Tải bản đầy đủ (.docx) (130 trang)

Biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên nội trú của trường cao đẳng cộng đồng bắc kạn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (569.97 KB, 130 trang )

1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
QLSV: Quản lý sinh viên
QLNNSH: Quản lý nề nếp sinh hoạt
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
HSSV: Học sinh, sinh viên
THPT: Trung học phổ thông
VH: Văn hoá
TDTT: Văn hoá thể dục, thể thao
QLHSSV: Quản lý học sinh sinh viên
UBND: Uỷ ban nhân dân
QLGD: Quản lý giáo dục
SV: Sinh viên
ĐTNCSHCM: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Mịnh
CNH- HĐH: Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
KT - XH: Kinh tế - xã hội
KTX: Ký túc xá
ĐH - CĐ: Đại học - Cao đẳng
BQLKTX: Ban quản lý ký túc xá
QLHSSV: Quản lý học sinh, sinh viên
QLSVKNT: Quản l ý sinh viên khu nội trú
CBQLSV: Cán bộ quản lý sinh viên
QLKNT: Quản lý khu nội trú
BMC: Bộ môn chung
1
1
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
2
3


3
3
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ,
nền kinh tế tri thức đang là vấn đề được quan tâm. Trí tuệ trở thành động lực
của sự phát triển. Bởi vậy, GD&ĐT được coi là nhân tố quyết định cho sự
phát triển tương lai của mỗi cá nhân của một quốc gia, một dân tộc. Xuất phát
từ vấn đề đó, Nghị quyết Đại hội khoá VIII, khoá IX của Đảng đã quan tâm
đúng mức đến GD&ĐT và khoa học công nghệ. Nghị quyết Đại hội X của
Đảng xác định: “GD&ĐT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng
đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước”. Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định “Phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam, theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế,
trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý là khâu then chốt ” [tr 131].
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn khoá X cũng nêu rõ: “Tăng
cường công tác quản lý, thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn
hoá, tuyển dụng, đánh giá đội ngũ giáo viên đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” [tr 111].
Trong những năm qua công cuộc đổi mới của Nhà nước do Đảng Cộng
sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã làm thay đổi căn bản về mọi mặt
của đời sống xã hội. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đạt được những thành
tựu quan trọng. Luật Giáo dục năm 1998 được Quốc hội sửa đổi và thông qua
năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 điều đó cho thấy Đảng, Nhà nước
và toàn xã hội ngày càng nhận rõ tầm quan trọng của GD&ĐT đối với sự
nghiệp phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay và tương lai sau này.
4

4
5
Có thể nói chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục là kết quả tổng hoà
của các lực lượng giáo dục, trong đó có một phần đóng góp quan trọng của
công tác quản lý học sinh sinh viên ở nhà trường. Công tác QLSV, nề nếp
sinh hoạt sinh viên trong nhà trường, thực chất là quá trình QLSV trong quá
trình học, rèn luyện tại trường, là một khâu quan trọng trong quá trình đào
tạo, thực hiện mục tiêu thực hiện đào tạo chung, nhằm hình thành nhân cách,
phẩm chất, năng lực, đạo đức người công dân. Thông qua công tác quản lý
HS-SV sẽ góp phần giáo dục ý thức nghề nghiệp, đạo đức tác phong và lối
sống cho học sinh, sinh viên theo môi trường tập thể. Qua đó bản thân mỗi
học sinh, sinh viên sẽ tự điều chỉnh hành vi, nâng cao ý thức sinh hoạt tự học,
tự rèn luyện để trở thành người công dân có đầy đủ phẩm chất sau này, từ đó
chất lượng đào tạo của nhà trường sẽ được nâng lên, sản phẩm đào tạo sẽ
được xã hội thừa nhận, tin tưởng tiếp nhận. Từ vấn đề trên việc quản lý nề
nếp sinh hoạt đối với học sinh, sinh viên thực hiện tốt nội quy, quy chế của
nhà trường là điều hết sức quan trọng và cần thiết của mỗi nhà trường; đặc
biệt là công tác quản lý nề nếp sinh hoạt cho học sinh, sinh viên nội trú ký túc
xá trong các trường Đại học và Cao đẳng là việc làm cần thiết trong công tác
giáo dục và đào tạo hiện nay.
Sự chuyển đổi cơ chế quản lý những năm qua đã mở ra nhiều cơ hội,
điều kiện cho việc phát triển, mở rộng quy mô đào tạo của các trường Đại học
và Cao đẳng, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn thách thức to lớn với
ngành GD&ĐT, trong đó có công tác quản lý nhà trường. Sự tác động cơ chế
thị trường đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội cùng với những mặt tích
cực thì mặt trái của nó cũng có tác động không nhỏ, có ảnh hưởng xấu đến các
hoạt động của xã hội, từng ngày từng giờ len lỏi vào cuộc sống của sinh viên.
Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn là đơn vị sự nghiệp chịu sự quản
lý của UBND tỉnh Bắc Kạn. Hàng năm nhà trường tuyển sinh với quy mô
5

5
6
sinh viên tương đối lớn. Năm học 2010 - 2011, số lượng sinh viên của trường
vào khoảng gần 1.200 sinh viên, trong đó số sinh viên được ở nội trú chiếm
khoảng 60%. Hiện nay, trường mở thêm nhiều loại hình đào tạo, bồi dưỡng,
nhu cầu sinh viên nội trú hàng năm của trường tăng hơn. Do vậy, việc sắp
xếp, bố trí điều kiện học tập và sinh hoạt cho sinh viên cũng còn nhiều khó
khăn. Công tác tổ chức quản lý khu nội trú về các mặt đới sống vật chất và
tinh thần; học tập và sinh hoạt (an ninh trật tự, vệ sinh nội vụ, điện nước ) của
học sinh, sinh viên nội trú của nhà trường hiện nay đang là những vấn đề bức
xúc được các cấp, các ngành và nhà trường quan tâm. Trường Cao đẳng Cộng
đồng Bắc Kạn nằm trong hệ thống các trường Cao đẳng của cả nước, đã nhiều
năm thực hiện công tác QLHSSV nội trú theo quy chế của Bộ GĐ&ĐT ban
hành. Trong những năm vừa qua công tác QLSV nội trú của trường đã đem
lại một số kinh nghiệm trong công tác quản lý. Trong quá trình tổ chức thực
hiện nhà trường đã dựa vào quy chế công tác sinh viên học sinh trong các cơ
sở đào tạo của Bộ GD&ĐT ban hành năm 1993, quy chế công tác HS-SV nội
trú của Bộ GD&ĐT năm 2002 và một số văn bản về công tác sinh viên của
Vụ Công tác chính trị Bộ GD&ĐT, các văn bản quy định nội quy, quy chế
của nhà trường để làm chuẩn mực QLHSSV. Tuy nhiên, trong quá trình quản
lý tổ chức thực hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế về công tác quản lý nề nếp sinh
hoạt của sinh viên như: các biện pháp quản lý thiếu đồng bộ; chưa xây dựng
tốt quy chế phối hợp giữa các đơn vị; các tổ chức đoàn thể trong công tác
quản lý học sinh, sinh viên, các phòng tham mưu chưa làm hết chức năng;
những biện pháp quản lý chưa hiệu quả, mối quan hệ giữa các phòng chức
năng trong công tác QLHSSV nội trú còn lỏng lẻo Việc tìm ra các biện pháp
để khắc phục hạn chế trong công tác quản lý nề nếp sinh hoạt sinh viên nội trú
tại trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn là rất cần thiết, nhằm góp phần rèn
luyện nhân cách, lối sống của sinh viên, đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ cho
6

6
7
Đảng và Nhà nước, cho địa phương để sau khi ra trường mỗi sinh viên đều trở
thành những công dân tốt, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có năng
lực cùng với những phẩm chất đạo đức tốt phục vụ quê hương đất nước.
Tuy đã có một số đề tài nghiên cứu về các biện pháp quản lý sinh viên
nội trú ở các cơ sở giáo dục, song vẫn còn có rất ít đề tài nghiên cứu các biện
pháp quản lý sinh viên nội trú ký túc xá vùng cao, vùng sâu và sinh viên các
dân tộc thiểu số. Từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý nề
nếp sinh hoạt của sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn”.
làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành với mong muốn đóng góp công sức
nhỏ bé của mình trong việc nâng cao chất lượng quản lý sinh viên nội trú của
trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận về quản lý khoa học, quản lý giáo dục, quản lý
nhà trường, quản lý sinh viên và quá trình phân tích thực trạng về hoạt động
quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên. Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện
pháp tổ chức hoạt động QLSV, QLNNSHSV nội trú ký túc xá ở trường Cao
đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên nội trú ký túc xá trường Cao đẳng
Cộng đồng Bắc Kạn.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh
viên nội trú ký túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
4. Giả thuyết khoa học
Quản lý sinh viên nói chung và QLNNSH của SV nội trú ký túc xá nói
riêng là một nội dung quan trọng trong quản lý GD&ĐT. Những năm qua
công tác QLNNSHSV nội trú của trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn đã có
nhiều tiến bộ nhưng còn bộc lộ một số tồn tại bất cập và hạn chế. Chất lượng
7

7
8
công tác quản lý sinh viên nội trú còn thấp do còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
nhận thức, quá trình tổ chức quản lý, các điều kiện quản lý, năng lực quản
lý Việc đề xuất và thực hiện các biện pháp tăng cường công tác QLSV,
QLNNSH của SV nội trú phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý,
đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết ba nhiệm vụ:
5.1. Hệ thống hoá những vấn đề về lý luận trong công tác QLSV nội trú
ở các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.
5.2. Đánh giá thực trạng công tác QLSV, QLNNSH của SV nội trú ký
túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
5.3. Đề xuất các biện pháp tăng cường công tác QLSV, QLNNSH của
SV nội trú ký túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu QLSV, QLNNSH của SV nội trú ký túc xá đề cập đến các
biện pháp quản lý của các đơn vị chức năng trong nhà trường và mối quan hệ
phối hợp giữa các đơn vị trong công tác QLSV, QLNNSH của SV nội trú ký túc
xá gồm:
- Ban quản lý ký túc xá
- Phòng hành chính - Quản trị
- Phòng Tổ chức
- Phòng đào tạo
- Phòng Nghiên cứu khoa học
- Phòng tài vụ - KH
- Các khoa, nhóm bộ môn
- Đơn vị lớp học
- Giáo viên chủ nhiệm
- Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường

8
8
9
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổng hợp các tư liệu, tài
liệu khoa học có liên quan đến lĩnh vực quản lý nói chung, QLNNSH của SV
nói riêng
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, tổng kết kinh
nghiệm, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, trò chuyện và phỏng vấn sâu, phương
pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập
7.3. Các phương pháp hỗ trợ khác: Phương pháp thống kê toán học,
phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học, tra cứu tài liệu
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài danh mục chữ viết tắt, phần mở đầu, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục. Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên.
Chương 2. Thực trạng quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên khu nội trú
ký túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
Chương 3. Các biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt sinh viên khu nội trú ký
túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
9
9
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN
1.1. Một số khái niệm về quản lý sinh viên
1.1.1. Khái niệm về quản lý
Sự tồn tại và phát triển con người là một tất yếu khách quan. Trong quá
trình kỳ lịch sử mỗi thời đều gắn với một phương thức sản xuất khác nhau, từ
phương thức cộng sản nguyên thuỷ đến nền văn minh hiện đại, trình độ tổ

chức điều hành cũng được nâng dần lên cho phù hợp và ngang bằng. Đặc biệt,
khi xã hội phân chia giai cấp, loài người có sự phân chia lao động, muốn đạt
được năng xuất lao động cao đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, hợp tác, đó
chính là hoạt động quản lý. Quá trình phát triển của xã hội loài người từ trước
đến nay dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản: Tri thức, sức lao
động và trình độ quản lý. Quản lý lĩnh vực hoạt động vừa có ý nghĩa độc lập
với hai yếu tố tri thức và sức lao động, vừa có ý nghĩa kết hợp, vận dụng giữa
tri thức và lao động để phát triển sản xuất xã hội. Nếu sự kết hợp đó tốt thì xã
hội phát triển nhanh, bền vững, ổn định. Nếu sự kết hợp đó không tốt thì xã
hội sẽ trì trệ, chậm phát triển thậm chí suy đồi thối nát. Như vậy, quản lý là
công việc rất khó khăn phức tạp trong các lĩnh vực hoạt động của con người,
trong hoạt động tập thể.
Nhà tư tưởng vĩ đại C. Mác đã khẳng định vai trò quan trọng của quản
lý: Bất kỳ lao động nào cũng có tính xã hội và chúng trực tiếp được thực hiện
với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý. Điều đó được ông
ví như: “Một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình, nhưng
một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” Theo C. Mác thì: Tất cả mọi lao động
trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít
hay nhiều cần đến sự chỉ đạo để tiến hành các hoạt động của các cá nhân và
10
10
11
thực hiện các chức năng chung. Tức là những phát sinh từ sự vận động của
toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cá nhân độc lập của
cơ thể sản xuất đó. Một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy
mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng. Như vậy, Mác đã lột
tả được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao
động. Nó là hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển
của xã hội loài người.
Hoạt động quản lý nảy sinh, bắt nguồn và phát triển từ lao động của

con người. Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú
phức tạp thì quản lý càng có vai trò quan trọng và trở thành một ngành khoa
học [16;24].
Theo nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp Henry Fayol (1841 - 1925)
Thì nội hàm của khái niệm quản lý là “Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối
hợp và kiểm tra” [20;21].
Theo Mary Parker Follet, nhà khoa học, nhà triết học Mỹ thì quản lý là
nghệ thuật khiến công việc thực hiện thông qua người khác [12;23].
Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ quản lý cũng có rất nhiều cách giải
thích khác nhau . Thuật ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau.
Kinh tế học, hành chính học, luật học và các ngành khoa học như xã hội
học… đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp với đối tượng
nghiên cứu của mình. Như vậy, có thể kể đến một số khái niệm sau:
“Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ
vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá
trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những
mục đích đã định trước”. Theo khái niệm này, quản lý được hiểu theo góc độ
hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động (quản lý và điều khiển).
11
11
12
“Quản lý là việc đảm bảo của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi
liên tục của hệ thống và môi trường, là việc chuyển hệ thống tới trạng thái
mới tương ứng với hoàn cảnh đó”.
“Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi
của cá nhân, dẫn tới mục đích hoạt động chung cho phù hợp với khách quan”
[21, 61].
Tóm lại: Quản lý là thuật ngữ chỉ “hoạt động có ý thức của con người

nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động các
quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng vào phát triển phù hợp
với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà nước quản
lý với chi phí thấp nhất” (30, tr 136).
Trong từ điển tiếng Việt, khái niệm được định nghĩa như sau: “Quản lý
là tổ chức có điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [23; 800].
Theo từ điển Hán việt - Giáo sư Nguyễn Lân “Quản lý (1) Chăm nom
và sắp đặt công việc trong một tổ chức” [24; 511].
Trong cuốn “Tâm lí học trong quản lý Nhà nước”, tác giả Mai Hữu
Khuê nêu: “Hoạt động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người lãnh
đạo, mang tính tổng hợp của các dạng lao động trí óc liên kết bộ máy thành
một chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu quản lý và các cấp
quản lý hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả cao [15; 37].
* Qua các định nghĩa trên ta cần chú ý một số điểm về quản lý:
- Quản lý bao gồm quản lý con người và vật thể, phi vật thể.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận, đó là chủ thể quản lý
và đối tượng quản lý.
- Quản lý luôn là tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
quy luật khách quan.
12
12
13
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
* Xét về bản chất của quản lý được thể hiện ở hai phương diện
- Về phương diện chính trị - xã hội: Quản lý là quá trình nỗ lực của
nhiều người để đạt đến những mục tiêu. Về mặt chính trị xã hội, hoạt động
quản lý mang tính giai cấp, tính giai cấp được thể hiển trong mục tiêu của
quản lý. Xã hội có giai cấp, quản lý mang tính giai cấp và được tiến hành vì
lợi ích giai cấp xã hội. Sự khác biệt này được thể hiện qua mục tiêu và quan

hệ giữa người quản lý và người bị quản lý.
- Về phương diện kỹ thuật tổ chức: Quản lý là quá trình điều khiển giữa
hệ thống hình thức các thủ pháp, phương pháp tiến hành, điều hành công việc.
Điều khiển là chức năng của những hệ có tổ chức, nó bảo toàn cấu trúc xác
định của các hệ thống, duy trì chế độ hoạt động và thực hiện hoạt động, xem
xét góc độ này, quản lý phản ánh sự tiến bộ của xã hội nên quản lý không
mang tính giai cấp.
Quản lý là một công việc hoạt động đặc biệt, mang tính sáng tạo. Hoạt
động quản lý cũng phát triển không ngừng từ thấp đến cao, gắn liền với quá
trình phát triển, đó là sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý
nhằm thực hiện mục tiêu chung của quản lý.
Phân công gắn liền với hợp tác, phân công chuyên môn hoá càng sâu
đòi hỏi sự hợp tác càng cao, mối liên hệ càng chặt chẽ với trình tự nhất định
giữa các chức năng quản lý.
Chức năng quản lý có vai trò rất quan trọng, nó xác định vị trí mối liên
hệ giữa các bộ phận, các khâu trong hệ thống quản lý.
Mỗi hệ thống quản lý đều có nhiều bộ phận nhiều khâu, nhiều cấp khác
nhau, gắn liền với những mục tiêu xác định nào đó, nếu không có chức năng
quản lý thì bộ phận đó không còn lý do để tồn tại. Trong cuốn “Giáo trình
13
13
14
khoa học quản lý” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2004) có nêu 7 chức
năng quản lý như sau:
1. Dự báo.
2. Kế hoạch.
3. Tổ chức.
4. Động viên.
5. Điều chỉnh.
6. Kiểm tra.

7. Đánh giá.
Henry Fayol là một trong những người khởi đầu khoa học quản lý cho
rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản và là 4 khâu liên quan chặt chẽ với nhau:
1.Chức năng lập kế hoạch: Trong đó bao gồm dự báo, vạch mục tiêu.
Là những chức năng đầu tiên, nó xác định mục tiêu, mục đích đối với
các thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để
đạt mục tiêu đó.
2. Chức năng tổ chức: Tổ chức công việc, sắp xếp con người.
Là quá trình sắp xếp, xác lập và liên kết các bộ phận các chức năng
riêng rẽ thành một hệ thống hoàn thiện, thống nhất tạo nên sức mạnh tổng hợp
để đạt được các mục tiêu quản lý.
3. Chức năng điều hành: Là sự tác động đến con người bằng các quyết
định để con người hoạt động, đưa bộ máy đạt tới mục tiêu, trong đó bao gồm
cả việc khuyến khích động viên.
4. Chức năng kiểm tra: Kiểm tra, đánh giá, giám sát hoạt động của bộ
máy nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót, lệch lạc đưa bộ máy đạt tới mục tiêu
xác định.
Như vậy, sau khi lập kế hoạch và xác định được cơ cấu tổ chức và nhân
sự thì phải làm cho hệ thống bộ máy hoạt động, lãnh đạo, dẫn dắt điều hành,
14
14
15
điều khiển tổ chức và cuối cùng là phải kiểm tra, đánh giá, giám sát hoạt động
của bộ máy nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót, lệch lạc đưa bộ máy đạt tới mục
tiêu xác định.
Tóm lại: Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống được thống
nhất với một trình tự nhất định, trong đó từng chức năng vừa có tính độc
lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chức năng khác. Quá
trình ra quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý
theo một trình tự nhất định. Nếu bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng

nào trong chuỗi các chức năng thì kết quả quản lý sẽ không đạt được mục
tiêu mong muốn.
1.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Cùng với sự phát triển của xã hội là việc chuyên môn hoá các hoạt
động của con người trong đời sống xã hội, đây chính là cơ sở khách quan của
việc phân chia các hoạt động của xã hội thành các ngành khác nhau.
“Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh tế,
văn hoá, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hoặc hoạt động với mục
đích giống nhau làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển
một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được với yêu cầu của nhà nước và
xã hội” [37;155].
Để quản lý theo ngành đòi hỏi phải có một tổ chức đứng ra thực hiện
công việc này. Theo Nghị định 15/CP ngày 2/3/1993, các bộ (cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) được thành lập để thực hiện việc thống nhất
quản lý một ngành, lĩnh vực chuyên môn hoặc một vài ngành, lĩnh vực
chuyên môn có liên quan trong phạm vi toàn quốc.
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội, giáo dục đồng nghĩa
với sự phát triển. Nó là cái hiện hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh
thần. Quản lý giáo dục là điển hình nhất về quản lý con người. Quản lý sự
15
15
16
hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân cách và
nhân tài.
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo
dục, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất. Cũng
như khái niệm chung về quản lý. Quản lý giáo dục cũng có chủ thể quản lý,
khách thể quản lý và quan hệ quản lý.
- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp
- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học

- Quan hệ quản lý: Là mối quan hệ giữa người dạy và người học,
quan hệ giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ giữa giáo
giới với cộng đồng xã hội với tổ chức… Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn hệ
thống giáo dục.
Qua việc phân tích trên, cho chúng ta khẳng định rằng: Bản chất của
quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý và các yếu tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục, nhằm
thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục. Quản lý giáo dục là quản lý con
người, con người có tri thức và có văn hoá. Chính vì vậy, để đạt được mục
tiêu mong muốn của quản lý giáo dục đòi hỏi phải có nguyên tắc để chỉ đạo.
Xác định đúng mục tiêu, tạo ra sự phát triển và ổn định của hệ thống giáo dục
là một phần quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả
của công tác quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng kế hoạch hoá: Soạn thảo, thông qua và xây dựng được hệ
thống các chủ trương, những quyết định quản lý.
- Chức năng tổ chức, chỉ đạo: Thực hiện các quyết định quản lý bằng
cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo nên mạng lưới
quan hệ tổ chức, tuyển chọn sắp xếp, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ làm cho
16
16
17
mục tiêu trở nên có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả của tổ chức; chỉ dẫn, động
viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng giáo dục theo sự phân công và kế
hoạch đã định, nhằm thực hiện chỉ tiêu mong muốn.
Quản lý giáo dục là tổng hợp các biện pháp tổ chức kế hoạch nhằm
đảm bảo sự vận hành bình thường các cơ quan trong hệ thống giáo dục. Hệ
thống giáo dục là một hệ thống xã hội, chịu sự cho phối của xã hội.
Quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích của chủ thể QLGD đến
đối tượng quản lý để đạt đến mục tiêu xác định.

Mục tiêu quản lý giáo dục là điều khiển hệ thống giáo dục đạt đến
trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với
trường học hoặc đối với vài thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục của
nhà trường.
Như vậy, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là “Hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển của giáo dục thường
xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà dành cho mọi
người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục
được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân [20;120].
Mục tiêu quản lý giáo dục:
- Đảm bảo quyền học sinh vào học các ngành học, các cấp học, lớp học
đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn.
- Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đào tạo.
- Xây dựng và sử dụng bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
cho dạy và học.
- Phát triển tập thể sư phạm đủ và đồng bộ nâng cao về trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và đời sống.
17
17
18
- Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, và đoàn thể
quần chúng, các mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội để thực hiện tốt nhiệm
vụ GD & ĐT.
Phương pháp quản lý giáo dục: Cũng như bất cứ hệ thống quản lý
nào, QLGD phải sử dụng các phương pháp quản lý chung. Tuy nhiên, các
phương pháp quản lý không phải là hoàn thiện, toàn diện, hoàn toàn đúng với
mọi trường hợp nên khi thực hiện áp dụng phải vận dụng linh hoạt, mềm dẻo,
sáng tạo để có hiệu quả cao.

* Xem xét một số phương pháp quản lý giáo dục sau:
- Phương pháp tâm lí - xã hội: Là kích thích đối tượng quản lí làm cho
họ tận tâm, tận lực với công việc, đạt hiệu quả cao nhất.
- Phương pháp kinh tế: Tác động lên họ bằng lợi ích kinh tế khiến họ
hoạt động có hiệu quả cao. Đặc biệt trong QLGD phương pháp này cần được
áp dụng vào việc tính toán hiệu quả để đạt được mục tiêu.
- Phương pháp tổ chức, hành chính: Cần tác động với người thực hiện
nhiệm vụ bằng quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, bắt buộc để thực hiện đúng, đạt
kết quả mong muốn của người lãnh đạo.
Tuy nhiên, để thực hiện được các phương pháp này, người quản lý phải
có chuyên môn giỏi, kinh nghiệm quản lý và biết vận dụng nó trong hoàn
cảnh, trường hợp cụ thể.
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáo dục,
bởi vậy khi nói đến QLGD là phải nói đến quản lý nhà trường.
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý trường học là tập hợp những tác
động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập đến tập thể giáo viên, học sinh và cán
bộ khác” [25;95].
18
18
19
Theo Bùi Trọng Tuân thì quản lý nhà trường bao gồm quản lý bên
trong nhà trường và quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với mối quan hệ
xã hội bên ngoài.
Các định nghĩa trên cho thấy quản lý nhà trường là quản lý giáo dục
được tổ chức thực hiện ở trong một phạm vi không gian nhất định. Nhà
trường thuộc các bậc học khác nhau vì thế trong quá trình quản lý giáo dục
các nguyên lý chung của quản lý giáo dục được vận dụng một cách khác nhau
để đảm bảo mục tiêu quản lý đề ra. Tuy nhiên, quản lý nhà trường ở các bậc
học nào thì cũng phải đảm bảo các yếu tố cơ bản chung:

- Phải xác định rõ mục tiêu quản lý của nhà trường là những mục
tiêu hoạt động của nhà trường được dự kiến trước khi triển khai hoạt động
năm học.
- Xác định cụ thể nội dung, nhiệm vụ trên cơ sở đó hoặch định các mục
tiêu một cách tổng thể, đây là những điều kiện để cho mục tiêu trở thành hiện
thực khi tổ chức thực hiện trong năm học.
- Nhà trường là một cơ sở GDĐT là một đơn vị độc lập, thực hiện sứ
mệnh chính trị của mình là dạy học và giáo dục thế hệ trẻ, vì vậy các mục tiêu
nội dung hoạt động quản lý nhà trường rất phong phú, đa dạng.
1.1.4. Khái niệm quản lý sinh viên
1.1.4.1. Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La tinh “students” có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thức trí thức. Nó
được dùng nghĩa tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, “etudiant”
trong tiếng Pháp để chỉ những người theo học ở bậc ĐH và CĐ.
Sinh viên là những người đang học ở bậc CĐ, ĐH mang tính chất
nghiên cứu.
Theo quy định của trường ĐH và Cao Đẳng thì lứa tuổi SV hiện nay
là từ 17 đến 23 tuổi.
19
19
20
Khái niệm SV được sử dụng rộng rãi hiện nay và được các nhà nghiên
cứu chấp nhận với nghĩa: SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, là
những người đang trong quá trình tích luỹ tri thức nghề nghiệp để trở thành
những chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, hoạt động, lao động trong
một lĩnh vực nhất định có ích cho xã hội.
1.1.4.2. Khái niệm sinh viên nội trú
Theo Quy chế Công tác học sinh, sinh viên Khu nội trú thì: Sinh viên
nội trú là những người đang học tại trường và được nhà trường bố trí ở trong

khu nội trú theo hợp đồng của sinh viên đã đăng ký với nhà trường thông qua
Trưởng ban quản lý khu nội trú trường.
1.1.4.3. Khái niệm quản lý sinh viên, nề nếp sinh hoạt của sinh viên
Quản lý sinh viên là một trong những nhiệm vụ quản lý của các nhà
QLGD ở bậc Đại học, Cao đẳng. Do vậy, có thể hiểu rằng:
- QLSV là quản lý các hoạt động của sinh viên trên các mặt rèn luyện
tu dưỡng đạo đức, quá trình học tập, tự học, tự rèn luyện và ý thức chấp hành
nội qui, qui chế nhằm phát triển nhân cách cho sinh viên, đưa các hoạt động
đi vào nề nếp.
Hoạt động QLNNSH của SV là hoạt động quản lý, cho nên hoạt động
này cũng cần phải có các khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh
đạo, kiểm tra đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ theo mục tiêu đề ra, nhằm
đạt được mục tiêu GD&ĐT với chất lượng tốt.
1.1.4.4. Nội dung quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên nội trú (Quy chế
công tác HSSV)
Quản lý sinh viên nội trú ký túc xá thực chất là hoạt động quản lý của
các đơn vị thuộc nhà trường đối với sinh hoạt, học tập của sinh viên ở khu nội
trú. Công tác quản lý sinh viên nội trú ký túc xá đặt dưới sự chỉ đạo và quản
lý thống nhất của hiệu trưởng nhà trường. Hiệu trưởng nhà trường có trách
nhiệm chỉ đạo công tác quản lý sinh viên nội trú ký túc xá theo đúng pháp luật
hiện hành và quy chế công tác sinh viên nội trú.
20
20
21
1.2. Quản lý sinh viên trong quá trình đào tạo
1.2.1. Nội dung, nhiệm vụ của QLSV trong quá trình đào tạo
Quản lý sinh viên trong quá trình đào tạo là một hoạt động quản lý của
các phòng, ban chức năng, các cán, giáo viên đối với sinh viên đang sinh hoạt
và học tập trong nhà trường… Đây là một hoạt động quản lý cụ thể, do vậy
cũng cần có kế hoặch, chương trình quản lý. Nội dung quản lý sinh viên trong

quá trình đào tạo thực chất là hoạt động của các phòng, ban chức năng; các
cán bộ, viên chức trong nhà trường đối với sinh viên thực hiện kế hoạch và
nội dung đào tạo của nhà trường.
Như vậy, nhiệm vụ quản lý sinh viên trong quá trình đào tạo tức là
quản lý sinh viên về các mặt:
- Chính trị, tư tưởng
- Nề nếp, sinh hoạt
- Quá trình học tập, tự học, tự nghiên cứu
- Cơ sở vật chất khu nội trú
Quá trình đào tạo có thể được phân chia thành 2 bộ phận là:
- Quá trình đào tạo chính khoá
- Quá trình đào tạo ngoài chương trình chính khoá
Quá trình đào tạo chính khoá được hiểu là quá trình đào tạo theo kế
hoạch, chương trình giảng dạy và học tập do nhà trường xây dựng theo từng
học kỳ, năm học và cả khoá học. Quá trình đào tạo ngoài chương trình chính
khoá được hiểu là bao gồm việc tự học, tự rèn luyện, vui chơi, giải trí, nhưng
hoạt động sinh hoạt tập thể, tham gia các câu lạc bộ và các hoạt động xã hội
khác.
1.2.2. Nguyên tắc QLSV
Quản lý sinh viên là một bộ phận trong tổng thể các hoạt động quản lý
của Quản lý nhà nước trên lĩnh vực giáo dục. Vì vậy, Công tác quản lý sinh
viên nói chung và QLNNSH của SV nói riêng phải được căn cứ vào các văn
21
21
22
bản pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các vấn đề về công tác
sinh viên trong môi trường giáo dục và đào tạo. Việc sử dụng các văn bản
pháp luật để quản lý sinh viên cho thấy đây là hoạt động có tính tổ chức,
mang quyền lực Nhà nước, mang tính bắt buộc chung. Các trường trong hệ
thống giáo dục của nước ta và mọi sinh viên đang sinh hoạt và học tập tại các

nhà trường đều phải nghiêm túc thực hiện và chịu sự điều chỉnh theo những
quy chế nhất định do trường hoặc Bộ GD & ĐT ban hành.
Luật Giáo dục (2005) quy định, Bộ GD & ĐT là cơ quan trực thuộc
Chính phủ có chức năng thay mặt Chính phủ quản lý Nhà nước về lĩnh vực
đào tạo trong phạm vi toàn quốc. Công tác giáo dục tư tưởng và đạo đức cho
sinh viên nói chung, cho bộ phận không thể thiếu của quản lý nhà nước trên
lĩnh vực giáo dục đào tạo. Nhờ hoạt động này mà sự phối hợp giáo dục sinh
viên trong nhà trường giữa các đơn vị trong phạm vi nhà trường được thống
nhất, đồng bộ nhịp nhàng. Tất cả các yếu tố vật chất, tinh thần, sức mạnh của
toàn thể xã hội để giáo dục nhân cách, phẩm chất, thể chất, lý tưởng cho sinh
viên, để phát triển toàn diện nhân cách sinh viên, sinh viên sẽ là những con
người “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có năng lực chuyên môn giỏi, vừa có
đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng để phục vụ Tổ quốc, phục vụ
nhân dân.
Luật Giáo dục là những quy định mang tính bắt buộc chung trong hoạt
động quản lý sinh viên. Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Giáo dục; các
văn bản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến quyền, lợi
ích và nghĩa vụ của sinh viên cơ sở pháp lý để các nhà trường tổ chức quản lý
và tổ chức thực hiện các chế độ cho sinh viên. Đây cũng là cơ sở để các nhà
trường thực hiện nhiệm vụ quản lý đối với sinh viên nhằm đào tạo nguồn
nhân lực có chất lượng cao cho xã hội, phục vụ cho mục tiêu “dân giàu nước
mạnh dân chủ, công bằng, văn minh”.
22
22
23
Để QLNNSH của SV có hiệu quả cần phải tuân thủ thực hiện các
nguyên tắc sau đây:
1.2.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với chính trị
Là hoạt động quản lý sinh viên nội trú ký túc xá trong quá trình đào tạo
phải tuân thủ đẩy đủ các nguyên tắc quản nói chung và áp dụng quá trình đào

tạo ở phạm vi của một nhà trường. Nhà trường không đứng ngoài công tác
chính trị mà phải làm tốt công tác chính trị, đây là nguyên tắc cơ bản để giải
quyết các vấn đề lí luận, thực tiễn trong quá trình đào tạo hiện nay.
1.2.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính tập trung dân chủ
Nguyên tắc này phải thể hiện mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của
nhà nước về giáo dục và phát huy tối đa dân chủ các sáng kiến đóng góp của
cộng đồng xã hội vào công tác tổ chức và quản lý giáo dục. Mặt khác phải
tăng cường công tác quản lý tập trung, thống nhất của người lãnh đạo, quản
lý. Phải phát huy mở rộng tối đa quyền tự chủ của các đơn vị, cá nhân trong
tập thể nhà trường.
1.2.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, tính kế hoạch
Cần đảm bảo tính khoa học, tính kế hoạch trong hoạt động quản lý và
phải được xây dựng trên cơ sở khoa học, phù hợp với trình độ, yêu cầu quản
lý thực tế của nhà trường, có những kế hoạch kiểm tra, đánh giá, giám sát việc
thực hiện các nội dung chương trình đã đề ra.
1.2.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả
Quản lý sinh viên nội trú ký túc xá là một hoạt động quản lý phức tạp,
kết quả của nó là kết quả của cả quá trình giáo dục đào tạo liên tục, cụ thể và
thiết thực, do vậy đòi hỏi trong QLNNSH của SV người quản lý phải nắm bắt
được thông tin cụ thể và chính xác, giải quyết đúng đắn phù hợp với thực tiễn,
nguyện vọng của sinh viên.
23
23
24
1.2.3. Nhiệm vụ Quản lý sinh viên nội trú ký túc xá
Thực tế hiện nay, nhu cầu chỗ ở cho sinh viên trở nên rất cấp bách, đa
số các sinh viên ngoại tỉnh khi thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, việc
đầu tiên họ quan tâm là việc ăn ở như thế nào. Họ đều mong muốn được ăn ở
trong ký túc xá của trường. Việc thuê trọ ở nhà dân, sinh viên không bị quản
lý về giờ giấc, có nhiều điều kiện sinh hoạt và hoạt động xã hội, nhưng HSSV

là đối tượng dễ nhạy cảm, cho nên một số em không làm chủ được bản thân
dễ bị lôi kéo vào con đường xấu, nhất là tệ nạn sử dụng ma túy
Đối với các trường đại học hiện nay chỉ đáp ứng được 60% đến 70%
nhu cầu chỗ ở cho sinh viên, do vậy nhu cầu về giải quyết chỗ ở cho sinh viên
các trường đại học là một vấn đề cấp bách và cần có sự hỗ trợ của nhà nước
và sự phối hợp của các ban, ngành và chính quyền địa phương.
Vào đầu năm học căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh của nhà trường, danh
sách sinh viên đăng kí ở nội trú và khối lượng người ở của khu nội trú để
quyết định số lượng cho sinh viên vào ở khu nội trú. Do đó, để công tác nội
trú trong nhà trường đạt được kết quả tốt thì trước hết khu nội trú sinh viên
cần phải có những điều kiện tối thiểu như:
- Tất cả phòng ở, nhà ở đều phải có địa chỉ cụ thể: số phòng, số nhà,
đường phố…
- Nhà ở, nhà ăn phải đảm bảo tiêu chuẩn an toàn về cấu trúc thiết kế
xây dựng…
- Phòng ở phải có các điều kiện tiện nghi và trang thiết bị tối thiểu đảm
bảo nhu cầu học tập, ăn ở và sinh hoạt cho sinh viên.
- Phòng, ban chăm sóc sức khỏe phải đủ số lượng cán bộ y tế trường
học, các trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh của nhà trường.
- Cảnh quan môi trường phải sạch sẽ, có đường sá, cây xanh và tường
rào bảo vệ.
24
24
25
- Đảm bảo công tác bảo vệ trật tự an toàn cho nhà trường, khu nội trú.
Năm 1997, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ký quyết định ban hành quy chế
công tác học sinh sinh viên nội trú trong các trường Đại học, Cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đây là văn bản quan trọng, theo đó các cơ sở
giáo dục xây dựng những kế hoạch, chương trình hành động, nhiệm vụ và
mục tiêu cho từng năm học để phục vụ cho công tác quản lý sinh viên nội trú.

Ban quản lý sinh viên, sinh viên nội trú cần tổ chức tốt các nhiệm vụ
QLSV nội trú, chủ thể quản lý cần lập kế hoạch tổ chức lãnh đạo và chỉ tiến
hành kiểm tra, đánh giá, qua đó để nắm bắt được các thông tin về công tác
quản lý sinh viên nội trú ký túc xá và có bổ sung điều chỉnh hợp lý mục tiêu
quản lý sinh viên nội trú ký túc xá đề ra.
1.3. Đặc điểm tâm lý sinh viên và quản lý sinh viên nội trú của các trường
Cao đẳng
1.3.1. Hệ thống các trường Cao đẳng trong hệ thống GDĐT
Các loại hình trường Đại học, Cao đẳng được tổ chức theo loại hình
công lập và tư thục. Hiện nay, hệ thống các trường Cao đẳng chủ yếu phân bố
ở các tỉnh, thành phố nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học và thực hiện
mục tiêu phát triển GD & ĐT ở các địa phương.
1.3.2. Đặc điểm tâm lý sinh viên các trường Cao đẳng
1.3.2.1. Đặc điểm tâm lý của sinh viên
Sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng với tư cách là đại biểu của
nhóm xã hội đặc biệt, đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh
thần của xã hội, sinh viên đang tích cực chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội và
khẳng định chuyên môn của mình trong các lĩnh vực. Họ là lực lượng tri thức
tiến bộ bổ sung cho nguồn nhân lực xã hội hiện tại và cả trong tương lai.
Theo nhà tâm lý học, xã hội học: sinh viên là những người thuộc lứa
tuổi từ 18 đến 25, ở lứa tuổi này con người đã đạt đến độ hoàn thiện về mặt
thể chất và ổn định về các nét tính cách. Chính sự hoàn thiện này cho phép
25
25

×