Thị Hằng - Phó Bí thư Đảng ủy xã Hương Thủy bộc bạch:
“Cam go nhất hiện nay là lo vấn đề giống vụ mới cho dân. Sau lũ, người dân
nơi đây cũng đang gặp nhiều khó khăn lắm, thú thật kể cả thức ăn cho trâu bò

bây giờ cũng nan giải. Rơm rạ hư, cỏ xanh thì ngập chết hết, người dân vùng
ngập lụt Hương Thủy giờ đang rất khó khăn trong việc chăn nuôi gia súc.
Trước mắt, xã đang chỉ đạo tiến hành khẩn trương triển khai kế hoạch sản
xuất vụ đông xuân và chỉ đạo người dân trồng cỏ để chăn nuôi” [6].
10
PHẦN III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những hộ được nhận cứu trợ
tiền mặt sau thiên tai từ các chương trình dự án. Ngoài ra, cán bộ lãnh đạo của
địa phương gồm cán bộ thôn, xã và cán bộ nằm trong ban cứu trợ cấp huyện,
tỉnh cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài này.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu này được thực hiện tại 5 thôn của xã Triệu
Giang đó là: Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, Tả Kiên, Phú Áng, Phước Mỹ,
Đây là những thôn thường xuyên được nhận cứu trợ hàng năm khi thiên tai.
- Phạm vi thời gian: số liệu phục vụ cho nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp
qua các năm từ 2008-2010, và số liệu sơ cấp năm 2010.
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình cơ bản của xã Triệu Giang
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế xã hội
- Thiệt hại và nhu cầu của người dân khi lũ
+ Thiệt hại của xã khi lũ
+ Nhu cầu người dân khi lũ
- Thực trạng hoạt động cứu trợ sau thiên tai ở Triệu Giang
+ Hoạt động cứu trợ sau thiên tai ở Triệu giang
+ Tình hình và kết quả sử dụng hàng cứu trợ của người dân
+ Các tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt của các tổ chức
+ Ưu nhược, điểm của các hình thức cứu trợ

-Xác định tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý
11
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
 Chọn điểm nghiên cứu
Điểm nghiên cứu được chọn là xã Triệu Giang - Triệu Phong - Quảng Trị,
đảm bảo các tiêu chí:
+ Mang tính đại diện cho hoạt động cứu trợ tại huyện Triệu Phong- Quảng Trị
+ Là xã thường xuyên có thiên tai xảy ra
+ Xã thường xuyên nhận được cứu trợ, kể cả tiền mặt
+ Thuận lợi cho việc điều tra thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu.
 Chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên có định hướng đó là: các hộ đã
nhận được cứu trợ bằng tiền mặt do Irish Aid, ECHO, nhà nước tài trợ cũng
như một số tổ chức tư nhân khác tài trợ. Số mẫu được chọn là 80 hộ ở 5 thôn
thường xảy ra thiên tai.
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
 Thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập báo cáo kinh tế xã hội, các báo cáo liên quan đến việc cứu trợ,
các báo cáo về tình hình thiên tai, về việc khắc phục thiệt hại sau lũ. Báo cáo
của các dự án cứu trợ sau thiên tai tại xã Triệu Giang từ năm 2008-2010.
 Thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phỏng vấn hộ bằng bảng hỏi:
Bảng hỏi được thiết kế mục đích nhằm thu thập các thông tin tại 80 hộ
đã chọn về các nội dung: số khẩu, lao động chính, ngành nghề, thu nhập, thiệt
hại do thiên tai của hộ, số lần hộ nhận được hỗ trợ, số tiền được nhận, lý do
hộ được nhận hỗ trợ, mục đích của việc sử dụng tiền cứu trợ và kết quả, ý
kiến đánh giá của hộ về các hình thức cứu trợ, việc thực hiện cứu trợ bằng
tiến mặt và tiến trình cứu trợ tiền mặt hợp lý nhất (xem chi tiết tai phụ lục 4).
12

+ Phỏng vấn người am hiểu:
Những người cung cấp thông tin nòng cốt gồm: thành viên ban cứu trợ
cấp thôn, xã; thành viên ban cứu trợ thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội; thành viên ban cứu trợ Hội chữ thập đỏ cấp tỉnh, huyện, Nhằm thu thập
các thông tin về việc phân phát hàng cứu trợ trong lũ, sau lũ, cơ quan phối
hợp thực hiện, loại hình cứu trợ, tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt, các khó
khăn khi thực hiện hoạt động cứu trợ.
+ Thảo luận nhóm
- Nhóm cán bộ khoảng 8 người bao gồm: thành viên ban cứu trợ cấp xã,
trưởng thôn của các thôn đã được nhận cứu trợ. Mục đích tìm hiểu tiến trình
cứu trợ trước đây, ưu ,nhược điểm của của các tiến trình cứu trợ, những khó
khăn khi thực hiện các tiến trình cứu trợ đó, các tiêu chí để chọn hộ, các vấn
đề xảy ra khi phát tiền. Công cụ đã được áp dụng trong thảo luận nhóm: phân
tích liệt kê, sắp xếp ưu tiên đã được sử dụng để thu thập các thông tin này.
- Nhóm người dân khoảng 12 người trong đó có 6 hộ được nhận hỗ trợ từ dự
án Irish Aid, ECHO và nhà nước còn 6 hộ không được nhận hỗ trợ. Mục đích
nhằm kiểm tra lại thông tin điều tra, lấy thông tin cấp cộng đồng về ưu nhược
điểm của các hình thức cứu trợ, ý kiến đánh giá về cách thức thực hiện của
các dự án cứu trợ. Công cụ thảo luận nhóm: liệt kê, sắp xếp ưu tiên sẽ được
sử dụng để thu thập các thông tin trên.
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả số liệu được nhập và xử lý bởi chương trình Excel. Các số liệu
được phân tích trên các nội dung chủ yếu: thông tin chung về hộ, thiệt hại của
hộ trong 3 năm khảo sát, nhu cầu của hộ trong lũ và sau lũ, số tiền mà hộ
nhận được qua 3 năm, tình hình sử dụng hàng cứu trợ, mức hỗ trợ, tiến trình
cứu trợ của các tổ chức.
13
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình cơ bản của xã Triệu Giang
4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Triệu Giang là xã có địa bàn thấp trũng, với tọa độ địa lý
16
0
47’34” vĩ độ Bắc 107
0
9’2” kinh độ Tây, phía Bắc giáp với xã Triệu Thuận,
phía Tây Bắc giáp với thành phố Đông Hà, phía Tây Nam và phía Nam giáp
với xã Triệu Ái, bao quanh phía Đông là dòng sông Thạch Hãn.
Vị trí của xã nằm gọn trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu và là khu vực chịu
ảnh hưởng gió mùa châu Á. Nằm sát dòng sông Thạch Hãn, xã vừa chịu ảnh
hưởng của gió mùa Đông Bắc vừa bị gió mùa Tây Nam chi phối. Do vậy, đây
là nơi luân phiên tác động và tranh giành ảnh hưởng của các khối không khí có
nguồn gốc khác nhau theo mùa. Chính sự hội tụ của không khí lạnh từ phía Bắc
tràn xuống và không khí nóng ẩm từ phía Nam di chuyển lên đã gây ra mưa
lớn, dông trên khu vực này và hình thành những trận lũ lớn và lũ quét làm
trượt lở đất, xói lở bờ sông.
Đặc điểm địa hình: Triệu Giang là xã thấp trũng, có địa hình bán sơn địa, nằm
dọc theo sông Thạch Hãn nên thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt. Xã
bao gồm 6 thôn: Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, Phú Áng, Phước Mỹ, Tả Kiên
và Tiền Kiên.
Điều kiện khí hậu- thủy văn:
Khí hậu: Triệu Giang nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân thành
2 mùa rõ rệt, mùa hè khô nóng, mùa đông ẩm ướt. Nhiệt độ trung bình hàng
năm khoảng 24-25
0
C, nhưng có biên độ giao động rất lớn, tháng cao nhất đạt
38-39
0
C, tháng thấp nhất 12-13
0

C. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.500-
2.700mm, cao hơn mức trung bình cả nước, nhưng nhìn chung phân bố không
đều tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến tháng 12. Do vậy, rất dễ xảy ra thiên tai,
lũ lụt.
Thủy văn: đặc điểm thủy văn của xã triệu giang bị chi phối bởi con sông
Thạch Hãn. Sông có chiều dài 155 km, bắt nguồn từ dãy núi Trường
Sơn ở phía Tây tỉnh Quảng Trị và đổ ra biển Đông qua Cửa Việt. Sông có
lưu lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 130 m³/giây. Từ khi công trình
thủy lợi Nam Thạch Hãn hoàn thành (cuối thập niên 1970) thì dòng sông
14
Thạch Hãn mùa hè cạn trơ đáy, có thể lội bộ qua sông đoạn thị xã Quảng Trị
và nhiều đoạn khác; mùa lũ thì nước dâng cao ngập toàn bờ kênh. Để giải
quyết tình trạng này năm, 2006 chính quyền sở tại cho xây dựng các điểm
tràn trên bờ đập kênh để chia lũ dòng sông. Nhưng lũ vẫn gây ảnh hưởng rất
lớn cho xã Triệu Giang về mùa mưa.
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Triệu Giang
Tìm hiểu về điều kiện kinh tế của xã là cần thiết để có thể hiểu được
tiềm năng, thế mạnh cũng như khó khăn của địa bàn nghiên cứu. Chúng tôi đã
tìm hiểu điều kiện kinh tế- xã hội của xã ở một số chỉ tiêu khác nhau và kết
quả được thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Triệu Giang, 2010
Các chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng Tỉ lệ (%)
Tổng diện tích tự nhiên Ha 713,86 100
Diện tích đất canh tác nông nghiệp Ha 353,15 49,47
Diện tích đất ngư nghiệp Ha 0 0
Diện tích đất phi nông nghiệp ( bao
gồm đất ở, và đất chuyên dùng)
Ha 291,6 40,85
Đất chưa sử dụng Ha 69,11 9,68

Tổng số nhân khẩu Người 4840 -
Tổng số lao động Người 2290 47,3
Tổng số hộ Hộ 1073 -
Phân theo ngành nghề
Hộ chuyên nông Hộ 719 67
Hộ ngư nghiệp Hộ 0 0
Hộ phi nông nghiệp Hộ 354 33
Phân theo loại hộ
Hộ khá Hộ 268 25
Hộ trung bình Hộ 625 58
Hộ nghèo Hộ 180 17
(Nguồn: số liệu thống kê của UBND xã Triệu Giang, 2011)
15
Kết quả ở bảng 1 cho thấy, xã Triệu Giang có nền kinh tế chủ yếu phụ
thuộc vào nông nghiệp. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 713,86 ha trong
đó: diện tích đất nông nghiệp của xã là 291,6 ha chiếm 49,47%, tỷ lệ này khá cao
so với diện tích đất của xã; Diện tích đất phi nông nghiệp (bao gồm đất ở và đất
chuyên dùng) chiếm 40,85% còn lại là đất chưa sử dụng. Có 354 hộ phi nông
nghiệp chiếm 33%, hộ chuyên nông có 719 hộ chiếm 67%, không có hộ nuôi
trồng thủy sản, cho thấy cơ cấu ngành nghề của xã còn kém đa dạng. Như vậy,
kinh tế xã Triệu Giang có mức độ phụ thuộc vào nông nghiệp khá cao, mà nông
nghiệp là ngành phụ thuộc cao vào điều kiện tự nhiên, nhất là thời tiết. Khi có
những hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra, các đối tượng cây trồng vật nuôi
rất dễ bị giảm năng suất dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế của người nông dân.
Số liệu ở bảng 1 cũng cho thấy, xã có 1073 hộ với số nhân khẩu 4840,
lực lượng lao động của xã khá dồi dào, số người trong độ tuổi lao động là
2290 người (chiếm 47,3% tổng số khẩu). Với lực lượng lao động dồi dào sẽ là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, nhưng kéo theo đó là những
hệ quả cần được chú ý như: khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc
giải quyết việc làm và đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân. Theo chuẩn

nghèo được điều chỉnh năm 2010, của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
(300.000 đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 390.000
đồng/người/tháng cho khu vực thành thị) thì số hộ khá trong xã là 268 hộ
chiếm 25%, hộ trung bình có 625 hộ chiếm 58%, hộ nghèo có 180 hộ chiếm
17%, cho thấy số hộ nghèo trong xã còn khá nhiều, các hộ này lại rất dễ bị
ảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt.
Tóm lại, xã Triệu Giang là một xã có điều kiện tự nhiên gặp nhiều khó
khăn bởi thời tiết. Mức độ phụ thuộc của kinh tế vào nông nghiệp cao, cơ cấu
ngành nghề kém đa dạng,… Do vậy người dân sống trong địa bàn xã rất dễ bị
tổn thương bởi nguy cơ về thiên tai.
16
4.1.2.2 Đặc điểm các hộ khảo sát
Đặc điểm chung của các hộ được khảo sát trong nghiên cứu này được
được thể hiện qua các chỉ tiêu về: tuổi chủ hộ, loại hộ, trình độ văn hóa của
chủ hộ, số lao động, số nhân khẩu, thu nhập của hộ/năm, hiện trạng nhà ở, số
thuyền ghe. Các đặc điểm này liên quan đến khả năng ứng phó, mức độ thiệt
hại và nguy cơ bị tác động bởi thiên tai của các hộ khảo sát (bảng 2).
Bảng 2: Thông tin chung của các hộ khảo sát
n=80 hộ
Chỉ tiêu Đơn vị tính Hiện trạng Tỷ lệ (%)
Tuổi chủ hộ Tuổi 60,89 -
Trình độ văn hóa Lớp 5,53
-
Hộ nghèo Hộ 79 98,75
Hộ trung bình Hộ 1 1,25
Hộ khá Hộ 0 0
Số khẩu/ hộ Khẩu 3,34 -
Số lao động/ hộ Lao động 1,20 -
Số nhân khẩu/ lao động Khẩu 2,81 -
Nhà vẫn còn tốt Cái 26 32,5

Nhà tạm bợ Cái 51 63,75
Nhà phải chuyển đi nơi khác
để tránh rủi ro mới
Cái 0 0
Không có nhà ở Cái 3 3,75
Thuyền, ghe Chiếc/hộ 1 1,25
( Nguồn: Phỏng vấn hộ,2011)
Số liệu ở bảng 2 cho thấy: độ tuổi trung bình của chủ hộ là khá cao
trung bình 60,89 tuổi, nên hộ rất dễ bị bị ảnh hưởng bởi thiên tai, tuổi cao còn
là một trong những yếu tố làm giảm khả năng lao động và thu nhập của hộ.
Trình độ văn hoá ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức và áp dụng các biện pháp
kĩ thuật vào sản xuất của nông hộ nhưng tại các hộ khảo sát lại có số năm đến
trường trung bình của chủ hộ là 5,53 thấp hơn với trình độ văn hóa trung bình
của cả nước ta hiện nay.
17
Hộ được nhận cứu trợ chủ yếu là hộ nghèo, có tới 98,75% là hộ nghèo,
chỉ có rất ít hộ trung bình (1,25%), không có hộ khá. Thực tế hộ nghèo là hộ
dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai và thường được ưu tiên về phúc lợi xã hội. Số
khẩu/hộ là không cao trung bình từ 3-4 khẩu/hộ, số lao động trung bình là 1
lao động/hộ số người ăn theo nhiều nên đó là một trong những khó khăn lớn
của hộ trong xóa đói giảm nghèo. Số khẩu trên lao động là 2,81 khẩu là khá
cao.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong 80 hộ khảo sát có tới 51 hộ có
nhà tạm bợ chiếm 63,75% nguyên nhân là do hộ chủ yếu là già neo đơn, hộ
nghèo không có tiền để sửa sang lại nhà cửa, khi gặp lũ hoặc bão mạnh rất dễ
sụp đổ, tốc mái. Không có nhà ở phải đi ở nhờ có 3 hộ chiếm 3,75% các hộ
này đều là hộ già neo đơn, hiện tại trong 3 năm gần đây không có hộ nào phải
chuyển nhà đi nơi khác để tránh rủi ro. Số thuyền, ghe hiện có tại các hộ
khảo sát chỉ có 1 cái là quá ít nên khả năng phòng tránh thiên tai của các hộ là
rất thấp, gây khó khăn trong công tác di dời khi lũ dâng của chính quyền xã

và của chính các hộ.
Tóm lại, trình độ văn hóa của chủ hộ là thấp, độ tuổi trung bình lại cao,
với thu nhập chính từ nghề nông, mà số người ăn theo còn nhiều nên các hộ
rất khó thoát nghèo. Trong khi đó số nhà tạm bợ còn nhiều và phương tiện
phòng tránh thiên tai, lũ lụt rất ít, lại ở vùng thấp trũng nên các hộ rất dễ bị
ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt.
4.2 Thiệt hại và nhu cầu của người dân khi thiên tai
4.2.1 Thiệt hại của xã khi thiên tai
4.2.1.1 Thiệt hại của toàn xã
Nghiên cứu về mức độ thiệt hại của xã là cần thiết để có thể hiểu được
những tổn thất chung của xã sau thiên tai. Đồng thời, là cơ sở để đánh giá nhu
cầu và xác định mức cứu trợ phù hợp. Chúng tôi đã tìm hiểu tình hình thiệt
hại của xã sau thiên tai ở một số chỉ tiêu khác nhau và kết quả được thể hiện ở
bảng 3.
18
Bảng 3: Tình hình thiệt hại do lũ lụt của xã Triệu Giang qua các năm
Thứ
tự
Chỉ tiêu Đơn vị tính
Năm
2008 2009 2010
1 Diện tích ngập lụt Ha 529,82 713,86 652,3
3 Thời gian ngập Ngày 1 5 3
4 Thiệt hại về người
- Người bị chết Người 0 0 0
- Người bị thương Người 0 7 0
5 Lương thực, lạc đậu, bị hỏng Tấn 25,6 244,87 67,8
6 Các công trình thủy lợi M
3
0 17633,5 10150,75

7 Các công trình giao thông
-Đường giao thông bị hư hỏng
M - 1195 3500
- Cầu cống bị hư Cái 0 6 1
8 Điện lực
- Dây điện bị đứt Km 0 1,4 0,5
- Cột điện, công tơ bị hỏng Cái 1 113 2
9 Thiệt hại nhà cửa
- Nhà bị sập Cái 0 5 0
- Nhà xiêu, tốc mái Cái 0 5 0
- Nhà bị sói lỡ Cái 0 24 1
- Nhà bị ngập Cái 426 982 679
10 Trường học, trạm y tế Cái 0 2 2
11 Nông nghiệp-lâm nghiệp
- Trồng trọt Ha 25 93,9 39,35
- Chăn nuôi Con 1243 4469 2507
- Lâm nghiệp Ha 10,5 32,2 16,5
10 Thiệt hại đất đai
- Đất ruộng bị bồi lấp Ha 4,4 27,1 8
- Đất bị sạt lỡ M
3
425 20000 1000
11 Công nghiệp, dịch vụ Hộ - 34 8
10 Tổng Triệu đồng 500 24000 2000
(Nguồn: Số liệu thống kê của UBND xã Triệu Giang, 2011)
19
Số liệu ở bảng 3 cho thấy, xã Triệu Giang là một xã thường xuyên bị
ảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt. Phạm vi ảnh hưởng là khá rộng, thiên tai không
chỉ gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng nông thôn như: điện, hệ thống thủy lợi,
đường, trường trạm mà còn ảnh hưởng lớn đến ngành nghề chính trên toàn xã.

Trong 3 năm qua thì năm 2009 là có mức độ thiệt hại lớn nhất. Năm 2008 là
năm chịu ảnh hưởng thiên tai ít nhất, những thiệt hại trong năm này chủ yếu
là thiệt hại trong trồng trọt chăn nuôi, các thiệt hại về dịch vụ, cơ sở hạ tầng là
không nhiều.
Năm 2009, do bão đổ bộ nhanh, nước lũ dâng cao, bờ đê sạt lỡ làm 24
nhà bị sói lỡ móng, gió mạnh cộng nước cao làm 5 nhà bị sập, 5 nhà bị tốc
mái, trên toàn xã có 982 nhà bị ngập lụt. Gây thiệt hại không chỉ trong nhà mà
cả ngoài đồng, bão đã làm 244,87 tấn lương thực bị hư hỏng nặng, 93,9 ha
cây trồng nông nghiệp bị ngập úng, tổng diện tích đất bị sát lỡ lên tới 2000 m
3
(bao gồm sạt lỡ đất ở, đất 2 bên bờ sông, đất canh tác). Ngoài ra, công trình
giao thông, cơ sở hạ tầng cũng bị thiệt hại nghiêm trọng (bảng 3).
Số liệu bảng 3 cũng cho thấy, năm 2010 mức độ thiệt hại là không lớn,
tuy nhiên diện tích ngập lụt trên toàn xã là khá rộng, bị ngập tới 652,3 ha, làm
hoa màu đang canh tác bị hỏng. Thiệt hại về các công trình thủy lợi cũng
không nhỏ lên tới 10150,75 m
3
(bao gồm các khối bê tông và bằng đất của
đập ngăn mặn), đường giao thông thôn bị hỏng tới 3500m, gây khó khăn cho
việc đi lại ở một số điểm trong xã. Năm 2010, không có nhà bị tốc mái ,bị
sập, thời gian ngập lũ cũng ít hơn so với năm 2009, nhưng số nhà ngập lụt
cũng khá nhiều lên tới 679 cái. Trong năm này diện tích đất sạt lỡ lên tới
1000m
3
. Nguyên nhân là do nước chảy mạnh làm sạt lỡ bờ sông. Theo dự
đoán của một số hộ sống ở đây chỉ trong vòng 3-4 năm nữa các hộ sống gần
bờ sông của thôn Trà Liên Đông sẽ mất đất ở.
Thiệt hại về người trong cả 3 năm là không lớn, nặng nhất năm 2009 có
7 người bị thương. Tuy nhiên, sau lũ thì hầu như trong gia đình nào cũng có
người bị bệnh. Mưa lũ kéo dài cũng làm cho các hộ buôn buôn bán, các hộ

làm nghề phụ khác phải nghỉ việc, làm giảm thu nhập của các hộ.
20
Tóm lại, xã Triệu Giang là xã thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên
tai. Thiên tai không chỉ gây ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, nguồn thu
nhập của hộ mà còn làm hư hại cơ sở hạ tầng, các công trình đang xây dựng
trên toàn xã. Tài nguyên đất tại xã rất dễ bị ảnh hưởng dù thiên tai ở mức độ
nhẹ vì xã ở địa bàn quá thấp trũng, lại có sông chảy qua địa phận. Trong
tương lai xã còn chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai nếu không có các biện
pháp ứng phó thích hợp. Để tìm hiếu sâu hơn về tình hình thiệt hại của xã
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tình hình thiệt hại của hộ nhằm đánh giá
toàn diện về những tổn thất do thiên tai gây ra tại địa phương.
4.2.1.2 Thiệt hại của các hộ khảo sát
Xác định thiệt hại ở các hộ khảo sát là rất quan trọng vì đây là cơ sở để
đánh giá nhu cầu của hộ và xác định mức hỗ trợ, đồng thời phản ánh khả năng
ứng phó với thiên tai của các hộ. Thiệt hại của các hộ được khảo sát trên 2
tiêu chí chính: Thiệt hại về đời sống của hộ và thiệt hại trong sản xuất kinh
doanh dịch vụ của hộ.
Các thiệt hại về đời sống của hộ
Triệu Giang là địa phương thường xảy ra lũ lụt ảnh hưởng rất lớn đến
đời sống của hộ. Chúng tôi đã khảo sát tổn thất của hộ trên một số chỉ tiêu
như: lương thực hư hỏng do ngập nước, thiệt hại nhà cửa, đất ở và tình trạng
sức khỏe của hộ sau lũ kết quả được trình bày ở bảng 4.
Kết quả ở bảng 4 cho thấy, năm 2009 các hộ có mức độ thiệt hại lớn
nhất, do có bão lớn kèm theo vỡ đê. Trong năm này về nhà cửa có tới 8 hộ bị
thiệt hại nặng (mức thiệt hại >50%), đa số là nhà bị tốc mái và xói móng. Có
tới 14 hộ bị thiệt hại lương thực thực phẩm (mức thiệt hại >50%) do nước
dâng, chảy mạnh gây ướt và trôi lương thực dự trữ. Thiệt hại về người là
không đáng kể, trung bình có 1-2 người trong gia đình mắc một số bệnh sau
lũ như: tiêu chảy, đau mắt đỏ, cảm cúm, các bệnh này thường kéo dài 1-2 tuần
sau lụt. Kết quả này phù hợp với số liệu thu thập ở xã.

21
Bảng 4: Tình hình thiệt hại về đời sống của hộ qua các năm
n=80 hộ
Chỉ tiêu Mức độ
Năm
2008 2009 2010
Người mắc bệnh do lụt - 83 86 86
Thiệt hại nhà cửa
0% 44 20 35
<10% 33 31 35
10-30% 1 9 4
30-50% 2 12 4
>50% 0 8 0
Đất ở
0% 27 23 26
<10% 48 38 44
10-30% 5 10 6
30-50% 0 5 4
>50% 0 4 0
Tổn thất lương thực
0% 28 12 24
<10% 48 18 39
10-30% 1 19 9
30-50% 3 17 8
>50% 0 14 0
( Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)
Năm 2008 và năm 2010 không có hộ nào bị thiệt hại nặng, đa số các hộ
đều ở mức độ thiệt hại nhẹ dưới 10%. Tuy nhiên, ở một số hộ có mức độ thiệt
hại khá lớn như: năm 2010, có tới 8 hộ thiệt hại 30-50% lương thực thực
phẩm dự trữ; về đất ở có 4 hộ thiệt hại 30-50%, nhà ở cũng có mức thiệt hại

tương đương.
Thiệt hại trong sản xuất - kinh doanh, dịch vụ
Ngoài những tổn thất về đời sống, bão lụt còn gây nhiều thiệt hại cho
hộ trong sản xuất, kinh doanh. Nhằm đánh giá đầy đủ về những thiệt hại của
hộ do bão lụt. Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về những chỉ tiêu này và kết
quả được trình bày ở bảng 5.
22
Bảng 5: Tình hình thiệt hại về sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của hộ
n=80 hộ
Chỉ tiêu Mức độ
Năm
2008 2009 2010
Tổn thất cây trồng
0% 17 16 16
<10% 50 5 34
10-30% 11 9 11
30-50% 2 15 12
>50% 0 35 7
Tổn thất vật nuôi
0% 15 14 14
<10% 58 8 39
10-30% 7 11 11
30-50% 0 5 8
>50% 0 42 8
Buôn bán dịch vụ
0% 78 78 78
<10% 1 0 0
10-30% 1 1 2
30-50% 0 1 0
>50% 0 0 0

Đất nông nghiệp
0% 27 23 24
<10% 44 19 34
10-30% 3 13 7
30-50% 5 15 12
>50% 1 10 3
Khác
0% 74 73 73
<10% 6 5 7
10-30% 0 2 0
30-50% 0 0 0
>50% 0 0 0
( Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)
23
Kết quả ở bảng 5 cho thấy, thiệt hại trong sản xuất kinh, doanh là lớn
hơn so với thiệt hại trong đời sống về cả mức độ và số hộ bị ảnh hưởng. Nhìn
chung, năm nào các hộ cũng bị thiệt hại, nhưng năm 2009 là năm có mức thiệt
hại lớn nhất.
Năm 2008, là năm có mức thiệt hại thấp nhất, các thiệt hại trong năm
này tập trung vào đất đai, cây trồng, hoa màu là chính. Về đất đai chỉ có 6 hộ
bị thiệt (mức thiệt hại >30%). Đối với cây trồng không có hộ nào ở mức thiệt
hại nặng (ở mức >50%), chỉ có 11 hộ thiệt hại (mức thiệt hại 10-30%) cây
trồng đang canh tác. Ngoài ra hoạt động chăn nuôi, buôn bán, các nghề phụ
khác cũng bị ảnh hưởng nhưng rất thấp.
Năm 2009, các thiệt hại chính là cây trồng, vật nuôi, đất nông nghiệp
với mức tổn thất cao ( >50%) với tỷ lệ số hộ lần lượt là 35; 42; 10. Nguyên
nhân do lũ lớn nên cây trồng hoa màu bị ngập úng trên diện rộng, một số cây
ăn quả bị ngã đỗ do bão. Các vật nuôi bị thiệt hại là do nước lũ cuốn trôi, tổn
thất này kéo theo ô nhiễm môi trường nặng do xác vật nuôi bị trôi ngâm nước
trong nhiều ngày làm bốc mùi khó chịu. Đất nông nghiệp trong năm này bị

bồi lấp cát khá nặng trung bình bị lấp từ 40-50cm làm các hộ mất rất nhiều
thời gian để đưa cát ra khỏi ruộng, một số hộ còn phải thuê người để làm.
Năm 2010, các thiệt hại chính của hộ trong sản xuất cũng tương tự năm
2009 với mức tổn thất đến >50% có số hộ tương ứng là 7; 8; 3. Còn các thiệt
hại khác và thiệt hại trong buôn bán dịch vụ có mức độ nhẹ đa số đều ở mức
<10%. Như vậy các hoạt động sản xuất thường phụ thuộc vào điều kiện tự
nhiên và dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai hơn là các hoạt động khác.
Tóm lại, thiên tai lũ lụt đã gây ảnh hưởng lớn cho người dân cả trong
sản xuất và đời sống. Các thiệt hại trong sản xuất tập trung chủ yếu vào trồng
trọt, chăn nuôi, đất canh tác, buôn bán dịch vụ, các thiệt hại khác và có sự
khác biệt về mức độ thiệt hại giữa các năm. Mức độ thiệt hại lớn nhất là chăn
nuôi, tiếp đó là trồng trọt và đến đất nông nghiệp. Các hoạt động sản xuất
thường phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên vàdễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai hơn
các hoạt động sản xuất khác. Do đó việc xác định nhu cầu cứu trợ và mức hỗ
trợ cần chú ý tới đặc điểm này.
24
4.2.2 Nhu cầu người dân khi xảy ra thiên tai
Với mỗi thời điểm thì người dân có các nhu cầu khác nhau, thông
thường người dân có rất nhiều nhu cầu cùng một lúc các tổ chức không thể
đáp ứng nổi, nên việc xác định các nhu cầu thiết yếu nhất là rất quan trọng,
vừa đảm bảo cho việc hỗ trợ hiệu quả mà lại giúp đỡ được cho người dân.
4.2.2.1 Nhu cầu người dân trong khi lũ
Nghiên cứu về nhu cầu của người dân trong lũ là rất cần thiết, nhằm
đảm bảo cho công tác cứu trợ hiệu quả. Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu nhu
cầu của người dân trên các chỉ tiêu khác nhau, kết quả được thể hiện ở biểu
đồ 1 và bảng 9 (phụ lục 3).
Biểu đồ 1: Nhu cầu của các hộ trong khi lũ (% số hộ điều tra, n=80 hộ)
(Nguồn, phỏng vấn hộ,2011)
Số liệu ở biểu đồ 1 cho thấy, nhu cầu quan trọng nhất của hộ trong khi
lũ là hỗ trợ lương thực, chiếm tới 97,5% số hộ khảo sát. Nhu cầu thiết yếu thứ

2 là chỗ trú ẩn có 16,25% số hộ khảo sát, trường hợp này thường rơi vào các
hộ có nhà cửa tạm bợ, ở vùng thấp trũng, gần bờ sông, trong lũ nhu cầu về
nước uống cũng khá cần thiết, thường là do các hộ không có dụng cụ chứa
nước dự trữ, hoặc chủ quan không chuẩn bị,
25

×