Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

xu hướng phát triển của dịch vụ tài chính doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại tại việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 99 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***






KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP




Đề tài:
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY



Sinh viên thực hiện : Phạm Minh Hằng
Lớp : Anh 6
Khoá : K43B - KT&KDQT
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phan Trần Trung Dũng



Hà Nội - 2008
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT



1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 8
I. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP (DV
TCDN) 8
1. Khái niệm 8
1.1. Khái niệm Dịch vụ tài chính: 8
1.2. Khái niệm Dịch vụ tài chính Doanh nghiệp: 9
2. Các tổ chức cung cấp 9
2.1. Ngân hàng thương mại (NHTM) 9
2.2. Ngân hàng đầu tư 10
2.3. Công ty tài chính 11
2.4. Công ty chứng khoán 11
2.5. Quỹ đầu tư 11
2.6. Tổ chức lưu ký chứng khoán 12
2.7. Công ty bảo hiểm 12
2.8. Các tổ chức, cá nhân hành nghề kế toán, kiểm toán và tư vấn tài
chính 13
3. Vai trò của các DV TCDN 14
3.1. Đối với doanh nghiệp 14
3.2. Đối với nền kinh tế 15
II. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI (NHTM) 16
1. Tổng quan về NHTM 16
1.1. Khái niệm 16
1.2. Vai trò của hệ thống NHTM đối với thị trường tài chính nói
riêng và nền kinh tế nói chung 18

Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

2
2. DV TCDN của NHTM 20
2.1. Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp 20
2.2. Vai trò của các DV TCDN đối với hoạt động kinh doanh của
NHTM 21
2.3. Phân loại các DV TCDN của NHTM 22
3. Các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hƣởng tới xu hƣớng phát
triển DV TCDN của NHTM 32
3.1 Các tiêu chí đánh giá xu hướng phát triển DV TCDN của NHTM
32
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng phát triển DV TCDN của
NHTM 32
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM HIỆN
NAY 36
I. TỔNG QUAN THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM 36
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT
NAM HIỆN NAY 40
1. Phân tích thực trạng DV TCDN của các NHTM tại Việt Nam hiện
nay 40
1.1 Dịch vụ tín dụng 40
1.2 Dịch vụ thanh toán 49
1.3 Dịch vụ trao đổi ngoại tệ 52
1.4 Các dịch vụ khác 55
2. Đánh giá các cơ hội và thách thức đối với sự phát triển DV TCDN
của các NHTM tại Việt Nam hiện nay 57

2.1. Cơ hội 57
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

3
2.2. Thách thức 67
Chương 3 DỰ BÁO XU HƢỚNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
73
I. ĐỊNH HƢỚNG CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH
NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN 73
1. Đối với Ngân hàng Nhà nƣớc 74
2. Đối với các tổ chức tín dụng 75
3. Về hội nhập kinh tế quốc tế 77
II. DỰ BÁO XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 78
1. Xu hƣớng chung 78
1.1. Đối tượng khách hàng: xu hướng tăng tỷ trọng của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ 78
1.2. Nhà cung cấp: xu hướng tăng tỷ trọng các NHTM lớn, tăng
cường mức độ cạnh tranh và tập trung cạnh tranh bằng chất lượng
dịch vụ 79
1.3. Dịch vụ: xu hướng tăng trưởng về số lượng, đa dạng về hình
thức, hiện đại về công nghệ và hình thành nhiều gói dịch vụ kết hợp
nhiều dịch vụ khác nhau 81
2. Xu hƣớng phát triển đối với từng lĩnh vực dịch vụ 83
2.1. Dịch vụ tín dụng 83
2.2. Dịch vụ thanh toán 85
2.3. Dịch vụ trao đổi ngoại tệ 86

2.4. Các dịch vụ khác 87
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

4
III. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 87
1. Kiến nghị đối với các NHTM 88
1.1. Hoạch định chiến lược phát triển phù hợp 88
1.2. Tiến hành nghiên cứu thị trường 89
1.3. Nâng cao năng lực hoạt động kinh doanh trên thị trường DV
TCDN 89
2. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp 92
2.1. Tăng cường kiến thức về các DV TCDN 92
2.2. Thực hiện chế độ thống kê, kế toán theo chuẩn mực hiện hành 93
3. Kiến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc 93
3.1. Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt
động ngân hàng và mảng DV TCDN 93
3.2. Sử dụng công cụ ngân sách nhà nước thúc đẩy phát triển thị
trường DV TCDN 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 98
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ kinh tế - xã hội phát triển và hội nhập kinh
tế quốc tế mạnh mẽ. Cùng với quá trình đó là xu hƣớng phát triển kinh doanh

của hệ thống ngân hàng thƣơng mại ngày càng đa năng, hiện đại, cung cấp
ngày càng nhiều những dịch vụ tài chính đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các chủ
thể trong nền kinh tế. Trong đó, mảng dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp
luôn giữ vai trò quan trọng, đem lại lợi ích cho tất cả các bên: doanh nghiệp,
ngân hàng thƣơng mại và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Xu hƣớng phát
triển mảng dịch vụ này tại Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới nhƣ thế
nào là vấn đề cần thiết phải nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm tối đa hoá
lợi ích của mảng dịch vụ đó.
2. Mục đích và nội dung nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là nhằm dự báo xu hƣớng và đề xuất
một vài kiến nghị để phát triển dịch vụ tài chính doanh nghiệp của các ngân
hàng thƣơng mại tại Việt Nam trong thời gian tới, trên cơ sở phân tích thực
trạng và đánh giá cơ hội và thách thức hiện nay đối với loại hình dịch vụ này.
Từ mục đích đó, ngƣời viết đã xây dựng khoá luận gồm những nội dung
chính sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ tài chính doanh nghiệp
và ngân hàng thƣơng mại để rút ra các chỉ tiêu đánh giá cũng nhƣ các nhân tố
tác động đến xu hƣớng phát triển dịch vụ tài chính doanh nghiệp do ngân
hàng thƣơng mại cung cấp.
- Dựa vào những lý thuyết cơ bản trên và những số liệu thu thập đƣợc
trong quá trình nghiên cứu, khoá luận phân tích thực trạng và đánh giá những
cơ hội cũng nhƣ thách thức hiện nay đối với các dịch vụ tài chính doanh
nghiệp của các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam.
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

6
- Trên cơ sở thực trạng đó, khoá luận đƣa ra một số dự báo về xu hƣớng
phát triển loại hình dịch vụ tài chính doanh nghiệp của các ngân hàng thƣơng
mại tại Việt Nam trong thời gian tới, đồng thời, đề xuất một số kiến nghị đối
với các bên liên quan nhằm phát triển thị trƣờng dịch vụ này.

3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: dịch vụ tài chính doanh nghiệp của các ngân hàng
tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam.
- Về thời gian, khoá luận giới hạn nghiên cứu các dịch vụ tài chính doanh
nghiệp của các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam trong khoảng 3 năm gần
đây.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu biện chứng duy vật, phƣơng
pháp lịch sử, nghiên cứu tài liệu, phân tích - tổng hợp, so sánh, … Đồng thời,
khoá luận kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các học giả trong và
ngoài nƣớc liên quan đến dịch vụ tài chính doanh nghiệp và hoạt động ngân
hàng tại Việt Nam.
5. Kết cấu khoá luận
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Khoá luận bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Tổng quan về dịch vụ tài chính doanh nghiệp của ngân hàng
thƣơng mại.
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ tài chính doanh nghiệp của các
NHTM tại Việt Nam hiện nay.
Chƣơng 3: Dự báo xu hƣớng và đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển
dịch vụ tài chính doanh nghiệp của các ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam
trong thời gian tới.
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

7
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Th.s. Phan Trần Trung Dũng,
trƣờng Đại học Ngoại thƣơng, cùng bạn bè và gia đình đã hết lòng giúp đỡ tôi
trong quá trình hoàn thành khoá luận này.
Hà Nội, tháng 6 năm 2008
Phạm Minh Hằng


Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

8
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
I. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP (DV
TCDN)
1. Khái niệm
1.1. Khái niệm Dịch vụ tài chính:
Theo quan điểm của WTO: “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào
có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.
Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm,
mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”
Theo quan niệm trên, các loại dịch vụ tài chính đƣợc chia thành các loại
cơ bản sau:
- Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ dịch vụ bảo
hiểm), bao gồm: Dịch vụ tiết kiệm (tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiết kiệm, tín
phiếu, trái phiếu); cho vay (tín dụng, thuê mua tài chính, cầm cố thế chấp, cho
vay kí quỹ, bảo lãnh thanh toán, chiết khấu giấy tờ có giá); thanh toán (thanh
toán, chuyển tiền, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu, …);
giao dịch (thị trƣờng tiền tệ, ngoại hối); môi giới và đầu tư (môi giới đầu tƣ
chứng khoán,…); tư vấn tài chính.
- Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, bao gồm: các
loại hình bảo hiểm trực tiếp (bao gồm cả đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm) về
trách nhiệm dân sự, tài sản, con ngƣời,…; sử dụng quỹ bảo hiểm (đầu tƣ
nguồn vốn bảo hiểm dƣới các hình thức khác nhau nhƣ đầu tƣ chứng khoán,
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


9
góp vốn,…) và các dịch vụ phụ trợ liên quan đến bảo hiểm (dịch vụ tƣ vấn,
dịch vụ đánh giá xác suất rủi ro, khiếu nại, đại lý bảo hiểm,…).
1.2. Khái niệm Dịch vụ tài chính Doanh nghiệp:
Phân loại các dịch vụ tài chính theo đối tƣợng khách hàng thì có dịch vụ
tài chính dành cho cá nhân và dịch vụ tài chính dành cho doanh nghiệp. Trong
khoá luận này, ngƣời viết sử dụng thuật ngữ “Dịch vụ tài chính Doanh
nghiệp” (DV TCDN) để chỉ các dịch vụ tài chính cung cấp cho khách hàng
doanh nghiệp. Doanh nghiệp ở đây đƣợc hiểu theo khái niệm trong Luật
doanh nghiệp Việt Nam 1999: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Dựa theo cách phân loại trên về dịch vụ tài chính, có thể phân chia DV
TCDN thành 4 nhóm cơ bản nhƣ sau:

2. Các tổ chức cung cấp
2.1. Ngân hàng thương mại (NHTM)
Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ
biến nhất hiện nay. Các NHTM huy động vốn chủ yếu dƣới dạng: Tiền gửi
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

10
thanh toán (checkable deposits), tiền gửi tiết kiệm (saving deposits), tiền gửi
có kì hạn (time deposits). Vốn huy động đƣợc dùng để cho vay: cho vay
thƣơng mại (commercial loans), cho vay tiêu dùng (consumer loans), cho vay
bất động sản (mortgage loans) và để mua chứng khoán chính phủ, trái phiếu
của chính quyền địa phƣơng.
1

Hiện nay, NHTM là tổ chức tài chính cung cấp nhiều loại hình dịch vụ

tài chính nhất, bao gồm cả các dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp. Danh mục
các DV TCDN mà một NHTM cung cấp không chỉ bao gồm các dịch vụ ngân
hàng truyền thống nhƣ: nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, chiết khấu, … mà
còn có thể bao gồm các dịch vụ tài chính phi ngân hàng nhƣ: dịch vụ môi giới
đầu tƣ chứng khoán, dịch vụ tƣ vấn tài chính, …
Trong bài khoá luận này, ngƣời viết tập trung chủ yếu vào các loại hình
DV TCDN do các NHTM cung cấp.
2.2. Ngân hàng đầu tư
DV TCDN mà một ngân hàng đầu tƣ cung cấp chủ yếu là tƣ vấn và bảo
lãnh phát hành chứng khoán. Ngoài ra, các ngân hàng đầu tƣ còn cung cấp các
dịch vụ hỗ trợ cho việc hợp nhất hoặc mua lại giữa các công ty.
Các ngân hàng đầu tƣ ra đời đầu tiên ở Mỹ, khi các NHTM Mỹ bị cấm
không đƣợc tham gia hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.
2
Các ngân
hàng đầu tƣ nổi tiếng của Mỹ hiện nay là: Goldman, Sachs & Co., Morgan
Stanley, Merrill Lynch, Salamon Brothers… Các ngân hàng này không chỉ
nổi tiếng ở Mỹ mà còn là những ngân hàng đầu tƣ hàng đầu trên thế giới. Ở
Đức tồn tại loại hình ngân hàng đa năng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động
của NHTM lẫn ngân hàng đầu tƣ.
Ở Việt Nam chƣa có loại ngân hàng này. Các NHTM ở Việt Nam cũng
không đƣợc phép trực tiếp tham gia vào hoạt động bảo lãnh phát hành chứng


1
Khái niệm NHTM sẽ đƣợc trình bày cụ thể hơn trong phần sau.
2
Theo Luật “Glass Steagall Act 1933”.
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


11
khoán, nhƣng đƣợc phép thành lập các công ty chứng khoán hoạt động độc
lập để thực hiện các hoạt động nhƣ các ngân hàng đầu tƣ.
2.3. Công ty tài chính
Các công ty tài chính huy động vốn chủ yếu thông qua phát hành cổ
phiếu, trái phiếu, hay thƣơng phiếu; đồng thời cung ứng chủ yếu các loại tín
dụng trung và dài hạn nhƣ: cho ngƣời tiêu dùng vay tiền để mua sắm đồ đạc,
xe hơi, tu bổ nhà hoặc cho các doanh nghiệp nhỏ vay. Ngoài ra, các công ty
tài chính còn thực hiện các dịch vụ cầm, giữ hộ và quản lý các chứng khoán,
các kim loại quý, …
2.4. Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là các công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là: bảo
lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tƣ và tƣ vấn đầu tƣ chứng
khoán. Đối với các doanh nghiệp, các công ty chứng khoán là một trong
những cấu nối dẫn doanh nghiệp tới thị trƣờng chứng khoán. Khi doanh
nghiệp cần huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu, công
ty chứng khoán có thể trợ giúp bằng cách đứng ra đảm nhận việc bảo lãnh
phát hành. Cũng nhƣ vậy, khi doanh nghiệp muốn tăng cƣờng hiệu quả sử
dụng vốn bằng cách đầu tƣ vào thị trƣờng chứng khoán thì các công ty chứng
khoán cũng là một lựa chọn để đƣợc tƣ vấn cũng nhƣ giúp doanh nghiệp xây
dựng danh mục đầu tƣ hiệu quả.
2.5. Quỹ đầu tư
Các quỹ đầu tƣ là các tổ chức tài chính phi ngân hàng, thu nhận tiền từ
một số lƣợng lớn các nhà đầu tƣ và tiến hành đầu tƣ số vốn đó vào các tài sản
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

12
tài chính có tính thanh khoản dƣới dạng tiền tệ và các công cụ của thị trƣờng
tài chính.

1

Nhìn chung, suất sinh lời của các quỹ đầu tƣ thƣờng không cao nên các
quỹ đầu tƣ thƣờng hƣớng vào đối tƣợng khách hàng cá nhân, những ngƣời
thừa vốn nhƣng ngại rủi ro. Tuy nhiên, đ ầu tƣ vào các quỹ đầu tƣ cũng là một
cách giúp doanh nghiệp đa dạng hoá danh mục đầu tƣ hay sinh lời trên đồng
vốn tạm thời nhàn rỗi của mình. Ngoài ra, nhiều quỹ đầu tƣ còn cung cấp cả
dịch vụ tƣ vấn tài chính cho doanh nghiệp.
2.6. Tổ chức lưu ký chứng khoán
Tổ chức lƣu ký chứng khoán là tổ chức chuyên thực hiện chức năng cung
cấp dịch vụ lƣu ký chứng khoán cho khách hàng là các tổ chức, cá nhân đầu
tƣ, sở hữu chứng khoán của các công ty niêm yết trên thị trƣờng.
Các tổ chức có thể tham gia thực hiện dịch vụ lƣu ký chứng khoán phải
là các công ty chứng khoán thành viên hoặc các ngân hàng thƣơng mại đƣợc
Uỷ ban chứng khoán nhà nƣớc cấp giấy phép hoạt động lƣu ký.
2.7. Công ty bảo hiểm
Công ty bảo hiểm có chức năng chủ yếu là cung cấp phƣơng tiện để bảo
vệ các hộ gia đình hoặc các hãng kinh doanh trƣớc những tổn thất về tài chính
do những rủi ro nhất định gây ra thông qua việc cung cấp các hợp đồng bảo
hiểm, cam kết sẽ bồi thƣờng cho ngƣời mua một khoản tiền nhất định trong
trƣờng hợp xảy ra rủi ro.
Các doanh nghiệp thƣờng mua bảo hiểm tài sản và tai nạn để hạn chế rủi
ro đối với máy móc thiết bị cũng nhƣ các tài sản vật chất của công ty. Ngoài
ra, hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều mua bảo hiểm cho công nhân viên
của mình (bảo hiểm sức khoẻ và thƣơng tật hoặc thậm chí, cả bảo hiểm nhân


1
Theo Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán - Uỷ ban chứng khoán
nhà nƣớc, T.s Đào Lê Minh (chủ biên)

Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

13
thọ). Đó là một cách đƣa thêm ƣu đãi cho công nhân viên cũng nhƣ khuyến
khích tinh thần lao động vì công ty của họ.
2.8. Các tổ chức, cá nhân hành nghề kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính
Nhóm này bao gồm các tổ chức, cá nhân (các công ty kế toán - kiểm
toán, các công ty tƣ vấn tài chính, các kiểm toán viên độc lập, …) hành nghề
kế toán, kiểm toán và tƣ vấn tài chính, đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định
của pháp luật về kế toán, kiểm toán và tƣ vấn tài chính hiện hành.
Thông thƣờng, mỗi doanh nghiệp đều có bộ phận kế toán của riêng mình,
thực hiện tất cả các nghiệp vụ kế toán của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có
những doanh nghiệp sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài. Phổ biến là các
doanh nghiệp có quy mô nhỏ, sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài nhằm tiết
kiệm chi phí hoạt động.
Với các dịch vụ kiểm toán, các doanh nghiệp có thể phát hiện và chấn
chỉnh kịp thời các sai sót do vô tình hay cố ý, phòng ngừa các vi phạm và
thiệt hại có thể xảy ra trong kinh doanh và sử dụng kinh phí. Các số liệu, tài
liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp đã đƣợc kiểm toán sẽ
là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở doanh nghiệp; cho các cơ
quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính Nhà nƣớc xét duyệt quyết toán
hàng năm của các doanh nghiệp; cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các
khoản nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nƣớc; cho các cổ
đông, các nhà đầu tƣ, các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ
chức, cá nhân xử lý các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ vủa các bên có
liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Dịch vụ tƣ vấn tài chính bao gồm các loại hình dịch vụ nhƣ: tƣ vấn thuế,
tƣ vấn tài chính doanh nghiệp, tƣ vấn đánh giá tài chính dự án, tƣ vấn thị
trƣờng bất động sản, … Trong đó, quan trọng nhất đối với doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay là: tƣ vấn thuế và tƣ vấn tài chính doanh nghiệp.

Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

14
3. Vai trò của các DV TCDN
3.1. Đối với doanh nghiệp
a. Đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp
Sự phát triển của thị trƣờng dịch vụ tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp huy động đƣợc nguồn tài chính phù hợp với nhu cầu đầu tƣ
sản xuất kinh doanh của mình. Ngoài nguồn vốn của chủ sở hữu, vay ngân
hàng, doanh nghiệp còn có thể huy động vốn qua thị trƣờng chứng khoán, từ
các tổ chức bảo hiểm
b. Phân tán và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh cho
các doanh nghiệp
Với sự phát triển của thị trƣờng dịch vụ tài chính, các loại dịch vụ tài
chính hình thành, phát triển rất đa dạng, song có mức độ rủi ro khác nhau.
Điều này tạo điều kiện cho cả các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính lẫn các
khách hàng có điều kiện lựa chọn tham gia vào nhiều loại dịch vụ tài chính
khác nhau cùng một lúc, tránh đƣợc rủi ro khi chỉ sử dụng một loại dịch vụ
duy nhất. Hơn thế nữa, dịch vụ bảo hiểm có vai trò phòng ngừa, xử lý và giải
quyết những hậu quả tài chính khi các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ bảo
hiểm gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh; đồng thời, khuyến khích các
doanh nghiệp yên tâm đầu tƣ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
c. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính
doanh nghiệp
Các thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp từ
các tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán và tƣ vấn tài chính có thể
phản ánh một cách khách quan trung thực, đầy đủ về tình hình doanh nghiệp.
Báo cáo kiểm toán sẽ đƣa ra những số liệu, đánh giá khách quan về tình hình
tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, công tác quản lý tài chính cũng nhƣ
việc chấp hành chế độ, chính sách của doanh nghiệp Dịch vụ kế toán ở

Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

15
doanh nghiệp, qua đó giúp đơn vị hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. Dịch
vụ tƣ vấn giúp cho doanh nghiệp nắm bắt đƣợc và vận dụng đúng những yêu
cầu và quy định của Nhà nƣớc về hoạt động tƣ vấn, nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh.
3.2. Đối với nền kinh tế
a. Thúc đẩy nâng cao tiết kiệm, tập trung và đầu tư vốn, từ đó thúc đẩy sản
xuất, kinh doanh phát triển.
Đây có thể nói là vai trò cơ bản, quan trọng nhất của thị trƣờng các dịch
vụ tài chính nói chung. Với sự phát triển của thị trƣờng dịch vụ tài chính,
thông qua hàng loạt các dịch vụ tài chính đa dạng, mọi nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi đều đƣợc đƣa vào tiết kiệm, các nguồn vốn nhỏ lẻ trong nền kinh tế
đƣợc tập trung thành những quỹ tài chính lớn phục vụ nhu cầu đầu tƣ lớn, dài
hạn trong nền kinh tế. Riêng các DV TCDN lại có vai trò rất lớn trong việc
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn đa
dạng, nhanh chóng. Yếu tố về vốn thuận lợi hơn từ đó lại giúp hoạt động đầu
tƣ phát triển, sản xuất kinh doanh đƣợc đẩy mạnh, vòng quay về vốn tăng lên,
tức là khả năng cung ứng về vốn cho đầu tƣ trong nền kinh tế tăng lên.
b. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Đây là vai trò của thị trƣờng các dịch vụ tài chính nói chung chứ không
chỉ xét riêng các DV TCDN. Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trƣờng, vấn đề thiết lập môi trƣờng và các công cụ cần thiết để Nhà nƣớc thực
hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo điều kiện để thực hiện chủ trƣơng
“phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc và
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa” là rất quan trọng. Đây là một trong những
điều kiện cơ bản đảm bảo cho Nhà nƣớc có thể thực hiện tốt vai trò và chức
năng quản lý, điều tiết và định hƣớng đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã
hội. Thông qua môi trƣờng là thị trƣờng tài chính nói chung, thị trƣờng chứng

Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

16
khoán, thị trƣờng tiền tệ, … và các loại công cụ thị trƣờng tài chính đa dạng
khác nhau nhƣ nghiệp vụ thị trƣờng mở, … Nhà nƣớc thực hiện chức năng
quản lý và định hƣớng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội một cách
gián tiếp trên tầm vĩ mô.
c. Lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia.
Đây là vai trò cơ bản và chủ yếu của các dịch vụ kế toán, kiểm toán và tƣ
vấn tài chính. Thông qua các dịch vụ này, các báo cáo tài chính và kế toán của
các doanh nghiệp sẽ đảm bảo đƣợc thực hiện đúng theo chế độ kế toán – tài
chính của Nhà nƣớc và phản ánh trung thực tình hình tài chính và hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, những sai phạm về chế độ tài chính,
kế toán sẽ đƣợc phát hiện và có các giải pháp khắc phục kịp thời, tránh gây
hậu quả xấu. Đồng thời, các doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém sẽ
đƣợc thị trƣờng nhận diện và có các biện pháp xử lý thích hợp, hạn chế khả
năng lây lan và có thể tạo các cú sốc đối với nền kinh tế.
II. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI (NHTM)
1. Tổng quan về NHTM
1.1. Khái niệm
NHTM là loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói
chung và đối với từng cộng đồng địa phƣơng nói riêng. Các NHTM có thể
đƣợc định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện. Vấn đề là ở
chỗ không chỉ chức năng của các NHTM đang thay đổi mà chức năng của các
đối thủ cạnh tranh chính của NHTM cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là,
rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán,
công ty môi giới chứng khoán, quỹ tƣơng hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu
đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngƣợc lại, ngân hàng
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


17
cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng)
bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hƣớng về lĩnh vực bất động sản
và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tƣ vào quỹ tƣơng
hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Điều này đã đặt ra không ít thách
thức đối với các nhà làm luật trong việc đƣa ra một định nghĩa pháp lý chặt
chẽ về NHTM để có thể quản lý tốt hơn hoạt động ngân hàng.
Trong cuốn “Commercial bank management” (xuất bản lần thứ tƣ vào
năm 1998 tại Mỹ), Peter S. Rose đã đƣa ra một định nghĩa khá hợp lý về
NHTM trên phƣơng diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân
hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Ngân hàng thƣơng mại thƣờng đƣợc gọi đơn giản là ngân hàng. Từ
“thƣơng mại” ở đây chủ yếu đƣợc dùng để phân biệt NHTM với ngân hàng
đầu tƣ. Chức năng chủ yếu của các ngân hàng đầu tƣ là giúp đỡ các doanh
nghiệp, chính phủ huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán. Các ngân
hàng đầu tƣ còn hỗ trợ cho việc hợp nhất giữa các công ty hoặc giúp một công
ty này mua lại một công ty khác.
Thuật ngữ Ngân hàng thƣơng mại còn đƣợc dùng để phân biệt với
Ngân hàng trung ƣơng (NHTW). Ngân hàng trung ƣơng là một định chế
công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc
quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính
phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nƣớc về các hoạt động tiền tệ,
tín dụng, ngân hàng.
NHTM dù ở quốc gia nào cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn
nhất. Đây cũng là các trung gian tài chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch
thƣờng xuyên nhất.

Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

18
1.2. Vai trò của hệ thống NHTM đối với thị trường tài chính nói riêng và
nền kinh tế nói chung
a) Vai trò là trung gian tín dụng:
NHTM thực hiện vai trò trung gian tín dụng, tức là “cầu nối” giữa ngƣời
dƣ thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn.

Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền
kinh tế. Ở đây, NHTM vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là
ngƣời cho vay.
Với vai trò trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả
các bên tham gia: ngƣời gửi tiền, ngân hàng và ngƣời đi vay, đồng thời thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
- Đối với ngƣời gửi tiền, họ thu đƣợc lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi
của mình dƣới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân
hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch
vụ thanh toán tiện lợi.
- Đối với ngƣời đi vay, họ sẽ thoả mãn đƣợc nhu cầu vốn để kinh doanh,
chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc
tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
- Đối với NHTM, họ sẽ tìm kiếm đƣợc lợi nhuận cho bản thân mình từ
chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới.
Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của NHTM.
- Đối với nền kinh tế, vai trò này góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy
tăng trƣởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


19
xuất đƣợc thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng
này, NHTM đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích
thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
b) Vai trò là trung gian thanh toán:
NHTM còn đóng vai trò là trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh
toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ
để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Nói
cách khác, NHTM giống nhƣ một ngƣời “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và
cá nhân bởi ngân hàng là ngƣời giữ tài khoản của họ.
Việc các NHTM thực hiện vai trò trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to
lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với vai trò này, các NHTM cung cấp cho
khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán thuận lợi nhƣ séc, uỷ nhiệm chi, uỷ
nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, … Tuỳ theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó
mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp
chủ nợ, gặp ngƣời phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một
phƣơng thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy, các chủ thể
kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo đƣợc thanh
toán an toàn. Nhƣ vậy, vai trò này thúc đẩy lƣu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc
độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng
thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm đƣợc lƣợng
tiền mặt trong lƣu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lƣu thông tiền mặt nhƣ chi
phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền, …
c) Vai trò “tạo tiền” cho nền kinh tế
Vai trò này đƣợc thực hiện theo 2 cách:
Thứ nhất, khi một khách hàng đƣợc vay, anh ta sẽ ký một giấy cam kết
trả tiền và nhận một khoản tiền gửi của ngân hàng (trên tài khoản giao dịch).
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


20
Giấy cam kết trả tiền không phải là tiền, nó không thể dùng để mua hàng hoá
và dịch vụ. Nhƣng tiền gửi là tiền có thể tiêu ở mọi nơi. Do đó, trong việc cho
vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng cũng tạo tiền bằng cách thiết lập các
khoản tiền gửi có thể chi tiêu dƣới tên ngƣời vay.
Thứ hai, toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo tiền khi các khoản tiền gửi
đƣợc sinh sôi trên cơ sở dòng tín dụng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác.
Theo pháp luật, ngân hàng phải tách riêng một tỷ lệ dự trữ đối với mỗi khoản
tiền gửi nhận đƣợc và những khoản dự trữ vƣợt quá có thể đƣợc cho vay. Khi
khách hàng sử dụng khoản tiền vay thì khoản vốn đó sẽ chảy sang ngân hàng
khác, cũng dƣới dạng tiền gửi và từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong
khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dƣ thừa,
toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lƣợng tiền gửi lớn gấp bội
thông qua hoạt động cho vay. Với vai trò này, hệ thống NHTM đã làm tăng
phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả
của xã hội.
Tóm lại, NHTM là một trong những tổ chức quan trọng nhất của nền
kinh tế. Hệ thống NHTM đóng góp một phần quan trọng đối với hiệu quả chu
chuyển vốn của hệ thống tài chính cũng nhƣ đối với sự phát triển của nền kinh
tế.
2. DV TCDN của NHTM
2.1. Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp
So với các khách hàng cá nhân, nhu cầu của các doanh nghiệp đối với
các dịch vụ tài chính thường là cao hơn. Thứ nhất là về quy mô. Quy mô sử
dụng vốn của doanh nghiệp lớn hơn so với các cá nhân rất nhiều, nên quy mô
các sản phẩm tín dụng mà doanh nghiệp sử dụng cũng lớn hơn. Ngoài ra, các
giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp cũng có khối lƣợng và cƣờng độ
nhiều hơn hẳn. Thứ hai là về tính đa dạng của các dịch vụ. Do khách hàng
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


21
doanh nghiệp của NHTM thuộc nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh khác
nhau; có cơ cấu tổ chức khác nhau; … nên nhu cầu về các dịch vụ tài chính
cũng đa dạng hơn nhiều. Chẳng hạn nhƣ chỉ xét riêng về các loại hình dịch vụ
tín dụng cũng có thể thấy rõ các dịnh vụ tín dụng dành cho doanh nghiệp đa
dạng và phức tạp hơn. Có thể đƣa ra một ví dụ cụ thể nhƣ sau. Nếu phân theo
hình thức đảm bảo thì các doanh nghiệp ngoài đảm bảo bằng tài sản thuộc sở
hữu của mình nhƣ các cá nhân thì còn có thể đảm bảo bằng tài sản hoặc uy tín
của bên bảo lãnh nhƣ: Hiệp hội doanh nghiệp, các Bộ, Ngành, Chính phủ, …
Các sản phẩm tín dụng cho cá nhân thì không có hình thức này.
Việc quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp của
các NHTM phức tạp hơn so với quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính
cho cá nhân. Các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực ngành nghề
khác nhau nên đòi hỏi các ngân hàng cũng phải am hiểu nhiều lĩnh vực sản
xuất kinh doanh khác nhau mới có thể cung cấp các sản phẩm phù hợp với
nhu cầu từng doanh nghiệp. Thu nhập của các doanh nghiệp lại phụ thuộc chủ
yếu vào kết quả hoạt động kinh doanh nên thƣờng không đều đặn, do đó, việc
đánh giá doanh nghiệp và quản lý các sản phẩm dịch vụ tài chính đã cung cấp
cho doanh nghiệp cũng phức tạp hơn. Khi cung cấp dịch vụ tài chính cho
doanh nghiệp, ngân hàng không chỉ phải tiến hành làm việc trực tiếp với chủ
doanh nghiệp mà còn phải làm việc với nhiều đối tƣợng hơn nhƣ: ban giám
đốc, kế toán, … Trong đó lại có những ngƣời ít nhiều am hiểu về lĩnh vực tài
chính hoặc có những ngƣời có mục đích khác ngoài mục đích làm lợi cho
doanh nghiệp nên những thông tin họ đƣa ra cũng cần phải xem xét kỹ lƣỡng.
2.2. Vai trò của các DV TCDN đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
Các DV TCDN đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Điều này thể hiện ở quy mô, tính đa dạng và mức độ phổ biến
của các dịch vụ tài chính mà doanh nghiệp sử dụng, ở doanh thu và chi phí từ
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


22
hoạt động cung cấp DV TCDN so với hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cá
nhân, … Các DV TCDN có quy mô lớn, tính đa dạng cao, doanh thu lớn mà
chi phí lại thấp hơn nhiều chi phí cung cấp dịch vụ tài chính cho cá nhân. Hơn
nữa, mức độ doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ ngân hàng cũng cao hơn hẳn.
Hầu nhƣ doanh nghiệp nào cũng có giao dịch thanh toán qua ngân hàng,
doanh nghiệp nào cũng cần vốn phát triển sản xuất kinh doanh, …; còn các cá
nhân thì không có nhiều nhu cầu về những mặt đó, nhất là với những nền kinh
tế đang phát triển nhƣ Việt Nam.
Do vai trò quan trọng nhƣ vậy mà mảng DV TCDN luôn đƣợc các
NHTM hết sức quan tâm và đầu tƣ phát triển.
2.3. Phân loại các DV TCDN của NHTM
b. Các dịch vụ tín dụng
Dịch vụ tín dụng là hình thức tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm.
Đó có thể là tài trợ bằng vốn vay, hoặc tài trợ bằng uy tín của tổ chức tài
chính. Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách
hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Trong đó, có hai cách phân loại phổ
biến sau:
Phân loại theo thời gian
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với cả khách hàng
cũng nhƣ ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh
lợi của tín dụng cũng nhƣ khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian,
tín dụng đƣợc phân thành: tín dụng ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống), tín dụng
trung hạn (từ trên 1 năm tới 5 năm), tín dụng dài hạn (từ 5 năm trở lên).
- Tín dụng ngắn hạn:
Đối với doanh nghiệp, hình thức tín dụng ngắn hạn thƣờng đƣợc sử dụng
để tài trợ cho tài sản lƣu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn. Chẳng hạn
nhƣ vào mùa xây dựng, các công ty xây dựng rất cần loại tín dụng này. Họ
Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT


23
cần có vốn để xây dựng trƣớc công trình (hoặc từng hạng mục) trƣớc khi chủ
đầu tƣ thanh toán. Nguồn trả nợ chính là tiền thanh toán của chủ đầu tƣ. Một
loại khách hàng chủ yếu khác đối với hình thức tín dụng ngắn hạn này là các
doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời vụ. Họ cần
dự trữ cho thời vụ, hoặc tăng chi phí sản xuất.
Phần lớn các khoản cho các doanh nghiệp vay ngắn hạn thƣờng yêu cầu
phải có thế chấp hoặc cầm cố tài sản. Ví dụ nhƣ khi cho vay để phát triển đất
đối với các công ty xây dựng và phát triển đô thị, các ngân hàng thƣờng yêu
cầu các công ty này thế chấp bằng chính bất động sản đó.
- Tín dụng trung và dài hạn:
Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trang
thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ, … Với sự phát triển
nhanh chóng của khoa học – công nghệ, để tồn tại và phát triển, nhu cầu vốn
trung và dài hạn ngày càng cao.
Có hai hình thức tín dụng trung và dài hạn điển hình sau:
 Cho vay bằng cách mua các trái phiếu: các ngân hàng mua các trái
phiếu trung và dài hạn của doanh nghiệp nhằm tài trợ cho quá trình hình
thành tài sản cố định. Kì hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi
suất trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp, các kế hoạch tƣơng lai,
… đều đƣợc các ngân hàng tính toán kỹ khi mua trái phiếu.
 Cho vay theo các dự án: khi doanh nghiệp có kế hoạch mua sắm, xây
dựng tài sản cố định, … nhằm thực hiện dự án nhất định, có thể xin tài
trợ từ các ngân hàng. Các ngân hàng khi thẩm định dự án để xét duyệt
cho vay thƣờng yêu cầu doanh nghiệp phải xây dựng dự án, thể hiện mục
đích, kế hoạch đầu tƣ cũng nhƣ quá trình thực hiện dự án đó.
Phân loại theo hình thức
Phân loại tín dụng theo hình thức gồm: chiết khấu, cho vay, cho thuê và
bảo lãnh.

Ph¹m Minh H»ng A6-K43B-KT&KDQT

24
- Chiết khấu
 Chiết khấu thương phiếu: thƣơng phiếu là những giấy nhận nợ do các
công ty có uy tín phát hành để vay vốn ngắn hạn từ thị trƣờng tài chính.
Thƣơng phiếu đƣợc hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng
hoá và dịch vụ giữa các doanh nghiệp với nhau.

1
Ngƣời bán (hoặc ngƣời
thụ hƣởng) có thể giữ thƣơng phiếu đến hạn để đòi tiền ngƣời mua (hoặc
ngƣời phải trả), hoặc mang đến các ngân hàng để xin chiết khấu trƣớc
hạn.
 Bao thanh toán (factoring): Với dịch vụ này, doanh nghiệp ký kết
trƣớc với ngân hàng một hợp đồng trong đó ngân hàng sẽ mua lại với giá
chiết khấu tất cả các khoản thu chƣa đến hạn thanh toán của doanh
nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cho vay
 Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó, ngân hàng cho phép doanh
nghiệp đƣợc chi trội (vƣợt quá) số dƣ tiền gửi thanh toán của mình đến
một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này
đƣợc gọi là hạn mức thấu chi. Các khoản chi vƣợt quá hạn mức thấu chi
sẽ phải chịu lãi suất phạt và thậm chí, bị đình chỉ sử dụng hình thức này.
 Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay đối với các doanh
nghiệp không có nhu cầu vay thƣờng xuyên, hoặc không có điều kiện để
đƣợc cấp hạn mức thấu chi. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chỉ
sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu. Chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở
rộng sản xuất đặc biệt mới đi vay. Khi đó, hình thức cho vay trực tiếp
từng lần là thích hợp nhất.

 Cho vay theo hạn mức: theo hình thức này, ngân hàng thoả thuận cấp
cho doanh nghiệp hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là số dƣ tối đa tại


1
Ngày nay, thƣơng phiếu đƣợc phát hành không chỉ trong quan hệ mua bán chịu mà còn đƣợc phát hành để
vay vốn trên thị trƣờng tiền tệ. Các công ty danh tiếng khi có nhu cầu vay vốn có thể phát hành thƣơng phiếu
bán trực tiếp cho ngƣời mua theo mức giá chiết khấu.

×