Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

Đề tài nghiên cứu các đặc điểm và nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (167.8 KB, 17 trang )

LỜI NĨI ĐẦU
1 - Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Bắt đầu từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1 1994) Đảng ta đã chính thức thừa nhận khái niệm Nhà nước pháp quyền và thấy
rõ sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước đó như là điều kiện khơng thể thiếu để
có nền dân chủ thực sự vì nhân dân. Liên tiếp qua các kì Đại hội gần đây (Đại
hội IX, Đại hội X) Đảng ta khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta (từ đây, cụm từ “Chủ nghĩa xã hội” xin viết tắt là “CNXH”).
Do đó, vấn đề cấp bách hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý
luận về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó xác định rõ những đặc
trưng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nhằm đề ra những giải pháp thích
hợp đảm bảo phát húy được các đặc trưng ấy, nhằm từng bước xóa bỏ nguy cơ
chệch hướng, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
2 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài này một lần nữa hướng đến đối tượng nghiên cứu là Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam, phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu về các đặc
điểm và nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
3 - Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Nội dung của đề tài tập trung phân tích các vấn đề về cơ sở lý luận của các
nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, bao gồm những
vấn đề khái quát về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; những đặc điểm và
các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; đề xuất
những giải pháp chính trị - pháp lý bảo đảm thực hiện các nguyên tắc xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời gian tới.

1


Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.


1.1

Khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mơ hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là mơ hình cho phép và

coi trọng sự kết hợp giữa pháp luật với các giá trị đạo đức xã hội và truyền thống
văn hoá, giữa pháp luật với các chính sách phát triển xã hội vì con người, nhân
đạo XHCN, trong đó pháp luật giữ vị trí là chuẩn giá trị phổ biến, bảo đảm cho
sự phát triển các giá trị và mục tiêu xã hội.
1.2

Đặc điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Từ thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, có thể nêu

lên các đặc điểm của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì
dân như sau:
Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước thật sự của
dân, do dân, vì dân; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
minh của giai cấp công nhân với giai cấp nơng dân và đội ngũ trí thức.
Thứ hai, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được tổ chức theo
nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp.
Thứ ba, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối cao, vị trí đối thượng
của Hiến pháp và pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước tôn trọng và
bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phấn đấu tất cả vì hạnh phúc nhân
dân.
Thứ năm, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước tôn trọng

và cam kết thực hiện đầy đủ các công ước, điều ước quốc tế mà nước CHXHCN
Việt Nam tham gia, là thành viên hoặc đã ký kết, phê chuẩn.
Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảng
cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động dưới sự giám sát của nhân dân, sự phản

2


biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận.
1.3

Các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt

Nam.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với những đặc điểm nêu trên chỉ có thể
được xây dựng thành cơng và đảm bảo không chệch hướng XHCN khi được thực
hiện theo hệ thống các nguyên tắc nhất định. Cụ thể là:
Một là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải giữ vững
tính chất giai cấp cơng nhân, tính chất nhân dân và tính chất nhân đạo của Nhà
nước. Giữ vững tính chất giai cấp cơng nhân là giữ cho Nhà nước ta luôn luôn là
nhà nước của giai cấp công nhân, do giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo theo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của
Đảng cộng sản Việt Nam. Giữ vững tính chất nhân dân là giữ cho Nhà nước ta
luôn là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là hình ảnh của khối
đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Giữ vững
tính nhân đạo là đảm bảo mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước
đều xuất phát và nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của con người.
Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải nhằm phát
huy được các giá trị của nền dân chủ XHCN và bảo đảm quyền làm chủ của

nhân dân. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều
phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân và có sự tham gia ý kiến của nhân dân;
cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân, phải xác
định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Ba là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải được tiến
hành đồng bộ với với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đổi mới hệ thống
chính trị. Nhà nước là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, có quan hệ chặt
chẽ, tác động qua lại với Đảng và các tổ chức xã hội khác; có thể nói, Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam là kết quả tổng hợp của tồn bộ cơng cuộc đổi mới
hệ thống chính trị, kinh tế, văn hố, xã hội.

3


Bốn là, cần tiếp thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh nghiệm thế
giới về xây dựng nhà nước pháp quyền vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam. Để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam đòi hỏi phải tiếp thu và vận dụng sáng tạo những giá trị phổ biến của
các tư tưởng, bài học kinh nghiệm của thế giới về xây dựng nhà nước pháp
quyền.
Năm là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải được đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Việc quán triệt nguyên tắc Đảng
lãnh đạo sẽ đảm bảo cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
luôn phù hợp với ý chí, nguyện vọng và đáp ứng được lợi ích của nhân dân.
Chương 2 - NHỮNG GIẢI PHÁP CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ BẢO ĐẢM
THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
2.1


Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện nguyên

tắc “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải giữ vững tính
chất giai cấp cơng nhân và tính chất nhân dân, tính chất nhân đạo của Nhà
nước”.
- Giải pháp về chính trị: một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH. Đồng nghĩa với việc phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dân có giàu thì nước mới mạnh, sự phồn vinh
của đất nước không thể tách rời tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, không thể
tách rời xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hai là, kiên định và vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là hệ tư tưởng
của giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời cũng thể hiện bản chất giai cấp công
nhân của Đảng, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
- Những giải pháp pháp lý:
+ Về xây dựng pháp luật, thứ nhất cần xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo
thực hiện các quyền tự do, dân chủ, quyền con người và quyền công dân, xây
dựng xã hội công dân, tiến tới thực hiện nguyên tắc cơng dân được làm tất cả
những gì pháp luật khơng cấm. Thứ hai, thể chế hoá mối quan hệ giữa trách

4


nhiệm của Nhà nước nói chung, của cơ quan và cá nhân có thẩm quyền nói riêng
với cá nhân cơng dân theo hướng đề cao nhân tố con người, tạo điều kiện cho
con người thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền cơng dân. Thứ ba, cần
tiếp tục hồn thiện pháp luật hình sự nhằm đề cao tính nhân đạo, bảo vệ quyền
con người.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật, một là, đối với công tác tuyên truyền,
phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật, Nhà nước cần sử dụng nhiều hình thức
khác nhau, cần phát triển hệ thống thống thông tin nhằm tăng cường khả năng

tiếp cận và sử dụng của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân đối với hệ
thống pháp luật. Hai là, vận động, thuyết phục, tổ chức công nhân, các tầng lớp
nhân dân tham gia đơng đảo và tích cực vào công tác tổ chức thực hiện pháp luật.
Ba là, cần tăng cường cung cấp sách báo pháp lý cho đối tượng là công nhân,
nhân dân, đặc biệt là công nhân và nhân dân ở các vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Bốn là, cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm
tra, giám sát việc thực hiện pháp luật đặc biệt là luật lao động, luật cơng đồn,
bảo hộ lao động.
+ Về bảo vệ pháp luật, huy động và tổ chức giai cấp công nhân và các
tầng lớp nhân dân tham gia tích cực và có hiệu quả vào cơng tác phịng, chống vi
phạm pháp luật. Xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật.
2.2

Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện nguyên

tắc “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải nhằm phát huy
được các giá trị của nền dân chủ XHCN và bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân”.
- Giải pháp về chính trị: thứ nhất, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm
chủ của nhân dân cần được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách
phát triển, nhằm đảm bảo cho nhân dân thực sự là chủ đất nước, mọi chủ trương,
chính sách, pháp luật của nhà nước đều xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của con
người. Thứ hai, cần nâng cao trình độ mọi mặt cho nhân dân từ kinh tế, chính trị,
tư tưởng đến các lĩnh vực khác, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao

5


trình độ dân chủ của nhân dân. Thứ ba, phải hình thành nhiều hình thức tập hợp

quần chúng, nhiều kênh thơng tin để người dân có diễn đàn trình bày ý kiến của
mình với Đảng, Nhà nước.
- Những giải pháp pháp lý:
+ Về xây dựng pháp luật, thứ nhất, cần dân chủ hóa, minh bạch hóa hoạt
động xây dựng pháp luật, thu hút nhân dân tham gia sâu rộng vào quá trình soạn
thảo các dự án luật. Thứ hai, khẩn trương xây dựng một số luật mới nhằm mở
rộng hành lang pháp lý để nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và xã
hội như Luật trưng cầu dân ý và Luật phản biện xã hội. Thứ ba, cần thực hiện cải
cách pháp luật về hành chính trong quan hệ với nhân dân nhằm phát huy các giá
trị của nền dân chủ. Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát tối cao của
Quốc hội và quyền giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, quyền giám sát,
kiểm tra của công dân đối với hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức theo
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật, trước hết cần tăng cường tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật về các quyền dân chủ cho nhân dân biết, nhằm tạo
điều kiện cho họ hiểu và coi đó vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mình, trên cơ
sở đó tham gia một cách chủ động vào việc xây dựng và quản lý đất nước.
+ Về bảo vệ pháp luật, cần thực hiện nghiêm túc cơ chế kiểm tra, giám sát
việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo tạo điều kiện tốt nhất để phát huy dân
chủ, để nhân dân thực hiện quyền làm chủ.
2.3

Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện nguyên

tắc “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải tiến hành đồng
bộ với với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đổi mới hệ thống chính trị”.
- Giải pháp về chính trị: việc xây dựng nhà nước pháp quyền phải được tiến
hành tồn diện với bước đi thích hợp từ nhận thức, tư tưởng đến hoạt động thực
tiễn; từ kinh tế, chính trị, quan hệ đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Về kinh tế, cần thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển
kinh tế nhiều thành phần. Về xã hội, cần giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng

6


vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện cơng bằng xã hội, coi đây là
bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Về văn hóa, phát triển văn hóa với tư
cách nền tảng tinh thần của xã hội, trước hết cần phải xây dựng và hoàn thiện giá
trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Về hệ thống chính trị, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức
trong hệ thống chính trị, đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp
giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chi bộ cơ sở; đổi mới nội dung
và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy.
- Những giải pháp pháp lý:
+ Về xây dựng pháp luật, cần xây dựng một hệ thống pháp luật thực tiễn
và toàn diện. Cụ thể là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế để
tạo ra khuôn khổ pháp lý thống nhất và đồng bộ cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh nhằm phát huy cao nhất mặt tích cực và hạn chế tối đa những khuyết tật
của kinh tế thị trường.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân về định hướng phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân.
+ Về bảo vệ pháp luật, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc
thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với
hoạt động của cả hệ thống chính trị và của đảng viên. Khuyến khích nhân dân
nâng cao trách nhiệm của mình, tham gia có hiệu quả vào cơng tác bảo vệ pháp
luật, kịp thời phát hiện, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật, đó cũng là nghĩa

vụ của cơng dân.
2.4

Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện nguyên

tắc “Cần tiếp thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh nghiệm thế giới
về xây dựng nhà nước pháp quyền vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam”.

7


- Giải pháp về chính trị: sớm hội nhập kinh tế quốc tế, nhanh chóng tiếp
cận với những thành tựu, tinh hoa của thế giới về xây dựng nhà nước pháp
quyền, trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ và phát
triển nền văn hóa dân tộc, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Trên cơ sở hội nhập quốc tế, cần nghiên cứu các lý
thuyết và kinh nghiệm phát triển trên thế giới để tìm ra con đường phát triển phù
hợp với điều kiện của đất nước, con người và xã hội Việt Nam.
- Những giải pháp pháp lý:
+ Về xây dựng pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù
hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, trình độ pháp lý của nhân dân, kết
hợp hài hịa tính truyền thống và tính hiện đại của hệ thống pháp luật. Tiếp tục ký
kết, gia nhập các công ước quốc tế trong tất cả các lĩnh. Chú trọng việc nội luật
hóa những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật, một là, cần tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp, với một tư duy mới hơn, tồn diện, thiết thực và
khoa học hơn. Trong đó, xác định trọng tâm là pháp luật về hợp tác quốc tế, đáp
ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập kinh tế quốc tế.
Hai là, cần nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết.

Tránh tình trạng mâu thuẫn giữa nội luật và các điều ước quốc tế. Thứ ba, cần
đào tạo, đào tạo lại đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách nhằm nâng cao kiến thức
pháp luật, nghiệp vụ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ đảm
bảo cho đội ngũ này có khả năng tiếp cận kịp thời với pháp luật quốc tế.
+ Về bảo vệ pháp luật, cần tiến hành đào tạo, đào tạo lại đối với đội ngũ
cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật chuyên trách.
2.5

Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện nguyên

tắc “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam”.
- Giải pháp về chính trị: tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước, coi đây là khâu mấu chốt trong việc đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng nói chung.

8


- Những giải pháp pháp lý:
+ Về xây dựng pháp luật, mọi nghị quyết của Đảng phải được thể chế hóa
thành pháp luật, hay quy chế, quy định, chính sách... với chức năng, nhiệm vụ, cơ
chế vận hành của từng loại cơ quan nhà nước, thích hợp với từng lĩnh vực và
từng cấp hành chính.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật, đấu tranh chống mọi luận điệu xuyên
tạc của các thế lực thù địch, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về vai
trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Thể chế hóa nghị quyết của
Đảng thành kế hoạch, pháp luật và chính sách của Nhà nước và những quy chế,
quy định cụ thể của các tổ chức đảng.
+ Về bảo vệ pháp luật, tăng cường kiểm tra, quản lý tổ chức đảng và cán

bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong
sạch, vững mạnh, thực sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành
của nhân dân.

9


KẾT LUẬN
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là xây dựng một nhà
nước thực sự của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ,
nhân đạo, cơng bằng, văn minh tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; nhà nước được
tổ chức và vận hành một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ chức,
hoạt động của nhà nước phải đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự điều chỉnh của
pháp luật.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân
là một cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, vừa phải chống tư tưởng bảo thủ, vừa
phải chống tư tưởng cực đoan và phải đi từng bước vững chắc, giữ vững ổn định
chính trị. Chính vì vậy, ngoài việc kiên định các nguyên tắc cơ bản về xây dựng
Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã đúc kết được, còn cần phải thống nhất
nhận thức và quyết tâm thực hiện trong toàn bộ hệ thống chính trị. Với quyết tâm
cao độ và sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm của Đảng cộng sản Việt Nam, chúng
ta tin tưởng nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân,
vì dân sẽ tiếp tục giành được những thành tựu mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

10


PHỤ LỤC
1.


Khái niệm về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử
Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng

chính trị - pháp lý, gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc Châu
Âu vì tự do, dân chủ.
Cội nguồn của tư tưởng về nhà nước pháp quyền là những quan điểm của
các triết gia cổ đại (như: Salon, Aristot, Heraclit, Platon, Siseron…) về sự cần
thiết phải thiết lập một chế độ nhà nước dựa hẳn vào pháp luật, chịu sự chi phối
của pháp luật. Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, những quan điểm, tư tưởng
ấy được bổ sung và ngày càng hoàn thiện, trở thành hệ thống các tri thức khoa
học dưới dạng các quan điểm, tư tưởng, lý luận rất phong phú và phức tạp về
mối quan hệ giữa nhà nước - pháp luật - con người trong xã hội có giai cấp.
Theo tư tưởng về nhà nước pháp quyền, nhà nước pháp quyền có một số nội
dung cơ bản sau đây:
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm tính tối cao của pháp luật
trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội, trong đó pháp luật phải phản ánh ý
chí chung của nhân dân, lợi ích chung của xã hội.
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó các quyền, tự do, dân chủ
của công dân được nhà nước tôn trọng và bảo đảm.
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó có mối quan hệ bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước với công dân.
2.

Sự hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền ở

Việt Nam
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng ta và Nhà nước
ta, ở Người đã sớm hình thành một hệ thống quan điểm về pháp quyền, nhân
quyền (quyền con người),... Mặc dù, chưa một lần dùng đến khái niệm nhà nước

pháp quyền, nhưng tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hồ Chủ tịch lại vô
cùng phong phú, thể hiện rõ nét trong tư tưởng của người về dân chủ, nhà nước,
pháp luật và nhân quyền. Những tư tưởng đó của Hồ Chủ tịch đã được Đảng ta

11


vận dụng và phát huy trong suốt quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
nhằm “chăm lo con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người”.
Từ sau Đại hội VI của Đảng, tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Đảng
cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, phản ánh quá
trình nhận thức ngày càng đúng đắn, đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn về tư tưởng
nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại cũng như quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nước ta hiện nay.
3.

Những bảo đảm cho việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3.1 Những bảo đảm chung
Đảm bảo về kinh tế: cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
Nhà nước, mang tính chất XHCN.
Đảm bảo về chính trị: đó là sự ổn định chính trị, sự hoạt động ngày càng
có hiệu quả của hệ thống chính trị và nền dân chủ XHCN được phát huy tích
cực, mạnh mẽ.
Đảm bảo về xã hội: đó là sự ổn định xã hội với hệ thống các mối quan hệ
tốt đẹp giữa người với người, là khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đảm bảo về tư tưởng: đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và đường lối, chính sách của Đảng.
Đảm bảo về văn hóa: đó là nền văn hóa dân tộc, hiện đại và nhân văn, nền
văn hoá tiên tiến với nội dung XHCN và tính chất dân tộc.
3.2 Những đảm bảo pháp lý
3.2.1 Bảo đảm về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước:
Bộ máy nhà nước phải được tổ chức chặt chẽ theo nguyên tắc tập trung dân
chủ và hoạt động có hiệu quả. Tổ chức bộ máy nhà nước phải đảm bảo chặt chẽ,
thực sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm thực hiện ngày càng đầy đủ nền dân
chủ XHCN. Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ, quyền con

12


người của nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Tổ chức bộ máy nhà nước
phải dựa trên cơ sở pháp luật.
3.2.2 Bảo đảm về hệ thống pháp luật:
Hệ thống pháp luật phải có tính tồn diện, tính đồng bộ, tính khoa học và
tính thực tiễn. Tính tồn diện của hệ thống pháp luật thể hiện ở chỗ có đủ các
ngành luật để điều chỉnh những lĩnh vực quan hệ xã hội cơ bản, trong mỗi ngành
luật có đủ các chế định luật, trong mỗi chế định luật có đủ các quy phạm pháp
luật. Tính đồng bộ thể hiện ở sự xếp đặt theo trình tự chặt chẽ và kết cấu lôgic,
khoa học về cả nội dung và hình thức, khơng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các
quy phạm pháp luật trong một chế định luật, giữa các chế định luật trong một
ngành luật và giữa những văn bản quy phạm pháp luật. Tính khoa học thể hiện ở
chỗ, các quy phạm pháp luật được xây dựng trên những căn cứ bền vững về lý
luận và thực tiễn, phù hợp với ý chí nguyện vọng của nhân dân, có sự vận dụng,
sáng tạo những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học pháp lý ở trong
nước và trên thế giới; nội dung các quy phạm pháp luật được thể hiện bằng ngôn
ngữ chuẩn xác, cô đọng, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu. Tính thực tiễn của hệ thống

pháp luật có nghĩa là pháp luật được xây dựng xuất phát từ nhu cầu khách quan
của xã hội, phù hợp với khả năng và điều kiện của xã hội và có khả năng giải
quyết được những vấn đề trước mắt và lâu dài của xã hội.
3.2.3 Bảo đảm về cơng tác tổ chức thực hiện pháp luật:
Phải có những biện pháp để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, đầy
đủ, thống nhất. Nghĩa là phải tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật để cho các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và mọi công dân đều phải
thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất và bình đẳng.
Mục đích của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật là nhằm huy động mọi
nguồn lực của nhà nước và của nhân dân để đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo ra
những giá trị văn minh vật chất và văn minh tinh thần phong phú cho xã hội;
củng cố nhà nước, tăng cường pháp chế.
3.2.4 Bảo đảm về công tác bảo vệ pháp luật:
Để đảm bảo thực hiện được các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp

13


quyền XHCN Việt Nam thì bảo vệ pháp luật có hiệu quả phải được coi là nhiệm
vụ chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trị chủ đạo. Bảo vệ pháp
luật là hoạt động bao gồm ba nội dung: kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp
luật; huy động và tổ chức tồn dân tham gia tích cực và có hiệu quả vào cơng tác
phịng ngừa và chống vi phạm pháp luật; xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhanh
chóng mọi vi phạm pháp luật.
4.

Thực trạng thực hiện các nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4.1


Những thành tựu cơ bản của việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nguyên tắc phải giữ vững tính chất giai cấp cơng nhân và tính chất nhân
dân, tính nhân đạo của Nhà nước được thực hiện và phát huy ở mức độ cao. Giai
cấp công nhân nước ta đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách
mạng thông qua đội tiền phong là Ðảng cộng sản Việt Nam. Thành tựu trong
việc thực hiện nguyên tắc này của Nhà nước còn thể hiện ở những kết quả của
đổi mới hệ thống chính trị và Nhà nước trong hơn hai mươi năm qua, được thể
hiện cụ thể trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước từ trung ương đến địa phương; của các cơ quan lập pháp, hành pháp và
tư pháp, ở nỗ lực xây dựng một nền pháp luật mang tính dân chủ thực sự, bảo
đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động và xuất phát từ nhu cầu, lợi ích
cơ bản của con người và đều nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của con người.
Nguyên tắc phát huy các giá trị của nền dân chủ, xây dựng một nhà nước
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được coi là mục tiêu, động lực của
công cuộc đổi mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ chế dân chủ được từng bước
hoàn thiện đã phát huy cao sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo nên động lực to
lớn phát triển đất nước. Nhờ đó, các tầng lớp nhân dân trở nên tích cực, chủ
động, sáng tạo, năng động trong việc tham gia công việc của đất nước. Các quan
hệ xã hội được xây dựng hài hòa, sự đồng thuận xã hội và dân chủ hóa trên các
lĩnh vực của đời sống - xã hội được tăng cường.
Nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải tiến hành

14


đồng bộ với với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đổi mới hệ thống chính trị
đã được quán triệt trong nhận thức và hành động. Cùng với đổi mới kinh tế,

chúng ta đã từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị; đổi mới và chỉnh đốn Ðảng, đổi mới công tác tổ chức và cán bộ, mở
rộng dân chủ trong Ðảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà
nước và xã hội; quá trình đổi mới hệ thống chính trị, phát triển kinh tế đã gắn kết
chặt chẽ kinh tế với văn hóa - xã hội, đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; gắn kết chặt chẽ phát
triển kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và đối ngoại.
Nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần có sự tiếp
thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh nghiệm thế giới về xây dựng nhà
nước pháp quyền được nhận thức đầy đủ và được thực hiện thường xuyên trên
thực tế. Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, chúng ta đã tiếp
thu và vận dụng sáng tạo các giá trị phổ biến và kinh nghiệm của thế giới về xây
dựng nhà nước pháp quyền, không phủ định sạch trơn thành tựu của quá khứ, mà
trân trọng và kế thừa những kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của cha ông,
những thành tựu của cách mạng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,
đồng thời kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những thành quả của văn minh nhân loại,
trong đó có mặt tích cực của kinh tế thị trường, những giá trị trong tư tưởng về
nhà nước pháp quyền - những thứ trước đây bị coi là riêng của chủ nghĩa tư bản.
Nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng công sản Việt Nam thường xuyên được quán triệt và thực
hiện nghiêm túc. Đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện thành cơng vai trị là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo thực hiện
đường lối đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN phù hợp với thực tiễn
Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới. Hơn hai mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo
tồn diện của Đảng, q trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, sức mạnh tổng hợp của
quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên
với triển vọng tốt đẹp.

15



4.2

Một số hạn chế của việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Nhà nước

pháp quyền XHCN Việt Nam
Thứ nhất, việc giữ vững tính chất giai cấp cơng nhân và tính chất nhân
dân, tính chất nhân đạo của Nhà nước chưa được thực hiện triệt để. Địa vị chính
trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ. Giai cấp cơng nhân cịn hạn chế
về phát huy vai trị nịng cốt trong liên minh giai cấp cơng nhân với giai cấp nơng
dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh
chính trị của cơng nhân khơng đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật
cịn nhiều hạn chế.
Thứ hai, các giá trị của nền dân chủ XHCN đã được phát huy nhưng chưa
xứng tầm với yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN. Biểu hiện ở chỗ, thể chế
luật pháp để bảo đảm dân chủ được thực thi chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ, thiếu
ổn định và tính khả thi của nó. Khơng ít quy định pháp luật được xây dựng công
phu, tốn kém, nhưng mới ban hành chưa lâu đã phải bổ sung, sửa đổi. Tổ chức bộ
máy còn cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu quả, một bộ phận đội ngũ cán bộ,
công chức sa sút về phẩm chất, yếu kém về năng lực.
Thứ ba, công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cịn
nhiều hạn chế, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn yếu về khả năng
cạnh tranh. Bộ máy của hệ thống chính trị cịn q cồng kềnh, chưa thật trong
sạch, vững mạnh; hiệu lực và khả năng quản lý, điều hành chưa ngang tầm với
tình hình mới, cơ chế vận hành chưa thật khoa học. Sự phân công phối hợp giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện 3 quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp
còn nhiều điểm chưa rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ. Nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN còn yếu về khả năng cạnh tranh, chưa tăng cường được vai
trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chưa phát triển được kinh tế hợp tác và phát

huy khả năng của các thành phần kinh tế, chậm đổi mới so với yêu cầu của quá
trình hội nhập.
Thứ tư, nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần có
sự tiếp thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh nghiệm thế giới về xây dựng
nhà nước pháp quyền cịn có những hạn chế nhất định. Hệ thống pháp luật về hội

16


nhập quốc tế chưa được hoàn thiện, việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Đặc
biệt trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí
tuệ, thuế quan, bảo vệ mơi trường… chưa có các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc
lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,…
Thứ năm, đối với nguyên tắc Đảng lãnh đạo thì sự lãnh đạo của Đảng chưa
đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước, vẫn
cịn tình trạng buông lỏng và bao biện, chồng chéo nên chưa phát huy tối đa vai
hiệu lực điều hành của bộ máy nhà nước./.

17



×