Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

Tiểu luận tư tưởng hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (239.34 KB, 23 trang )

Mục lục
Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………………………trang 2
Chương 1……………………………………………………………………………………………………trang 4
Chương 2……………………………………………………………………………………………………trang 5
Chương 3…………………………………………………………………………………………………trang 20
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………………………………trang 22
1
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cách mạng - sáng tạo - đổi mới là giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chi Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta và dân tộc ta mà tầm cao trí tuệ
đã bao trùm trên nhiều lĩnh vực.
Trên cơ sở làm rõ thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong công
cuộc đổi mới đất nước, chúng ta cần có một cái nhìn đúng đắn rằng: Tự đổi mới, tự
chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh để đảm bảo cho
sự thành công của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, Đảng cần phải quan
tâm đặc biệt đến hai khâu then chốt là cần tự đổi mới và chỉnh đốn sớm để làm
chỗ dựa cho các khâu khác là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và
đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, đã vận
dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của các
nước anh em, của bè bạn vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam trong công cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có thể nói đổi mới là
một nội dung xuyên suốt trong sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự nghiệp
cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự nghiệp đầy sáng tạo. Sáng tạo
trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, sáng tạo
trong những công việc ở tầm chiến lược và cả trong mọi hoạt động của đời sống xã
hội
Ngay sau nước nhà giành được độc lập, năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
hết sức quan tâm đến công việc làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội của đất
nước. Người chủ trương thành lập ngay Ban Vận động đời sống mới và phát động
phong trào thực hiện đời sống mới sâu rộng trong quần chúng. Các đồng chí trong


Ban Vận động đời sống mới xin ý kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh về khẩu hiệu thực
hiện đời sống mới, Người nói ngay đó là cần kiệm liêm chính. Người giải thích cần
kiệm liêm chính cũng cần thiết như hàng ngày ta ăn cơm và hít thở không khí, phải
luôn luôn mới mẻ. Ngay sau khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân
Pháp bùng nổ trong phạm vi cả nước, Người đã viết cuốn sách nhỏ nhan đề Đời
sống mới, ký bút danh Tân Sinh, có nghĩa là “đời sống mới”. Cuốn sách được viết
dưới dạng hỏi đáp để quần chúng dễ hiểu. Người chỉ rõ: Trong kháng chiến cứu
quốc và đồng thời kiến quốc, thực hành đời sống mới là một điều cần kíp. Thực
hành đời sống mới là cần kiệm liêm chính để làm cho đời sống của dân ta, vật chất
được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới.
Ngày nay, đó cũng là mục đích của công cuộc đổi mới đất nước.
2
Bản Di chúc được Người soạn thảo, bổ sung, sửa chữa và hoàn thành trong 4
năm cuối đời. Đó là những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước. Điều lớn lao và vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chính trong thời điểm
còn đầy những thử thách, hy sinh đối với cả dân tộc ta như vậy, Người đã chỉ ra
những định hướng quan trọng mà toàn Đảng toàn dân ta phải làm ngay sau khi
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi. Người nói về kế
hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến
tranh; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; phát triển công tác vệ sinh, y tế;
sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; củng cố
quốc phòng; chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc.
Đây là một trong những đề tài quan trọng nhất trong hệ thống nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đề tài chỉnh đốn và đổi mới Đảng có vai trò quyết định trong
sự phát triển bền vững về đường lối lãnh đạo của Đảng. Nghiên cứu sâu vấn đề này
trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ giúp Đảng dần hoàn thiện về cương lĩnh thể
chế lãnh đạo, giúp đưa đất nước ta trở thành nước dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
3
CHƯƠNG MỘT

NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Một là: Đảng Cộng Sản Việt Nam là nhân tố cơ bản hàng đầu đưa cách
mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
- Hồ Chí Minh khẳng định sự cần thiết phải có đảng cách mạng.
- Làm rõ cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhưng quần chúng phải có giai
cấp lãnh đạo.
- Đầu thế kỷ XX trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã có các phong trào
yêu nước, các tổ chức chính trị, các đảng lãnh đạo phong trào nhưng lần lượt thất
bại.
- Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời 3-2-1930 với đường lối đúng
- Luận điểm này của Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Hai là: Đảng Cộng Sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp của chủ
nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam.
- Làm rõ các yếu tố ra đời Đảng Cộng Sản của Lênin.
- Hồ Chí Minh vận dụng quy luật ra đời Đảng vô sản của Lênin để lập ra Đảng
Cộng Sản Việt Nam.
+ Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin
+ Phong trào công nhân
+ Phong trào yêu nước Việt Nam
+ Yêu nước có vị trí to lớn trong lịch sử
+ Phong trào công nhân kết hợp với phong trào yêu nước mục tiêu chung
+ Yêu nước có trong tất cả các giai cấp tầng lớp
+ Nói đến yêu nước nói đến tầng lớp trí thức đây là lực lượng ra đời Đảng Công
Sản
Ba là: Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của
nhân dân lao động và đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về luận điểm này được thể hiện ở Đại Hội II (2-1951)

- Luận điểm này của Hồ Chí Minh giúp cho Đảng Cộng Sản Việt Nam xây dựng
mối quan hệ máu thịt
- Luận điểm này của Hồ Chí Minh tạo cho Đảng ta có nền tảng sâu rộng trong
quần chúng nhân dân
- Luận điểm này của Hồ Chí Minh thể hiện mục tiêu cao nhất của Đảng ta là phục
vụ cho lợi ích của dân tộc
Bốn là: Đảng Cộng Sản Việt Nam phải lấy chủ nghĩa Mac – Lê Nin “làm
cột”
4
- Vì sao phải lấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin làm cốt: Hồ Chí Minh khẳng đinh: “Bây
giờ học thuyết nhiều ”
- Chủ nghĩa Mác – Lê Nin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trang bị cho giai
câp công nhân về giải phóng giai cấp công nhân,nhân dân lao động, các dân tộc
thuộc địa.
- Lấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin làm cốt không có nghĩa là giáo điều nắm phương
pháp
- Trong tình hình hiện nay lấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin làm cốt phải phát
triển làm cho học thuyết này trường tồn mãi mãi
Năm là: Đảng Cộng Sản Việt Nam phải được xây dựng theo nguyên tắc
đảng kiểu mới của giai cấp vô sản (có 5 nguyên tắc)
- Tập trung dân chủ
- Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
- Tự phê bình và phê bình
- Kỷ luật nghiêm tự giác
- Đoàn kết thống nhất trong Đảng
Sáu là: Tăng cường củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân
- Làm rõ: Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ
trung thành của nhân dân
- Những yêu cầu để xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân
+ Thường xuên lắng nghe ý kiến của nhân dân

+ Vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng bằng cách thực hiện tốt mọi chủ
trương chính sách của Đảng
+ Đảng có trách nhiệm nâng cao dân trí
+ Trong quan hệ với dân Đảng không được theo đuôi quần chúng
Bảy là: Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đôn.
- Trong Di chúc trước khi qua đời Hồ Chí Minh đã căn dặn sự cần thiết phải
- Để hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng trong từng giai đoạn Hồ Chí Minh đã
quan tâm chỉ đạo đổi mới chỉnh đốn Đảng
- Đổi mới chỉnh đốn sẽ đẩy lùi, ngăn chặn, tẩy trừ mọi tệ nạn trong đảng
- Đổi mới chỉnh đốn Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng .
5
CHƯƠNG HAI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG VÀ CHỈNH
ĐỐN ĐẢNG – NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỜI ĐẠI MỚI
Từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa
Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới - con đường giải phóng
dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Bằng những hoạt động thực tiễn của mình,
Hồ Chí Minh đã bền bỉ, dẻo dai và kiên nhẫn trong việc tìm kiếm con đường, biện
pháp để thực hiện mục tiêu "độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi".
2.1 . XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH VỮNG MẠNH LÀ TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN). Suốt cả cuộc đời của mình, Hồ Chí Minh luôn luôn kiên định quan
điểm và lập trường xây dựng ĐCSVN theo chủ nghĩa Mác - Lênin và rèn luyện
ĐCSVN theo hướng đó. Đó là "Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
nghĩa là những thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái
nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân".
Vì vậy muốn xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, theo Người, trước tiên
là phải tuân thủ theo các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Đó là nguyên tắc
tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh lý giải vấn đề tập trung trong Đảng là : Thiểu số

phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, tất cả đảng viên phải chấp hành
vô điều kiện Nghị quyết của Đảng. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải chú
ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Người nói : “ Phải thật sự mở rộng dân
chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình ".
Ở Hồ Chí Minh, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng là sự thống nhất biện
chứng giữa dân chủ và tập trung, tập trung phải trên cơ sở dân chủ và dân chủ phải
dưới sự chỉ đạo của tập trung. Có dân chủ trong Đảng mới có dân chủ ở ngoài xã
hội song dân chủ không phải là vô chính phủ.
Về "nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, theo quan điểm của
Người, chỉ có tập thể lãnh đạo mới huy động được tất cả trí tuệ của đội tiên phong
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc, vì " một người dù
khôn ngoan tài giỏi đến mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng chỉ trông thấy,
xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét
tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy cần phải có nhiều người, nhiều người thì
6
nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác
của vấn đề đó, góp kinh nghiệm và xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được
thấy rõ khắp mọi mặt và có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề mới giải quyết chu đáo
khỏi sai lầm”. Nhưng theo Người, “ tập thể lãnh đạo" mới chỉ là một vế. Người cho
rằng : " Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau".
Bởi lẽ " Nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh ra cái tệ người này uỷ cho
người kia, người kia uỷ cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì
việc gì cũng không xong. Tục ngữ có câu " Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa" là
như thế".
Về nguyên tắc tự phê bình và phê bình, theo Hồ Chí Minh đây là vũ khí sắc
bén nhất để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh và là quy luật phát triển của
Đảng. Người nhận thức sâu sắc rằng, tuy Đảng ta gồm những người có tài, có đức,
phần đông là những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất ,
nhưng " không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”, do vậy trong Đảng
phải luôn luôn tự phê bình và phê bình, mà phê bình và tự phê bình " phải ráo riết",

" triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt". Cách phê bình cũng phải
thành thật, giàu lòng nhân ái, khách quan. Thái độ phê bình phải có văn hoá, mang
tính chất xây dựng chứ không phải nói xấu nhau. Những người bị phê bình thì phải
vui vẻ nhìn nhận để sửa chữa. Được như vậy thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà
Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.
Thứ hai là tư cách đảng viên và vấn đề cán bộ. Vấn đề tư cách của người
đảng viên, Hồ Chí Minh đề cập thường xuyên trên tất cả các mặt, nhưng bao giờ
Người cũng coi đạo đức là gốc của người cộng sản: Đạo đức đó không phải là đạo
đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá
nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người". Có thể nói cả
cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về phấn đấu, rèn luyện cho đạo đức
của người cộng sản - Đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Nhân, nghĩa, trí,
dũng, liêm mà bất cứ một người đảng viên nào cũng phải phấn đấu học tập và noi
theo.
Còn về vấn đề cán bộ, Hồ Chí Minh coi “ cán bộ là cái gốc của mọi công
việc", " muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Yêu cầu
của Hồ Chí Minh đối với cán bộ cách mạng là : Có đạo đức cách mạng - Đây là
yêu cầu đầu tiên cần phải có của người cán bộ; Có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực
hiện đường lối chủ trương của Đảng, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi;
Có mối liên hệ mật thiết với nhân dân; Luôn luôn học hỏi lý luận Mác - Lênin, học
tập nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật. Phải có phong cách công tác tốt, chống
bệnh chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái
7
Đồng thời với những quan điểm về cán bộ, Hồ Chí Minh cũng nêu ra những
yêu cầu đối với công tác cán bộ. Đó là phải " hiểu và đánh giá đúng cán bộ". Muốn
vậy phải có những chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng
lĩnh vực, hoàn toàn công minh, khách quan; Phải " khéo dùng cán bộ", tức là đặt
người đúng việc, kết hợp cán bộ trẻ với cán bộ già; Chống chủ nghĩa biệt phái, địa
phương cục bộ trong chính sách cán bộ, tránh đầu óc phe phái họ hàng; Phải "
chiêu hiền đãi sĩ", " cầu người hiền tài", " có gan cất nhắc cán bộ". Xem xét kỹ

trước khi cất nhắc cán bộ, nhưng sau khi đề bạt cần phải kiểm tra giúp đỡ.
Thứ ba là tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Hồ Chí Minh
nhấn mạnh, sức mạnh của Đảng chính là bắt nguồn từ mối liên hệ máu thịt giữa
Đảng và nhân dân. Đảng ở trong dân, dân trong Đảng. Sự nghiệp cách mạng là của
dân, do dân và vì dân. Mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đều bắt nguồn từ
sức mạnh của nhân dân được Đảng dẫn lối chỉ đường. Đảng là người đại diện trung
thành và đầy đủ nhất lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của nhân dân.
Đảng lấy phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân làm mục đích cao nhất của mình.
Hồ Chí Minh cũng là người đã sáng lập và rèn luyện Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh. Đặc biệt Người luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng Đoàn, coi đó là một yếu
tố khách quan, một bộ phận quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng.
Người căn dặn: “ Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan
trọng và rất cần thiết". Chính vì vậy, "Đảng ta luôn coi trọng công tác thanh niên
và vấn đề thanh niên, xác định chăm lo xây dựng tổ chức Đoàn là làm trước một
bước việc xây dựng Đảng” như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh trong
bài phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII; Nghị quyết 04 về công tác
thanh niên của BCH T.Ư Đảng ( khoá VII) cũng đã thể hiện rõ quan điểm của
Đảng về việc lãnh đạo công tác thanh niên và vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh trong công tác xây dựng Đảng. Rõ ràng Đoàn tham gia công tác xây dựng
Đảng là tất yếu khách quan. Vậy để góp phần tham gia xây dựng ĐCSVN trong
sạch vững mạnh trong giai đoạn cách mạng hiện nay, theo tôi Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh phải làm tốt mấy nhiệm vụ sau :
- Tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Tuyên
truyền nâng cao nhận thức cho TN và nhân dân về Đảng, tích cực tham gia chống
lại những tư tưởng phản động, góp phần xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng.
- Xung kích đi đầu thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng; Tổ
chức tốt các phong trào hành động cách mạng, tạo ra môi trường tiên tiến cho TN
rèn luyện, phấn đấu trở thành đoàn viên và đảng viên ĐCSVN. Đoàn là nguồn trực
tiếp tham gia công tác phát triển đảng, giới thiệu đoàn viên ưu tú, giáo dục và rèn
8

luyện đảng viên trẻ, cung cấp cán bộ cho Đảng, góp phần xây dựng Đảng về tổ
chức.
- Đoàn có trách nhiệm tham mưu cho Đảng về công tác TN, đồng thời tham
gia góp ý, xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, góp ý phê bình đảng viên và
cấp uỷ Đảng
Có như vậy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh mới "tiếp tục khẳng định vai trò hạt
nhân chính trị, nòng cốt trong phong trào TN, xứng đáng là trường học của những
người cộng sản trẻ tuổi, đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam” như mong
muốn của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh.
2.2. NỘI DUNG ĐỔI MỚI VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH.
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác Hồ đã dặn lại toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân ta những công việc phải làm khi Tổ quốc đã thống nhất, trong đó có
nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Bác viết: ''Công việc trên đây là rất to lớn,
nặng nề và phức tạp, và cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại
những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn''. Người còn
chỉ rõ: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi
đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó
cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc
to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.
2.2.1.Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và chỉnh đốn Đảng.
Đó là nội dung cơ bản của cả một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Bằng thiên tài trí tuệ và khả năng dự báo chiến lược, Người đã cho thấy
những khó khăn, phức tạp, gian khổ của công cuộc xây dựng đất nước sau chiến
tranh và cảnh báo những khả năng mắc phải như bị động, thiếu xót và sai lầm. Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, và
cũng là rất vẻ vang. Đây là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư
hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến
đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn
dân" . Người chỉ rõ “tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi” là một công việc cực kỳ to

lớn, phức tạp và khó khăn nên phải có kế hoạch rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị
động, thiếu sót và sai lầm mà việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng,
làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ
9
đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Có thể nói tư tưởng
đổi mới trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng, là chỉnh đốn Đảng.
Mục đích của công việc chỉnh đốn Đảng là để làm tốt hơn nhiệm vụ lãnh đạo
của Đảng. Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng là một việc phải làm thường
xuyên, liên tục đối với một chính đảng cầm quyền, nhất là trước những vận hội,
thời cơ và cả những thử thách, nguy cơ hay trước những bước ngoặt quan trọng
của phong trào cách mạng, những cột mốc của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã vận dụng sáng tạo
những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của các nước anh em,
của bè bạn quốc tế vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam trong cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hơn thế nữa, Đảng ta cũng
luôn sáng tạo từ chính bản thân mình để phát triển hoàn thiện đường lối cách
mạng. Sáng tạo từ chính bản thân mình đó là tự đổi mới Và quá trình tự đổi mới
cũng chính là quá trình tự chỉnh đốn Đảng. Đảng ta là Đảng cầm quyền nên tự đổi
mới và tự chỉnh đốn luôn luôn là một yêu cầu sống còn. Đảng cầm quyền mà
không tự đổi mới và tự chỉnh đốn sẽ dễ trì trệ và mắc sai lầm. Trong bài: Đồng chí
Lê Duẩn - người cộng sản trung kiên, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt
Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Sau khi kháng chiến thắng lợi đã không
kịp thời chỉnh đốn Đảng, thực hiện dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh tự phê bình và
phê bình, giữ gìn đoàn kết, bồi dưỡng đạo đức cách mạng như Di chúc Bác Hồ đã
dặn". Phải chăng đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến những sai lầm về
chủ quan, duy ý chí và sự khủng hoảng kinh tế - xã hội? Là người sáng lập, lãnh
đạo và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến nhiệm vụ
đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng. Trong năm 1947, giữa khói lửa ác liệt của
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm

việc, ký bút danh X. Y Z., Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc phê bình thái độ
trì trệ, bảo thủ và chỉ rõ trong mọi công việc phải luôn luôn tìm ra những sáng kiến,
“chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”.
Chủ trương, đường lối của Đảng phải được kiểm nghiệm qua thực tiễn phong
trào cách mạng của quần chúng. Những cái đúng cần được phát huy, nếu sai phải
sửa chữa kịp thời.
Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng phải bao gồm cả những công việc ở tầm vĩ
mô như lãnh đạo hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cho
đến những công việc cụ thể trong cuộc sống hàng ngày. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng là phải lo những việc to lớn nh đổi nền kinh tế đến tương
cà mắm muối của dân. Tự đổi mới sự lãnh đạo và tự chỉnh đốn Đảng là để xây
10
dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Toàn Đảng, toàn dân ta đang ra
sức xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là nhiệm vụ vô cùng khó
khăn và phức tạp. Trong bài giảng tại Trường Công an trung ương, tháng 12-1958,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đánh đổ giai cấp địch đã khó, đấu tranh xây dựng chủ
nghĩa xã hội còn gian khổ, khó khăn hơn nhiều. Chính vì vậy mà trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng càng phải trong sạch, vững mạnh hơn bao giờ
hết.
Hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có dịp kiểm nghiệm, bổ
sung và phát triển qua các kỳ Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX
(2001), Đại hội X (2006) và các kỳ họp hội nghị Trung ương. Sau khi đánh giá
khái quát những thành tựu về công tác xây dựng Đảng, chỉ rõ những khuyết điểm
cần khắc phục, Đại hội VIII (1996) của Đảng xác định: “Đảng ta phải luôn tự đổi
mới và chỉnh đốn”. Đại hội đã đề ra hai nhiệm vụ quan trọng: xây dựng Đảng là
then chốt, xây dựng kinh tế là trung tâm.
Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc
của Người để xây dựng Đảng trong sạch, mạnh mẽ đang là một yêu cầu bức xúc
của toàn Đảng, toàn dân ta. Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng quyết
định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu hình ảnh tổ

chức Đảng như cỗ máy phát điện làm ra ánh sáng và năng lượng để vận hành mọi
công việc của đất nước. Người đã dày công chuẩn bị cho công việc thành lập Đảng
ta về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền
móng cho công tác chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức.
Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng về tư tưởng là làm cho hệ thống lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta; giữ vững
và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Muốn làm được điều đó,
trước hết phải tổ chức học tập lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối chính sách của Đảng một cách hệ thống và có hiệu quả thiết
thực. Trong bài giảng tại lớp huấn luyện đảng viên mới của Thành uỷ Hà Nội ngày
14 - 5 - 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải
mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt. Muốn
xây dựng chi bộ “bốn tốt” thì phải bồi dưỡng lập trường vô sản cho đảng viên.
Muốn có lập trường vô sản vững chắc, thì đảng viên phải có ý thức giai cấp, đồng
thời phải có lý luận cách mạng. Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì
không thể có lập trường giai cấp vững vàng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải chịu
khó học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng
thời phải học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ.
11
Học tập lý luận cũng phải theo tinh thần đổi mới, trước hết là phải nhận thức
đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin trên mọi phương diện. Học tập tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối chính sách của Đảng là phải tạo nên sức mạnh vật chất, từ tổng
kết thực tiễn, khái quát thành những vấn đề lý luận để đưa cuộc sống vào nghị
quyết.
Hơn 20 năm thực hiện đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng, chúng ta đã đạt
được những thành tựu quan trọng, nhưng cũng bộc lộ những mặt yếu kém, khuyết
điểm cần sửa chữa, khắc phục. Bằng thái độ khách quan và dũng cảm, Đại hội IX
của Đảng đã tiếp tục nhìn thẳng vào sự thật đau lòng đó: “Điều cần nhấn mạnh là:
tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của

một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân
dân” . Vì vậy, trong điều kiện cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, mở cửa
và hội nhập kinh tế quốc tế về kinh tế, văn hoá, giáo dục… , công tác chỉnh đốn
Đảng phải gắn với việc thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và xây
dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một luận
điểm mà nó đã trở thành châm ngôn về xây dựng chủ nghĩa xã hội: Muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Cùng với việc mở
rộng cuộc vận động người tốt việc tốt, chúng ta phải coi đó là tiêu chí rèn luyện,
phấn đấu để cán bộ, đảng viên phải là những con người xã hội chủ nghĩa. Làm theo
lời dạy của Người là phương pháp học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập Di chúc
của Người thiết thực nhất, hiệu quả nhất. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin.
Nhưng việc học tập phải đem lại những kết quả thiết thực. Những vấn đề lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin phải đi vào cuộc sống và trở thành sức mạnh vật chất.
Đồng chí Vũ Kỳ kể lại: "Ngày 14 - 5 - 1966, vào lúc 8 giờ, Bác đến nói chuyện với
lớp huấn luyện đảng viên mới do Thành uỷ Hà Nội tổ chức tại trường Chu Văn An.
Là người sáng lập Đảng, tự tay vun trồng những mần non của Đảng ngay từ những
ngày đầu tiên, mỗi lần được gặp các thế hệ đảng viên mới, Bác cũng rất vui, cảm
thấy như mình được trẻ lại. Trong buổi gặp mặt hôm ấy, sau khi nói xong bài nói
đã chuẩn bị sẵn, Bác nói thêm một câu thật thấm thía: Con người ta trước hết phải
có đạo đức, sống với nhau phải có tình, có nghĩa. Nếu đọc bao nhiêu sách chủ
nghĩa Mác - Lênin mà sống với nhau không có tình, có nghĩa thì chỉ là giáo điều,
sách vở". Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập Di chúc của Người cũng như
vậy. Nghiên cứu nhiều về tư tưởng Hồ Chí Minh, viết nhiều về tư tưởng Hồ Chí
Minh, nói nhiều về tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng không làm theo lời Người dạy thì
cũng cả có ý nghĩa gì. Có lẽ cán bộ, đảng viên chúng ta ai cũng nhớ lời dạy của
Người là “các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của
dân”; “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là
12

người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Nhưng làm được như vậy thì thật là
vô cùng khó khăn.
Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng về chính trị là kiên định con đường mà
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn, giữ vững mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm
kỳ (khoá VII), năm 1994, đã chỉ rõ những nguy cơ mà Đảng và nhân dân ta phải
phấn đấu vượt qua, trong đó có nguy cơ chệch hướng và diễn biến hoà bình. Trong
những bài học kinh nghiệm mà Đại hội VIII đã tổng kết sau 10 năm đổi mới, bài
học về giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đưa lên hàng
đầu. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt trong lịch
sử lãnh đạo cách mạng của Đảng. Nhưng do đặc điểm và xu thế của thời đại nên
ngày nay phải nhận thức cho đúng và đầy đủ về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội. Chúng ta không chỉ phấn đấu cho nền độc lập về lãnh thổ mà còn độc lập về
chính trị, kinh tế, ngoại giao, an ninh - quốc phòng. Đó chính là độc lập toàn diện
và đầy đủ. Chỉnh đốn Đảng trong điều kiện cơ chế thị trường, lấy hiệu quả công
việc làm thước đo sự tiến bộ của trật tự xã hội là phải nhận nhận thức đúng về mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng là dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng về tổ chức là tăng cường sức chiến đấu
của Đảng từ trung ương đến cơ sở. Trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã
có những bước trưởng thành quan trọng về bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo,
nhưng về tổ chức vẫn còn nhiều khuyết điểm, hạn chế. Đại hội X của Đảng nhận
định: “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong
các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được sự
chuyển biến cơ bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng,
lãng phí, quan liêu” . Đại hội tiếp tục xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then
chốt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có hiệu quả thiết thực nhất là phải dựa
vào quần chúng. Đảng ra đời trong phong trào cách mạng của quần chúng và ngày
càng trưởng thành cũng qua quá trình lãnh đạo phong trào quần chúng. Nét đặc sắc

trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là dựa
vào mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân.
Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đang là một nhu cầu bức xúc của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới, trước hết là đổi
13
mới sự lãnh đạo của Đảng trong bản Di chúc lịch sử của Người luôn luôn là một di
sản vô giá.
2.2.2.Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và chỉnh đốn
Đảng.
2.2.2.1/ Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành tổ chức cách mạng
chân chính - đại biểu cho lợi ích giai cấp, nhân dân và dân tộc.
Vận dụng một cách sáng tạo và thành công những luận điểm của học thuyết
Mác-Lênin về Đảng Cộng sản vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh
nhận thức sâu sắc rằng: Mục đích trước mắt của những người cộng sản là tổ chức
những người vô sản thành giai cấp, và “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải
giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc”. Vì vậy, trong
quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính
đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, từ năm 1927, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cách
mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng
(công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền” và “Đảng có vững cách mệnh mới
thành công”.
Đầu năm 1930, như một tất yếu khách quan của lịch sử, đáp ứng khát vọng của
phong trào cách mạng cả nước về sự cần thiết phải có “Đảng cách mạng, để trong
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và
vô sản giai cấp mọi nơi”, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Xây dựng một Đảng
cách mạng chân chính với sứ mệnh lịch sử như vậy, Hồ Chí Minh đã tiên lượng và
chuẩn bị chu đáo để Đảng ta trở thành một Đảng cầm quyền. Sau đó, để thực hiện
được nhiệm vụ và mục tiêu đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,

kiên định con đường đã lựa chọn: Độc lập dân tộc và CNXH.
Cùng với việc giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền,
trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong điều kiện có chính quyền. Trong điều kiện lịch
sử mới, Đảng vẫn luôn là đội tiền phong của giai cấp công nhân, tiêu biểu cho trí
tuệ, đạo đức, danh dự và lương tâm của cả dân tộc. Không thay đổi bản chất của
Đảng, không thay đổi mục đích, lý tưởng của mình là: giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp và giải phóng nhân loại, song đã có sự thay đổi căn bản về điều
kiện và phương thức hoạt động của Đảng. Trước những thử thách mới, với vị thế
và quyền lực mới, Đảng cũng đồng thời đứng trước vấn đề mới, đó là làm thế nào
14
để quyền lực cùng những đặc quyền không làm tha hoá Đảng, không làm biến chất
đảng viên.
Hồ Chí Minh đã hơn một lần khẳng định rằng, Đảng không phải là một tổ
chức để làm quan phát tài. Những người cộng sản Việt Nam không một chút nào
được quên lý tưởng cao cả của mình là; hết lòng, hết sức phấn đấu cho Tổ quốc
hoàn toàn độc lập, cho CNXH hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế
giới. Do vậy, hơn bao giờ hết Đảng cầm quyền càng phải phấn đấu, rèn luyện để
trở thành một Đảng thật trong sạch vững mạnh, phải xây dựng Đảng trên cơ sở
“lấy dân làm gốc”. Nhận thức được vị trí và vai trò của Đảng đối với vận mệnh của
dân tộc, để Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy
tớ trung thành của nhân dân.
2.2.2.2/ Thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng luôn trong
sạch vững mạnh, luôn là bộ chỉ huy tối cao của toàn dân tộc.
Sau thành công của cách mạng tháng Tám, Đảng Cộng sản từ hoạt động bất
hợp pháp chuyển sang hoạt động hợp pháp. Nhiều cán bộ, đảng viên nắm giữ
những cương vị chủ chốt trong các cơ quan công quyền của Đảng và Nhà nước.
Tâm lý thời bình và vị thế mới đã khiến một số “cán bộ ta lập trường chưa vững
chắc, tư tưởng chưa thông suốt. Do đó mà mắc nhiều khuyết điểm, mắc nhiều
bệnh. Đó là chủ nghĩa cá nhân, là đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên
trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh nêu rõ,

phải chỉnh huấn, phải chỉnh đốn lại nội bộ Đảng. Phải thông qua chỉnh đốn Đảng
để tăng cường xây dựng Đảng, để cán bộ ngoài.
a/ Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng trong điều kiện
mới.
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tổng kết thực tiễn,
bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra.
Nâng cao trình độ trí tuệ, chất lượng nghiên cứu lý luận của Đảng; tiếp tục làm
sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của
nước ta; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối, chính sách của Đảng trong
thời kỳ mới. Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng,
15
trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội
dung, phương pháp học tập và giảng dạy trong hệ thống trường chính trị, nâng cao
tính thiết thực và hiệu quả của chương trình.
Củng cố, nâng cao chất lượng các cơ quan chuyên ngành về công tác tư tưởng,
lý luận. Tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận, nhất là
cán bộ chủ chốt. Tiến hành đồng bộ công tác tư tưởng, công tác lý luận, gắn các
công tác này với công tác tổ chức - cán bộ, với phát triển kinh tế, giải quyết hài hòa
các lợi ích. Gắn “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính. Đặc biệt quan tâm chống
sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của
Đảng; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch.
b/ Bảo đảm vai trò nền tảng và hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở Đảng,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Đảng viên.
Mỗi tổ chức cơ sở Đảng có trách nhiệm tổ chức và qui tụ sức mạnh của toàn
đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; làm tốt công tác giáo dục chính
trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên về năng lực hoàn thành nhiệm vụ và
phẩm chất, đạo đức, lối sống; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu

hiện tiêu cực trong Đảng.
Kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở Đảng. Xác định vị thế pháp lý, thể chế hóa về
mặt nhà nước vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các loại hình cơ sở, đặc biệt là tổ
chức cơ sở Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Chú ý xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, vùng sâu, vùng xa; tập trung giải quyết cơ sở yếu kém.
Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo
đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên
định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng,
vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; năng động, sáng tạo, góp phần tích cực
vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc VN xã hội chủ nghĩa.
Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về qui mô phải gương mẫu chấp
hành điều lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và qui định cụ thể của Ban
chấp hành trung ương.
16
Phân công đảng viên đúng người, đúng việc, tạo điều kiện để đảng viên hoàn
thành nhiệm vụ. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng theo
đúng qui định của điều lệ Đảng.
Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với việc nâng cao chất lượng tổ
chức cơ sở Đảng. Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng gắn với bảo đảm chất lượng.
Chú trọng trẻ hóa và nâng cao trình độ của đảng viên; lấy đạo đức làm gốc, đồng
thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo,
người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao.
Thường xuyên sàng lọc đảng viên. Động viên quần chúng giám sát, đóng góp ý
kiến về đảng viên, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách.
c/ Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; thắt
chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và
hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.
Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật trong Đảng. Mọi cán bộ, đảng

viên có quyền bàn bạc, tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông
tin, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi đã thành nghị
quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết của Đảng.
Các cấp lãnh đạo, cán bộ lãnh đạo phải thật sự lắng nghe ý kiến của cấp dưới,
của đảng viên và nhân dân. Xây dựng qui chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm
phát huy trí tuệ tập thể; có cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến đối với những quyết
định lớn, tham gia giám sát Đảng, tham gia các công việc của Đảng; khắc phục lối
làm việc quan liêu, xa dân.
Hoàn thiện qui chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân,
của tổ chức đối với tổ chức, của cá nhân đối với cá nhân và tổ chức, kể cả đối với
người lãnh đạo chủ chốt và tổ chức cấp trên. Kết hợp giám sát trong Đảng với
giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân.
Xây dựng qui chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương,
chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công
tác tổ chức và cán bộ.
Đổi mới phương pháp kiểm tra và bổ sung chức năng giám sát cho ủy ban kiểm
tra đảng các cấp. Tăng cường công tác kiểm tra phòng ngừa. Xây dựng qui chế
phối hợp công tác giữa Ủy ban Kiểm tra của Đảng với Thanh tra của Chính phủ.
17
d/ Đổi mới công tác cán bộ.
Cán bộ phải là người có đức, có tài, có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung
thành với Tổ quốc, với Đảng; hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân
tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội; không dao động trước mọi biến cố phức tạp, có đủ năng lực thực hiện
thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có nhân cách
và lối sống mẫu mực, trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể,
gắn bó với nhân dân.
Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, có chất lượng tốt, xây
dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng. Chú ý đào tạo cán bộ nữ, cán bộ

các dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực;
bồi dưỡng nhân tài theo định hướng qui hoạch. Đặc biệt quan tâm xây dựng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao.
Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ thật sự dân chủ, khoa học, công minh. Xây
dựng và hoàn thiện chế độ bầu cử, cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ; mở
rộng quyền đề cử và tự ứng cử, giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn.
Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng,
trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài; thay thế những người kém
năng lực, không đủ uy tín, nhất là những người kém phẩm chất, hư hỏng, có khuyết
điểm nghiêm trọng.
Kiên quyết khắc phục những biểu hiện cá nhân, độc đoán, thiếu công tâm và
khách quan, cũng như tình trạng nể nang, tùy tiện, trì trệ trong công tác cán bộ.
Cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ
và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy vai trò, quyền hạn và trách nhiệm
của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị. Tổ chức Đảng có thẩm quyền
phải chủ trì công tác cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định
đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính
trị, tổ chức cơ quan, đơn vị công tác của cán bộ. Qui định trách nhiệm của cơ quan
tham mưu trong công tác cán bộ. Có cơ chế để đảng viên và nhân dân giám sát cán
bộ và công tác cán bộ.
e/ Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của
Đảng.
18
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng
phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế; thực hiện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.
Khâu mấu chốt cần tập trung hiện nay là đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước ở cấp trung ương và chính quyền ở cấp địa phương. Đảng
lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết, quyết định, nguyên
tắc giải quyết những vấn đề trọng đại về quốc kế dân sinh; lãnh đạo thể chế hóa, cụ

thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng thành hiến
pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; xây dựng
Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bố trí
đúng cán bộ ngang tầm nhiệm vụ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
Đảng không buông lỏng lãnh đạo, đồng thời không bao biện, làm thay Nhà
nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong
quản lý đất nước và xã hội.
Khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản qui định cụ thể
về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh
vực : lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước.
Lãnh đạo việc cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả
các nghị quyết của Đảng. Ra nghị quyết đi liền với đề ra các kế hoạch thực hiện
nghị quyết.
Sớm xây dựng qui chế về sự phối hợp giữa kiểm tra của Đảng với Thanh tra của
Chính phủ, kịp thời kết luận các vụ vi phạm, xử lý đúng người, đúng tội, đúng điều
lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Xây dựng qui chế phối hợp công tác giữa các ban tham mưu của cấp ủy đảng và
cơ quan chính quyền tương ứng cùng cấp, nhất là giữa Văn phòng Trung ương
Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước;
giữa văn phòng cấp ủy và văn phòng hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân, giúp Mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương
hướng phát triển và nội dung hoạt động trong từng thời kỳ; đồng thời phát huy tinh
thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận và các đoàn thể trong xây dựng, đổi mới tổ chức
và hoạt động của mình.
19
Thống nhất việc lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ trong cả hệ thống
chính trị, thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ về
cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà
nước. Cơ quan nào vi phạm chính sách, pháp luật, để xảy ra tình trạng tiêu cực,

mất đoàn kết nội bộ thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm.
Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn với đổi mới phong cách hoạt động, lề lối
làm việc thật sự dân chủ, thiết thực, nói đi đôi với làm, khắc phục bệnh quan liêu,
tùy tiện, chủ quan, hình thức.
20
CHƯƠNG BA
TỔNG KẾT
Hồ Chí Minh là người sáng lập,đồng thời là người giáo dục và rèn luyện Đảng
Cộng sản Việt Nam trong gần 40 năm.Từ nhu cầu giải phóng dân tộc theo con
đường cách mạng vô sản,vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-
LêNin,Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ giữa nhận thức lí luận và hoạt động, tổng
kết thực tiễn, xác lập trên một hệ thống các quan điểm, tư tưởng về Đảng Cộng sản
và xây dựng Đảng Cộng sản trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến,
kinh tế nông nghiệp lạc hậu với các đặc điểm văn hóa truyền thống phương Đông.
Những quan điểm, tư tưởng đó bao gồm các vấn đề có tính quy luật có liên quan
đến sự hình thành, vị trí, vai trò, bản chất của Đảng Cộng sản và những vấn đề có
tính nguyên tắc liên quan tới công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong
sạch ,vững mạnh, nhất là trong điều kiện Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Trong
hệ thống các quan điểm đó, Hồ Chí Minh có những phát kiến đặc biệt sáng tạo,
phản ánh các mối quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quy
luật hình thành Đảng vô sản kiểu mới trong điều kiện từng nước,quan điểm về sự
thống nhất biện chứng giữa bản chất giai cấp công nhân với tính dân tộc và tính
nhân dân của Đảng, quan niệm về Đảng Cộng sản cầm quyền và các yếu tố bảo
đảm vai trò cầm quyền của Đảng. Những quan điểm này thật sự là sáng tạo riêng
của Hồ Chí Minh,góp phần cụ thể hóa và phát triển lý luận Mác-Lênin về Đảng
Cộng sản.Trong giai đoạn cách mạng mới,đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh, dân tộc ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận
hội, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Vai trò lãnh đạo của Đảng càng
phải được khẳng định, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng cần được nâng

cao hơn bao giờ hết để ngang tầm với các yêu cầu, nhiệm vụ mà lịch sử dân tộc
giao phó. Trong bối cảnh mới, Đảng ta xác định rõ nhiệm vụ xây dựng kinh tế là
trọng tâm, xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt gắn chặt với xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nền tảng tinh thần cho sự phát
triển xã hội. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đẩy mạnh công tác xây
dựng Đảng trên tất cả các mặt: tư tưởng –lý luận, chính trị, tổ chức và cán bộ, đạo
21
đức, làm cho Đảng thật sự trong sạch, đạt đến tầm cao về đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh
chính trị, vững vàng trước mọi thử thách của lịch sử.
Về chính trị, đó là đường lối chính trị đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng
trong mọi tình huống phức tạp, mọi bước ngoặt hiểm nghèo, mọi giai đoạn cách
mạng khác nhau.Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, Đảng biết tập trung giành thắng lợi cho từng bước đi lên của cách mạng. Đó là
đường lối cứng rắn về chiến lược, mềm dẻo về sách lược, linh hoạt về biện pháp
đấu tranh, tập hợp lực lượng của toàn dân, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ
của quốc tế tạo thành sức mạnh vô địch của cách mạng.
Về tư tưởng, đó là tư tưởng cách mạng triệt để, tư tưởng cách mạng tiến công,
chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng phải biết làm giàu trí tuệ của mình bằng việc
kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thâu thái những tinh
hoa văn hóa của nhân loại để giành thắng lợi cho cách mạng.
Về tổ chức, đó là một tổ chức chính trị trong sạch, vững mạnh, một tổ chức
chiến đấu kiên cường với các nguyên tắc nền mỏng được tuân thủ nghiêm ngặt để
khi hành động thì muôn người như một. Đó là một tổ chức xem chất lượng hơn số
lượng, lấy việc nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ
thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và của cả toàn đảng.
Về đạo đức, lối sống, cán bộ, đảng viên của Đảng coi trọng việc tu dưỡng đạo
đức, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nâng cao năng lực, gắn bó máu thịt với
nhân dân, dám hi sinh xả thân vì sự nghiệp cách mạng và của dân tộc. Trong mọi
mối quan hệ, cán bộ, đảng viên không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo

đức Hồ Chí Minh để không ngừng hoàn thiện nhân cách, giành được niềm tin yêu
trọn vẹn của nhân dân.
22
Chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu trong công tác xây dựng Đảng cầm
quyền, nhưng bất cập, yếu kém, hạn chế cũng không phải ít nhất là sự suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được
ngăn chặn và đẩy lùi. Những hạn chế này đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân
đối với Đảng, hạn chế năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Được chiếu
rọi của ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn về
mọi mặt một cách thiết thực, xác định đổi mới và chỉnh đốn đảng đáp ứng nhu cầu
phát triển của giai cấp cả dân tộc là quy luật sống còn và tồn tại của Đảng. Chính
trên ý nghĩa đó, việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng
Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng trong sạch ,vững mạnh phải được quán
triệt đến từng tổ chức cơ sở Đảng, từng cán bộ, đảng viên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.16.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.22.
(3) Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị Quốc Gia.
(4) Thông tin từ website: (báo điện tử ĐCS)
23

×