Tải bản đầy đủ (.pdf) (145 trang)

Nghiên cứu qui trình công nghệ khai thác các hoạt chất sinh học từ côn trùng và động vật biển để sản xuất thực phẩm chức năng tăng cường thể lực cho vận động viên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 145 trang )























bộ khoa học và công nghệ uỷ ban thể dục thể thao










báo cáo khoa học nghiệm thu đề tài
" Nghiên cứu qui trình công nghệ khai thác các hoạt chất sinh
học từ côn trùng và động vật biển để sản xuất thực phẩm chức
năng tăng cờng thể lực cho vận động viên"
Mã số: đtđl - 2005/23G


Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS Lê Quí Phợng
Cơ quan chủ trì : Viện Khoa học Thể dục Thể thao





6451
07/8/
2
00
7



hà nội 2007

Mr.Nam - 2 - 8/8/2007
báo cáo khoa học
1. Tên đề tài
Nghiên cứu qui trình công nghệ khai thác các hoạt chất sinh học từ côn trùng và động vật
biển để sản xuất thực phẩm chức năng tăng cờng thể lực cho vận động viên

2. Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS Lê Quí Phợng
- Chức vụ: Nghiên cứu viên cao cấp
- Cơ quan công tác: Trung tâm Y học Thể thao - Viện Khoa học Thể dục Thể thao
- Địa chỉ: 141 Nguyễn Thái Học - Hà Nội
- Điện thoại: 7338643 Email:
3. Danh sách các cộng sự và cơ quan phối hợp
TT Họ và tên Cơ quan công tác
1 PGS.TS Lê Quí Phợng
Viện Khoa học Thể dục Thể thao
2 KS. Nguyễn Huy Nam Viện Công nghệ Sinh học
3 TS. Lê Văn Ty Viện Công nghệ Sinh học
4 CN. Võ Thị Ninh Viện Công nghệ Sinh học
5 DS. Trần Bình Duyên Công ty CP Dợc liệu TW
6 Ths. Nguyễn Văn Phú Viện Khoa học Thể dục Thể thao
7 Ths. Võ Tờng Kha Viện Khoa học Thể dục Thể thao
8 CN. Đặng Trần Hoàn Viện Khoa học Thể dục Thể thao
9 BS. Nguyễn Trọng Hiền Trung tâm HLTTQG I
10 CN. Trần Thanh Vân Liên đoàn Điền Kinh Hà Nội
11 CN. Vũ Thị Men Trung tâm Đào tạo VĐV
12 TS. Nguyễn Văn Xá Trung tâm GD&PT Sắc ký
Mr.Nam - 3 - 8/8/2007
Mở đầu


Trong lĩnh vực thể thao vấn đề đánh giá năng lợng vận động của vận động viên là rất cần
thiết. Việc này giúp cho quá trình đào tạo vận động viên cấp cao đợc rút ngắn thời gian, tiết kiệm
kinh phí và có hiệu quả cao. Hơn nữa việc ứng dụng các giải pháp hồi phục nh sử dụng thực phẩm
chức năng và dợc liệu cũng nh các chất giàu năng lợng, các phơng pháp sinh lý, hoá sinh học
hiện đại, đặc biệt là các loại thực phẩm chức năng sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hoạt chất tự

nhiên là một hớng rất phát triển nó không những mang lại thành tích cao cho vận động viên, mang
lại màu cờ sắc áo cho quốc gia mà còn mang lại sự an toàn về sức khoẻ cho mọi ngời.
Nhiều nớc nh Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Đức và Trung Quốc v v đã có những thành công lớn
trong hớng đi này và đã nghiên cứu đợc rất nhiều các loại thực phẩm chức năng tăng sức bền và
hồi phục nhanh thể lực cho các vận động viên cũng nh các đối tợng lao động nặng nh stimol,
Cao tụ đờng, Khang thai v v
Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ sinh học trong
những thập kỷ gần đây trên thế giới đã hình thành một ngành công nghiệp mới: Công nghiệp sinh
học (Biotechnology industry) để ứng dụng nhanh các thành tựu mới nhất của công nghệ sinh học
vào trong cuộc sống bảo vệ sức khoẻ cộng đồng nói chung cũng nh trong lĩnh vực thể thao nói
riêng. Nhiều công ty đã có những bớc tiến vợt bậc trong việc đa dạng hoá các sản phẩm từ việc
khai thác các hoạt chất sinh học tự nhiên tạo ra các sản phẩm giàu các axit amin, các isopeptid và
các peptid. Các nguồn nguyên liệu thiên nhiên từ động, thực vật có chứa các hoạt chất hormon
steroid, các chất vi khoáng cần thiết cho cơ thể. Những sản phẩm tạo ra không những đã đem lại
nguồn lợi nhuận khổng lồ, mà còn giá trị và hiệu quả cao đối với sức khoẻ con ngời. Đây cũng là
một hớng đi mới của loài ngời trong thế kỷ 21.
Việt Nam là nớc nhiệt đới có những đặc điểm địa hình, khí hậu địa lý ở nhiều vùng khác
nhau, có nguồn tài nguyên thiên nhiên rừng vàng, biển bạc phong phú và đa dạng. Việt Nam lại có
một nền y học dân tộc cổ truyền, có truyền thống từ lâu đời. Nhân dân ta nhất là từ các vùng quê
miền núi cho đến miền biển đã biết dùng những bài thuốc dân gian từ cây cỏ đến con cua, con ốc,
con cá dới sông, dới biển để làm thuốc bổ dỡng hay còn gọi là thực phẩm chức năng để chữa trị
bệnh.
Mr.Nam - 4 - 8/8/2007
Nớc ta còn là một trong những nớc nghèo trên thế giới, có cơ cấu bệnh tật đặc thù cho
những nớc nhiệt đới gió mùa nên nhu cầu về thuốc rất cao. Hàng năm, chúng ta phải tiêu tốn
lợng lớn ngoại tệ để nhập các loại thực phẩm chức năng trong khi tiềm năng các hoạt chất sinh
học dùng làm thực phẩm chức năng của ta lại rất lớn nhng cha đợc khai thác hợp lý. Việc thực
hiện đề tài này sẽ góp phần đa ra một số giải pháp công nghệ hiện đại nhằm khai thác tiềm năng
đó, tạo ra những sản phẩm thực phẩm chức năng chất lợng, giá thành hạ phục vụ nhân dân.
ở các nớc phát triển trên thế giới nh Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Trung Quốcviệc sản xuất

viên tăng lực, nớc uống dùng cho vận động viên nhằm phục hồi và nâng cao thể lực trong tập
luyện và thi đấu đã có từ lâu. Với sự phát triển vợt bậc vấn đề sản xuất thuốc cho vận động viên
đã trở thành một ngành công nghiệp dợc, thực phẩm chức năng, thậm chí sản xuất thuốc ở dạng
doping dùng cho vận động viên, nhiều công ty dợc đã giàu lên nhanh chóng với việc sản xuất
thuốc tăng lực cho vận động viên thể thao. Đã có không ít vận động viên đã đạt huy chơng vàng,
bạcnhờ vào dùng thuốc tăng lực và chất kích thích. Song đối với thể thao thì dùng doping cũng
nh các chất kích thích là bị nghiêm cấm và phản đối. Tuy nhiên việc dùng thực phẩm chức năng
để phục hồi và nâng cao thể lực cho vận động viên trong tập luyện, thi đấu là một điều rất cần thiết
và đợc chấp nhận .
Các huấn luyện viên, các bác sĩ ai cũng muốn tìm kiếm cho vận động viên những loại thuốc
có hiệu quả trong vấn đề phục hồi thể lực. Hiện nay trên thị trờng có rất nhiều các loại thuốc phục
vụ cho việc phục hồi và nâng cao thể lực vận động viên nhng hầu hết các loại thuốc này đều của
nớc ngoài sản xuất ra nh (Cao tụ đờng, khang thai, Power Plus). Do không rõ nguồn gốc xuất
xứ của các loại thuốc nhập ngoại là hợp chất tự nhiên hay là tổng hợp hoá học, vì vậy các bác sĩ,
huấn luyện viên và đặc biệt là vận động viên rất lo lắng cho những tác dụng phụ đi kèm. Trong thời
gian qua nhiều cơ quan nghiên cứu cũng nh các công ty dợc đã cho ra đời rất nhiều sản phẩm
thuốc tăng lực từ nguồn nguyên liệu là các hoạt chất sinh học tự nhiên có trong động vật và thảo
dợc nhằm nâng cao khả năng phục hồi thể lực cho vận động viên trong luyện tập và thi đấu và đã
có tác dụng rất tốt.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, thể thao Việt
Nam cũng đạt đợc những thành tích đáng kể. Tại các Đại hội thể thao ở khu vực Đông Nam á
(Sea Games), vận động viên của chúng ta luôn có sự tiến bộ, số huy ch
ơng ở các đại hội sau luôn
nhiều hơn các đại hội trớc và cũng đã đạt đợc thành tích tại các giải Châu á và giải thế giới. Điều
Mr.Nam - 5 - 8/8/2007
đó đã tạo niềm tin cho huấn luyện viên, vận động viên cũng nh cho nền thể thao nớc nhà, khẳng
định đợc nền Thể thao Việt Nam đã đổi mới và đang đi đúng hớng. Đây là cơ hội và thách thức là
làm sao chúng ta phải phát huy đợc những thành quả đạt đợc để thể thao nớc nhà không chỉ có
một vị trí xứng đáng trong khu vực mà còn cả trên thế giới. Vấn đề là ở chỗ chúng ta có thể thuê
đợc huấn luyện viên giỏi, có thể mua đợc các thiết bị tập luyện đắt tiền song chúng ta không thể

có đợc thể lực sức bền tốt nếu chúng ta không quan tâm đến dinh dỡng hồi phục và thực phẩm
chức năng cho vận động viên. Với sự đầu t cho dinh dỡng của vận động viên mà hàng năm
chúng ta phải mua thực phẩm chức năng cho vận động viên bằng ngoại tệ số kinh phí không phải
là ít nhng nếu bằng nội lực và nguồn tài nguyên sẵn có trong nớc chúng ta có thể đảm bảo đợc
ổn định nguồn thực phẩm chức năng tiết kiệm ngoại tệ cho đất nớc và mang lại sự an toàn cho
sức khoẻ của vận động viên.
Để hòa nhập với hớng nghiên cứu của thế giới trong việc khai thác sử dụng nguồn tài
nguyên sinh học động, thực vật quí ở trong nớc nh (cỏ, cây, hoa, lá, tôm, cá, cua, ba ba, rùa rùa,
nhân sâm, tam thất.). Việc khai thác ứng dụng nguồn tài nguyên sinh học vào việc sản xuất thực
phẩm chức năng hiện nay đang là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Hiện nay tuy Việt Nam đã
có một số công trình nghiên cứu và sản xuất thực phẩm chức năng từ nguyên liệu trong nớc phục
vụ cho việc bổ dỡng và tăng cờng thể lực cho các đối tợng lao động nặng và vận động viên,
cũng đã có một số thành công nhất định, nhng đa số các loại thực phẩm chức năng đều đi từ
nguồn nguyên liệu động thực vật quí hiếm nh (Hải sâm, rắn biển, nấm linh chi) điều này đã
gặp rất nhiều khó khăn vì khi nghiên cứu ra đợc qui trình công nghệ, nhng khi đi vào sản xuất lớn
lại mắc phải không những giá thành nguyên liệu cao mà số lợng lớn lại không có để đáp ứng
đợc. Trong khi đó tiềm năng tài nguyên dợc liệu trong thiên nhiên của nớc ta còn rất phong phú,
chúng ta cha khai thác và phát huy hết đợc thế mạnh này.
Với những nỗ lực lớn và có đợc sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học
trong nớc. Viện khoa học Thể dục Thể thao phối hợp với Viện Công nghệ sinh học - Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam và Trung tâm Giáo dục và Phát triển Sắc ký - Đại học Bách khoa Hà
Nội đã nghiên cứu thực hiện đề tài
Nghiên cứu qui trình công nghệ khai thác các hoạt chất
sinh học từ côn trùng và động vật biển để sản xuất thực phẩm chức năng tăng cờng thể lực
cho vận động viên
. Đề tài đã nghiên cứu khai thác các hoạt chất sinh học từ một số loài cá cơm,
cá chìa vôi, hầu và từ kiến, mối nh các steroid (testosteron, cortilson, progesteron, oestradion.),
Mr.Nam - 6 - 8/8/2007
các axit amin và nguyên tố vi khoáng thiết yếu có tác dụng tăng khả năng miễn dịch, nâng cao sức
đề kháng của cơ thể, tăng cờng thể lực và hồi phục nhanh sức khoẻ cho vận động viên từ nguồn

nguyên liệu động vật biển và côn trùng sẽ thực sự có hiệu quả. Cá cơm, cá chìa vôi, hàu là nguồn
nguyên liệu rất dồi dào, từ xa đến nay nhân dân ta mới chỉ biết ứng dụng đơn thuần làm thực
phẩm, chế biến nớc mắm. Ngoài ra khi đánh bắt chế biến không hết còn thừa bỏ đi, còn nguyên
liệu kiến và mối là 2 đối tợng cha đợc khai thác đến. Đây là một thế mạnh mà nhiều nớc trên
thế giới kể cả một số nớc phát triển nh Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật.cũng không có đợc lợi thế
này. Đề tài đã cho ra đời 3 sản phẩm bột nguyên liệu Thienamix, Nacamix, Phunamine và một sản
phẩm viên tăng lực Phunamine dùng cho vận động viên.
Các sản phẩm trên đều đợc sản xuất trên dây chuyền thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn GMP
của Công ty Cổ phần Dợc Trung ơng Mediplantex. Sau đây chúng tôi xin trình bày kết quả
nghiên cứu của đề tài nh sau:



















Mr.Nam - 7 - 8/8/2007

I. Tổng quan tài liệu

1. Vận động thể thao với trao đổi chất và chuyển hoá năng lợng trong cơ thể.
Hoá sinh học là khoa học, nó làm sáng tỏ những qui luật quan trọng nhất của quá trình biến
đổi thích nghi về mặt hoá học diễn ra trong tế bào của cơ thể con ngời và sinh giới nói chung. Hoá
sinh học thể thao cùng với hoá sinh y học thể thao nghiên cứu các quá trình biến đổi hoá sinh trong
cơ thể vận động viên khi thực hiện những lợng vận động thể thao khác nhau. Các kết quả nghiên
cứu đã chứng minh rằng chính bản chất sinh hoá học của các quá trình trao đổi chất và năng lực
chuyển hoá của các hệ thống cung cấp năng lợng cho cơ thể hoạt động trong quá trình luyện tập
thể thao mới thực sự là yếu tố quyết định năng lực hoạt động thể lực cũng nh khả năng chịu đựng
của vận động viên đối với lợng vận động lớn của bài tập [3, 10, 11]. Những biến đổi thích nghi
trớc hết phải là những biến đổi thích nghi về mặt sinh hoá diễn ra bên trong cơ thể vận động viên
sau những lợng vận động hợp lý của bài tập, đợc thực hiện trong những chu kỳ huấn luyện dài
hạn mới là cơ sở bền vững của của trình độ luyện tập và trạng thái xung sức thể thao. Trong quá
trình luyện tập thể thao vấn đề tiêu hao năng lợng và phục hồi thể lực là rất quan trọng. Để đánh
giá đợc tình trạng sức khoẻ của vận động viên thì vấn đề quan tâm chính trớc tiên là các chỉ tiêu
sinh hoá bên trong liên quan đến quá trình trao đổi chất nh: Testosterone, Lactat dehydrogenaza,
creatinin, acid lactic, các chỉ tiêu về huyết học.v v Ngoài ra ngời ta còn đánh giá các chỉ tiêu bên
ngoài nh về tâm lý, phản xạ thần kinh, chuyên môn s phạm [3, 10,11, 14, 15, 19, 22]
2. Hoạt chất thiên nhiên trong thực phẩm là nguồn dinh dỡng và là thực phẩm Thuốc có giá
trị và rất quan trọng với sức khoẻ con ngời.
Các hormone steroid, protein, axit amin và các chất vi khoáng (Cu, Fe, Zn ) có vai trò rất
quan trọng trong cơ thể con ngời. Những chất này đều đợc tổng hợp qua con đờng chuyển hoá
năng lợng của cơ thể, chúng có những chức năng và nhiệm vụ riêng.
Vai trò và tác dụng của các protein, acid amin trong cơ thể đợc tổng hợp trực tiếp qua
đờng thực phẩm bổ sung dinh dỡng.
Chúng ta đều biết rằng cơ thể ngời đều nhận các protein và các acid amin từ thức ăn. Vai
trò của các acid amin trong cơ thể rất quan trọng nh leucin là các acid amin giữ vai trò trong tổng
hợp protein cơ bắp và hoạt động của tuyến tuỵ, rất cần cho sự tuần hoàn của máu. Isoleucin cần
Mr.Nam - 8 - 8/8/2007

thiết cho quá trình sinh tổng hợp glucogen và các xetonic, nếu cơ thể thiếu acid amin này sẽ dẫn
đến việc giảm sút cân nhanh.
Lysin giữ vai trò trong sinh tổng hợp hemoglobin, acid nucleic, ảnh hởng lên các hoạt động
thần kinh, tiêu hoá và việc hình thành các mô xơng.
Theonine có tác dụng chống mỡ hoá gan. Proline và acid glutamic có tác dụng tốt trong
việc trao đổi chất của cơ thể.
Mỗi một liên kết giữa các acid amin lại có những vai trò và chức năng riêng đối với cơ thể.
một số peptid, isopeptid có trọng lợng phân tử thấp nh (Lys-iso-leu, phe-his-met, gly-acg-met) và
các amino axit có tác dụng tăng khả năng miễn dịch, chống oxy hoá trong việc hồi phục thể lực và
tăng cờng thể lực.
Hình 1: Công thức cấu tạo và trọng lợng phân tử của 20 acid amine











Mr.Nam - 9 - 8/8/2007













Vai trò của các nguyên tố vi khoáng trong cơ thể khi đợc bổ sung qua đờng thực phẩm
Viên tăng lực.
Sự đóng góp quan trọng của các nguyên tố vi khoáng là rất cần thiết. Ngời ta ví nguyên tố
kẽm (Zn) trong cơ thể ngời nh là ngọn lửa sinh mạng. Sắt (Fe) tham gia vào quá trình tạo máu.
Sắt (Fe) và kẽm (Zn) đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong các hoạt động chức năng của gan,
Mr.Nam - 10 - 8/8/2007
thận, tuyến tuỵ, tuyến sinh dục và các cơ quan thị giác. Nó rất cần cho sự kích hoạt enzyme
lactatdehydrogenaza để phân giải các acid lactic giải phóng các acid lactic ra khỏi tế bào cơ, chống
mệt mỏi, chống oxy hoá trong cơ thể.
Hàm lợng muối vô cơ trong cơ thể gồm bảy nguyên tố: Ca, Ka, Na, P, S, Cl. Các nguyên tố
khác: Fe, Cu, I, Zn, Mg, Se, v.v Các loại trên chiếm một lợng rất nhỏ trong cơ thể, gọi chung là
nguyên tố vi lợng.
Chất sắt (Fe) đợc thức ăn cung cấp cho cơ thể. Thiếu sắt não bộ sẽ không đợc cung cấp
đủ oxy, không đủ năng lợng. Nhiều nghiên cứu xác định chỉ số thông minh (IQ) của trẻ tỷ lệ thuận
với hàm lợng sắt trong máu dây rốn của bà mẹ. Khi bà mẹ thiếu hụt chất sắt, chỉ số phát triển của
não bộ giảm ở thai nhi và trẻ dới một tuổi. Thiếu sắt não bộ sẽ không phát triển đúng mức. ậ ngời
lớn thiếu sắt dẫn đến thiếu máu và dễ mệt mỏi.
Nguồn chất sắt : Cơ thể con ngời hấp thu kém chất sắt. Chỉ 2-3% chất sắt trong thực vật
đợc cơ thể hấp thụ (đậu khô, cacao.) Chất sắt động vật đợc hấp thu dễ dàng hơn: Từ 20-30%
(thịt đỏ, dồi trờng, gan, tim, bầu dục, thịt thỏ, cá thu, sò ốc, cá cơm, cá mòi và các động vật biển).
Các thực phẩm nguồn gốc động vật là nguồn cung cấp tốt nhất chất sắt và vitamine cần
thiết cho não bộ và sự hình thành của các màng tế bào, cho các nơron, các chất trung gian thần
kinh. [15, 27, 28]
Các nguyên tố vi lợng này rất cần thiết cho cơ thể, song bản thân nó lại không sinh ra
năng lợng. Muối vô cơ rất quan trọng, ví dụ: Ca là thành phần chính cấu thành xơng và răng, giữ

vai trò quan Các loại trên chiếm một lợng rất nhỏ trong cơ thể, gọi chung là nguyên tố vi lợng.
Các nguyên tố vi lợng này rất cần thiết cho cơ thể, song bản thân nó lại không sinh ra
năng lợng. Muối vô cơ rất quan trọng, ví dụ: Ca là thành phần chính cấu thành xơng và răng, giữ
vai trò quan trọng ở cơ bắp, thần kinh; P, S là thành phần cấu thành anbumin; Na, K, Cl duy trì
thẩm thấu protein với tế bào.
Muối vô cơ có lợi cho sức khoẻ ở hai điểm:
- Nếu nh cơ thể thiếu một nguyên tố vi lợng nào đó, dẫn tới khả năng vận động giảm, khi
đợc bổ sung, cơ thể nhanh chóng hồi phục nh ban đầu.
- Nếu lợng bổ sung thích hợp, cơ thể sẽ phát triển tốt hơn. Nếu bổ sung một lợng thích
hợp sẽ tăng khả năng miễn dịch.
Mr.Nam - 11 - 8/8/2007
Các nguyên tố điện giải: Na, K, Cl. Nếu tập luyện và thi đấu trong mùa hè, mồ hôi ra nhiều,
dẫn tới hiện tợng thiếu hụt muối vô cơ.
+ Nguyên tố Na: Tập luyện liên tục trong môi trờng nóng dẫn tới thiếu Na. Mất Na sẽ mất nớc,
biểu hiện: cơ bắp co giật, đau dớn, mất lực, v.v Nếu giảm thể trọng, đi đại tiện nhiều, tiểu tiện ít,
da phù nề. Cần bổ sung Na.
+ Nguyên tố K: Hàm lợng K trong máu thấp, gây mệt mỏi. Tác dụng của nguyên tố vi lợng này
ngày càng đợc nhiều ngời chú ý tới, lợng tuy nhỏ song không nên coi thờng. Se, Zn, Cu v.v
đều là chất môi giới quan trọng. Khi cơ thể thiếu Zn hoặc thiếu Fe, chức năng miễn dịch giảm.
Bằng nhiều con đờng khác nhau, một số nguyên tố vi lợng giúp cơ thể thực hiện tốt chức
năng nội tiết, tuần hoàn máu, mau lành vết thơng, khống chế tế bào gây nhiễu. Zn có chức năng
duy trì sinh lý hoá trong cơ thể, tăng khả năng sinh dục cho nam giới, giảm bớt các nguyên tố vi
lợng tự do. Các bộ phận trong cơ thể dễ bị tổn thơng: gan, da, mắt, v.v, Zn sau khi đợc bổ sung,
có công hiệu ngay.
Cũng có những nguyên tố vi lợng, thông qua ức chế phản ứng của các gốc tự do và tác
dụng quá oxy hoá( peroxid) của các chất béo mà có thể hạn chế đợc hàng loạt những rối loạn
chức năng của tế bào; thí dụ (Zn) là nguyên tố vi lợng rất quan trọng trong việc duy trì chức năng
sinh lý, sinh hoá bình thờng của tế bào và giảm nhẹ tác hại của các gốc tự do. Nhiều kết quả
nghiên cứu đã phát hiện thấy những tổ chức, cơ quan trong cơ thể dễ bị oxy hoá gây tổn thơng
nh gan, da, mắt, tinh trùng nồng độ kẽm trong các tổ chức tế bào trên mà kém sẽ sinh ra mắc

bệnh, nh sinh khối u, nam giới thiểu năng sinh dục v.v sau khi bổ xung thêm kẽm thờng đạt
đợc hiệu quả điều trị rất tốt. Kẽm đợc coi nh là thuốc chống oxy hoá (antioxydant) quan trọng,
điều này dã đợc nhiều học giả công nhận.
Selen là nguyên tố vi lợng tham gia vào cấu trúc Coenzym(nhóm phụ-prosthetic, phần phi
protid, là những chất hữu cơ đặc hiệu, Mangan là Cofactor của nhiều men gan các men, các men
chống oxy hoá glutathione peroxydaza, có đặc tính chống oxy hoá và tác dụng quan trọng trong
điều tiết năng lực miễn dịch. Selen tham gia bảo vệ nơ ron thần kinh. Magnesium có tác dụng kích
thích thần kinh, chống trầm cảm
Vitamin có thể chia thành 2 loại chính: Vitamin tan trong mỡ và vitamin tan trong nớc.
Vitamin tan trong mỡ bao gồm các loại: vitamin A, E, D, K; còn vitamin tan trong nớc. bao gồm các
loại: vitamin C, vitamin nhóm B. Tỷ lệ bài tiết của vitamin béo không cao, nếu thu nạp quá nhiều
Mr.Nam - 12 - 8/8/2007
làm tích tụ trong cơ thể sẽ có khả năng gây ra những ảnh hởng xấu. Còn tỷ lệ bài tiết của các
vitamin tan trong nớc khá cao, nói chung không bị tích tụ trong cơ thể, nếu sử dụng với lợng lớn,
thông thờng rất ít gây độc tính.
Vitamin A có quan hệ mật thiết đến thị giác, chức năng sinh lý thứ 2 của vitamin A gắn với
sự hình thành tế bào biểu bì và góp phần làm liền vết thơng. Khi cơ thể thiếu vitamin A sẽ dẫn đến
sự suy giảm của khả năng thích ứng trong bóng tối của mắt và chứng mù đêm, tiếp theo đó sẽ kéo
theo hàng loạt bệnh trong quá trình hình thành mô biểu bì nh: khô da, da khô ráp khác thờng,
hình thành vẩy.
Tác dụng chủ yếu của vitamin E, C là chống sự oxy hoá, có khả năng làm giảm bớt những
tác hại của oxy hoá lipit. Vấn đề mấu chốt trong quá trình thay thế năng lợng và vật chất trong cơ
thể là sự tham gia của nhiều loại vitamin, đặc biệt là các vitamin nhóm B. Khi cơ thể thiếu một loại
vitamin nào đó sẽ gây cản trở cho quá trình thay thế năng lợng, ảnh hởng xấu tới toàn bộ cơ thể,
giảm tốc độ sản sinh năng lợng, cũng nh thể lực.
Vitamin B
1
(thiamine), vitamin B
2
(lactoflavine), niacin là những vitamin có liên quan mật

thiết tới quá trình thay thế năng lợng trong cơ thể, nhu cầu về các chất này tỷ lệ thuận với tổng
nhiệt năng cơ thể hấp thụ. Vì vậy, nói chung thờng lấy tổng số Calo nhiệt lợng đợc cung cấp
mỗi ngày làm đơn vị biểu thị lợng cần thiết về 3 loại vitamin.
Vitamin B
6
(pyridoxil) có quan hệ rất chặt chẽ với quá trình thay thế axit amin, do đó lợng
cần thiết tăng giảm tuỳ theo lợng protein đợc hấp thụ.
Trong cơ thể vitamin không đủ hay bị thiếu là một quá trình diễn biến chậm chạp. Khi trong
thức ăn thiếu một loại vitamin nào đó, biểu hiện đầu tiên là lợng vitámin dự trữ trong mô giảm sút,
tiếp theo xuất hiện sự thiếu hụt vitamine và những hiện tợng sinh lý bất thờng, dần dần gây nên
sự thiếu hụt trên phơng diện tổ chức (tức cấu trúc), và cuối cùng là các biểu hiện lâm sàng. Sự
thiếu hụt vitamin ở độ nhẹ trong thời gian dài (hay gọi là gần mức thiếu hụt) không nhất thiết xuất
hiện các triệu chứng lâm sàng, nhng có khả năng làm giảm hiệu suất lao động (bao gồm cả lao
động trí óc), đồng thời kéo theo cảm giác khó ở cùng sự suy giảm sức đề kháng. Vì vậy, cung cấp
vitamin một cách hợp lý thông qua thức ăn không những có khả năng phòng bệnh mà quan trọng
hơn là nó giúp ta không ngừng tăng cờng sức khoẻ.
Việc bổ sung các chất dinh dỡng có nguồn hoạt chất tự nhiên cho vận động viên nhằm
mục đích giữ cho thể trạng vận động viên luôn ở trạng thái cân bằng và hng phấn trong tập luyện
Mr.Nam - 13 - 8/8/2007
và thi đấu, cân bằng các chất dinh dỡng trong cơ thể bao gồm:
Sự cân bằng giữa 3 loại chất dinh dỡng sản sinh ra nhiệt lợng. Tỷ lệ năng lợng đợc tạo
ra nhờ protein/lipit/đờng khoảng 1/1/4
Sự cân bằng giữa các loại muối vô cơ và nguyên tố vi lợng: Zn và Fe có tính cạnh tranh
mạnh. Nếu bổ sung quá nhiều Fe có thể làm giảm tỷ lệ hấp thụ Zn trong cơ thể gây nên tình trạng
thiếu Zn.
Sự cân bằng giữa các loại vitamin, cân bằng giữa protein và axit amin: nếu cung cấp quá
nhiều hay quá ít một loại axit amin nào đó sẽ cản trở tác dung của một số axit amin khác. Trong
quá trình cơ thể tổng hợp protein, nhu cầu về axit amin khônng hoàn toàn giống nhau. Lợng
protein phù hợp với tỷ lệ axit amin đợc gọi là protein u chất.
3. Testosterone và các hormone steroid với sự mệt mỏi trong luyện tập thể thao và huấn

luyện quá sức và tác dụng của hormon steroid trong cơ thể đợc bổ sung qua đờng thực
phẩm chức năng.
Các hormon (Testosteon, progesteron, estradiol, cortisol) là các hormon steroid tan trong
lipid , có thể đI qua màng của tế bào dễ dàng thì thụ thể là các protein đặc hiệu khu trú nằm ở trong
tế bào (ở bào tơng và nhân tế bào). Đây là những protein có trọng lợng phân tử thấp nhng có độ
đặc hiệu cao và ái lực rất lớn. Các hormone steroid bền vững, có cấu tạo hoá học thờng gần giống
nhau.

Mr.Nam - 14 - 8/8/2007

Hình2: Công thức cấu tạo của các hormone steroid
Các hormon steroid(Testosteon, progesteron, estradiol, cortisol) rất kỵ nớc, tan dễ dàng
trong máu, đợc vận chuyển dới dạng kết hợp với protein vận chuyển đặc hiệu từ nơI chúng đợc
giảI phóng đến cơ quan đích. Tại cơ quan đích, những hormone qua màng bào tơng bằng cơ chế
khuếch tán đơn thuần và rồi gắn với thụ thể đặc hiệu trong nhân (hoặc thụ thể ở bào tơng) tạo
thành phức hợp hormone chất thụ thể. Một tế bào đích chứa khoảng 10.000 thụ thể steroid. Các
thụ thể có ở giữa phân tử một vùng liên kết với AND của nhân tế bào và một vùng liên kết với
hormone. Phức hợp phần nhạy cảm với hormone (hormone responsive element). Sự kết hợp của
phức hợp hormone - chất thụ thể trên vùng AND sẽ kích thích và khởi động ARNm. ARNm ra bào
tơng và cảm ứng sự tổng hợp một hoặc nhiều protein mới ở bào tơng đặc hiệu cho sự đáp ứng
của hormone.

Hình3: Cơ chế tác dụng của hormone steroid trên tế bào đích
Mr.Nam - 15 - 8/8/2007
Nhịp bài tiết của hormone là nét chung của hệ thống nội tiết. Sự rối loạn nhịp bài tiết
hormone cũng là nguyên nhân chung về bệnh lý nội tiết. Nhịp bài tiết hormone (hay chu kỳ bài tiết
hormone) có thể thay đổi:
- Theo giờ: bài tiết LH và testosterone.
- Theo ngày: thay đổi ngày đêm đối với bài tiết cortisol.
- Theo tháng: Chu kỳ kinh nguyệt.

- Theo mùa hoặc thời gian dài hơn: Bài tiết thyroxin
Cortisol kích thích tổng hợp glucogen, là steroid chuyển hoá đờng, có tác dụng lên chuyển
hoá glucid, kích thích sự tân tạo glucose từ những acid amin, có tác dụng làm tăng khả năng miễn
dịch, chống viêm nhiễm. Cortisol và ACTH đều đợc bài tiết vào 8 giờ sáng, điều này giảI thích nh
sau: Trong nửa thời gian nghỉ hàng ngày (Sau 1 giờ đến 2 giờ buổi sáng) xuất hiện hoạt động của
hệ thống CRH ACTH Cortisol nhằm đảm bảo cho cơ thể có nòng độ glucose máu bình thờng
trớc khi bắt đầu bớc vào sự hoạt động hàng ngày và trong khi cha có bữa ăn đầu tiên của ngày.
+ Chuyển hoá Glucid: Tăng hấp thu glucose ở ruột, tăng phân huỷ glucogen.
+ Tăng phân huỷ lipid nhất là triglycerid, phospholipid và cholesterol.
+ Tăng tổng hợp protein do tác động trực tiếp đến sự hoạt hoá RNA polymease hoặc gián
tiếp qua kích thích bài tiết GH.
+ Tăng cờng sử dụng oxy của cơ thể, tăng chuyển hoá cơ bản, có tác dụng sinh nhiệt

Hình 4 : Cơ chế tác dụng của testosterone
Testosterone có một cơ chế tác dụng đặc biệt vì trong đa số tế bào đích, testosterone tác
dụng nh một tiền hormone(pre-hormone). Một enzyme 5-reductase của bào tơng ở tế bào đích
chuyển một cách không thuận nghịch testosterone thành dihydrotestosteron (DHT), chính
Mr.Nam - 16 - 8/8/2007

Hình 5: Chuyển hoá testosterone thành dihydrotestosteron (DHT) nhờ enzyme 5-reductase
Testosteron là hormon có hai tác dụng: Tác dụng nam tính và tác dụng chuyển hoá.
Testosteron vừa là một hormon vừa là một prohormon. Để có tác dụng lên tế bào đích thì trớc tiên
nó đợc chuyển thành dihydrotestosteron (DHT), nó có chức năng biệt hoá sinh học trong quá trình
phát triển ở phôi, đảm bảo sự trởng thành, dẫn tới dậy thì và bảo tồn đặc tính sinh dục cũng nh
bản năng sinh dục của đàn ông (giống đực), đảm bảo sinh sản ở ngời nhờ sự tạo tinh trùng, có
vai trò kích thích tạo hồng cầu, tổng hợp Hemoglobin trong nguyên hồng cầu.
Luyện tập thể thao làm thay đổi rất lớn nồng độ testosteron trong máu. Mối quan hệ giữa
nội tiết tố nam tính Testosteron và hoạt động thể thao đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến
từ những năm 1970. Cho đến nay đã có rất nhiều công bố khoa học và các công trình nghiên cứu
về vấn đề này [3, 10, 11, 14, 15, 18] . Testosteron là kích tố giống đực, dẫn xuất của steroid có

chứa 19 nguyên tử carbon và là một trong những kích tố đồng hoá chủ yếu của cơ thể. Nội tiết tố
này có một thứ bậc cao trong sự điều hoà quá trình trao đổi chất. Testosteron trong cơ thể tăng hay
giảm đều gây ra sự thay đổi các công suất của các hệ thống trao đổi chất và chuyển hoá năng
lợng. Từ thực tiễn đã đợc các nhà khoa học đã chứng minh khi cơ thể ở trạng thái xung sức thì
hàm lợng testosteron lúc này đã đạt đợc đến đỉnh cao và ngợc lại khi cơ thể ở trạng thái mệt
mỏi thì hàm lợng testosteron ở trong máu lúc này đã bị tiêu giảm [3, 4, 6, 19, 21].
* FFA : Acid béo tự do
Hàm lợng testosteron ở ngời tuỳ thuộc vào giới tính và các lứa tuổi khác nhau. Hàm lợng
testosteron ở nữ giới thấp hơn ở nam giới khoảng 10 lần. Theo Lê Đức Trình [21] thì hàm lợng
testosteron trong máu của nam và nữ giới cũng nh ở các lứa tuổi là khác nhau. Bảng 1 và hình 6
là tổng kết những sai khác về hàm lợng testosteron ở các nhóm tuổi khác nhau.
Mr.Nam - 17 - 8/8/2007
Bảng 1: Hàm lợng testosteron trong máu nam giới ở các lứa tuổi khác nhau (nmol/l).
Nhóm tuổi Testosteron Nhóm tuổi Testosteron
4 - 10 0,35 16 -18 10,42
10 - 12 1,04 20 - 30 22,92
12 - 14 3,13 30 - 40 19,44
14 - 16 7,29 40 - 50 16,32

Hình 6 : Nhịp ngày đêm của testosterone ở ngời trẻ và ngời có tuổi


Hình 7 :Những tác dụng chính của cortisol trong chuyển hoá trung gian.
Mr.Nam - 18 - 8/8/2007

Hình 8 : Nhịp ngày đêm của ACTH và cortisol ở ngời bình thờng

Hình 9 : Thiếu sự dao động bình thờng về sáng và chiều của cortisol máu trong bệnh Cushing
Theo các kết quả điều tra nghiên cứu của Viện Khoa học Thể dục Thể thao [14, 15, 22, 23]
thì hàm lợng testosteron trong máu vận động viên cao hơn ngời bình thờng từ 1,5 - 2,5 lần.

Khi mức testosteron trong máu giảm rõ rệt và lâu không hồi phục đợc cần tính đến khả
năng lợng hormon không đủ hoặc chức năng của trục HPG (Hypothalamus-Hypophysis-Gonad)
đã suy giảm. ở vận động viên thể thao nữ hàm lợng testosteron trong máu giảm dới 0,69 nmol/l
đối với nữ hay dới 3,47 nmol/l đối với nam thì đợc coi là trạng thái điển hình luyện tập quá sức và
lúc này cấn đợc tăng cờng bổ sung tái tạo để hồi phục [10, 11, 12, 14, 15].
Mr.Nam - 19 - 8/8/2007
4. Mối liên quan giữa Testosteron, Lactat dehydrogenaza (LDH) và axit lactic trong vấn đề
mệt mỏi và hồi phục của vận động viên.
Một vấn đề rất quan trọng trong dây chuyền phản ứng sinh hoá trong cơ thể là khi hàm
lợng testosteron trong máu tăng thì tỷ lệ thuận với hoạt độ enzym LDH tăng kèm theo sự giảm
xuống của acid lactic. Enzym LDH đã tham gia vào quá trình giải phóng acid lactic trong cơ, mà
nh ta đã biết acid lactic chính là nguyên nhân gây ra mệt mỏi của cơ thể. Trong thể thao acid lactic
là chỉ tiêu đặc trng và có độ tin cậy cao trong việc theo dõi và khống chế lợng vận động thích hợp
của vận động viên [3, 14, 15, 18, 19, 28, 29, 30].
Acid lactic là sản phẩm của quá trình đờng phân yếm khí (glycolysis). Phản ứng đợc diễn
ra nh sau:
CH
3
.CO.COOH + NADH > CH
3
.CHOH.COOH + NAD
(axit pyruvic) (axit lactic)

ở trạng thái yên tĩnh, trong điều kiện đủ oxy, tại các cơ quan, tổ chức trong cơ thể vẫn diễn
ra quá trình phân giải đờng yếm khí mạnh mẽ và sản sinh ra acid lactic (AL) và axxit này mau
chóng đi vào máu vì vậy trong trạng thái yên tĩnh, trong máu luôn luôn duy trì một mức độ acid
lactic nhất định. Trong lúc nghỉ ngơi, nồng độ AL trong máu động mạch khoảng 0,4-0,8 mmol/l.
Giữa vận động viên và ngời bình thờng không có sự khác nhau về lợng AL lúc tĩnh. Tuy nhiên
trong quá trình tập luyện và thi đấu có sự khác biệt nhau quá xa, bởi vì khả năng chịu đựng của vận
động viên đối với nồng độ acid lactic cao trong máu là yếu tố có ý nghĩa quyết định đạt đợc thành

tích cao. Công tác huấn luyện vận động viên đồng nghĩa với việc huấn luyện cho vận động viên tập
chịu đựng ngỡng acid lactic cao trong máu ở các mức độ thời gian dài, ngắn khác nhau [6, 9, 10,
11, 18, 19, 22, 23].
5. Thiếu máu do mệt mỏi trong luyện tập, thi đấu quá sức và biện pháp hồi phục.
Thiếu máu trong thể thao là dạng thiếu máu có tính tơng đối ở VĐV chủ yếu là thiếu máu
do thiếu sắt (thiếu máu do nhợc sắc) [10, 11, 20, 21]. Do trong quá trình luyện tập thể thao lợng
sắt hấp thụ giảm mạnh, lợng sắt mất đi theo mức độ thoát mồ hôi. ở vận động viên bóng đá trung
bình lợng sắt mất theo mồ hôi có thể lên tới 0,6mg/l, ở lứa tuổi nhi đồng là 0,4mg/l. Vì vậy trong
huấn luyện và thi đấu vận động viên luôn cần phải quan tâm dến vấn đề bổ sung sắt nh succinate
sắt, lactate sắt, ferro (Fe
++
) sulphate v v nhằm nâng cao dự trữ protein chứa sắt. Nói đến thiếu
máu của vận động viên là nói đến sự giảm sút mức hemoglobin so với nhu cầu phát huy năng lực
Mr.Nam - 20 - 8/8/2007
vận động. Tuỳ theo mức độ phát triển của trạng thái luyện tập quá sức mà có thể từ thiếu máu của
vận động viên, hạ thấp xuống tới mức chỉ tiêu thiếu máu của ngời thờng và từ thiếu máu gây
giảm sút năng lực vận động sẽ dẫn đến phát triển thành thiếu máu bệnh lý. Do vậy hemoglobin là
một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá thể lực của vận động viên [18, 22, 23, 24, 26, 27].
6. ứng dụng các bài thuốc dân gian và cổ truyền vào việc bổ sung dinh dỡng và thực phẩm
thuốc nhằm tăng cờng thể lực cho các vận động viên Việt nam.
Trong điều kiện bình thờng, năng lợng đợc cung cấp và bị tiêu hao luôn giữ mức ổn
định. Năng lợng là điều kiện cơ bản của mọi hoạt động trong cơ thể. Năng lợng không đủ các
hoạt động chức năng giảm sút, sức khoẻ kém;năng lợng quá thừa lại gây tích mỡ, cũng làm cho
cơ thể khó vận động, hoạt động chức năng khó khăn và sức khoẻ cũng kém đi. Do đó việc cung
cấp thức ăn hợp lý là tối quan trọng.
Chế độ ăn uống bổ sung trong thể thao gồm các thức ăn và uống có tác dụng cải thiện
năng lực vận động của VĐV. Hiện nay các dợc liệu thể thao phát triển rất phong phú.
Thức ăn bổ sung cho vận động viên gồm dợc liệu, thực phẩm có thể làm từ đờng, từ các
chất điện giải, từ nớc hoa quả, dợc liệu nhiều oxy. Dợc liệu thức ăn có ý nghĩa đặc biệt là có thể
góp phần nâng cao thành tích đến sự cung cấp nớc và đờng cho VĐV.

Ta biết rằng, năng lợng và sự trao đổi chất của cơ thể VĐV lúc tập luyện lớn gấp 10- 20
lần so với lúc nghỉ ngơi. Phần lớn năng lợng tiêu hao cung cấp cho hoạt động cơ bắp, phần khác
cho quá trình chuyển hoá và làm tăng thân nhiệt. Lợng vận động tập luyện càng lớn sẽ sinh nhiệt
càng nhiều, thân nhiệt càng cao, cơ thể không toả nhiệt kịp thời đợc và ảnh hởng không tốt đến
chức năng vận động của cơ thể. Do vậy, trong quá trình vận động, VĐV ra đợc nhiều mồ hôi là cơ
thể đã toả nhiệt tốt. 1ml mồ hôi thoát ra đợc thì cơ thể đợc tán nhiệt 0,75Kcal. Do vậy, cờng độ
vận động, môi trờng tập luyện cũng nh việc tiêu hao năng lợng rất lớn đồng nghĩa với việc cần
bổ sung năng lợng bằng thuốc hay thực phẩm chức năng là rất cần thiết và quan trọng.
Với lợi thế về kế tục và phát huy những kinh nghiệm cổ truyền của cha ông ta để lại, kết hợp
với sự phát triển về khoa học công nghệ hiện đại và tiềm năng nguồn tài nguyên sẵn có trong nớc.
Ngày nay nhiều Công ty trong n
ớc đã cho ra đời những sản phẩm có giá trị và hiệu quả cao trong
việc chữa trị và bổ dỡng sức khoẻ làm phong phú thêm thị trờng sản phẩm dợc trong nớc.
Kinh nghiệm cổ truyền và giá trị dinh dỡng thực phẩm thuốc của cá cơm, cá chìa vôi hay từ
nguyên liệu động vật hay thảo dợc từ nghìn đời xa để cho đến nay vẫn còn giữ nguyên đợc giá
Mr.Nam - 21 - 8/8/2007
trị. Kế thừa và phát triển các sản phẩm trên, đề tài đã phát triển không chỉ là sản phẩm thực phẩm
thông thờng nh ngày xa mà với công nghệ hiện đại đề tài đã cho ra đời sản phẩm là những viên
nang đợc sản xuất trên dây chuyền và các thiết bị hiện đại. Với sản phẩm này còn mang tính hiện
đại dùng đợc cho nhiều đối tợng cả đàn ông, đàn bà, ngời già, ngời trẻ.
Nguyên liệu bột của Phunamine đợc sản xuất từ bột cá cơm, cá chìa vôi hay từ nguyên
liệu động vật hay thảo dợc bằng các công nghệ hoá sinh, công nghệ enzyme, công nghệ hoá
học v v Với những thành phần dinh dỡng khá phong phú có trong bột nh (Các acid amin, các
nguyên tố vi lợng, các hoạt chất steroid ) cho thấy nguồn nguyên liệu này có nhiều hoạt chất giá
trị cho sức khoẻ.
Từ lý do các vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu sản xuất viên tăng lực Phunamine nhằm
nâng cao sức khoẻ và tăng cờng thể lực vận động viên là thể hiện sự phát huy tiềm năng và nội
lực về nguồn tài nguyên và trình độ khoa học công nghệ Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc nhằm phục vụ tốt cho các vận động viên tham gia các giải thi đấu trong nớc
và trong khu vực.





















Mr.Nam - 22 - 8/8/2007
ii. Đối tợng và Phơng pháp nghiên cứu

1. Đối tợng nghiên cứu
* Nghiên cứu các hoạt chất sinh học từ nguồn nguyên liệu cá biển (Cá cơm và cá chìa vôi) để tạo
sản phẩm viên tăng lực Phunamine.
* Nghiên cứu các hoạt chất sinh học từ nguồn nguyên liệu con hàu và kiến mối để tạo bột nguyên
liệu cho 2 sản phẩm bột Thienamix và Nacamix.
* Nghiên cứu thử nghiệm tác dụng của chế phẩm trên động vật chuột và thỏ.
* Nghiên cứu tác dụng tăng cờng thể lực và hồi phục sức khỏe của viên tăng lực Phunamine trên

vận động viên ở 3 môn sức mạnh (cử tạ), sức bền (điền kinh) và môn phối hợp (bóng bàn).
2. Nguyên liệu và phơng pháp nghiên cứu.
a. Nghiên cứu xác định hàm lợng hoạt chất sinh học hormon steroid (testosteron,
progesteron, cortilson, oestradoen) trong các đối tợng nghiên cứu theo phơng pháp miễn
dịch Eliza trên máy Multiskan - Phần Lan với kit của hãng BiotechMỹ.
Phơng pháp miễn dịch ELISA : là phơng pháp miễn dịch enzym với kháng thể đa dòng có
độ nhậy rất cao và sự tách từ qua 1 pha rắn. Các hormone steroid của mẫu, của chuẩn và của đối
chứng phản ứng với kháng thể đa dòng đã đợc đánh dấu bằng fluorescein ở trong ống thử và
cạnh tranh với dẫn xuất của hormone steroid đã đợc đánh dấu bằng enzym để gắn vào số lợng
hạn chế kháng thể. Một chất tách đặc biệt sẽ tách hormone steroid ra khỏi mối liên kết với SHBG
và do đó lợng hormone steroid tuần hoàn tổng số sẽ đợc xác định. Lợng dẫn xuất hormone
steroid đã đợc gắn tỷ lệ nghịch với lợng hormone steroid có ở trong mẫu.
Sau 1 khoảng thời gian ủ là 30 phút ở 37
0
C, chất lợng thể kháng lại flurorescein (đã đợc
gắn với các phần tử có thể từ tính hoá) sẽ đợc cho thêm vào ở mức d thừa(D). Chất kháng thể
này gắn nhanh và đặc hiệu với phức hợp dẫn xuất của hormone steroid kháng thể và sẽ lắng xuống
trong 1 từ trờng mà không cần phải ly tâm, phần trên sẽ đợc đổ đi và phần cặn đợc rửa. Cơ chất
trong tất cả các ống đợc ủ với 1 dung dịch cơ chất của enzym (F). Sau khi ủ 30 phút ở 37
0
C thì
dừng phản ứng bằng cách cho vào dung dịch dừng phản ứng(G). Cờng độ của mầu sắc của ống
đợc xác định bằng so mầu, cờng độ của mầu sắc xuất hiện do phản ứng enzym tỷ lệ nghịch với
nồng độ của kháng nguyên đang tồn tại. Với mẫu chuẩn sẽ dựng đợc đờng cong chuẩn và từ đó
có thể xác định đợc nồng độ kháng nguyên cha biết có trong mẫu cần phân tích.
Mr.Nam - 23 - 8/8/2007
b. Nghiên cứu xác định hàm lợng hoạt chất sinh học, các nguyên tố khoáng vi lợng
cần thiết (Fe, Zn, Mn, Se) trong các đối tợng nghiên cứu bằng phơng pháp phân tích
huỳnh quang tia X trên máy ký hiệu XRF SEA-2110 của Nhật.
Phơng pháp phân tích huỳnh quang tia X là một trong những phơng pháp hiện đại và tiên

tiến, nguyên lý của phơng pháp này là dùng nguồn năng lợng phóng xạ tia X chiếu qua cơ chất
mẫu cần phân tích và làm cho các chất có trong mẫu phát ra những tia X đặc trng cho từng
nguyên tố. Mỗi nguyên tố đó lại phát quang ra những điểm tạo ra một nguồn năng lợng và khi so
với các điểm chuẩn của nó ta có thể tính ra đợc hàm lợng của từng chất đó.
c. Nghiên cứu xác định hàm lợng hoạt chất sinh học (protein, axit amin) của các đối
tợng nghiên cứu bằng phơng pháp điện di trên máy axít amin tự động HP Amino Quant
Series II của Nhật.
d. Nghiên cứu quy trình khai thác các hoạt chất sinh học từ tạo chế phẩm thực phẩm
chức năng viên tăng lực Phunamine bằng công nghệ enzyme.
* Phân tích hoạt chất sinh học trong các loài cá cơm, cá chìa vôi, hàu và kiến, mối bằng
phơng pháp sinh hóa, phơng pháp miễn dich Eliza, phơng pháp vi sinh và phơng pháp phân
tích huỳnh quang tia X.
* ứng dụng công nghệ enzyme, công nghệ hóa sinh để tạo các sản phẩm bột nguyên liệu
Phunamine, Thienamix, Nacamix.
* ứng dụng phơng pháp Yhọc thể thao để nghiên cứu tác dụng của viên tăng lực
Phunamine trên các nhóm vận động viên của 2 đội cả nhóm đối chứng và thí nghiệm đều có chế độ
dinh dỡng và tập luyện nh nhau, bao gồm các bài tập về sức bền, sức dẻo, chế độ giáo án tập
yếm khí, tập a khí. (Viên tăng lực Phunamine là sản phẩm nghiên cứu giữa Trung tâm Y học Thể
thao - Viện Khoa học Thể dục Thể thao, Viện Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học&Công nghệ
Việt Nam, Trung tâm Giáo dục và Phát triển Sắc ký - Đại học Bách khoa Hà Nội đợc sản xuất tại
Công ty Cổ phần Dợc Trung ơng)
- Phơng pháp kiểm nghiệm bù đôi, đối chứng và tự đối chứng, lấy mẫu máu của vận động
viên trớc và sau thời gian tập luyện.
- Kiểm tra về các chỉ tiêu về chuyên môn, s phạm, phản xạ tâm lý và các chỉ tiêu sinh lý,
sinh hoá và thành tích thi đấu [7, 8, 9, 17, 22, 23, 24].
Mr.Nam - 24 - 8/8/2007
- Tất cả các mẫu sinh hoá đều thực hiện đo trên máy đo sinh hoá VISUAL và kít chuẩn của
Hãng BIOMRIEUX của Pháp. Tại Viện Công nghệ Sinh học
Các chỉ tiêu hormone steroid thực hiện trên máy miễn dịch Eliza của hãng Multiskan - Phần lan đo
bằng kít chuẩn của hãng Biotech - Mỹ.

- Các chỉ tiêu nguyên tố vi lợng đợc đo trên máy phân tích huỳnh quang tia X trên máy
ký hiệu XRF SEA-2110 của Nhật.
- Các chỉ tiêu axit amin đợc đo trên máy axit amin tự động của Nhật.
- Các chỉ tiêu huyết học đợc đo trên máy Sysmexse-9500 Nhật cho phép xác định đợc 32
chỉ tiêu huyết học khác nhau.
- Các chỉ tiêu phản xạ tâm lý đợc đo trên máy SK2000 tại Viện Khoa học Thể dục Thể
thao.
- Các chỉ tiêu nhịp tim, oxy mạch, VO
2
max, tiêu thụ oxy, chuyển hoá năng lợng, công suất
vận động, gắng sức tối đa đợc đo trên hệ thống Cosmed K4B
2
Máy của Italia, là thiết bị hiện
đại nhất hiện nay của Viện Khoa học Thể dục Thể thao. Cosmed là thiết bị đo từ xa, đợc cấu tạo
tinh vi, gọn nhẹ, có thể truyền dữ liệu từ thiết bị phân tích tới nơI thu nhận thông tin (Monitor màn
hình vi tính) với khoảng cách 800m, nên Cosmed K4B
2
đợc ứng dụng trong việc kiểm tra vận động
viên không chỉ ở trong phòng thí nghiệm mà cả trên hiện trờng tập luyện nh sân vận động, nhà
thi đấu. Với phơng pháp kiểm tra các thông số y sinh bằng thiết bị Cosmed K4B
2
là một thiết bị
hiện đại , có độ chính xác cao. Cosmed K4B
2
hoạt động theo nguyên lý Knipping. Đó là sự kết hợp
giữa phơng pháp kiểm tra chức năng của hệ tuần hoàn và hô hấp (Cardiospirometre) với phơng
pháp đo công suất (Ergomatre) diễn ra trong suốt quá trình thực hiện bài tập. Do đó, phơng pháp
này còn có tên là (Cardiosproegometre) Tên đầy đủ là
- Các chỉ tiêu thành tích đợc các huấn luyện viên trực tiếp kiểm tra.











Mr.Nam - 25 - 8/8/2007
III. Kết quả nghiên cứu

A. Kết quả nghiên cứu qui trình công nghệ
1. Kết quả nghiên cứu phân tích điều tra hoạt chất sinh học trong các đối tợng nguyên liệu
cá cơm, cá chìa vôi, hàu và kiến, mối.
a. Các kết quả nghiên cứu về thành phần axit amin có trong các nguyên liệu.
* Các kết quả nghiên cứu về axit amin có trong nguyên liệu cá cơm.
Bảng 2. So sánh thành phần và hàm lợng acid amine có trong 3 loài cá cơm (Đơn vị tính: %g
a.amine/100g mẫu).

Axit amin Cá cơm ấn Độ
Cá cơm thờng
(trắng)
Cá cơm sáng
1. Aspactic 3.07 7.20 2.96
2. Glutamic-Treonine 4.01 5.80 5.01
3. Treonine 0.92 1.22 1.74
4. Serine 2.12 3.03 3.16
5. Glycine 2.73 2.80 2.35
6. Tyroxin 6.83 10.50 5.38

7. Alanine 2.24 3.50 4.11
8. Acginin-Histidin 3.02 3.10 4.12
9. Histidin 4.05 4.85 5.24
10. Valine 2.45 2.55 2.48
11.Methionin+ Valine 3.19 4.68 3.75
12. Phenylalanine 4.38 6.96 5.14
13. Isoleucin 7.12 6.50 6.40
14. Leucine-isoleucine 3.92 2.90 3.08
15. Lysine 4.08 3.87 3.07
16. 4-Hydroproline 6.48 7.80 5.08
17. Cysteine 3.01 2.82 2.01

×