Tải bản đầy đủ (.pdf) (56 trang)

nghiên cứu qui trình công nghệ phân lập, làm sạch và bảo quản một số giống tảo có giá trị kinh tế cao phục vụ nghề nuôi trồng thuỷ sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (603.8 KB, 56 trang )







Bộ khoa học và công nghệ
Viện ứng dụng Công nghệ
Trung tâm sinh học thực nghiệm

C6 Thanh Xuân Bắc, Hà Nội




Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài:
Nghiên cứu qui trình công nghệ phân lập, làm sạch và
bảo quản một số giống tảo có giá trị kinh tế cao phục vụ
ngành nuôi trồng thuỷ sản

TS.Hoàng Thị Kim HOa





6123
25/9/2006

Hà nội, 12-2005


Bản quyền 2005 thuộc TTSHTN
Đơn xin sao chép toàn bộ hoặc từng phần tài liệu này phải gửi đến Giám đốc
TTSHTN trừ trờng hợp sử dụng với mục đích nghiên cứu
Thông tin về đề tài

Tên đề tài:


Nghiên cứu qui trình công nghệ phân lập, làm sạch và bảo quản một số
giống tảo có giá trị kinh tế cao phục vụ ngành nuôi trồng thuỷ sản.

1. Chủ nhiệm : TS. Hoàng Thị Kim Hoa
Điện thoại (CQ) : 8549438
2. Địa chỉ cơ quan : C6- Thanh xuân bắc - Đống đa Hà Nội.
3. Thời gian thực hiện : 12 tháng (từ tháng 1/2005 đến tháng 12/ 2005)
4.Cơ quan chủ trì thực hiện : Trung tâm Sinh học Thực nghiệm
5. Cơ quan chủ quản : Viện ứng dụng công nghệ
6. Tên tổ chức KH & CN: Trung tâm Sinh học Thực nghiệm
7. Kinh phí Tổng số : 218.000.000 đ (Hai trăm mời tám triệu đồng)
8. Từ ngân sách SNKH : 218.000.000 đ (Hai trăm mời tám triệu đồng)


Cán bộ thực hiện đề tài
Chủ nhiệm đề tài:
TS. Hoàng Thị Kim Hoa, Trung tâm Sinh học thực nghiệm.
Các cán bộ thực hiện chính:
- CN Trần Bảo Trâm - Trung tâm Sinh học thực nghiệm
- Ths. Nguyễn Trâm Anh- Trung tâm Sinh học thực nghiệm.
- CN. Nguyễn Thanh Mai- Trung tâm Sinh học thực nghiệm.
- CN. Nguyễn Thị Huyền - Trung tâm Sinh học thực nghiệm.




Mục tiêu:
- Đa ra qui trình phân lập làm sạch và bảo quản 5 giống vi tảo có giá trị dinh
dỡng cao ứng dụng trong nhân giống thuỷ sản là Dunaliella salina,
Tetraselmis chuii, Nanochloropsis oculata, Isochrysis galbana, Chlorella
vulgaris.
- Từng bớc xây dựng tập đoàn giống tảo có chất lợng tốt để cung cấp cho
các cơ sở sản xuất giống thuỷ sản.

Nội dung:
- Nghiên cứu qui trình bỏ tảo lạ và động vật phù du tạo 5 giống tảo thuần
(Dunaliella salina, Tetraselmis chuii, Nanochloropsis oculata, Isochrysis
galbana, Chlorella vulgaris).
- Nghiên cứu ảnh hởng của một số loại kháng sinh lên sinh trởng của tảo và
vi sinh vật.
- Nghiên cứu bảo quản thử 5 giống tảo bằng kĩ thuật làm bất động.
- Đề xuất qui trình phân lập làm sạch và bảo quản giống tảo.













Ch÷ viÕt t¾t
TA – Ký hiÖu kh¸ng sinh thuéc nhãm carbonhydrat
N§KS – Nång ®é kh¸ng sinh
TN – ThÝ nghiÖm
D. salina – Dunaliella salina
N. oculata – Nannochloropsis oculata
T. chuii – Tetraselmis chuii
Ch. vulgaris – Chlorella vulgaris
I. galbana – Isochrysis galbana
EPA – Eicosapentaenoic acid
DHA – Docosahexanenoic acid

























1
Lời mở đầu

Trong một số công trình nghiên cứu trớc đây chúng tôi đã giới thiệu về
giá trị dinh dỡng của vi tảo biển và sự cần thiết sử dụng tảo làm thức ăn cho con
giống trong nuôi trồng nhân giống nhân tạo các loài hải sản. Do các loài vi tảo
biển có giá trị dinh dỡng cao, giàu các chất có hoạt tính sinh học rất phù hợp
cho động vật biển giai đoạn còn non nên ở các nớc có ngành nuôi trồng thuỷ
sản phát triển, vấn đề sản xuất tảo ở các trại giống rất đợc chú trọng. Kinh phí
đầu t cho việc sản xuất tảo chiếm tới 50% kinh phí của trại giống.
ở nớc ta, trong những năm gần đây các loài vi tảo biển đã đợc nuôi
trồng phục vụ nhân giống hải sản ở nhiều trại giống. Tuy nhiên việc sản xuất tảo
ở các trại giống hải sản hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do cha có nguồn giống
ổn định. Thực tế cho thấy các giống tảo sau một thời gian ngắn nuôi trồng đều bị
nhiễm tạp các loài tảo lạ, vi khuẩn, nấm và động vật phù du, làm giảm năng suất
và chất lợng tảo, ảnh hởng đến quá trình sản xuất giống hải sản. Vì vậy cần có
nguồn giống tốt để thờng xuyên cung cấp cho sản xuất.
Việc nghiên cứu qui trình phân lập, làm sạch và bảo quản lâu dài một số
giống tảo có giá trị kinh tế cao để cung cấp giống chủ động, ổn định, kịp thời
cho việc sản xuất giống thuỷ sản tại các trại giống là hết sức cần thiết.












2
Phần I: Tổng quan tài liệu
Các loài vi tảo biển có kích thớc bé, giàu dinh dỡng, giàu các chất có
hoạt tính sinh học rất phù hợp để sử dụng cho động vật biển giai đoạn còn non.
Vì vậy vi tảo đợc sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản nh là nguồn thức ăn tơi
sống thiết yếu của động vật thân mềm 2 mảnh vỏ ( sò, điệp, ngao, vẹm, trai. . .),
ấu trùng bào ng, tôm, một số loài cá và động vật phù du sử dụng trong dây
chuyền thức ăn phục vụ nuôi trồng thuỷ sản. Trong hơn bốn thập kỷ qua hàng
trăm loài tảo đã đợc thử nghiệm và đã chọn đợc vài chục loài có khả năng
nhân nuôi sinh khối ứng dụng trong thuỷ sản. Chúng thuộc ngành tảo lục
(Chlorophycophyta), tảo khuê (Bacilariophyta) và tảo roi cụt (Haptophyta). Theo
các tác giả Brown et al ( 1991, 1992, 1997, 1999), Renaud et al (1999), Knuckey
et al (2002), các loại tảo này có kích thớc nhỏ, thành tế bào mỏng, dễ tiêu hoá,
giàu dinh dỡng, hàm lợng protein, axit amin, lipít, cacbonhydrat và vitamin
cao, thích hợp cho sinh trởng của ấu trùng các động vật biển, đặc biệt các loài
vi tảo này có hàm lợng a xít béo rất cao, trong đó có các axit béo không no
mạch dài (DHA, EPA) chiếm từ 49,7-77,9% ở tảo lục và chroomonas, từ 19,8-
52,6% ở tảo diatoms và prymnesiophytes ). Các axít này rất cần thiết cho sinh
trởng và phát triển của động vật biển giai đoạn ấu trùng.
(
). Vì vậy các trại giống rất chú trọng đến việc nuôi
tảo. Kinh phí để sản xuất tảo chiếm từ 15-50% kinh phí của trại giống.
Để đảm bảo hiệu quả của quá trình sản xuất hải sản, cần có nguồn thức

ăn tảo với chất lợng cao, muốn vậy nguồn giống tảo cho quá trình sản xuất sinh
khối phải đạt chất lợng tốt. Thờng các giống tảo sau một thời gian ngắn nuôi
trồng đều bị nhiễm tạp các loài tảo lạ, vi khuẩn, nấm và động vật phù du. Để đáp
ứng nguồn tảo giống cho các trại sản xuất thờng xuyên phải cung cấp giống
mới (sạch, tốt) từ tập đoàn giống gốc. Vì vậy, giống cần đợc thờng xuyên phân
lập và bảo quản trong điều kiện thích hợp. ở các nớc có ngành nuôi trồng thuỷ
sản phát triển nh Mỹ, úc, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Hàn
Quốc, Singapore đều có các cơ sở cung cấp giống tảo chất lợng cao và các

3
dịch vụ đi kèm nhằm đảm bảo có giống tốt, cung cấp ổn định cho sản xuất. Tuy
nhiên việc phân lập tảo gặp nhiều khó khăn do kích thớc tế bào tảo nhỏ, sống
kết hợp với vi sinh vật và các loài ký sinh khác. Vì vậy việc tách vi khuẩn khỏi
tảo là rất khó. Gerloff và cộng sự (1950), Kbutko (1961) đã làm sạch tảo lam
bằng cách sử dụng tia cực tím. Tuy nhiên phơng pháp này có nhợc điểm là có
thể gây đột biến di truyền. Baccep và cộng sự (1989) đã sử dụng phơng pháp
cấy tảo trên thạch. Sau đó chọn khuẩn lạc mong muốn và cấy tiếp vào môi
trờng lỏng để tảo phát triển, tiếp tục lấy tảo từ môi trờng lỏng cấy tiếp vào môi
trờng thạch. Quá trình đợc lặp lại nhiều lần cho đến khi thu đợc tảo sạch.
Cách phân lập này hiện nay vẫn đợc sử dụng phổ biến.Tuy nhiên với phơng
pháp nh trên tốn rất nhiều thời gian và cũng không loại bỏ đợc vi khuẩn bám
chặt vào lớp nhầy quanh tế bào tảo. Stein (1973) cho thấy tảo sạch cũng có thể
nhận đợc bằng cách rửa kỹ và sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh để diệt
khuẩn nhng không nêu sử dụng loại kháng sinh nào
Để nâng cao hiệu quả, rút ngắn thời gian phân lập, Alenkhina và cộng sự
(2001) đã sử dụng chất diệt khuẩn Methiolat để tách vi khuẩn ra khỏi tảo lam.
Kết quả cho thấy nồng độ Methiolat 2ppm có tác dụng diệt khuẩn nhng không
làm ảnh hởng đến sinh trởng của chủng tảo lam nghiên cứu. Việc nghiên cứu
làm sạch khuẩn các loài vi tảo biển nói chung và các chủng tảo Dunaliella
salina, Nannochloropsis oculata, Isochrryis galbana, Tetraselmis chuii,

Chlorella vulgaris còn ít đợc công bố.
Sau khi có đợc tảo sạch, vấn đề giữ giống cũng rất quan trọng. Thờng
tảo đợc giữ ở điều kiện nhiệt độ, ánh sáng thấp để hạn chế sinh trởng. Tuy
nhiên trong điều kiện này giống giữ không đợc lâu, dễ nhiễm, chất lợng kém.
Vì vậy, vấn đề bảo quản giống trở nên bức xúc và đ
ợc nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu. Morris (1978), Fenwick và cộng sự (1992), Pedro Canavate và
cộng sự (1995), Hong Quan Liu và cộng sự (2004) đã nghiên cứu bảo quản một
số loài tảo bằng kỹ thuật đông lạnh, phơng pháp này đòi hỏi phải áp dụng một
số phơng thức đặc biệt nhằm hạn chế tổn thơng đối với tế bào (Moris, 1987)
nh dùng các chất chống đóng băng, điều khiển tốc độ làm lạnh, tốc độ làm ấm,

4
sử dụng các yếu tố điều hoà nhiệt độ, nồng độ muối, Các tác giả trên cũng cho
thấy: Có hai phơng pháp đông lạnh là đông lạnh một bớc và đông lạnh hai
bớc. Đông lạnh một bớc là tảo sau khi ủ, cho vào cọng rạ và đa thẳng vào
nitơ lỏng (-196
o
C) (Tsuzu, 1973; Beu-Amotz và Gilboa, 1980). Đông lạnh 2
bớc là đầu tiên tảo đợc đông lạnh trong điều kiện có kiểm soát nhằm giảm h
hại do quá trình tạo băng, sau đó a vào nitơ lỏng. Kết quả nghiên cứu của
Pedro canavate và cộng sự (1995) cho thấy: Tuỳ theo phơng pháp làm lạnh,
nồng độ chất chống đóng băng, nồng độ muối, môi trờng và đặc điểm của từng
giống nên khả năng sống của tảo sau khi bảo quản rất khác nhau. Đối với
Chaetoceros glacilis, tỉ lệ sống chỉ đạt 2,9-7,3%; Rodomonas baltica 2,2-3,1%;
Isochrysis galbana từ 9,3-25,8%, Tetraselmis chuii, Nannochloropsis gaditana
và Nannochloropsis atomus không bị ảnh hởng bởi quá trình làm lạnh.
Theo nhận xét của nhiều tác giả: bảo quản bằng kĩ thuật đông lạnh phức
tạp, phụ thuộc nhiều yếu tố. Ngoài ra trong quá trình đông lạnh, sự hình thành
băng đột ngột có thể xảy ra làm h hại tế bào (Moris, 1987), hơn nữa việc sử

dụng các hoá chất chống lạnh gây độc đối với tế bào và có thể làm ảnh hởng
đến khả năng sống của tảo. Điều này đã đợc mô tả đối với tảo Chlorella
(Moris.1976), tảo khuê (Mclellan, 1989) và Tetraselmis suecica (Fenwiek and
Day, 1992). Ngoài ra, sử dụng kĩ thuật đông lạnh còn đòi hỏi một số thiết bị đặc
chủng, chi phí cao, khó thực hiện. Vì vậy, công nghệ bảo quản mang tính u việt
hơn: ít phức tạp, chi phí thấp, phù hợp cho điều kiện phòng thí nghiệm và cơ sở
sản xuất đang đợc các nhà khoa học nghiên cứu áp dụng. Đó là bảo quản tảo
bằng cách làm bất động (immobilization) (Tamponet và cộng sự ,1985; Hertherg
and Jensen, 1989; Susana Romo and Carmen Berer-Martiner ,1997; Yean-
Chang-Chen, 2001,2003) .Kết quả nghiên cứu của Tamponnet và cộng sự (1985)
và Hertzberg and Jensen (1989) cho thấy các giống tảo khuê đợc làm bất động
trong gel vẫn duy trì đợc cấu trúc nguyên vẹn và hoạt tính sinh lí trong một số
tháng, điều này gợi ý có thể sử dụng kĩ thuật này trong bảo quản giống tảo. Tuy
nhiên các tác giả trên cũng lu ý rằng trong 7 giống tảo thí nghiệm thì chỉ có 2
giống tảo Phaeodactylum tricornutam và Skeletonema costatum là cho kết quả

5
tốt. Tác giả Susana Romo and Carmen Perez Martinez (1997) đã thử nghiệm kĩ
thuật làm bất động để bảo quản giống tảo lam Pseudanabaena galeata Bocher
(cyanobacteria) và đánh giá khả năng sống, đặc điểm sinh lí, sinh hoá và cấu trúc
của chúng sau thời gian bảo quản 14-18 tháng. Kết quả cho thấy tảo sau khi
đợc bảo quản tỉ lệ sống đạt 93%, sinh trởng tốt, không có sự khác biệt về cấu
trúc tế bào, sinh hoá và tốc độ sinh trởng giữa tảo thí nghiệm và tảo đối chứng.
Các tác giả trên nhận xét việc xử lí dờng nh không có ảnh hởng đến khả năng
sinh trởng và chức năng của tảo Pseudanabaena galeata, hàm lợng C, H, N và
P trong tế bào tảo đợc bảo quản và tế bào tảo đối chứng không có sự khác biệt
đáng tin cậy. Tảo sau khi bảo quản đợc đa vào môi trờng thích hợp để sinh
trởng.
Tác giả Yean-Chang-Chen (2001) đã nghiên cứu kĩ thuật làm bất động
Scenedesmus quadricauda trong hạt gel để bảo quản tảo lâu dài. Tảo đợc cố

định bằng kĩ thuật làm bất động vẫn giữ đợc hoạt tính sinh lí sau 3 năm bảo
quản trong điều kiện tối hoàn toàn ở nhiệt độ 4
o
C, không có môi trờng dinh
dỡng. Sau khi cho vào môi trờng thích hợp trong 4 tuần, số lợng tảo đã tăng
lên 40 lần. Kết quả quan sát cho thấy sau quá trình bảo quản dài ngày, một số cơ
quan tử (pyrenoids) của Scenedesmus quadricauda bị tiêu huỷ. Tuy nhiên cơ
quan tử này sẽ phục hồi khi đa vào điều kiện nuôi thích hợp về dinh dỡng và
ánh sáng. Kết quả nghiên cứu của Yean Chang - Chen (2003) đối với tảo
Haptophyta; Laz E. de Bashan và công sự (2002) đối với tảo Chlorella và
Azospirillum cho thấy giống tảo sau khi bảo quản bằng phơng pháp làm bất
động có độ nảy mầm cao, sinh trởng tốt và đặc biệt là chi phí bảo quản thấp.
Giống có thể bảo quản đợc 1 3 năm vẫn đảm bảo chất lợng tốt. Qua những
kết quả thu đợc, các tác giả trên nhận xét có thể sử dụng kĩ thuật làm bất động
để bảo quản tảo lâu dài trong phòng thí nghiệm và ứng dụng vào thực tế sản xuất
nuôi trồng thuỷ sản nhằm giảm chi phí sản xuất so với các phơng pháp truyền
thống.
ở nớc ta trong những năm gần đây, tảo đã đợc sử dụng làm thức ăn
tơi sống phục vụ nhân giống hải sản (tôm, cá, bào ng, ngao, sò, động vật hai

6
mảnh vỏ ). Hiện nay nhu cầu về tảo trong các trại giống rất lớn. Nhng để sản
xuất tảo mang lại hiệu quả nh mong muốn, vấn đề giống là khâu đặc biệt quan
trọng. Các cơ sở nhân giống thuỷ sản lớn nh: Trạm nhân giống thuỷ sản nớc
mặn tại Cát Bà, trạm nghiên cứu nhân giống thuỷ sản nớc lợ Quí Kim Đồ Sơn
Hải Phòng, một số cơ sở nuôi trồng thuỷ sản ở Miền Trung (Nha Trang, Khánh
Hoà, Cửu Hội, Nghệ An) đều có bộ phận nhân nuôi tảo phục vụ ơm nuôi con
giống. Tuy nhiên giống tảo sử dụng tại các trại giống hiện nay chủ yếu là nhập từ
nớc ngoài, trong quá trình sử dụng giống thờng bị nhiễm dẫn đến giảm chất
lợng. Các cơ sở này ít có điều kiện phân lập làm sạch. Vì vậy vấn đề sản xuất

tảo nhân nuôi con giống gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, việc giữ giống thờng
đợc thực hiện bằng cách nuôi tảo trong môi trờng lỏng, trong tủ mát với nhiệt
độ 15-17
o
C. Trong điều kiện này tảo phát triển nhanh và dễ bị nhiễm tạp tảo lạ
và vi khuẩn. Hiện nay công nghệ bảo quản bằng kỹ thuật làm bất động ở Việt
Nam cha đợc nghiên cứu áp dụng. Vì vậy việc nghiên cứu qui trình làm sạch
tảo (bao gồm phân lập, loại bỏ tảo lạ, động vật phù du và làm sạch khuẩn tiến tới
xây dựng tập đoàn giống có chất lợng tốt và nghiên cứu kỹ thuật nhằm bảo
quản lâu dài các giống tảo nhằm chủ động phục vụ sản xuất là hết sức cần thiết.
Với mục đích trên chúng tôi đề xuất đề tài Nghiên cứu qui trình công nghệ
phân lập, làm sạch và bảo quản một số giống tảo có giá trị kinh tế cao phục
vụ ngành nuôi trồng thuỷ sản.













7
Phần II. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu.
II.1. Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu là tảo Dunaliella salina, Tetraselmis chuii,

Nannochloropsis oculata, Isochrysis galbana, Chlorella vulgaris. Tảo
Dunaliella salina và Chlorella vulgaris đợc lấy từ tập đoàn giống của Trung
tâm sinh học thực nghiệm. Tảo Nannochloropsis oculata, Isochrysis galbana,
Tetraselmis chuii đợc lấy từ Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, Hải phòng.
Dunaliella salina là tảo đơn bào, màu xanh lục, kích thớc tế bào 7-12àm.
Tế bào có dạng hình ovan, không có màng cứng bằng xenlulloza bao bọc mà chỉ
có màng nguyên sinh chất, có khả năng chuyển động liên tục trong quá trình
sống nhờ roi ở đỉnh. Tảo sinh sản bằng hình thức vô tính chia dọc hay ngang tế
bào. Dunaliella salina chứa nhiều loại sắc tố đặc biệt là -caroten (chiếm từ 8-
14% trọng lợng khô), hàm lợng dinh dỡng cao, axit béo không no chiếm
77,9% tổng lợng axit béo, Dunaliella salina rất thích hợp để làm thức ăn cho
một số loài động vật biển.
Nannochloropsis oculata có màu xanh, kích thớc nhỏ 2-4àm thành tế
bào mỏng thích hợp làm thức ăn cho luân trùng. Đặc điểm của tảo
Nanochloropsis oculata là hàm lợng axit béo không no omega-3 fatty
unsaturated fatty acids (HUFAs) rất cao ( từ 16-42%) trong đó chủ yếu là EPA.
(Eicosapentaenoic acid). Trong tảo chiếm một lợng lớn vitamin B
12
, vitamin
này có ảnh hởng tốt đến tỉ lệ sống và sinh trởng của ấu trùng cá. Vì vậy,
Nannochloropsis oculata là tảo đợc nuôi trồng phổ biến nhất trong các trại
nuôi trồng thuỷ sản để phục vụ công tác nhân giống động vật biển.
Isochrysis galbana có màu nâu vàng, có lông roi, kích thớc từ 4-7àm.
Tảo này đợc nuôi trồng phổ biến để làm thức ăn cho động vật hai mảnh vỏ
(ngao, sò ), kết hợp với tảo Chlorella hoặc tảo khác để làm thức ăn cho luân
trùng. Hàm lợng axit béo không no EPA trong tảo Isochrysis galbana chiếm 2-
3,5% và DHA 3,5-4%.

8
Tetraselmis chuii thuộc loài tảo lục, kích thớc 9-14àm, đợc sử dụng

nhiều trong nuôi trồng thuỷ sản. Trong tảo chứa khoảng 5% EPA và 7% DHA,
đặc biệt trong tảo này có chứa axit béo 20 : 5
n-3
và sterol 24-methychlesterol
hoặc 24-methylenecholesterol với hàm lợng cao. Các hợp chất trên có rất ít
trong thực vật phù du và rất thích hợp cho sinh trởng của ấu trùng động vật biển
nói chung và động vật thân mềm 2 mảnh vỏ nh ngao, sò, hầu (Wikfors et al,
1991)
Chlorella vulgaris là tảo lục giàu dinh dỡng đợc sử dụng nhiều trong
nuôi trồng thuỷ sản, ngoài việc làm thức ăn trực tiếp cho ấu trùng động vật biển
(tôm, động vật 2 mảnh vỏ) ở một số giai đoạn phát triển, Chlorella vulgaris còn
có tác dụng rất tốt trong xử lí nớc ao nuôi, gây màu nớc
II.2 Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp phân lập, làm sạch tảo: dịch tảo đợc làm sạch sơ bộ bằng
cách lọc qua vải lọc hoặc bông để loại bỏ tạp chất, tảo sợi và ộng vật phù du.
Sau đó tiến hành ly tâm để xác định tốc độ và thời gian ly tâm thích hợp đối với
từng chủng tảo, dựa vào đó có thể ly tâm tách tảo để thu đợc sinh khối chủng
tảo mong muốn. Từ sinh khối tảo thu đợc tiến hành phân lập theo 2 phơng
pháp: phân lập trên môi trờng thạch và phân lập trong môi trờng lỏng bằng
phơng pháp pha loãng.
-Phân lập trên môi trờng thạch:
Mẫu tảo sau khi pha loãng đợc cấy vào đĩa thạch có chứa dinh dỡng
phù hợp với loài cần phân lập. Tảo đợc nuôi trong điều kiện chiếu sáng
1500lux, thời gian chiếu sáng 10/24 giờ, nhiệt độ 18
o
C. Sau 15-20 ngày, tảo mọc
thành khuẩn lạc riêng rẽ, chọn khuẩn lạc mong muốn, dùng que cấy tách khuẩn
lạc đã chọn cho vào môi trờng lỏng, quá trình lặp lại nhiều lần cho đến khi thu
đợc tảo mong muốn (không lẫn tảo lạ)
Phân lập trong môi trờng lỏng: Tảo sau khi đã làm sạch sơ bộ, đợc pha

loãng sao cho mỗi giọt có một tế bào tảo, sau đó chuẩn bị các ống nghiệm có
môi trờng dinh dỡng. Nhỏ vào mỗi ống nghiệm 1 giọt tảo đã đợc pha loãng.

9
Để các ống nghiệm trong điều kiện ánh sáng yếu (1000lux) để tảo phát triển, sau
2-3 tuần kiểm tra để chọn ống nghiệm có tảo mong muốn.
Sau khi thu đợc tảo thuần, dùng kháng sinh để loại bỏ vi khuẩn, thu tảo
sạch khuẩn. Công việc đợc tiến hành nh sau:
1) Bổ sung kháng sinh vào môi trờng thạch sau đó cấy dịch tảo lên mặt đĩa
thạch để theo dõi sinh trởng của vi khuẩn nhằm xác định sơ bộ loại
kháng sinh, nồng độ kháng sinh thích hợp để loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn ra
khỏi tảo.
2) Bổ sung kháng sinh trực tiếp vào dịch tảo, sau đó theo dõi sinh trởng của
tảo và sự phát triển của vi khuẩn nhằm xác định chính xác loại kháng sinh
và nồng độ kháng sinh thích hợp để loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn ra khỏi
dịch tảo.
Sinh trởng của tảo đợc xác định bằng cách đo mật độ tảo (chỉ số OD)
trên máy quang phổ (Đối với tảo Dunaliella salina, Tetraselmis chuii,
Nannochloropsis oculata,, Chlorella vulgaris đo ở bớc sóng 640 nm,
Isochrysis galbana đo ở bớc sóng 520nm). Xác định sự có mặt của vi khuẩn
trong dịch tảo bằng cách cấy dịch tảo lên môi trờng thạch có chứa dinh dỡng
phù hợp cho sinh trởng của vi khuẩn và kiểm tra sự có mặt của vi khuẩn để xác
định nồng độ và loại kháng sinh thích hợp cho việc loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn ra
khỏi tảo. Sinh trởng của vi khuẩn đợc tính bằng số khuẩn lạc hoặc diện tích
mặt đĩa thạch có vi khuẩn mọc.
Các kháng sinh đợc sử dụng trong thí nghiệm là: Tetracycline,
Peflacine, Erythromycine và kháng sinh kí hiệu là TA. Tetracycline và peflacine
đợc cho là những kháng sinh thuộc nhóm quinon có phổ tác động rộng, có hiệu
quả chống lại nhiều loại vi khuẩn. Erythromycine là kháng sinh chống lại các vi
khuẩn gram dơng rất hiệu quả. TA là kháng sinh aminoglysid thuộc nhóm

carbonhydrat sử dụng rất hiệu quả nhằm chống các vi khuẩn gram âm khi dùng
trực tiếp.
Tảo sau khi phân lập, làm sạch, loại bỏ vi khuẩn đợc bảo quản bằng kỹ
thuật làm bất động nhằm giữ giống lâu dài. Nguyên tắc của phơng pháp này là

10
sử dụng chất tạo gel để cố định mẫu, bảo quản mẫu ở nhiệt độ thấp, không có
ánh sáng, khi cần sử dụng hoà tan tảo và để ở điều kiện ánh sáng, nhiệt độ thích
hợp cho tảo phát triển.









































11
Phần III: Kết quả nghiên cứu
III.1 Nghiên cứu phân lập thu giống tảo thuần
Để thu đợc giống tảo thuần sạch tảo lạ và động vật phù du, quá trình
phân lập tiến hành nh sau:
Loại bỏ tảo lạ bằng phơng pháp làm sạch sơ bộ: Lọc qua vải lọc hoặc
bông để loại bỏ tạp chất, tảo sợi và động vật phù du, sau đó dựa vào các đặc tính
sinh lý của từng loại tảo để chọn phơng pháp phân lập phù hợp.
Đối với tảo Dunaliella salina là tảo a mặn có thể chịu đợc môi trờng
có nồng độ muối cao hơn các loại tảo khác. Vì vậy chúng tôi tiến hành nuôi tảo
trong môi trờng có nồng độ muối từ 25-30% (cao gấp 10 lần môi trờng dinh

dỡng cho vi tảo biển nói chung). Sau một thời gian nuôi trong môi trờng có
nồng độ muối cao, các loài tảo nhiễm tạp giảm đáng kể. Từ sinh khối tảo thu
đợc, dựa vào tốc độ ly tâm và thời gian ly tâm thích hợp cho từng loại tảo chúng
tôi tiến hành tách tảo theo phơng pháp ly tâm . Việc thí nghiệm ly tâm tách tảo
nh sau: Các chủng tảo đợc ly tâm với tốc độ khác nhau: 1000, 2000, 3000
(v/phút) trong thời gian 2 phút, 3 phút, 5 phút. Sau mỗi lần ly tâm, kiểm tra dịch
tảo và cặn tảo để xác định độ lắng, độ sạch của tảo, trạng thái tế bào tảo, từ đó
xác định tốc độ và thời gian thích hợp để làm sạch sơ bộ các chủng tảo mong
muốn. Kết quả thí nghiêm đợc thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1: Thời gian và tốc độ ly tâm thích hợp để tách tảo.
Tốc độ
Thời gian
1000v/phút 2000v/phút 3000v/phút
2 phút
Tetraselmis
chuii
Dunaliella
salina
Chlorella
vulgaris
3 phút

Isochrysis
galbana
Nannochloropsis
oculata

Kết quả cho thấy tảo Tetraselmis chuii ly tâm với tốc độ 1000vòng/phút
trong thời gian 2 phút có 80% số tế bào lắng, tảo tơng đối sạch tảo lạ, khi tăng
tốc độ ly tâm lên 2000v/phút, thời gian ly tâm 2 phút, toàn bộ 100% tế bào lắng

cặn, trong đó có nhiều tế bào tảo lạ. Vì vậy chúng tôi cho rằng đối với
Tetraselmis chuii ly tâm tốc độ 1000v/phút trong vòng 2 phút là thích hợp.

12
Đối với tảo Isochrysis galbana với tốc độ ly tâm 1000v/phút trong vòng 2
phút, 3 phút, 5 phút, tảo hoàn toàn không lắng. Khi tăng tốc độ ly tâm lên
2000v/phút với thời gian ly tâm là 2 phút, số lợng tảo lắng là 50% nhng tạo
cặn không chắc, khi tăng tốc độ ly tâm lên 3000v/phút, có 90% số lợng tảo lắng
cặn nhng có chứa nhiều tế bào tảo lạ. Kết quả sau nhiều lần thí nghiệm cho
thấy đối với tảo Isochrysis galbana ly tâm tốc độ 2000v/phút trong vòng 3 phút
là tơng đối thích hợp ( 70% số lợng tế bào lắng trong đó có ít tế bào tảo lạ).
Kết quả thí nghiệm đối với tảo Nannochloropsis ocalata cũng cho thấy
với tốc độ ly tâm 1000v/phút, thời gian ly tâm: 2 phút, 3 phút, 5 phút tảo đều
không lắng. ở tốc độ 2000v/phút số lợng tảo lắng chỉ khoảng 30-40%; khi ly
tâm với tốc độ 3000v/phút, thời gian ly tâm 3 phút, tảo lắng là 80%. Tuy nhiên
ngoài Nannochloropsis oculata trong cặn tảo còn một số tế bào tảo lạ.
Đối với tảo Chlorella, để tách đợc tảo tơng đối sạch tảo lạ cần ly tâm ở
tốc độ 3000v/phút, thời gian ly tâm 2 phút và với tảo Dunaliella salina tốc độ ly
tâm 2000v/phút, thời gian ly tâm 2 phút.
Sau khi ly tâm để tách tảo, chúng tôi thu đợc các chủng tảo tơng đối
sạch tảo lạ. Từ các mẫu tảo thu đợc tiếp tục phân lập theo phơng pháp pha
loãng hoặc cấy trên môi trờng thạch để thu tảo thuần nh đã trình bày ở phần
phơng pháp nghiên cứu.
Sau quá trình phân lập công phu chúng tôi đã thu đợc tảo thuần:
Dunaliella salina, Tetraselmis chuii, Nannochloropsis oculata, Isochrysis
galbana và Chlorella vulgaris.
Tuy nhiên các giống tảo này còn nhiễm rất nhiều vi khuẩn. Kết quả kim
tra cho thấy trong dịch tảo chứa rất nhiều loại vi khuẩn khác nhau (ảnh 1) bao
gồm các vi khuẩn Gram âm và vi khuẩn Gram dơng ( ảnh 2). Vì vậy cần nghiên
cứu loại bỏ vi khuẩn để thu tảo sạch khuẩn.





13


ảnh1: Đĩa thạch có khuẩn lạc dày đặc


ảnh 2: Nhuộm Gram

III.2.Nghiên cứu thu tảo sạch khuẩn
Nghiên cứu ảnh hởng của kháng sinh lên việc loại bỏ vi khuẩn khỏi tảo.
Để loại bỏ vi khuẩn trong dịch tảo chúng tôi đã thử nghiệm bổ sung một
số kháng sinh vào môi trờng nuôi cấy tảo để nghiên cứu khả năng loại bỏ vi
khuẩn của kháng sinh và ảnh hởng của chúng lên sinh trởng của tảo. Các

14
kháng sinh đợc lựa chọn phải đáp ứng yêu cầu: có khả năng loại bỏ vi khuẩn và
không làm ảnh hởng đến sinh trởng của tảo. Với mục đích trên, chúng tôi đã
thử nghiệm 4 loại kháng sinh : Tetracycline, Peflacine, Erythromycine và TA.
Thí nghiệm đợc tiến hành nh sau: chuẩn bị môi trờng thạch Gorbenko
có bổ sung kháng sinh với nồng độ khác nhau, sau đó cấy dịch tảo lên môi
trờng thạch để theo dõi sự phát triển của vi khuẩn và tảo. Kết quả thu đợc là cơ
sở để xác định ngỡng nồng độ kháng sinh thích hợp nhằm loại bỏ vi khuẩn đối
với từng loại tảo. Điều này rất cần thiết khi giữ giống trong môi trờng thạch.
Thí nghiệm thăm dò ảnh hởng của một số loại kháng sinh lên sinh trởng
của tảo và vi khuẩn trong dịch tảo đợc tiến hành bằng cách bổ sung trực tiếp
kháng sinh vào môi trờng nuôi cấy tảo, sau đó theo dõi sinh trởng của tảo và

kiểm tra sự có mặt của vi khuẩn.
III.2.1 ảnh hởng của Tetracycline và Peflacine lên việc loại bỏ vi khuẩn và
sinh trởng của tảo.
Tetracycline là kháng sinh thuộc nhóm quinon có phổ tác động rộng, có
tác dụng đối với vi khuẩn Gram dơng và Gram âm. Vì vậy chúng tôi đã nghiên
cứu thăm dò việc sử dụng kháng sinh này để loại bỏ vi khuẩn trong dịch tảo. Tuy
nhiên khi bổ sung Tetracyeline vào môi trờng nuôi tảo đã làm cho môi trờng
bị kết tủa, ảnh hởng đến sinh trởng của tảo. Vì vậy chúng tôi tiếp tục thí
nghiệm với một kháng sinh khác cũng thuộc nhóm quinon là peflacine.
Peflacine đợc bổ sung vào môi trờng thạch đặc (Gorbenko) với nồng độ từ
2.5àg/ml-150àg/ml, sau đó cấy dịch tảo lên môi trờng thạch để kiểm tra sự có
mặt của vi khuẩn. Kết quả thí nghiệm đợc trình bày ở bảng 2.


Kết quả thí nghiệm đợc trình bày ở bảng 2 cho thấy: ở công thức đối
chứng (môi trờng không có kháng sinh), sau 3 ngày cấy dịch tảo vào môi
trờng thạch, toàn bộ diện tích mặt đĩa thạch đều có vi khuẩn phát triển. ở công
thức có bổ sung peflacine nồng độ 2.5àg/ml cũng thu đợc kết quả tơng tự nh
công thức đối chứng, chỉ có ở công thức đợc cấy chủng tảo Isochrysis galbana

15
lợng vi khuẩn giảm 50%.Khi tăng nồng độ peflacine lên 20 àg/ml, lợng vi
khuẩn ở các đĩa đợc cấy các chủng tảo đều giảm đáng kể trừ Chlorella.

Bảng 2: ảnh hởng của peflacine đến sinh trởng của vi khuẩn trên môi trờng
thạch đặc (tính bằng % diện tích mặt đĩa thạch có vi khuẩn mọc)


Giống
Nồng độ

(àg/ml)
T.chuii D.salina Ch.vulgaris N.oculata I.galbana
ĐC
100%
(nhiều loại
khuẩn lạc )
100% 100%

100% (nhiều
loại khuẩn
lạc)
100%
2.5
100%
(nhiều loại
khuẩn lạc )
100%, 2 loại
khuẩn lạc
100%
100%, 1 loại
khuẩn lạc
50%
5
20%, chỉ có
2 loại khuẩn
lạc.
10% 100%
20%, khuẩn
lạc bé
50%

10
15%, có 2
loại khuẩn
lạc
9%, 1 loại
khuẩn lạc
100%
10%, khuẩn
lạc rất bé
40%, khuẩn
lạc bé.
20
10%, chỉ có
một loại
khuẩn lạc
7% 100% 0 0
40
10%, chỉ có
một loại
khuẩn lạc
20 khuẩn
lạc
100% 0 0
50
120 khuẩn
lạc( 1 loại)
2 khuẩn lạc 100% 0 0
80
70 khuẩn
lạc

0 100% 0 0
150
30 khuẩn
lạc phát
triển bé
0 100% 0 0

ở các đĩa thạch đợc cấy dịch tảo Chlorella lợng vi khuẩn vẫn rất nhiều,
chiếm 100% diện tích mặt đĩa thạch. Trong khi đó ở các đĩa thạch đợc cấy dịch
tảo Nannochloropsis oculata và Isochrysis galbana không thấy xuất hiện vi
khuẩn. Kết quả tơng tự cũng thu đợc khi cấy dịch tảo Dunaliella lên môi
trờng thạch cứng có bổ sung peflacine nồng độ 80àg/ml .


16
Từ kết quả trên có thể nhận xét rằng việc bổ sung peflacine nồng độ
20àg/ml vào môi trờng thạch đặc có khả năng loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn khỏi
tảo Nannochloropsis oculata và tảo Isochrysis galbana . Đối với chủng tảo
Dunaliella salina nồng độ kháng sinh cần bổ sung là 80àg/ml , còn đối với 2
chủng tảo Tetraselmis chuii và Chlorella nồng độ kháng sinh peflacine 150ml
vẫn không có tác dụng loại bỏ vi khuẩn khỏi hai chủng tảo này.
Để tìm hiểu thêm về khả năng loại bỏ vi khuẩn trong dịch tảo Dunaliella
salina của peflacine, chúng tôi cũng đã tiến hành thử nghiệm tác dụng diệt
khuẩn của peflacine trong môi trờng lỏng nuôi tảo. Kết quả đợc trình bày ở
bảng 3.
Bảng 3: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng của vi khuẩn trong dịch tảo
D. salina

Nồng độ
àg/ml

Thời gian
40 80 150
15 ngày nhiều khuẩn lạc nhiều khuẩn lạc nhiều khuẩn lạc


Kết quả thí nghiệm ở bảng 3 cho thấy: việc bổ sung kháng sinh trực tiếp
vào dịch tảo Dunaliella với nồng độ từ 40-150àg/ml không có tác dụng loại bỏ
vi khuẩn ra khỏi tảo, trong lúc đó ở môi trờng thạch cứng, lợng peflacine cần
sử dụng là 80àg/ml (bảng 2). Có thể điều này phụ thuộc vào lợng dịch tảo( cụ
thể là số lợng vi khuẩn) cấy vào môi trờng thạch. Kết quả nghiên cứu ở bảng 4
cũng cho thấy khi tăng nồng độ peflacine trong dịch tảo từ 40àg/ml đến
150àg/ml không làm ảnh hởng xấu đến sinh trởng của tảo mà ngợc lại, mật
độ tảo ở các công thức có nồng độ peflacine 80/ml và 150àg/ml có chiều hớng
cao hơn mật độ tảo ở công thức có nồng độ peflacine 40àg/ml (Đồ thị 1) .
Qua kết quả đợc trình bày ở bảng 2 và bảng 4 cho thấy có thể sử dụng
peflacine nồng độ từ 80-150àg/ml để loại bỏ vi khuẩn khỏi tảo trong điều kiện
giữ giống Dunaliella salina trong môi trờng thạch.

17
B
ảng 4: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng (OD)của tảo D. salina

Thời gian
(ngày)
Nồng
độ (àg/ml)
1 3
4 7 11 14
40 0.110 0.212 0.325 0.426 0.555 0.591
80 0.110 0.215 0.336 0.452 0.568 0.609

150 0.110 0.217 0.331 0.422 0.566 0.603

th 1: nh hng ca Peplacine lờn sinh trng ca
D.salina
0
0.1
0.2
0.3
0.4
0.5
0.6
0.7
1 3 4 7 11 14
Thi gian thớ nghim (ngy
)
Mt (OD)
40àg/ml
80àg/ml
150àg/ml

Đối với các giống tảo Tetraselmis chuii và Chlorella vulgaris, sử dụng
peflacine với nồng độ từ 2.5àg/ml -150àg/ml trong môi trờng thạch đặc không
có hiệu quả loại bỏ vi khuẩn. Trong lúc đó đối với tảo Nannochloropsis oculata ,
việc bổ sung peflacine vào môi trờng thạch đặc ở nồng độ 20àg/ml cho kết quả
tốt, loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn (bảng 2). Tuy nhiên khi nuôi cấy tảo này trong
môi trờng lỏng nồng độ kháng sinh bao nhiêu là phù hợp và peflacine ảnh
hởng nh thế nào đến sinh trởng của tảo? Để làm rõ hơn câu hỏi trên chúng tôi
đã tiếp tục thử nghiệm bổ sung peflacine vào dịch tảo Nannochloropsis oculata
để theo dõi. Kết quả thí nghiệm đợc trình bày ở bảng 5 và bảng 6.


18
Bảng 5: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng của vi khuẩn
trong dịch tảo N. oculata

Thời gian (ngày)
Nồng độ
(àg/ml)
3 6 9
ĐC 100% 100% 100%
2.5 100% 100% 100%
5 100% 80% 70%
10 50% 10% 8%
20 30% 10% 7%
40 25% 5% 3%
Kết quả ở bảng 5 cho thấy khi bổ sung peflacine vào dịch tảo nồng độ 20àg/ml
và 40àg/ml vẫn không có khả năng loại bỏ hết vi khuẩn. Mặt khác việc bổ sung
peflacine vào dịch tảo đã làm giảm sinh trởng của tảo Nannochloropsis oculata (bảng
6). Vì vậy chúng tôi cho rằng không nên sử dụng peflacine đối với tảo
Nannochloropsis oculata.
Bảng 6: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng (OD) của tảo N. Oculata

Thời gian
(ngày)
Nồng độ
(àg/ml)
1 3 6 9 13
ĐC 0.083 0.155 0.299 0.460 0.604
2.5 0.083 0.149 0.274 0.416 0.616
5 0.083 0.121 0.288 0.58 0.57
10 0.083 0.152 0.288 0.404 0.551

20 0.083 0.139 0.252 0.312 0.439
40 0.083 0.134 0.237 0.316 0.437

19
Đối với tảo Isochrysis galbana, bổ sung peflacine vào môi trờng thạch
cứng nồng độ từ 20àg/ml -150àg/ml có tác dụng loại bỏ hết vi khuẩn(bảng 2).
Tuy nhiên khi bổ sung kháng sinh này vào môi trờng lỏng nuôi tảo với nồng độ
từ 20-150àg/ml không có khả năng loại bỏ hết vi khuẩn trong dịch tảo(bảng 7).
Bảng 7: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng của
vi khuẩn trong dịch tảo I. galbana
Nồng độ KS
àg/ml
Thời gian TN
20 40 80 150
15 ngày
nhiều khuẩn
lạc
nhiều khuẩn
lạc
nhiều khuẩn
lạc
nhiều khuẩn
lạc

Mặt khác, khi tăng nồng độ kháng sinh peflacine lên 80àg/ml đã có ảnh
hởng xấu lên sinh trởng của tảo (bảng 8). Vì vậy việc sử dụng peflacine để bổ
sung vào dịch tảo Isochrysis galbana là không thích hợp.

Bảng 8: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng của tảo I.galbana


Thời gian
(ngày)
Nồng
độ
(àg/ml)
1 3 7 10 14 17
20 0.054 0.115 0.269 0.334 0.376 0.470
40 0.054 0.118 0.283 0.357 0.382 0.483
80 0.054 0.119 0.250 0.317 0.340 0.432
150 0.054 0.102 0.211 0.250 0.306 0.359


Từ những kết quả thu đợc ở trên cho thấy chỉ nên sử dụng peflacine bổ
sung vào môi trờng thạch với nồng độ từ 20-40àg/ml để giữ giống các giống
tảo Nannochloropsis oculata và Isochrysis galbana, không nên sử dụng
peflacine để bổ sung vào môi trờng lỏng nuôi tảo.

20
Chúng tôi cũng tiếp tục kiểm tra hiệu quả diệt khuẩn của peflacine trong
dịch tảo Chlorella vulgaris. Kết quả thí nghiệm đợc trình bày ở bảng 9 và bảng
10.
Bảng 9: ảnh hởng của nồng độ Peflacine lên sinh trởng của vi khuẩn trong
dịch tảo Ch.vulgaris
Thời
g
ian(n
g
à
y
)

Nồng độ
(àg/ml)
3 6 9
DC 100% 100% 100%
2.5 100% 100% 100%
5 100% 50% 40%
10 20% 20% 20%
20 10% 5% 5%
40 5% 2.5% 2%


Kết quả ở bảng 9 cho thấy lợng vi khuẩn trong dịch tảo tuy có giảm
nhiều so với công thức đối chứng tuy nhiên với nồng độ peflacine từ 2.5àg/ml -
40àg/ml vẫn không có khả năng loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn. Chúng tôi tiếp tục
nâng nồng độ kháng sinh lên 200-400àg/ml . Kết quả đợc trình bày ở bảng 10
cho thấy khi nồng độ peflacine trong môi trờng nuôi tảo đạt 400àg/ml vẫn
không có khả năng loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn trong dịch tảo. Tuy nhiên nồng độ
kháng sinh peflacine từ 2.5-40àg/ml với thời gian xử lí ngắn (3-6 ngày) không
có ảnh hởng nhiều đến sinh trởng của tảo (bảng 11, 12).
Bảng 10: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng của vi khuẩn trong dịch tảo
Ch. vulgaris


Nồng độ
àg/ml

Thời gian
200 300 400
15 ngày nhiều khuẩn lạc nhiều khuẩn lạc nhiều khuẩn lạc


21
Bảng 11: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng của tảo Ch. vulgaris
Thời gian
(ngày)
Nồng độ
(àg/ml)
1 3 6 9 13
ĐC 0.099 0.180 0.315 0.430 0.520
2.5 0.099 0.168 0.300 0.420 0.554
5 0.099 0.165 0.290 0.415 0.560
10 0.099 0.157 0.285 0.430 0.555
20 0.099 0.170 0.315 0.425 0.570
40 0.099 0.163 0.273 0.470 0.590

Bảng 12: ảnh hởng của peflacine lên sinh trởng của tảo Ch. vulgaris (tiếp)

Thời gian
(ngày)
Nồng
độ (àg/ml)
1 3 7 10 14 17

200

0.089 0.177 0.268 0.382 0.495 0.541

300

0.089 0.165 0.246 0.356 0.434 0.499


400

0.089 0.177 0.245 0.327 0.401 0.445


Chúng tôi cũng đã thử nghiệm sử dụng peflacine để bổ sung vào dịch tảo
Tetraselimis chuii, kết quả cho thấy đối với tảo Tetraselmis chuii, nồng độ
peflacine từ 50-200àg/ml không có tác dụng loại bỏ vi khuẩn trong dịch tảo.
Việc bổ sung peflacine vào môi trờng thạch với nồng độ lên đến 300àg/ml
cũng không có kết quả.Vì vậy chúng tôi không tiếp tục thử nghiệm sử dụng
peflacine đối với tảo Tetraselmis chuii.
Từ những kết quả thu đợc ở trên cho thấy: có thể sử dụng peflacine
nồng độ 20
à
g/ml -40
à
g/ml bổ sung vào môi trờng thạch để giữ giống các

×