Tải bản đầy đủ (.pdf) (250 trang)

Nghiên cứu phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 250 trang )

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRUNG TÂM HỖ TRỢ ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ






BÁO CÁO TỔNG KẾT






Đề tài nghiên cứu cấp Bộ:

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP, QUY TRÌNH VÀ TIÊU CHÍ
ĐÁNH GIÁ LỰA CHỌN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NHÓM
NGHIÊN CỨU MẠNH Ở VIỆT NAM



Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Xuân Thảo











7951


Hà Nội, 2009

1
CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA VÀ CỘNG TÁC
Các thành viên thực hiện chính:
1. TS. Phạm Xuân Thảo – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
2. CN. Nguyễn Thị Thu Oanh – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
3. TS. Tạ Doãn Trịnh – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
4. CN. Đỗ Thị Thùy Dương – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
Các cộng tác viên chính:

1. PGS. TS. Hoàng Nam Nhật – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia
Hà Nội
2. Ths. Phạm Quỳnh Anh – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
3. CN. Nguyễn Thị Hải Yến – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
4. Ths. Vũ Hồng Diệp – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
5. TS. Stefan Arnold – Tình nguyện viên CHLB Đức tại Trung tâm Hỗ trợ đánh
giá KH&CN
6. CN. Trần Văn Hưng - Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ
7. Ths. Phan Hồng Sơn – Giám
đốc Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia
8. CN. Bùi Thị Chiêm – Nguyên cán bộ Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN

2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài "Nghiên cứu phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam" đã được hoàn thành với sự tài trợ
của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với sự trợ giúp, hợp tác của nhiều đơn vị và cá
nhân.
Nhóm thực hiện đề tài xin cảm ơn tới các nghiên cứu viên, kế toán và nhân viên
hành chính của Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và công nghệ đã tham gia đóng
góp ý kiến, hỗ trợ mọi hoạt động liên quan trong khi chúng tôi thực hiện đề tài. Chúng
tôi đặc biệt biết ơn TS. Stefan Arnold – Chuyên gia tình nguyện CHLB Đức tại Trung
tâm và PGS. TS. Hoàng Nam Nhật - Trường Đại học Công nghệ, ĐHQG Hà Nội đã
luôn theo sát và đóng góp ý kiến bổ ích cho các hoạt động và kết quả nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học của một số viện nghiên cứu, trường
đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh
đã cổ vũ và cung cấp dữ liệu để cuộc
khảo sát về “thực trạng của các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt
Nam” thành công, đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu của đề tài.
Chúng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến một số nhà khoa học (của các trường thành
viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, một số Viện
nghiên c
ứu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và của một số đơn vị nghiên
cứu khác) đã nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đánh giá, tư vấn và đóng góp ý
kiến bình luận quí báu và bổ ích để chúng tôi hoàn thành tốt các nội dung của đề tài.
Nhóm thực hiện đề tài cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các đồng chí
Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đã trực tiếp chỉ đạo và hỗ trợ chúng tôi thự
c hiện
nghiên cứu này.


3

MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 10
1. Sự cần thiết và bối cảnh xây dựng đề tài 10
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 11
3. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 14
4. Các khái niệm 14
PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
Chương 1. Kinh nghiệm nước ngoài trong việc nuôi dưỡng và phát triển các
nhóm nghiên cứu mạnh 21
1. Sự
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới 21
2. Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới 25
Chương 2. Thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu của
Việt Nam 28
1. Cách thức xác định thực trạng các nhóm nghiên cứu 28
1.1. Khảo sát về hiện trạng các nhóm nghiên cứu 28
1.2. Đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu 30
2. Nhận định về hiện tr
ạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu
của Việt Nam 33
2.1. Thực trạng về các nhóm nghiên cứu 33
2.2. Các vấn đề tồn tại 36
Chương 3. Sự cần thiết của việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt
Nam và giải pháp 38
1. Sự cần thiết phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam 38
2. Các giải pháp để phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở
Việt Nam 39
Chương 4. Phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá các nhiệm vụ nhằm phát
triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam 46
1. Phương pháp và quy trình đánh giá 46

1.1. Phương pháp đánh giá 46
1.2. Quy trình đánh giá 46
2. Tiêu chí đánh giá 48
2.1. Tiêu chí đánh giá tuyển chọn 48

4
2.2. Tiêu chí đánh giá giữa kỳ 60
2.3. Tiêu chí đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư (1 project) 64
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1. Kết luận 69
2. Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC ………………………………………………………………………… 74
A. Các phụ lục liên quan đến việc khảo sát hiện trạng các nhóm nghiên
cứu và đánh giá thử một số nhóm 74
Phụ l
ục 1a. Danh sách các nhóm nghiên cứu được khảo sát 74
Phụ lục 1b. Kết quả khảo sát hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ
chức nghiên cứu ở Việt Nam 84
Phụ lục 2a. Tiêu chí và các chỉ số đánh giá (hiện trạng) nhóm nghiên cứu
các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN: 103
Phụ lục 2b. Danh sách các nhóm nghiên cứu được đánh giá thử và kết quả
đánh giá (được nêu ở mục 1.2, chương 1) 108
Phụ lục 2c. Kết quả
đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu 109
B. Các phụ lục liên quan đến việc đánh giá tuyển chọn các nhiệm vụ
nghiên cứu nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 111
Phụ lục 3a. Phiếu nhận xét đánh giá tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạnh
bước 1 - Lựa chọn ý tưởng khoa học và trưởng nhóm nghiên cứu
các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN 111

Phụ lục 3b. Phiếu tổng hợp đánh giá tuyển chọn bướ
c 1 – Lựa chọn ý tưởng
khoa học và trưởng nhóm nghiên cứu 126
Phụ lục 3c. Mẫu đề cương đề xuất ý tưởng nghiên cứu và thông tin về
trưởng nhóm nghiên cứu/chủ nhiệm đề tài (bao gồm: đơn đăng
ký tuyển chọn; bản khai thành tích nghiên cứu của trưởng nhóm;
và thuyết minh sơ bộ về nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất) 128
Phụ lục 4a. Phiếu đánh giá tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạ
nh bước 2 –
đánh giá kế hoạch nghiên cứu chi tiết và năng lực của nhóm
nghiên cứu 137

5
Phụ lục 4b. Phiếu tổng hợp kết quả đánh giá tuyển chọn bước 2 - Đánh giá
kế hoạch nghiên cứu và năng lực của nhóm nghiên cứu 155
Phụ lục 4c. Mẫu đề cương chi tiết kế hoạch nghiên cứu – tuyển chọn nhóm
nghiên cứu mạnh lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN 157
Phụ lục 5. Phiếu đánh giá hiện trường – tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạnh 191
C. Các phụ lục dùng trong đánh giá giữ
a kỳ một chu trình đầu tư nhằm
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 193
Phụ lục 6a. Phiếu nhận xét đánh giá giữa kỳ một chu trình đầu tư cho nhóm
nghiên cứu mạnh các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-
CN 193
Phụ lục 6b. Phiếu tổng hợp kết quả đánh giá giữa kỳ một chu trình đầu tư
nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 209
Phụ lục 6c. Mẫu báo cáo kế
t quả nghiên cứu giai đoạn đầu – báo cáo giữa
kỳ 211
Phụ lục 6d. Mẫu báo cáo tự đánh giá giữa chu trình đầu tư 217

Phụ lục 6e. Mẫu đề cương kế hoạch nghiên cứu giai đoạn sau – Đệ trình vào
giữa kỳ 221
D. Các phụ lục dùng trong đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư nhằm
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 232
Phụ lục 7a. Phiế
u nhận xét đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư cho các
nhóm nghiên cứu mạnh lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-
CN 232
Phụ lục 7b. Phiếu tổng hợp kết quả đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư
cho các nhóm nghiên cứu mạnh 246

6
TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát
triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam” đã được thực hiện với mục tiêu là đề
xuất được phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, áp dụng triển khai thực hiện nội dung
“hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao, đủ sức tổ chức nghiên
cứu và giải quyết những hoạt động khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia ở trình
độ quốc tế” trong quyết định số 67/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Từ
nghiên cứu này, chúng tôi cũng đề xuất được một số nội dung phục vụ triển khai đề án
“trọng dụng nhân tài khoa học và công nghệ”.
Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách kết hợp cả
phương pháp định tính và
định lượng, sử dụng các kỹ thuật tổng hợp phân tích thông tin, dữ liệu và lấy ý kiến
chuyên gia. Các nội dung nghiên cứu chính được thực hiện bao gồm: học tập kinh
nghiệm thành công đối với việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh của một số nước
trên thế giới; tìm hiểu hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở
nước ta; và đề xuất phương pháp, quy trình, tiêu chí đánh giá l
ựa chọn và phát triển

các nhóm nghiên cứu mạnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tương hợp với
quốc tế.
Để tìm hiểu về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở
Việt Nam, chúng tôi đã thực hiện khảo sát 124 nhóm nghiên cứu trong gần 40 tổ chức
bao gồm trường đại học và viện nghiên cứu ở cả Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và Đà
Nẵng v
ới sự tham gia của hơn 700 nhà khoa học. Việc đánh giá một số nhóm nghiên
cứu cũng đã được thực hiện làm minh chứng cho những nhận định về thực trạng hoạt
động của các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu. Tiêu chí đánh giá các
nhóm nghiên cứu này bao gồm: (1) xem xét mục tiêu và nội dung của các nghiên cứu
mà nhóm đã và đang theo đuổi; (2) năng lực của trưởng nhóm; (3) cơ cấu và phương
thức tổ
chức, hoạt động của nhóm; (4) kết quả hoạt động của nhóm trong 5 năm gần
nhất; và (5) xem xét điều kiện và môi trường làm việc của nhóm. Cuối cùng, những
nhận định cơ bản về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở
Việt Nam được đưa ra như sau:

7
- Việc thành lập và lựa chọn hướng nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu rất manh
mún, nhỏ lẻ và tự phát. Cơ cấu và phương thức tổ chức hoạt động của các nhóm
nghiên cứu hiện tại chưa đồng đều và chưa chuyên nghiệp.
- Các nhóm nghiên cứu đều đã và đang hướng tới kết quả tốt để đóng góp cho khoa
học, đào tạo và đổi mới. Các nhóm thuộc lĩnh vực KHXH&NV ít có l
ợi thế hơn
trong việc hợp tác nghiên cứu với quốc tế so với các nhóm ở lĩnh vực nghiên cứu
khác. Việc hợp tác của các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHKT-CN trong các
trường đại học và viện nghiên cứu với khối doanh nghiệp chưa thể hiện đúng vai
trò chuyển giao kết quả nghiên cứu cho phát triển sản xuất.
- Kinh phí hoạt động của các nhóm nghiên cứu chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà
nướ

c và chưa thực sự gắn kết với quả nghiên cứu, việc giành được tài trợ từ các
nguồn khác là rất ít.
- Mức độ đáp ứng về điều kiện và môi trường làm việc, nhất là về cơ sở vật chất,
trang thiết bị và thông tin phục vụ nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu hầu hết
là ở mức thấp và thậm chí là rất thấp đối với các tổ ch
ức nghiên cứu ở Đà Nẵng.
Các phòng thí nghiệm được trang bị các trang thiết bị hiện đại và đắt tiền gần như
không có “tính mở” để các nhóm nghiên cứu bên ngoài tiếp cận.
Qua nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của một số nước trong việc nuôi dưỡng và
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, (hay còn gọi là các trung tâm xuất sắc) chúng ta
có thể thấy rõ muốn phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh thành công thì cần đảm bảo
các điề
u kiện cơ bản sau: quản lý hiệu quả; đội ngũ cán bộ phù hợp; cam kết hỗ trợ của
các tổ chức; phân bổ hợp lý; sử dụng kinh phí hiệu quả; xác định chiến lược rõ ràng.
Và đồng thời, chúng ta cũng nhận thức rõ nhu cầu bức thiết của việc nuôi dưỡng và
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam là để đáp ứng: (1) việc nâng cao
năng lực về KH&CN, theo k
ịp chuẩn mực quốc tế, góp phần phát triển kinh tế, xã hội;
(2) tạo môi trường thuận lợi để thu hút và nuôi dưỡng những tài năng KH&CN; và (3)
tạo nhân tố tốt tham gia vào việc cung cấp các định hướng KH&CN, lập kế hoạch và
đánh giá nghiên cứu và phát triển của quốc gia.
Cũng từ những kinh nghiệm học được từ các nước trong việc lựa chọn và phát
triển các nhóm nghiên cứu mạnh, kết hợp vớ
i yêu cầu thực tiễn, chúng tôi đã đề xuất

8
được phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh phù hợp với Việt Nam.
Phương pháp đánh giá chủ yếu được sử dụng là phương pháp đánh giá bằng
chuyên gia cùng ngành/đồng cấp (Peer Review) với kỹ thuật sử dụng là tổ chức hội

đồng chuyên gia, họp tổ tư vấn chuyên gia và chuyên gia độc lập đánh giá qua thư.
Quy trình đánh giá bao gồm 3 giai đoạn: Đánh giá tuyển chọn, đánh giá giữ
a kỳ
và đánh giá kết thúc.
Tiêu chí đánh giá cho mỗi giai đoạn như sau:
• Đánh giá tuyển chọn: được tuân thủ nghiêm ngặt qua 2 - 3 bước sau:
- Bước 1: Lựa chọn ý tưởng nghiên cứu và trưởng nhóm nghiên cứu/chủ nhiệm
đề tài tốt, với các tiêu chí: (1) sự cần thiết của vấn đề/công nghệ được đề xuất
nghiên cứu; (2) chất lượng của vấn đề/công nghệ được đề xuất nghiên c
ứu; (3)
khả năng thương mại hoá của công nghệ được đề xuất nghiên cứu - đối với lĩnh
vực KHKT-CN; và (4) năng lực của trưởng nhóm nghiên cứu/PI
- Bước 2: Lựa chọn kế hoạch nghiên cứu chi tiết cùng với nhóm nghiên cứu tốt
với các tiêu chí: (1) tính hợp lý và khả thi của kế hoạch nghiên cứu; (2) lợi ích
mong đợi của nghiên cứu; (3) sự phù hợp của dự toán kinh phí nghiên cứu; và
(4) sự xuấ
t sắc của nhóm nghiên cứu
- Bước 3 (nếu cần): thẩm định hiện trường với các tiêu chí: (1) sự hỗ trợ của cơ
quan chủ quản; (2) tính chủ động của nhóm nghiên cứu; và (3) tính phù hợp
thực tế của kế hoạch và kinh phí nghiên cứu
• Đánh giá giữa kỳ (sau khi thực hiên một nửa chu trình đầu tư/project) để xem
xét việc tiếp tục đầu tư hay dừng lại. Các tiêu chí đánh giá giữa k
ỳ bao gồm: (1)
mức độ đạt mục tiêu giữa kỳ và tính hợp lý của phương pháp nghiên cứu; (2)
chất lượng của các kết quả đã đạt được; và (3) sự phù hợp của kế hoạch nghiên
cứu giai đoạn 2.
• Đánh giá kết thúc: được thực hiện khi hoàn thành đề tài với các tiêu chí sau: (1)
mức độ đạt mục tiêu và tính hợp lý của phương pháp nghiên cứu; (2) kết quả
nghiên cứu; và (3) kế ho
ạch sử dụng kết quả nghiên cứu và sự phát triển của


9
nhóm. Kết quả đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư, trong một số trường hợp
được sử dụng để xét xem nhóm nghiên cứu có tiếp tục được tài trợ ở chu trình
tiếp theo hay không.
Từ kinh nghiệm thực tế khi thực hiện đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu,
chúng tôi đặc biệt lưu ý Quy tắc M/5 được đề xuất khi thực hiện các đánh giá lựa
chọn và phát triển các nhóm nghiên cứ
u mạnh rất thuận tiện. Quy tắc M/5 sử dụng
cách thức đánh giá dựa trên trọng số (điểm tối đa) kết hợp với thang điểm 5 để lượng
hoá từng tiêu chí (điểm 1: kém ; điểm 2: yếu ; điểm 3: trung bình ; điểm 4: khá ; điểm
5: tốt). Quy tắc M/5 đảm bảo việc chấm điểm đánh giá rất có căn cứ
, dễ dàng cho
người đánh giá thể hiện quan điểm đánh giá của mình và góp phần đảm bảo tính công
bằng.

10
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết và bối cảnh xây dựng đề tài
Vài thế kỷ qua, xã hội loài người đã chuyển từ các nghiên cứu, khám phá đáp ứng
sự đam mê mang tính cá nhân sang các nghiên cứu liên ngành và đa ngành với các
điều kiện nghiên cứu cao cấp, các trang thiết bị hiện đại nhằm mục đích phục vụ tối đa
cho phát triển kinh tế - xã hội. Với sứ mệnh đó, khoa học và công nghệ được k
ỳ vọng
ngày càng cao về vai trò động lực cho tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.
Theo đánh giá chung của nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách trong và
ngoài nước thì Việt Nam là nước đang phát triển với tiềm lực khoa học và công nghệ
còn rất yếu. Vì vậy, câu hỏi thường trực đối với các nhà khoa học và quản lý hiện nay
là làm thế nào để vừa nhanh chóng xây dựng năng lực nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ

vừa tăng nhanh sự đóng góp của hoạt động này đối với phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước?
Từ việc phân tích mối liên hệ sự thành công của một số cá nhân nhà khoa học đạt
giải quốc tế lớn trong nghiên cứu khoa học và sự phát triển vững chắc của một số
nhóm/tập thể nghiên cứu trên thế giới, GS. TSKH Trương Quang Học, nguyên Giám
đốc Trung tâm CRES, Đại học Qu
ốc gia Hà Nội khẳng định: Nhóm/tập thể nghiên cứu
khoa học là yếu tố quyết định chất lượng nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học
1
.
Trí tuệ, kiến thức, lòng say mê với sự nghiệp khoa học đã mang lại giải thưởng lớn
cho các nhà khoa học, nhưng bên cạnh họ, không thể thiếu một tập thể khoa học đồng
tâm nhất trí, với các thế hệ nối tiếp nhau để bền bỉ theo đuổi một hướng nghiên cứu
xác định mà chính các nhà khoa học này đã tổ chức để thực hiện một mục tiêu đề ra.
Trong thời đại hiện nay, khi tính chất liên ngành, xuyên ngành được quán triệt không
chỉ trong hoạt động KH&CN, mà trong tất cả các hoạt động xã hội đều phải làm việc
trong sự hợp tác: làm việc theo nhóm, xây dựng nhóm làm việc và văn hoá làm việc
nhóm. Triết lý làm việc theo nhóm là hiệu ứng số đông, là hệ quả của sự kế thừa và
luỹ tiến, như ông cha ta từng nói "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên
hòn núi cao". Nếu một nhóm người h
ợp tác để làm việc cùng nhau thì hiệu quả chung
sẽ tăng lên rất nhiều so với làm việc theo mục tiêu của từng cá nhân và sẽ được luỹ
tiến theo thời gian. Vì khi đó, thế mạnh của từng người sẽ được phát huy tối đa theo sự

11
cộng hưởng lẫn nhau, còn điểm yếu thì lại được bù đắp.
Rất nhiều nhà khoa học khẳng định rằng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ, hạt nhân để hình thành các sản phẩm khoa học có chất lượng
cao chính là các nhóm nghiên cứu mạnh. Vì thế, bài toán nuôi dưỡng và phát triển các
nhóm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt trình độ cao là sự ưu tiên hàng

đầu. Với ý chí và quyết tâm cao, trong nhiều văn b
ản của Đảng và Nhà nước đã nêu rõ
mục tiêu "Hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao, đủ sức tổ
chức nghiên cứu và giải quyết những hoạt động khoa học và công nghệ trọng điểm
quốc gia ở trình độ quốc tế "
2
. Điều này được khẳng định một lần nữa trong chuyến
thăm và làm việc của đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh với Bộ Khoa học và
Công nghệ (ngày 27-6-2008), một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm mà Tổng Bí Thư nhấn
mạnh ngành khoa học và công nghệ nước ta cần phải tập trung giải quyết là " quan
tâm đến chế độ đào tạo chuyên gia đầu ngành, hình thành tập thể khoa học mạ
nh "
Để có cơ sở hình thành và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án
nhằm phát hiện và nuôi dưỡng các tập thể khoa học mạnh, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá
khoa học và công nghệ đã phối hợp với một số đơn vị trong, ngoài Bộ tiến hành
nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, khảo sát thực trạng các nhóm nghiên cứu trong
các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và đề xuất phương pháp, quy trình, tiêu chí đánh
giá các nhiệm vụ nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Hy vọng, kết quả của đề
tài sẽ góp một phần phục vụ triển khai đề án "trọng dụng nhân tài KH&CN" mà Bộ
Khoa học và Công nghệ đang trình Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt, đồng đóng cho
việc xây dựng cơ chế chính sách đối với cán bộ KH&CN.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Đã có một số nghiên cứu đưa ra thực trạng và các kiến nghị
để nâng cao chất
lượng nghiên cứu tại Việt Nam, ví dụ nhóm các giáo sư Mỹ kết hợp với các chuyên
gia trong nước đã đề xuất Sáng kiến Khoa học Thiên niên kỷ cho Việt Nam (Vietnam
Millennium Science Initiative)
8
, trong đó, kiến nghị thiết lập mạng lưới các nhóm
nghiên cứu mạnh. Giữa năm 2007, các chuyên gia của Viện Lập kế hoạch và Đánh giá

khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KISTEP)
3
- trong khuôn khổ đề tài hợp tác theo
nghị định thư giữa Việt Nam và Hàn Quốc do Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và

12
công nghệ thực hiện - cũng đã đưa ra kiến nghị cho Bộ Khoa học và Công nghệ về
việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh về công nghệ. Các nhóm nghiên cứu mạnh
này thực hiện sứ mạng nâng cao năng lực cạnh tranh về KH&CN của Việt Nam và tạo
ra các công nghệ chủ chốt ở trình độ quốc tế và hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Một số
nghiên cứu
4-7
trong Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã tìm hiểu về cách thức xây
dựng và hoạt động của các nhóm nghiên cứu nhằm mục tiêu phát triển nghiên cứu
trình độ quốc tế. Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu này đều mới chỉ đưa ra những kiến
nghị cho việc xây dựng chính sách chung hướng tới mục tiêu đó mà chưa đưa ra được
những nội dung cụ thể đối với việc thực hiện,
đặc biệt là các nội dung chi tiết về
phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá để đầu tư, phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh này.
Để đạt được các thành tựu KH&CN làm tiền đề cho phát triển bền vững, nhiều
quốc gia đã thực hiện những nghiên cứu lớn liên quan đến phương thức lựa chọn và
nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu mạnh để xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu gắn
với các định hướng nghiên c
ứu rõ ràng. Từ những nghiên cứu đó, rất nhiều nước đã
thực hiện rất thành công các chương trình phát triển những nhóm nghiên cứu mạnh về
nghiên cứu và phát triển (R&D). Các nhóm nghiên cứu này thực sự có khả năng trong
R&D, có một tiềm lực về nguồn nhân lực chất lượng cao trải khắp các khối trường đại
học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Một mặt, hệ thống nhóm nghiên cứu mạnh này
phát tri

ển năng lực của các nhà nghiên cứu, có ghi nhận đáng kể trong việc nâng cao
năng lực KH&CN, mặt khác, các nhóm nghiên cứu mạnh như là nhân tố gắn kết chặt
chẽ trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp, từ đó sản phẩm R&D được
thương mại hoá, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế quốc gia, sự phát triển xã hội,
phong phú văn hoá Hơn nữa các nhóm nghiên cứu mạnh đáp ứ
ng được các tiêu
chuẩn quốc tế về trình độ nghiên cứu, về cơ sở hạ tầng và về chất lượng sản phẩm đủ
điều kiện hội nhập vào thị trường quốc tế, một số tài liệu đã tổng kết những kinh
nghiệm thực hiện việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh như thế của một số
nước
9-12
. Ví dụ, ở Hàn Quốc bắt đầu chương trình Phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc
gia – NRL (1999 – 2006) ; ở Malaysia, năm 2001, trung tâm xuất sắc (COE) ra đời và
COE thử đầu tiên là về công nghệ sinh học ; từ năm 1997, Chương trình các Mạng
lưới Trung tâm xuất sắc - NCE (Networks of Center of Excellence) đã được triển khai

13
thực hiện rất thành công ở Canada ; Thụy Sĩ cũng đã thiết lập Chương trình các
"Trung tâm Năng lực nghiên cứu Quốc gia - NCCR (National Centres of Competence
in Research)" vào năm 2005. Các NRL, COE, NCE hay NCCR đều có bản chất là
những nhóm nghiên cứu mạnh bắt nguồn từ định hướng KH&CN ưu tiên của chính
phủ các nước. Đối với mỗi quốc gia, tùy vào bối cảnh cụ thể, mục tiêu cụ thể mà áp
dụng phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọ
n và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh phù hợp để hướng tới mục đích chung là mang lại nguồn nhân lực
KH&CN chất lượng cao, cho ra những kết quả khoa học ở trình độ quốc tế và những
công nghệ thiết thực, có sức cạnh tranh cao phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế -
xã hội.
Qua tìm hiểu các nghiên cứu cũng như thực tế từ các nước, chúng tôi nhận thấy:
mặc dù có sự khác nhau v

ề quy mô, cách thức tổ chức thực hiện nhưng tất cả các
chương trình nhằm nuôi dưỡng và phát triển các COE đều có những điểm chung như
sau:
- Mục tiêu và mục đích của các chương trình này là nâng cao năng lực nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ ở tầm quốc tế; là nơi nuôi dưỡng tài năng,
chuyển giao công nghệ, tri thức và hợp tác quốc tế;
- Các COE được lựa chọn theo quy trình và tiêu chí đánh giá nghiêm ngặt;
Trong m
ỗi chu trình đầu tư (4, 5 hoặc 6 năm), sau một giai đoạn (2 hoặc 3 năm) đều
thực hiện đánh giá giữa kỳ để điều chỉnh kế hoạch nghiên cứu và xem xét việc tiếp tục
hỗ trợ;
- Các COE được đầu tư kinh phí tương đối lớn với một số chu trình đầu tư để
tạo ra môi trường thích hợp (thiết bị, lương, nhà xưởng, thông tin…) nhằm thu hút các
cán b
ộ khoa học tốt nhất đến làm việc trong điều kiện minh bạch và hiệu quả;
- Các điều kiện cơ bản để các COE đạt được sự thành công là: Quản lý hiệu quả;
Đội ngũ cán bộ phù hợp; Cam kết hỗ trợ của các tổ chức; Phân bổ hợp lý; Sử dụng
kinh phí hiệu quả; Xác định chiến lược rõ ràng.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, bối c
ảnh của
Việt Nam kết hợp với nghiên cứu các kinh nghiệm của các nước để đề xuất phương

14
thức thực hiện và phương pháp luận đánh giá các nhiệm vụ nhằm phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh ở Việt Nam.
3. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là đề xuất được phương pháp, quy trình và tiêu
chí đánh giá các nhiệm vụ R&D nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh (nói cách
khác là đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh) trong các tổ chức
nghiên cứu tại Việt Nam ở các lĩnh v

ực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN. Để đạt
được mục tiêu này, chúng tôi đã tìm hiểu được thực trạng các nhóm nghiên cứu trong
các tổ chức nghiên cứu ở nước ta kết hợp với việc học tập những kinh nghiệm thành
công đối với việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh của một số nước trên thế giới.
Chúng tôi đã sử dụng kết hợp phương pháp tiếp cận định tính và định lượng khi
đề xuất ph
ương pháp, quy trình, tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tương hợp với quốc tế. Cụ
thể là:
(1) sử dụng phương pháp điều tra khảo sát điểm (case study) để phác thảo thực
trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam;
(2) sử dụng phương pháp chuyên gia trong việc đánh giá thử một số nhóm nghiên
cứ
u làm luận chứng thực tế về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ
chức nghiên cứu của Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi còn lấy ý kiến phản biện,
đóng góp của các chuyên gia KH&CN cho các nội dung đề xuất về phương
pháp, quy trình, tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh ở Việt Nam và cho các nội dung khác liên quan được đề xuất trong đề
tài; và
(3) áp dụng phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin, dữ liệu, tài liệu trong và
ngoài nước
để đưa ra những lưu ý thành công đối với việc phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh của một số nước để áp dụng cho Việt Nam.
4. Các khái niệm
a) Nhóm nghiên cứu

15
Một khái niệm về nhóm nghiên cứu, hay nhóm nghiên cứu khoa học (Scientific
Research Group) được nhiều nhà khoa học tin dùng do Joseph S. Fruton
13

định nghĩa:
Nhóm nghiên cứu khoa học là một tập thể nghiên cứu định hướng trong một lĩnh vực
chuyên môn nhất định tại một đơn vị đào tạo, đơn vị nghiên cứu, được dẫn dắt bởi một
nhà khoa học có uy tín khoa học đủ để có thể tiến hành một chương trình nghiên cứu
độc lập. Thông qua tương tác với lãnh đạo chuyên môn của nhóm (trưởng nhóm) và
với các thành viên khác, các thành viên trong nhóm có cơ hộ
i học hỏi các kỹ thuật
thực nghiệm, nắm bắt kiến thức lý thuyết và tham gia tích cực vào chương trình nghiên
cứu của nhóm để tạo ra những thành tựu khoa học mới, những ý tưởng mới, những sản
phẩm khoa học công nghệ mới.
Khái niệm về nhóm nghiên cứu mở rộng – các nhóm nghiên cứu là tập hợp của
nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ và có thể rất nhiều thành viên - được Valerie I. Sessa
14

đưa ra là tập hợp các nhà khoa học hay các trung tâm, phòng thí nghiệm liên kết với
nhau trên một hay một số lĩnh vực nhằm nghiên cứu và phát triển những hoạt động
khoa học và công nghệ ở trình độ cao trong những lĩnh vực khoa học khác nhau. Các
nhóm nghiên cứu sẽ đóng vai trò trung gian trong hệ thống tổ chức trung tâm, viện,
trường. Các nhóm sẽ liên kết các cá nhân lại với nhau trong khoảng thời gian cố định
và liên kết với nhau dưới dạng h
ệ thống hoàn chỉnh. Nói cách khác, các nhóm nghiên
cứu đóng vai trò là tổ chức nhỏ tập hợp các cá nhân hoạt động nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ và các trung tâm, viện, trường là nơi tổ chức tập hợp các nhóm
nghiên cứu lại theo hướng tương hỗ hoặc song song với nhau.
Từ các định nghĩa nêu trên và qua tìm hiểu thực tế nhiều nhóm nghiên cứu thuộc
nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, ở nhiều nước thuộc các vùng địa lý khác nhau,
chúng tôi có thể diễn đạt lại khái niệm về nhóm nghiên cứu như sau:
"Nhóm nghiên cứu là một tập thể những người làm công tác nghiên cứu được
dẫn dắt bởi một nhà khoa học có uy tín và năng lực đủ để có thể tiến hành một hướng
nghiên cứu trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định tại một đơn vị đào tạo, đơn vị

nghiên cứu nhằm tạo ra những sản ph
ẩm khoa học công nghệ mới".
- Quy mô của nhóm nghiên cứu có 5 mô hình

phổ biến sau:

16
1. Nhóm nghiên cứu nhỏ (dưới 10 người) thường xuất phát từ các ý tưởng của
các cá nhân hoặc nhu cầu hợp tác của một số cá nhân hoặc các nhóm nghiên cứu nhỏ
hơn từ các chuyên ngành khác nhau. Chức năng chính là nghiên cứu và tham gia đào
tạo. Cấu trúc quản lý đơn giản, linh động. Bản thân các thành viên cũng có các nhiệm
vụ nghiên cứu đơn ngành, riêng biệt.
2. Trung tâm nghiên cứu lớn
hình thành theo nhu cầu của cơ sở hoặc theo mô
hình các vườn ươm công nghệ, có chức năng nghiên cứu và đào tạo. Được tổ chức và
quản lý bởi một Ban lãnh đạo mà Giám đốc là người trực tiếp điều hành và chịu trách
nhiệm báo cáo cấp trên. Trung tâm có thể có nhân sự, cơ sở vật chất, địa điểm cố định
hoặc chia sẻ với các đơn vị.
3. Phòng thí nghiệm quốc gia
được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ, nghiên
cứu theo các nhiệm vụ được đề xuất từ dưới lên, có tính kế hoạch cao và có tổ chức
với cấu trúc chặt chẽ. Cán bộ nghiên cứu có thể linh động chuyển đổi giữa các nhóm
nghiên cứu tham gia.
4. Mô hình công nghiệp
hình thành do nhu cầu của có sở, định hướng nghiên cứu
theo sản phẩm, mang tính kế hoạch cao và không tham gia đào tạo. Cán bộ nghiên cứu
cũng có thể linh động chuyển đổi giữa các nhóm nghiên cứu tham gia.
5. Mô hình liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – khối công nghiệp
thường
được khởi tạo với các dự án đầu tư nghiên cứu lớn, có thể có hội đồng tư vấn, thực

hiện các nghiên cứu theo nhu cầu kinh tế - xã hội và có chức năng nghiên cứu và đào
tạo.
Trong nghiên cứu này, các nhóm nghiên cứu được hướng tới là mô hình thứ nhất,
các nhóm nghiên cứu nhỏ.
b) Nhóm nghiên cứu mạnh
Cụm từ "Nhóm nghiên cứu mạnh" (hay là nhóm /trung tâm xuất sắc ) được dịch
từ cụ
m từ "Excellent Research Group/Center". Hiện chưa có định nghĩa chính xác về
nhóm nghiên cứu mạnh. Tuy nhiên, trong một công bố của mình, Thomas L.
Greenbaun
15
đã thể hiện một cách khái quát về các nhóm nghiên cứu có những ưu
điểm nổi trội có thể coi như các nhóm nghiên cứu mạnh và được cộng đồng nghiên

17
cứu ghi nhận. Theo ông, các nhóm nghiên cứu này là một tập thể những người làm
công tác nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao, do một nhà khoa học có uy tín (hoặc
có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp) đứng đầu, tổ chức và điều phối hoạt động.
Nhóm có hoạt động hợp tác tích cực, năng động và hiệu quả. Nhóm nghiên cứu sẽ sử
dụng các phương tiện và phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm giải quyết một
cách tập trung, hoàn ch
ỉnh một hay một số vấn đề hoặc chương trình, đề tài/dự án quan
trọng có qui mô đủ lớn trong một thời gian đủ dài theo định hướng nghiên cứu xác
định. Những kết quả nghiên cứu của nhóm là quan trọng, đột phá và nhất quán trong
các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển thực nghiệm nhằm
tạo nên những phát triển khoa học và công nghệ.
Ở một số nước, tùy thu
ộc vào mục tiêu, điều kiện tài trợ cụ thể, "Nhóm nghiên
cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc - Excellent Research Group/Center" được định nghĩa
như sau:

- Theo định nghĩa của Phần Lan
16
“Trung tâm xuất sắc là các đơn vị nghiên cứu
và đào tạo cán bộ nghiên cứu chất lượng cao, có tiềm năng trở thành tổ chức dẫn đầu
thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Nó có thể là một hoặc một số nhóm
nghiên cứu ở trình độ quốc tế cao và có chung mục đích. Những đơn vị và các cán bộ
nghiên cứu hàng đầu có thể cùng nhau làm việc trong cùng đề tài hoặc vấn đề
nghiên
cứu, và thực hiện dưới sự chỉ đạo của một tổ chức, được gọi là trung tâm xuất sắc hỗn
hợp”.
- Theo định nghĩa của Liên minh châu Âu
17
“Trung tâm xuất sắc là một đơn vị
mà ở đó nghiên cứu và phát triển công nghệ được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế,
sản phẩm khoa học và/hoặc đổi mới công nghệ (bao gồm cả đào tạo) phải đo lường
được”. Sự xuất sắc được đo lường qua các chỉ số: Các công bố khoa học; Các sáng
chế; Các chức vụ được đề bạt sau tiế
n sỹ; Số lượng cán bộ nghiên cứu và các nhà khoa
học; Số lượng và quy mô của các hợp đồng thương mại; Số lượng các công ty khởi
nghiệp (spin-off); Sự tham gia vào Hệ thống đào tạo của các nước trong Liên minh
Châu Âu
- Theo định nghĩa của Quỹ Nghiên cứu quốc gia Nam Phi
18, 19
“Trung tâm xuất
sắc là những trung tâm nghiên cứu hữu hình (nhóm, khoa, trường, viện) hoặc vô hình

18
(các mạng lưới), nơi tập trung nguồn lực và khả năng hiện có để giúp các cán bộ
nghiên cứu hợp tác với nhau thông qua các dự án dài hạn phù hợp với địa phương và
có khả năng cạnh tranh quốc tế để thúc đẩy sự theo đuổi và phát triển năng lực

nghiên cứu xuất sắc ”.
Từ những định nghĩa trên, có thể diễn đạt lại khái niệm về "nhóm nghiên cứu
m
ạnh" như sau : "Nhóm nghiên cứu mạnh là một tập thể những người làm công tác
nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao, do một nhà khoa học xuất sắc, có uy tín đứng
đầu, thực hiện nghiên cứu theo tiêu chuẩn quốc tế. Các sản phẩm khoa học và công
nghệ do nhóm tạo ra là quan trọng, đột phá và đạt trình độ quốc tế".
Có thể nhận thấy sự khác biệt giữa "nhóm nghiên cứu" và "nhóm nghiên cứu
mạnh" qua các định nghĩa trên như sau :

TT Đặc
điểm Nhóm nghiên cứu Nhóm nghiên cứu mạnh
1 Tập thể các nhà nghiên cứu
được dẫn dắt (đứng đầu) bởi
một nhà khoa học
có năng lực, uy tín có thành tích nghiên cứu
xuất sắc, có năng lực, uy tín
cao trong cộng đồng KH
2 Nghiên cứu KH, phát triển
CN và đào tạo cán bộ
theo định hướng rõ
ràng, bền vững
theo định hướng và ở trình
độ quốc tế
3 Có môi trường hoạt động phù hợp, thuận lợi phù hợp, thuận lợi, tự chủ
cao và được ưu tiên
4 Được đầu tư nguồn lực đảm bảo duy trì hoạt
động
thích đáng, tới ngưỡng và
trong một khoảng thời gian

ít nhất là 5 năm.
5 Kết quả hoạt động được cộng đồng
KH&CN trong nước
công nhận
tạo ra các sản phẩm KH &
CN quan trọng, đột phá và
đạt trình độ quốc tế

19
Nhiều nước khác
20
cũng có những triết lý rất cụ thể về các nhóm nghiên cứu
mạnh/ trung tâm xuất sắc. Mặc dù được định nghĩa khác nhau, nhưng các nhóm
nghiên cứu mạnh/trung tâm xuất sắc đều có nhiệm vụ sau:
(1) Nghiên cứu: Nhiệm vụ chính của nhóm nghiên cứu mạnh/trung tâm xuất
sắc là nghiên cứu. Các nghiên cứu được thực hiện chủ yếu tập trung vào việc tạo ra và
phát triển các tri thức và công nghệ mới.
(2) Giáo dục và đ
ào tạo: Phát triển nguồn nhân lực được thực hiện qua các
chương trình đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ, hỗ trợ sau tiến sỹ, các chương trình thực tập,
hỗ trợ sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài, hợp tác đào tạo sinh viên.
(3) Trung chuyển thông tin: Nhóm nghiên cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc là nơi
cung cấp các nguồn tri thức từ các kho tri thức phát triển trình độ cao, duy trì các cơ sở
dữ
liệu, hỗ trợ việc chia sẻ và chuyển giao tri thức.
(4) Kết nối: Nhóm nghiên cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc được kỳ vọng là sẽ hợp
tác tích cực với các cá nhân, nhóm và các tổ chức có danh tiếng.
(5) Dịch vụ: Nhóm nghiên cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc cung cấp thông tin,
các phân tích chính sách và các dịch vụ khác, bao gồm cả các tư vấn tin cậy cho chính
phủ, doanh nghiệp và xã hội dân sự.

Trong đề tài này, chúng tôi cụ thể hoá và sử dụng khái niệ
m « nhóm nghiên
cứu mạnh » với những đặc điểm sau:
1 - Có trưởng nhóm nghiên cứu là một nhà khoa học có năng lực, uy tín trong
lĩnh vực nghiên cứu mà nhóm theo đuổi, có nhiều công trình khoa học có giá trị và có
ảnh hưởng lớn (ví dụ: có các bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế có hệ số ảnh
hưởng cao, có chỉ số trích dẫn cao)
2 - Có định hướng nghiên cứu rõ ràng, được lựa chọn một cách kỹ lưỡng nhằm
đảm b
ảo phát huy tối đa chuyên môn và trình độ của trưởng nhóm và các thành viên
nghiên cứu chính. Ngoài ra, hướng nghiên cứu cũng cần linh động để đảm bảo tính
thời sự của vấn đề nghiên cứu và tăng khả năng thu hút đầu tư nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ từ nhiều nguồn khác nhau (chính phủ, công nghiệp, nước ngoài)

20
3 - Có khả năng thu hút các cán bộ nghiên cứu có trình độ cao, cán bộ nghiên cứu
sau tiến sỹ (postdoc), các tiến sỹ tốt nghiệp ở nước ngoài về, có nhiều nghiên cứu sinh
và có nhiều học viên cao học tham gia nghiên cứu, học tập trong nhóm
4 - Có (hoặc có khả năng khai thác tốt) cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, phương tiện
phục vụ nghiên cứu và các điều kiện khác đảm bảo thực hiện thành công các nghiên
cứu mang lạ
i kết quả tốt nhất
5 - Có thành tích nghiên cứu tốt (thu hút tài trợ, công bố, sở hữu trí tuệ, ), ví dụ:
đã có các công trình công bố trên các tạp chí quốc tế ISI hoặc SCI - đối với những
nhóm đã từng hoạt động trước khi được lựa chọn.

21
PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1. Kinh nghiệm nước ngoài trong việc nuôi dưỡng và
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh

1. Sự phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới
Trong kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, khi lợi thế về nguồn tài nguyên thiên
nhiên và nguồn nhân lực rẻ không còn là thế mạnh, điều kiện tiên quyết để có thể cạnh
tranh về kinh tế cũng như phát triển bền vững đối với mỗi quốc gia là phải xây dựng
được tiềm lực mạnh về nghiên cứu khoa học và đổi mớ
i công nghệ. Thông qua việc
tiến hành nghiên cứu theo những lĩnh vực mũi nhọn để tạo ra các kết quả đổi mới, các
tổ chức nghiên cứu trở thành nhân tố quan trọng trong việc phát triển tiềm lực khoa
học và công nghệ của mỗi nước. Chất lượng nghiên cứu trong các trường đại học, viện
nghiên cứu chính là chìa khóa để nâng vị thế của quốc gia trong cộng đồng quốc tế.
Các nướ
c tiên tiến và cả những nước đang phát triển đều xác định rõ sự cần thiết
phải hình thành các trung tâm xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh hay dưới một tên gọi
nào đó như là những sáng kiến xuất sắc trong khoa học và công nghệ để nâng cao chất
lượng nghiên cứu trong các viện nghiên cứu, trường đại học. Xây dựng chính sách để
phát triển môi trường nghiên cứu sáng tạo cho các trung tâm xuất sắc là một trong
những ưu tiên khi xây dự
ng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của nhiều
quốc gia
9, 15-19
.
Đối với nhiều nước thuộc Châu Âu, việc đầu tư thực hiện các sáng kiến xuất sắc
diễn ra khá sớm. Từ những năm đầu thập niên 1990, Đan Mạch, Phần Lan và Áo đã
thiết lập các chương trình nghiên cứu đặc biệt để nuôi dưỡng và phát triển các trung
tâm xuất sắc trong các tổ chức nghiên cứu với mức đầu tư vượt trội. Từ năm 1996,
Anh đầu tư cho các nghiên c
ứu xuất sắc kết hợp với việc chú trọng nâng cao chất
lượng đào tạo, do đó các trường đại học là đối tượng ưu tiên. Sau một thời gian dài
nghiên cứu và chuẩn bị, năm 2006, Chính phủ CHLB Đức đã chính thức tài trợ cho
“Chương trình sáng kiến xuất sắc” với việc hỗ trợ các nhà khoa học trẻ trong các trung

tâm xuất sắc đa ngành có sự hợp tác viện - trường – doanh nghiệp. Việ
c phát triển các

22
trung tâm xuất sắc của các nước này nhằm mục đích chính là để phát triển mạnh và
nâng vị thế khoa học & công nghệ của quốc gia. Ở châu Âu, trong tất cả các lĩnh vực
và chuyên ngành đều có các trung tâm xuất sắc thuộc khu vực công hoặc tư để thực
hiện các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở trình độ cao, ở đẳng cấp thế
giới. Các trung tâm xuất sắc được đánh giá cao vì đã tập h
ợp và thu hút được nhiều
cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ xuất sắc, giành được danh tiếng
bằng việc đóng góp đáng kế về nguồn lực cho sự tiến bộ về khoa học và công nghệ
cũng như đổi mới.
Ở Châu Á, các nước có lợi thế về công nghiệp như Nhật Bản và Hàn Quốc, thì
mục tiêu mà sáng kiến xuất sắc hướng tới là các nhóm nghiên cứu mạnh thự
c hiện sứ
mạng liên kết trường đại học - viện nghiên cứu – doanh nghiệp để phát triển công nghệ
nền tảng hỗ trợ phát triển công nghiệp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Hàn Quốc và
Nhật Bản đều đã khởi động việc đầu tư cho mục đích này từ đầu thập niên 1990.
Trong bối cảnh cần nâng cao năng lực KH&CN, cũng ngay trong thập niên 1990,
Trung Quốc và Đài Loan chọ
n cách đầu tư vượt trội cho các trung tâm nghiên cứu
xuất sắc, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia với mục tiêu chính là phát triển nhân
lực trình độ cao, đẳng cấp quốc tế.
Điển hình ở Châu Mỹ, từ năm 1997, Canada dành sự ưu tiên cho chương trình
“mạng lưới các trung tâm xuất sắc” nhằm thúc đẩy sự hợp tác mạnh mẽ giữa chính phủ,
các đại học và khối doanh nghiệp để phát triển b
ền vững kinh tế Canada. Trong thời
gian đó, với mục tiêu tương tự, Chi – lê cũng bắt đầu phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh cho chương trình “Sáng kiến khoa học thiên niên kỷ”.

Ở Châu Phi, theo sáng kiến của những người đứng đầu thuộc 5 quốc gia (Angiêri,
Ai cập, Nigiêria, Sênêgan, Nam Phi), gần đây, chương trình khung về phát triển kinh
tế-xã hội tổng thể cho châu Phi đã được hình thành với tên gọi là “Đối tác mới cho
phát triển ở châu Phi – The New Partnship for Africa’s Development”, viết tắ
t là
NEPAD. Nhận thức được tầm quan trọng của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ trong việc xây dựng năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững cho
quốc gia, NEPAD đã mong muốn xây dựng mạng lưới các trung tâm xuất sắc để lôi
kéo các nguồn lực khoa học và kỹ thuật của các nước châu Phi hướng vào các thách

23
thức chung về R&D trong vùng cũng như các lĩnh vực ưu tiên có liên quan. Trên cơ sở
nghiên cứu kinh nghiệm về việc xây dựng các trung tâm xuất sắc từ các nước thuộc
khối OECD và các nước thuộc Liên minh châu Âu, bên cạnh việc xây dựng chương
trình hỗ trợ để cấu trúc lại các tổ chức giáo dục đại học cho các quốc gia ở châu Phi,
NEPAD đã phát triển các trung tâm xuất sắc trong nghiên cứu khoa học và công nghệ,
bao gồm các viện công nghệ
của châu Phi.
Bảng tổng hợp các sáng kiến “xuất sắc” trên thế giới

Quốc gia Số lượng các tổ chức mục tiêu
và tiêu chí thích hợp
Nguồn lực được
phân bổ
Chu trình đầu tư
Chương trình Sáng
kiến xuất sắc của
Đức, năm 2006
40 trường đào tạo sau đại học,
30 nhóm xuất sắc thuộc các

trường đại học và khối tư nhân.
10 trường đại học đứng đầu về
nghiên cứu
Tổng số 2,3 tỷ USD Tài trợ trong 5
năm
Hai đợt: 2006 và
2007
Chương trình Trí
tuệ thế kỷ 21 của
Hàn Quốc
- Lĩnh vực KH&CN: 11
trường đại học
- Lĩnh vực KHXH&NV: 11
trường đại học
- Các trường đại học dẫn đầu
ở các vùng: 38 trường đại
học
- Các trường chuyên đào tạo
sau đại học nằm trong 11
trường đại học
Tổng số 1,17 tỷ USD 7 năm
2 đợt nă
m 1999
Quỹ Khoa học và
Kỹ thuật Hàn
Quốc (KOSEF)
1) Các Trung tâm Nghiên cứu
Khoa học (SRC)/ Các Trung
tâm Nghiên cứu Kỹ thuật
(ERC): 65 Trung tâm

2) Các Trung tâm Nghiên cứu
Khoa học và Kỹ thuật y học
(MRC): 18 Trung tâm
3) Trung tâm Nghiên cứu cơ
bản Quốc gia (NCRC): 6
Trung tâm được tài trợ năm
2006
1) 64,2 triệu
USD/năm


2) 7 triệu USD/năm


3)10,8 triệu
USD/năm


1) 9 năm
2) 9 năm
3) 7 năm

Cả 3 Chương
trình đều bắt đầu
khởi động vào
năm 2002 hoặc
năm 2003

24
Chương trình Top

– 30 của Nhật Bản
(Chương trình
Trung tâm xuất
sắc Thế kỷ 21)
31 Tổ chức giáo dục đại học và
sau đại học
150 triệu USD/năm
(Tổng số: 37,8 tỷ
JPY)

Tài trợ 5 năm
Bắt đầu năm 2002
3 đợt: 2002, 2003,
2004
Chương trình
Trung tâm Xuất
sắc Toàn cầu Nhật
Bản
50-75 Trung tâm được tài
trợ/năm (5 lĩnh vực nghiên cứu
mới mỗi năm)
50-500 triệu JPY/
Trung tâm/năm
(~ 400.000 USD – 4
triệu USD)
5 năm
Bắt đầu năm 2007
Uỷ ban Châu Âu,
Chương trình
Khung số 7 (FP7)

TBD - được xác định từ cơ cấu
của các đề cương nghiên cứu
(REPs)
Dựa vào số các đề
cương nghiên cứu có
cấu trúc như 1 “trung
tâm xuất sắc”
Kinh phí cả Chương
trình FP7 là 50,5 tỷ
EUR cho giai đoạn
2007-2013
Bắt đầu năm 2007
Từ 2007-2013
Đề án 211 của
Trung Quốc
100 Tổ chức giáo dục đại học
và sau đại học
18 Tỷ USD trong 7
năm
(400 triệu USD tài trợ
cho các khoa/phòng
nghiên cứu ở trình độ
quốc tế)
Bắt đầu năm 1996
Đề án 985 ở Trung
Quốc
34 tổ chức nghiên cứu trong
trường đại học
28,3 Tỷ Nhân dân Tệ 1999-2001
Phòng Thí nghiệm

trọng điểm Quốc
gia Trung Quốc

153 phòng thí nghiệm trọng
điểm
1,4 tỷ Nhân dân tệ Bắt đầu từ năm
1984
Mạng lưới Trung
tâm Xuất sắc ở
Canada
Hiện tại có 23 Mạng lưới Trung
tâm Xuất sắc được tài trợ.
Trước đã có 16 Mạng lưới được
tài trợ
77,4 triệu Đô la
Canada/năm, từ 1999
47,3 triệu Đô la
Canada/năm, trong
khoảng 1997-1999
Tổng số 437 triệu Đô
la Canada trong
khoảng 1988-1998
Bắt đầu năm 1988

Chương trình
vĩnh cửu từ 1997
Tài trợ của Anh
Các trường đại học đạt điểm Đã chi hết 8,63 tỷ 5 năm cho các

×